Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Nâng cao khả năng tiếp cận với tài trợ tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.53 KB, 17 trang )

MỤC LỤC
Phần 1: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam...............................1
1.1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.................................................1
1.2. Khái quát về hệ thống và vai trò của các DNNVV ở Việt Nam....................2
1.3. Thách thức và khó khăn của DNNVV...........................................................3
Phần 2: Thực trạng về vấn đề tài chính của các DNNVV ở Việt Nam..................4
2.1. Tổng quan về nguồn tài chính chủ yếu của DNNVV hiện nay.....................4
2.2. Các khó khăn của DNNVV khi tiếp cận nguồn tài trợ tài chính...................5
Phần 3: Thực tế về các nguồn tài chính DNNVV có thể tiếp cận..........................6
3.1. Các nhóm nguồn tài chính DNNVV có thể tiếp cận.....................................6
3.2. Yêu cầu đối với DNNVV để có thể nhận tài trợ............................................6
Phần 4: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tài trợ tài chính của DNNVV ở
Việt Nam....................................................................................................................7
4.1. Giải pháp......................................................................................................7
4.1.1. Từ phía nhà nước, ngân hàng................................................................7
4.1.1.1. Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân
hàng
7
4.1.1.2. Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nhà nước
8
4.1.2. Từ phía DN.............................................................................................8
4.1.3. Các giải pháp khác.................................................................................9
4.2. Casestudy......................................................................................................9
Tài liệu tham khảo....................................................................................................9


PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
1.1.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNVV là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có thể chia thành ba loại, cũng căn cứ vào quy mô đó là DN siêu nhỏ


(micro), DN nhỏ và DN vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, DN
siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động
từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước,
người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở nước mình.
Ở Việt Nam, theo Điều 4 của Luật hỗ trợ DNNVV được Quốc hội ban hành
ngày 12/06/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và Điều 6 của Nghị định số
39/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ
trợ DNNVV thì tiêu chí xác định DNNVV là:
- DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp
vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người
và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:
a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng
b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng
- DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.
Bảng 1.1. DNNVV theo quy mô và khu vực ngành nghề
Quy

KV

Doanh
nhỏ
Số
lao
động
I.
10
Nông, người
lâm
trở

nghiệp xuốn
và thuỷ g

nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
doan
h thu
3 tỷ
trở
xuống

Tổng
nguồ
n vốn
3 tỷ
trở
xuống

Số
lao
động
từ
trên
10
người
đến

Tổng
doan
h thu

từ trên
3 tỷ
đến
50 tỷ

Tổng
nguồ
n vốn
từ trên
3 tỷ
đến
20 tỷ

Doanh nghiệp vừa
Số
lao
động
từ
trên
100
người
đến

Tổng
doan
h thu
từ trên
50 tỷ
đến
200 tỷ


Tổng
nguồ
n vốn
từ trên
20 tỷ
đến
100 tỷ


sản
II.
Công
nghiệp
và xây
dựng
III.
Thươn
g mại
và dịch
vụ

100
người

10
10 tỷ 3 tỷ
người trở
trở
trở

xuống xuống
xuốn
g

200
người

từ
từ trên từ trên từ
từ trên từ trên
trên
10 tỷ 3 tỷ trên
100 tỷ 50 tỷ
10
đến
đến
50
đến
đến
người 100 tỷ 50 tỷ người 300 tỷ 100 tỷ
đến
đến
50
100
người
người
(Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ)


1.2.


Khái quát về hệ thống và vai trò của các DNNVV ở Việt Nam

DNNVV rất được coi trọng phát triển tại nhiều quốc gia bởi khu vực này là
nguồn tạo việc làm, cạnh tranh và động lực phát triển kinh tế và đổi mới, đồng
thời, do DNNVV hiện diện ở nhiều vùng địa lý hơn so với các DN lớn nên chúng
cũng góp phần vào việc phân bổ thu nhập tốt hơn. Đặc biệt, đối với các nền kinh tế
đang phát triển, khu vực DNNVV còn là thành phần quan trọng của sự phát triển
kinh tế và xóa đói, giảm nghèo ở mức độ rộng khắp, là yếu tố chủ chốt và bền
vững tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ngoài khu vực nhà nước.
Khu vực này còn được cho là động lực thúc đẩy cạnh tranh và môi trường kinh
doanh bởi đây là khu vực nhạy bén, năng động và sẵn sàng đổi mới so với các DN
lớn hơn và đã phát triển ổn định. Các DN này có thể chuyển đổi cơ cấu của một
nền kinh tế thông qua đổi mới, cung cấp các đầu vào trung gian và dịch vụ, cho
phép chuyên môn hóa mạnh hơn trong sản xuất. Trong chuỗi giá trị toàn cầu,
DNNVV có thể tận dụng thị trường ngách mà DN lớn bỏ qua, họ cũng có thể bắt
tay với các DN nhỏ khác trong chuỗi để tái chuyên môn hóa, triển khai sản xuất
năng suất hơn và tiêu thụ hiệu quả hơn.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng, chính
sách thông thoáng của Nhà nước, nên số lượng các DNNVV ở Việt Nam đã hình
thành và phát triển rất nhanh. Theo thống kê của Hiệp hội DNNVV, tính đến hết
năm 2016, nước ta có khoảng gần 600.000 DNNVV, chiếm khoảng 97,5% tổng số
doanh nghiệp đang hoạt động thực tế; tổng số vốn đăng ký của các DNNVV xấp xỉ
121 tỷ USD, chiếm 30% tổng số vốn đăng ký của các DN. Các DN này đã và đang
có đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, nhất là tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát
triển, xóa đói, giảm nghèo… Cụ thể, hằng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động
mới; sử dụng trên - dưới 60% lao động xã hội và đóng góp khoảng 50% GDP, 33%
thu nộp ngân sách nhà nước,… Đồng thời, số tiền thuế và phí mà các DNNVV tư
nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm. Sự đóng góp này đã hỗ

trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển
khác.
Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới dù tăng mạnh qua các năm nhưng chủ
yếu là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Gần đây nhất, theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra


kinh tế 2012-2017 do Tổng cục Thống kê công bố ngày 19/01/2018 thì tại thời
điểm 01/01/2017 cả nước có hơn 10 nghìn DN lớn (chiếm 1,9% tổng số DN). DN
vừa tăng 23,6%, DN nhỏ tăng 21,2% và DN siêu nhỏ tăng tới 65,5% và chiếm 74%
tổng số DN. Đáng chú ý là tỷ trọng các DN vừa và nhỏ tăng tới 6 điểm phần trăm
so với năm 2012 trong khi tỷ trọng lao động giảm 0,8 điểm phần trăm cho thấy quy
mô DN đang nhỏ dần. Dự đoán trong tương lai số lượng DNNVV sẽ còn tăng
mạnh.
1.3.

Thách thức và khó khăn của DNNVV

Theo báo cáo của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì
mặc dù DNNVV có số lượng đông đảo nhưng trong đó DN quy mô nhỏ và siêu
nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, số DN quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% tổng số DNNVV.
Chính bởi quy mô nhỏ, nên các DN loại này gặp khá nhiều khó khăn, nhất là
không đủ năng lực tài chính để đầu tư vào, máy móc, công nghệ hiện đại...
Theo Báo cáo Đặc điểm Môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra
doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015 được thực hiện bởi UNU-WIDER (Đại học
Liên Hợp Quốc), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) thuộc Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội (MOLISA) và Khoa kinh tế (DoE) Trường đại học
Copenhagen cùng với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thì
nhìn chung, tỷ lệ các DNNVV Việt Nam gặp phải những trở ngại lớn đối với sự
phát triển vẫn là khá cao. Năm 2015, có tới 83% số doanh nghiệp được điều tra cho
biết họ có gặp trở ngại trong kinh doanh. Hình 1.1 mô tả tỷ lệ các doanh nghiệp

điều tra đánh giá những trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển của mình.

Hình 1.1. Những cản trở lớn nhất đối với tăng trưởng của doanh nghiệp điều
tra


(Nguồn: Báo cáo Kết quả điều tra DNNVV 2015_UNU-WIDER)
Thiếu vốn và khó tiếp cận tài chính vẫn tiếp tục được đánh giá là trở ngại lớn
nhất đối với các doanh nghiệp. Mặc dù so với các cuộc điều tra trước đây, tỷ lệ này
đã giảm đi, từ 45% năm 2011 xuống 30% năm 2013 và 24% năm 2015.

Phần 2: Thực trạng về vấn đề tài chính của các DNNVV ở Việt Nam
2.1. Tổng quan về nguồn tài chính chủ yếu của DNNVV hiện nay
Trong hoạt động sản xuất, vốn được xem là nền tảng cơ bản nhất. Vốn trong
DN được thể hiện dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên - nhiên vật liệu
và các tài sản vô hình khác. Với các DNNVV, nguồn vốn đóng vai trò khá quan
trọng. Do xuất phát điểm của các DNNVV thấp, lại khó tiếp cận đối với các nguồn
tín dụng chính thức nên nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV được huy động chủ
yếu từ các nguồn sau:
Huy động nguồn vốn tự có: Nguồn vốn tự có đóng vai trò quan trọng trong
việc khởi nghiệp kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là nguồn tiền mặt, tiền gửi
tiết kiệm...
Huy động vốn ứng trước: loại nguồn vốn này được chủ DN có thể đề nghị
khách hàng nào đó ứng trước vốn rồi sau đó có trách nhiệm cung cấp sản phẩm cho
khách hàng.


Tìm kiếm nguồn vốn của bạn bè và gia đình: huy động nguồn vốn ứng trước
như thế nào thì hầu hết các DN đều vẫn cần huy động thêm nguồn tiền mặt, nguồn
huy động tốt nhất và dễ dàng nhất là bạn bè và gia đình. Người thân và bạn bè

thường có xu hướng tạo điều kiện để DN hoạt động. Lãi suất và điều kiện vay đối
với nguồn vốn này cũng “mềm” hơn nhiều so với vay ngân hàng.
Tìm kiếm các nhà cung cấp: Các nhà cung cấp thường tạo thêm điều kiện thuận
lợi cho chủ DN dưới dạng cho vay với lãi suất rất thấp
Ở Việt Nam, hầu hết DNNVV bắt đầu phát triển bằng vốn tự phát của các
doanh nhân, tuy nhiên mức ban đầu rất hạn chế. Khi các DN đi vào hoạt động và
bước đầu có hiệu quả, họ đều mong muốn gia tăng vốn và mở rộng đầu tư sản xuất.
DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận nguồn vốn. Khảo sát
thường niên về DNNVV của CIEM (2013) cho thấy 26% DNNVV tiếp cận nguồn
tín dụng chính thức. Số còn lại tìm kiếm vốn từ nguồn tín dụng phi chính thức (có
thể là tín dụng đen, vay mượn bạn bè, gia đình), cùng với đó là các ngân hàng hạn
chế cấp vốn tín dụng cho khu vực này kể từ khi hệ thống ngân hàng gặp nhiều bất
ổn. Bên cạnh các khoản vay từ ngân hàng, một số DN có thể tiếp cận vốn từ cho
thuê tài chính, đây là hoạt động hỗ trợ tín dụng cho phân khúc khách hàng là DN
vừa, DN nhỏ và DN siêu nhỏ, có thể hỗ trợ nguồn vốn trung và dài hạn cho DN.
Tuy nhiên, Châu Đình Linh (2015) cho biết trong cuộc khảo sát 1.000 DNNVV
thuộc các ngành nghề khác nhau thì có tới 70% DN trả lời rằng họ biết ít, hoặc
chưa từng tìm hiểu về dịch vụ cho thuê tài chính.
2.2.

Các khó khăn của DNNVV khi tiếp cận nguồn tài trợ tài chính

Rõ ràng DNNVV là một nhân tố rất quan trọng có đóng góp lớn cho nền kinh tế
Việt Nam. Tuy nhiên theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến tháng
8/2017, dư nợ tín dụng đối với DNNVV mới chỉ đạt 1.292.182 tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng 21,14% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế (theo VCCI), điều này chỉ ra
rằng số lượng DNNVV được tiếp cận với nguồn vốn chính thức còn chưa nhiều và
số vốn cung cấp cho các DN này vẫn còn hạn chế.
Theo các số liệu nghiên cứu cho thấy, hiện chỉ có khoảng 1/3 DNNVV (chưa
đến 36%) trong số các DN đang hoạt động tiếp cận được vốn ngân hàng. Số còn lại

tự xoay xở từ các nguồn khác với chi phí cao.


DN tiếp cận nguồn
vốn chính thức;
36.00%
DN chưa tiếp cận
nguồn vốn chính
thức; 64.00%

Ba khó khăn chính của DNNVV trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng gồm
có: thiếu tài sản đảm bảo, bao hàm cả tài sản được định giá không đúng; có dòng
tiền, có bạn hàng nhưng chưa có tài sản tích luỹ; với những DN mới thành lập thì
ngân hàng yêu cầu phải có thời gian kinh doanh dài... Trong đó, nút thắt lớn nhất
khiến DN và ngân hàng không tìm được tiếng nói chung là do DN thiếu tài sản thế
chấp. Ngoài ra, nhiều SME không có bộ phận quản lý tài chính và thiếu tính minh
bạch. Cách quản lý không chuyên nghiệp khiến ngân hàng gặp khó khi áp dụng
quy trình cho vay thông thường. Mặt khác, ngân hàng cũng như các DN khác đều
hoạt động theo tiêu chí lợi nhuận nên đối tượng hàng đầu là tập trung vào khách
hàng tốt, thu nhập cao, dễ thu hồi nợ, lợi nhuận đem về ổn định - những đặc điểm
mà DNNVV chưa thể đáp ứng được.
Khó khăn trong tiếp cận vốn ngân hàng, các DNNVV tìm đến các nguồn vốn
khác nhau như: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (trợ cấp, bảo lãnh, giảm thuế,
…); nguồn vốn nước ngoài; huy động từ thị trường vốn, tín dụng từ đối tác; vốn tín
dụng, bảo lãnh, chiết khẩu và nguồn vốn tự có. Tuy nhiên các nguồn vốn này cũng
tồn tại nhiều nhược điểm và bất cập. Những hạn chế của nguồn vốn này là không
dồi dào, lãi suất vay và rủi ro cao. Ví dụ, một số Quỹ nhà nước hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho DNNVV được thành lập nhưng mức độ giải ngân còn thấp. Ngoài ra, các
DNNVV cũng chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin về các nguồn tài trợ này. Nhiều
chương trình để hỗ trợ các DN nói chung và DNNVV nói riêng đã được tổ chức

nhưng các DN gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các hỗ trợ này do thiếu
thông tin.


3.1.

Phần 3: Thực tế về các nguồn tài chính DNNVV có thể tiếp cận
Các nhóm nguồn tài chính DNNVV có thể tiếp cận

Trên thế giới, tùy thuộc vào mức độ phát triển các sản phẩm tài chính và thị
trường tài chính của mỗi quốc gia, các DN sẽ có các cơ hội tiếp cận các nguồn tài
chính khác nhau. Các nguồn lực tài chính luôn sẵn có bên ngoài mỗi DN, tuy nhiên
các điều kiện để có thể huy động được vốn của mỗi DN sẽ phụ thuộc vào nhiều
yếu tố. Theo Paul (2011), DNNVV có thể tiếp cận qua một số nguồn tài chính khác
nhau, chia thành các nhóm: các khoản vay nợ, nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản
trợ cấp, chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản, các quỹ hợp tác kinh doanh với
DN khác.
Căn cứ theo Luật Hỗ trợ DNNVV 2017 thì nguồn vốn hỗ trợ DNNVV bao gồm:
 Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của nhà nước
 Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
 Nguồn vốn hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử
dụng đất và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật
 Nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
Ở Việt Nam, ngoài kênh tiếp cận vốn truyền thống qua hệ thống ngân hàng thương
mại, các DNNVV có thể tiếp cận vốn qua Quỹ phát triển DNNVV và hệ thống Quỹ
bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại các địa phương. Không chỉ vậy, các DNNVV
hiện tại còn có thể kêu gọi vốn thông qua 3 hình thức:

3.2.


 Kêu gọi vốn cộng đồng – Crownfunding
 Nhà đầu tư “thiên thần” – Angel Investor
 Quỹ đầu tư mạo hiểm – Venture Capital
Yêu cầu đối với DNNVV để có thể nhận tài trợ

Theo Khoản 1, Điều 94 Luật Các Tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng
phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả
thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo
đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng". Hay theo điều 7 Thông tư số
39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước có quy định về
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với
khách hàng về các điều kiện của khách hàng khi vay vốn. Trong đó, khách


hàng/doanh nghiệp phải bắt buộc có năng lực pháp luật dân sự theo quy đinh, có
phương án sử dụng vốn khả thi đáp ứng đúng quy định, có khả năng trả nợ…
Tóm lại, để DNVVN có thể nhận được tài trợ vốn thì cần đáp ứng những yêu
cầu sau:
Thứ nhất, DN phải nắm rõ diễn biến kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô trong nước
luôn là tâm điểm của mọi chính sách đầu tư. Chủ DN cần nhận định đúng các xu
hướng kinh tế vĩ mô để kịp thời nắm bắt và phòng ngừa các rủi ro có thể tác động
đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn khi tổng hợp và phân tích đúng, DN
có thể tìm thấy được cơ hội kinh doanh, hay chu chuyển của dòng vốn tín dụng
ngân hàng, hay mở rộng sản xuất kinh doanh ngành nào, thu hẹp ngành nào, hay
dự đoán diễn biến của ngoại hối để có quyết sách phòng hộ rủi ro tỷ giá khi giao
dịch mua bán…
Thứ hai, DN cần hiểu, đánh giá và bám sát sự phát triển của thị trường tài
chính. Trong thị trường tài chính bao gồm nhiều loại thị trường khác nhau, cơ bản
nhất là sự phân chia thành thị trường tiền tệ và thị trường vốn…

Thứ ba, chú trọng quản trị tài chính doanh nghiệp. Quản trị tài chính liên quan
đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản DN nhằm đạt mục tiêu kinh
doanh đề ra.
Điều này dẫn đến ba quyết định quan trọng như: Quyết định đầu tư - liên quan
đến hoạt động hình thành tổng tài sản, tài sản bộ phận và mối quan hệ cân đối giữa
các bộ phận tài sản DN; quyết định tài trợ - liên quan đến hoạt động lựa chọn loại
nguồn vốn (vốn chủ sở hữu, vốn vay, chiếm dụng vốn của người bán…) cho việc
mua sắm, đầu tư tài sản DN; quyết định quản lý tài sản - một khi tài sản đã được
hình thành thì vấn đề quan trọng là quản lý để sử dụng tài sản đó hiệu quả và hữu
ích.
Ba quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu tài chính lành mạnh và lưu chuyển
tiền tệ trong kỳ, cũng như hiệu quả kinh doanh của DN. Một cơ cấu tài chính lành
mạnh sẽ giúp DN vượt qua những cú sốc tài chính từ môi trường kinh tế - tài chính
vĩ mô. Và trong cơ cấu tài chính này, DN cần xác lập những chỉ số tài chính phù
hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc thù ngành nghề. Bộ chỉ số sẽ là kim
chỉ nam giúp DN nhận diện những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tài chính.
Thứ tư, hiểu rõ mục đích sử dụng vốn vay và quy trình tín dụng của ngân hàng
sẽ giúp DN tiếp cận vốn thuận lợi hơn. Trong chu kỳ kinh doanh, với nhiều lý do
khác nhau sẽ dẫn đến nhu cầu mở rộng nguồn vốn tài trợ để đáp ứng sự tăng
trưởng của tài sản và hiệu quả sản xuất kinh doanh.


Ví dụ như, “bán hàng quá nhiều” – được dùng để chỉ tình trạng không có đủ
nguồn lực trong bảng cân đối kế toán để phục vụ nhu cầu hiện thời của DN khi DN
phát triển quá nhanh. Điều này làm tài sản lưu động phải phình to trong khi vòng
quay tài sản lưu động không đổi và không đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu hàng
ngày của DN, thì kết quả tất yếu là tìm kiếm nguồn tài trợ vốn lưu động từ các
nguồn ngắn hạn như vốn vay hạn mức tại ngân hàng, vốn chiếm dụng…
Vậy, trước khi tìm đến ngân hàng để tiến hành vay vốn, DN cần xác định rõ
mục đích vay vốn, số tiền cần vay và khả năng hoàn trả nợ vay. Tất nhiên DN cần

xác định mức tối đa của đòn cân nợ để tránh sa lầy và phụ thuộc nợ vay ngân
hàng.
Thứ năm, DN cần kiểm soát tốt nguồn vốn vay trong quá trình triển khai dự
án. Theo khoa học quản trị, DN thường có hai tầng kiểm soát. Cụ thể, kiểm soát
của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty và kiểm soát của người quản lý công
ty đối với toàn bộ hoạt động trong phạm vi mình quản lý. Trong tầng kiểm soát thứ
2, bộ phận kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm soát 3 hoạt động sau: Kiểm soát tuân
thủ, kiểm soát tài chính và kiểm soát hoạt động. Không xem nhẹ bất cứ hoạt động
kiểm soát nào, nhưng cần chú trọng hơn nữa trong kiểm soát tài chính.
Như các doanh nghiệp phá sản và trì trệ sản xuất vừa rồi như Công ty CP Dược
Viễn Đông, Cty CP Thủy sản Diệu Hiền… đều có những mất cân đối trầm trọng
trong tài chính (nguồn vốn ngắn hạn tài trợ rất nhiều trong tài sản dài hạn, đòn bẩy
tài chính cao hơn mức trung bình ngành, đa số nợ vay ngắn hạn từ ngân hàng) và
sử dụng vốn vay sai mục đích (vốn vay không đầu tư vào sản xuất kinh doanh như
phương án đã trình cho ngân hàng), là hậu quả của bỏ qua hoạt động kiểm soát tài
chính trong công ty.
Phần 4: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tài trợ tài chính của DNNVV ở
Việt Nam
4.1.

Giải pháp

4.1.1. Từ phía nhà nước, ngân hàng
4.1.1.1.
Giải pháp khuyến khích DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng
ngân hàng
 Giải pháp cải tiến quy trình, thủ tục, điều kiện cho vay: Cải tiến quy trình, đơn
giản hoá thủ tục, hồ sơ cho vay, rút ngắn thời gian giải quyết cho vay nhưng vẫn
đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đặc biệt là các khoản cho vay trung và



dài hạn bị quy định bởi các thủ tục rườm rà, phức tạp làm cho chi phí giao dịch
tăng cao.
 Giải pháp về tài sản thế chấp: Các quy định, yêu cầu về tài sản thế chấp nên
được nới lỏng hơn:
 DN đi vay vốn chỉ có thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn khi họ sử dụng vốn có
hiệu quả. Ngân hàng cần quan tâm xem DN đi vay vốn có uy tín không, mục
đích vay vốn là gì, làm như vậy có thể thu hồi vốn không, có hiệu quả
không? Điều này có nghĩa là khâu thẩm định khách hàng quan trọng hơn tài
sản thế chấp là gì.
 Ngoài ra, ngân hàng thương mại cần xem xét đánh giá để quyết định cho vay
dựa trên việc xem xét lưu chuyển tiền tệ trong tương lai và khả năng sinh lời
tiềm năng của công ty.
 Đối với các vấn đề định giá tài sản thế chấp, để công bằng hơn đối với các
DN đi vay, việc định giá này có thể được tiến hành bới các công ty định giá,
công ty kiểm toán hay tư vấn quốc tế. Việc định giá tài sản thế chấp phải
theo giá thị trường.

 Giải pháp cải thiện hoạt động cho vay của ngân hàng và chính sách tín dụng
tiền tệ
 Các ngân hàng cần bảo đảm sự bình đẳng trong vay vốn ngân hàng đối với
DNVVN khu vực tư nhân và các DN trong nước. Tránh để tình trạng các
DN nhà nước lớn, tổng công ty nhà nước thua lỗ triền miên thì vẫn được xét
cho vay vốn. Trong khi các DNVVN thì xét nét các báo cáo tài chính và dựa
vào đó và không cho vay, mặc dù DN làm ăn có lãi và có hiệu quả.
 Các ngân hàng phải chú trọng công tác đào tạo cán bộ tín dụng để nâng cao
khả năng thẩm định cho vay, đảm bảo giải ngân vốn đúng tiến độ dự án và
làm tốt công tác tư vấn cho DN trong việc vay vốn và sử dụng vốn hiệu quả
để đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn và đầy đủ.
 Để phục vụ cho mục tiêu đáp ứng đủ vốn cho DN, các ngân hàng phải thực

hiện giải pháp đồng bộ về huy động vốn như: đẩy mạnh việc huy động vốn
trung và dài hạn trong nước, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn dài
hạn của các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ cho DNVVN,...
 Nghiên cứu về việc giảm lãi suất cho vay, thể hiện tính ưu đãi đối với các
DNVVN.


4.1.1.2.
Giải pháp khuyến khích DNNVV tiếp cận nguồn vốn ưu đãi nhà
nước
 Đối với quỹ hỗ trợ phát triển
 Cần tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khi hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ
phát triển, cho phép các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, khi vay vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước hoặc khi được bảo lãnh từ Quỹ hỗ trợ
phát triển, được dùng tai sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay.
 Cần mở rộng lĩnh vực hỗ trợ đầu tư như: cơ khí, công nghệ phần mềm, vận
tải, bưu chính viễn thông ... thay vì những ngành truyền thống như chế biến
nông - lâm - thuỷ sản, dệt may, da dày...
 Nâng cao khả năng thẩm định dự án của cán bộ tín dụng của Quỹ.
 Quỹ hỗ trợ phát triển nên hạ mức phí bảo lãnh, thậm chí có thể miễn phí bảo
lãnh đối với những dự án góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu
trọng điểm của Nhà Nước.
 Đối với quỹ hỗ trợ xuất khẩu
 Nhà nước nên có những giải pháp cụ thể để mở rộng quy mô của Quỹ hỗ trợ
xuất khẩu cho các đối tượng và các mặt hàng khác nhau thay vì tập trung
cho hàng nông sản xuất khẩu.
 Nhà nước nên đẩy mạnh hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ hỗ trợ xuất khẩu cho
các DN từ khâu sản xuất, đến cả hoạt động tham gia hội chợ, quảng cáo
trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho các DN có đại diện tại các thị trường
quốc tế.

 Đối với khuyến khích phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm/quỹ kêu gọi vốn cộng
đồng/nhà đầu tư thiên thần
 Xây dựng hành lang pháp lý, các chiến dịch của Nhà nước để khuyến khích
sự phát triển của các nhà đầu tư thiên thần hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm
cũng như có chính sách quản lí và bảo vệ các nguồn vốn đó
 Thiết kế chương trình tín dụng hỗ trợ hoạt động đầu tư mạo hiểm, các ngân
hàng đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ KH&CN… sẽ
cho các quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (không phân biệt hình thức sở hữu) vay
với các mức lãi suất ưu đãi và với cơ chế bảo đảm tiền vay linh hoạt.
 Thực hiện chính sách thuế ưu đãi cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm. Các
chính sách ưu đãi thuế phải dựa vào luật đầu tư mạo hiểm hoặc dựa vào danh


mục các ngành nghề Nhà nước khuyến khích đầu tư mạo hiểm trong các lĩnh
vực công nghệ được ưu tiên đầu tư.
4.1.2. Từ phía DN
 Phát triển hệ thống kế toán
 Nâng cao chất lượng đào tạo, tuyển dụng nhằm phát huy hơn nữa bộ máy kế
toán, cũng như minh bạch hoá tình hình tài chính, phản ánh đúng thực chất
kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng để cải thiện bộ máy kiểm soát
nội bộ. Từ đó nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn.
 Tranh thủ sự trợ về đào tạo, tư vấn, quản lý về hệ thống kế toán từ nhà nước,
cũng như các tổ chức quốc tế, tổ chức phi lợi nhuận.
 Trong trường hợp không đủ nguồn lực để thiết lập một bộ máy kế toán thì
các doanh nghiệp có thể sử dụng các dịch vụ hỗ trơ các dịch vụ kế toán, tài
chính.
 Nâng cao năng lực kinh doanh
 Thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu để giúp DN bảo
vệ tài sản và kiểm soát hoạt động kinh doanh hiệu quả
 Tôn trọng, trung thực trong số liệu kế toán, tài chính. Từ đó, đưa ra các

quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực vào các hoạt động kinh doanh một
cách đúng đắn và hiệu quả.
 Áp dụng phương pháp quản lý với bộ máy tinh giản, gọn nhẹ, dễ dàng thích
nghi với mọi biến động của thị trường.
 Tận dụng lợi thế so sánh, với những khâu DN còn yếu kém nên thuê chuyển
qua cho những DN chuyên nghiệp làm.
 Chú trọng đào tạo chất lượng nguồn nhân lực, cải tiến quy trình công nghệ
và vấn đề nghiên cứu thị trường.
 Chủ động tiếp cận các nguồn vốn từ ngân hàng, nhà nước hoặc của các tổ chức
xã hội
 Nắm rõ thông tin của các Nhà đầu tư thiên thần
 Đảm bảo và lựa chọn nhà đầu tư phù hợp để hợp tác cùng công ty trong lâu
dài.
 Sáng tạo trong cách tiếp cận nguồn vốn
 Lựa chọn những nhà đầu tư nhỏ, mới và chưa nhận được sự quan tâm nhiều
của các doanh nghiệp khác
 Sáng tạo trong phương thức tiếp cận và thuyết phục các nhà đầu tư


4.1.3. Các giải pháp khác
 Đối với các nguồn vốn ưu đãi, các tổ chức quốc tế nên cung cấp tín dụng cho
các DNVVN bằng cách trực tiếp như mua cổ phần hơn là cung cấp tín dụng
thông qua ngân hàng. Như vậy thì các tổ chức quốc tế sẽ hiểu rõ tình hình tài
chính, khả năng quản lý kinh doanh của DN.
 Ngân hàng có thể cung cấp một khoản tín dụng nhỏ hơn mức tín dụng xin vay
như là để thử nghiệm. Sau đó ngân hàng có thể đánh giá tình hình sử dụng vốn
vay, khả năng sinh lời qua thời gian và sau đó tăng mức cho vay lên dần dần khi
Ngân hàng đã có được sự tin tưởng vào DN.
 Khuyến khích phát triển loại hình cho thuê tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu
trang bị máy móc cho các DNVVN mởi khởi nghiệp hoặc đầu tư đổi mới kỹ

thuật – công nghệ tiên tiến hiện đang tiếu vốn.
 Cải thiện và lành mạnh hoá môi trường kinh doanh trong nước, cải cách thủ
thục hành chính, hệ thống pháp lý để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều
kiện thuận lợi và khuyến khích phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào
Việt Nam.
4.2.

Casestudy

Tại Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp kêu gọi vốn thành công như
The Kafe; Wrap&Roll; Vntrip… Trong đó The Kafe với lần kêu gọi thành công 5,5
triệu USD của Cassia Investments - một quỹ đầu tư đến từ Hong Kong (Trung
Quốc) là một trong những casestudy được truyền thông, báo chí phân tích nhiều
khi nhắc về một doanh nghiệp khởi nghiệp kêu gọi vốn thành công
 Giới thiệu về The Kafe
 KAfe Group là một chuỗi cửa hàng cà phê đô thị phục vụ ẩm thực fusion
(phong cách lai Âu Á) đầu tiên tại Việt Nam với 4 thương hiệu – The KAfe,
The KAfe Village, The KAfe Box và The Burger Box.
 Điểm bắt đầu gọi vốn của The Kafe
 Chuẩn bị cơ sở nền tảng vững chắc và chuyên nghiệp: 3 cơ sở chạy tốt đã ra
lợi nhuận; 1 đội ngũ quản lý đầy đủ các chức năng quan trọng nhất cho công
ty từ vận hành, maketting, kinh doanh, tài chính, pháp chế...
 Một nền tảng thương hiệu uy tín: Thương hiệu cá nhân chủ doanh nghiệp và
thương hiệu của doanh nghiệp; số lượng khách hàng trung thành và khách
hàng triển vọng lớn;…


 Minh chứng về tiềm năng phát triển của The Kafe thông qua các đánh giá tài
chính, đánh giá phát triển doanh nghiệp,…
 Quá trình kêu gọi vốn:

 Tìm kiếm nhiều nguồn vốn khác nhau và đánh giá độ phù hợp, sự khả thi,
bao gồm các nhà đầu tư trong và ngoài nước
 Đàm phán với các bên đối tác, tiến hành khảo sát giữa hai bên để đảm bảo
tính khả thi của dự án gọi vốn (khảo sát thị trường, tìm hiểu sâu về doanh
nghiệp
 Khó khăn trong việc thuyết phục về tiềm năng của doanh nghiệp. Ngoài ra
do The Kafe lựa chọn các nhà đầu tư nước ngoài nên gặp khó khăn trong
việc các nhà đầu tư chưa thấy độ “màu mỡ” của thị trường Việt Nam cũng
như sự phù hợp về văn hóa.
 Khó khăn trong quá trình đàm phán sao cho vừa giữ được văn hóa của doanh
nghiệp, vừa phù hợp với mong muốn của nhà đầu tư đưa ra.
 The Kafe đã sử dụng nguồn vốn như nào
 Mở rộng thêm 26 cửa hàng tại Hà Nội và TP HCM
 Xây dựng bếp trung tâm, xây dựng hệ thống sinh thái và chuỗi cung ứng ổn
định – đảm bảo chất lượng

Tài liệu tham khảo
1. Luật Hỗ trợ DNNVV 2017
2. Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ
DNNVV


3. UN-WIDER, (2015), Characteristics of the Vietnamese business
environment Evidence from a SME survey in 2015(Đặc điểm môi trường
kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra DNNVV 2015)
4. Báo cáo Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ,
Bộ Khoa học và Công nghệ




×