TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----o0o----
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009-2013
Đề tài:
VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TS. PHAN TRUNG HIỀN
Trưởng Bộ môn Luật Hành chính
LÊ THỊ THU HƯỜNG
MSSV: 5095614
Lớp: Luật Tư pháp 2 Khóa 35
Cần Thơ, tháng 11/2012
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
LỜI CAM ĐOAN
Người viết xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của người viết, có
sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là TS. Phan Trung Hiền. Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận
xét, đánh giá được chính người viết thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong danh
mục tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào người viết xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Cần Thơ, ngày 29 tháng 12 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thu Hường
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
ii
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, các Cô
Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền dạy cho người viết nguồn
kiến thức sâu rộng góp phần hoàn thành luận văn này. Và hơn hết, người viết xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến TS. Phan Trung Hiền, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và
động viên người viết trong suốt quá trình làm luận văn. Chân thành cảm ơn các tác giả
của những bài viết, sách, báo, tạp chí chuyên luận mà người viết đã sử dụng làm tài
liệu trong quá trình nghiên cứu.
Do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài có giới hạn, luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Nhưng với sự cố gắng và tinh thần nỗ lực phấn đấu, người viết hoàn
thành luận văn với hi vọng góp phần tích cực cho thực tiễn áp dụng pháp luật. Người
viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các Thầy, các Cô và các bạn để người
viết hoàn thành đề tài hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
iii
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
...................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Giảng viên phản biện
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Cần Thơ, ngày……tháng…….năm 2012
Giảng viên hướng dẫn
iv
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................1
2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu............................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ...............................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................3
5. Bố cục của luận văn ...............................................................................................3
CHƯƠNG 1. VI PHẠM CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI .......................................................................................4
1.1.
Những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp luật đất đai...........................4
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật...........................................................................4
1.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai ...............................................................4
1.2.
Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai...........5
1.2.1. Khái quát chung về quản lý nhà nước về đất đai.............................................5
1.2.1.1.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai........................................................5
1.2.1.2.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai ..................................................6
1.2.1.3.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ............................................6
1.2.1.4.
Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai .........................15
1.2.2. Vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai…....................................................................................................................15
1.2.2.1.
đất đai
Khái niệm vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
..................................................................................................................15
1.2.2.2. Cấu thành của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước
về đất đai ..................................................................................................................16
1.3. Các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà
nước về đất đai.........................................................................................................18
1.3.1. Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc giới địa giới hành chính.........................18
1.3.2. Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.................................21
1.3.3. Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất..22
1.3.4. Vi phạm quy định về thu hồi đất ....................................................................25
1.3.5. Vi phạm quy định về trưng dụng đất .............................................................27
1.3.6. Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý ................28
1.3.7. Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và
sử dụng đất ...............................................................................................................29
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
v
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
CHƯƠNG 2. XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI...................................................................31
2.1. Khái quát chung về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản
lý nhà nước về đất đai..............................................................................................31
2.1.1. Khái niệm xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước
về đất đai...................................................................................................................31
2.1.2. Đặc điểm của xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà
nước về đất đai..........................................................................................................32
2.1.3. Nguyên tắc xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai .......................................................................................................................33
2.1.4. Đối tượng bị xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ....34
2.2. Các hình thức trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm đối với các chủ thể
quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.............................................................35
2.2.1. Trách nhiệm kỷ luật.......................................................................................36
2.2.1.1.
Đối tượng bị xử lý kỷ luật ..........................................................................36
2.2.1.2.
Nguyên tắc xử lý kỷ luật.............................................................................36
2.2.1.3.
Hình thức kỷ luật .......................................................................................36
2.2.1.4.
Thẩm quyền xử lý kỷ luật ...........................................................................41
2.2.1.5.
Trình tự xử lý kỷ luật .................................................................................43
2.2.2. Trách nhiệm vật chất .....................................................................................43
2.2.2.1.
Đối tượng chịu trách nhiệm vật chất..........................................................43
2.2.2.2.
Nguyên tắc xử lý trách nhiệm vật chất .......................................................43
2.2.2.3.
Trình tự bồi thường, hoàn trả trong trách nhiệm vật chất ..........................44
2.2.3. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ........................................................45
2.2.3.1.
Chủ thể gây thiệt hại ..................................................................................45
2.2.3.2.
Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường..........................................................45
2.2.3.3.
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường....................................................47
2.2.3.4.
Nguyên tắc giải quyết bồi thường ...............................................................47
2.2.4. Trách nhiệm hình sự......................................................................................47
2.2.4.1.
Đối tượng chịu trách nhiệm hình sự...........................................................48
2.2.4.2.
Thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hình sự..................................................48
2.2.4.3.
Khung hình phạt được áp dụng..................................................................48
2.2.5. Xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai .
........................................................................................................................48
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
vi
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI
PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI ..........................................................................................................53
3.1.
Thực trạng chung..........................................................................................53
3.2.
Các vi phạm điển hình ..................................................................................55
3.2.1. Vi phạm các quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển
mục đích sử dụng đất................................................................................................55
3.2.2 Vi phạm các quy định của pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất..........................................................................................60
3.2.3. Vi phạm các quy định của pháp luật về nội dung, trình tự cấp Giấy chứng
nhận đăng ký quyền sử dụng đất..............................................................................65
3.2.4. Vấn đề quy hoạch "treo", dự án "treo" ........................................................69
3.3. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý
nhà nước về đất đai..................................................................................................74
3.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật trong
lĩnh vực quản lý đất đai. ..........................................................................................77
3.4.1. Hoàn thiện những quy định của pháp luật đất đai để hạn chế vi phạm và xử
lý có hiệu quả cao .....................................................................................................78
3.4.2. Nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ quản lý đất đai.............................78
3.4.3. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đặc biệt là thanh tra đối với các cơ
quản lý đất đai...........................................................................................................78
3.4.4. Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai .
........................................................................................................................79
3.4.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai....................................79
3.4.6. Lắng nghe ý kiến của nhân dân về công tác quản lý đất đai để phát hiện và
xử lý kịp thời những vi phạm của người quản lý đất đai..........................................79
KẾT LUẬN ..............................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
vii
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ông cha ta có câu “Tấc đất tấc vàng”. Lời mở đầu của Luật Đất đai năm 1993
đã xác định vai trò của đất đai: “Đất đai là quà tặng vô cùng quý giá của thiên nhiên
dành cho con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu
của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Đối với một quốc gia, đất đai là dấu hiệu
quan trọng để xác định sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, toàn vẹn chủ quyền quốc gia.
“Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo
lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai là điều kiện
chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của
con người, là điều kiện vật chất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất cho các
thế hệ kế tiếp nhau của loài người.
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa, thực hiện theo cơ chế thị trường,
nhất là từ khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, đất đai được coi là hàng hoá đặc
biệt, thì số lượng các vụ vi phạm liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai ngày càng
tăng, ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình ổn định kinh tế, xã hội cũng như đời sống của
mỗi người dân. Trước tình hình đó hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
đất đai cũng không ngừng được hoàn thiện.
Trong những năm qua, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, góp phần vào sự ổn định chung của toàn xã hội, phát triển kinh tế của
đất nước, nâng cao đời sống của người dân.
Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, quản lý nhà
nước về đất đai thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề bất hợp lý, gây nhiều phản
ứng gay gắt trong nhân dân và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo. Hiện tượng vi
phạm pháp luật của các chủ thể quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay còn khá phổ biến,
số vụ vi phạm trong quản lý đất đai có chiều hướng ngày càng tăng nhất là tham
nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức của người quản lý là tương đối
nghiêm trọng, tình trạng giao đất, cho thuê trái thẩm quyền, giao đất không đúng đối
tượng ngày càng nhiều…
Vừa qua, hàng loạt các vụ án lớn liên quan đến quản lý đất đai như: vụ cưỡng
chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), vụ án vi phạm các quy định về sử
dụng đất đai tại Thành phố Long Xuyên (An Giang), vụ tham nhũng đất đai ở huyện
Hoóc Môn, huyện Gò Vấp (Thành phố Hồ Chí Minh), vụ án đất đai ở huyện Móng Cái
(Quảng Ninh)…và còn rất nhiều các vụ án liên quan đến quản lý đất đai khác. Tuy
mức độ cụ thể của các vụ án liên quan đến vấn đề quản lý đất đai có thể khác nhau,
nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng không nơi nào không có hiện tượng tham
nhũng về đất đai, không có nơi nào không có những người có chức, có quyền thực
hiện sai nhiệm vụ, chức năng của mình… Để xảy ra những tiêu cực trên, một phần là
do chính sách pháp luật về đất đai ở nước ta còn thiếu đồng bộ, thiếu cụ thể và có
nhiều kẽ hở, đất đai có giá trị đặc biệt nhưng việc thi hành pháp luật về đất đai không
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 1
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
nghiêm, quản lý còn lỏng lẻo… Điều đó đã gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp
của người dân, làm giảm uy tín của cơ quan quản lý nhà nước.Vì vậy, vấn đề đặt ra là
cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc các quy định của pháp luật về các hành vi vi
phạm và công tác xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn để tìm ra
những nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng vi phạm pháp luật của các chủ thể
quản lý đất đai, nhằm nâng cao hiệu quả của việc xử lý vi phạm đối với các chủ thể
này, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tránh để xảy ra những sai lầm,
thiếu sót và làm phong phú thêm lý luận về pháp luật đất đai.
Xuất phát từ những lý do trên, người viết nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Vi
phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai” trong bối cảnh hiện nay là hợp lý và cần thiết. Nghiên cứu đề tài này cũng là cơ
hội để người viết tìm hiểu sâu hơn về thực trạng quản lý đất đai ở nước ta, tình hình vi
phạm pháp luật của các chủ thể quản lý đất đai và thực trạng áp dụng pháp luật trong
việc xử lý các hành vi vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai. Qua đề tài này, người
viết cũng hy vọng sẽ đóng góp được một số giải pháp để hạn chế phần nào những vi
phạm và tháo gỡ những vướng mắc trong việc xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản
lý trong quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay.
2. Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề
lý luận, thực tiễn về vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý
nhà nước về đất đai, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế những hành vi vi
phạm, nâng cao năng lực, hiệu quả của công tác xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý
trong quản lý nhà nước về đất đai và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Để đạt được mục đích trên, luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ
thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm đối với
các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.
- Nghiên cứu thực trạng vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai và thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong
quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến vi phạm và tình
trạng xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai chưa triệt để và nghiêm minh.
- Qua các vấn đề nghiên cứu trên, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm
ngăn ngừa và xử lý vi phạm nghiêm minh, triệt để đối với các hành vi vi phạm của
người quản lý đất đai, góp phần xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật
trong lĩnh vực quản lý đất đai.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào hai vấn đề lớn: vi phạm
của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai và xử lý vi phạm đối với các
chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 2
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất, người viết vận dụng những
phương pháp để phục vụ việc nghiên cứu của mình như phương pháp nghiên cứu trên
tài liệu, sách vở, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp
sưu tầm số liệu thực tế và phương pháp tổng hợp thông tin qua các bài viết, các công
trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành trên nền tảng phương pháp luận
theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, luận văn được chia làm ba chương với các nội
dung chính:
Chương 1: Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.
Ở chương này, người viết đã có sự mô tả tổng quát những vấn đề lý luận chung
về vi phạm pháp luật đất đai, về vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản
lý nhà nước về đất đai. Sau khi có cái nhìn toàn diện về vấn đề này, nội dung chủ yếu
còn lại của chương là nghiên cứu về các hành vi vi phạm của các chủ thể quản lý trong
quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật. Nhận thức được điều này
giúp người viết có một cái nhìn tổng thể về hành vi vi phạm của người quản lý đất đai,
để từ đó xác định được các hình thức xử lý vi phạm đối với từng hành vi cụ thể.
Chương 2: Xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai.
Ở chương này, người viết đã có một cái nhìn khái quát chung về xử lý vi phạm
đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai. Tiếp đó, đề tài hướng
đến việc phân tích các hình thức trách nhiệm pháp lý được áp dụng khi xảy ra hành vi
vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai và xử lý vi phạm đối với một số hành vi vi
phạm cụ thể.
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm đối với các chủ
thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai.
Ở chương này, người viết làm rõ thực trạng vi phạm của các chủ thể quản lý đất
đai thông qua việc phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn áp dụng
pháp luật trong xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai. Từ đó, người viết nêu một số nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị nhằm
hạn chế vi phạm và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý
trong quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay.
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 3
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
CHƯƠNG 1
VI PHẠM CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.1.
Những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp luật đất đai
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của khoa Luật trường Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2001 định nghĩa về “vi phạm” như sau: “vi phạm là một
loại sự kiện pháp lý đặc biệt, đó là hành vi do các chủ thể pháp luật thực hiện trái với
các yêu cầu của quy phạm pháp luật được pháp luật bảo vệ”. Hành vi vi phạm pháp
luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Vậy, muốn xác định hành vi
vi phạm pháp luật phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:
Thứ nhất, phải là hành vi trái luật. Hành vi đó có thể là hành động hoặc không
hành động nhưng đi ngược lại với những điều mà pháp luật quy định, gây phương hại
hoặc chứa đựng nguy cơ gây phương hại cho xã hội.
Thứ hai, phải xâm hại đến các quan hệ mà pháp luật bảo vệ, tức là mang tính
nguy hiểm cho xã hội. Các quan hệ này được quy định trong pháp luật.
Thứ ba, có lỗi của chủ thể, có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý. Đây là yếu tố thể hiện
mức độ ý thức của con người đối với hành vi của mình.
Thứ tư, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là phải được thực hiện
bởi con người với tư cách cá nhân hay với tập thể (tổ chức); những người này phải đủ
khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng
lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai
Để giữ vững, duy trì sự hoạt động của bộ máy chính quyền, bảo đảm sự phát
triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội…thì bất kỳ Nhà nước nào cũng đều sử dụng
pháp luật như là một công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo cho các quan hệ xã hội vận hành
trong một trật tự ổn định. Các quan hệ pháp luật đất đai cũng không nằm ngoài quy
luật đó. Để duy trì trật tự quản lý đất đai, đảm bảo đất đai được sử dụng, khai thác có
hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể thực hiện quan hệ pháp luật, bảo
đảm trật tự pháp chế trong lĩnh vực đất đai được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh,
Nhà nước đề ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh những hành vi xử sự của các
chủ thể trong từng mối quan hệ đất đai cụ thể, buộc các chủ thể phải tuân theo những
khuôn mẫu, những quy tắc cụ thể, nghĩa là phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật
dưới hình thức xác lập quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, không phải lợi ích cá nhân và lợi
ích của Nhà nước, xã hội lúc nào cũng luôn luôn đồng nhất. Trong một số trường hợp,
vì lợi ích cá nhân mà một số chủ thể đã không tuân thủ thậm chí còn làm trái quy định
của pháp luật đất đai, đó chính là hiện tượng vi phạm pháp luật đất đai.
Các quan hệ pháp luật đất đai rất đa dạng về chủ thể, mục đích, về phương thức
thực hiện. Đó có thể là mối quan hệ giữa Nhà nước mà đại diện là các cơ quan quản lý
đất đai với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình giao đất, cho thuê đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất… Đó cũng có thể là mối quan hệ giữa những
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 4
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
chủ thể sử dụng đất với nhau trong các giao dịch dân sự về đất đai. Trong quá trình
thực hiện các mối quan hệ về đất đai, các chủ thể đã không thực hiện, thực hiện không
đúng các quy định của pháp luật đất đai hoặc thực hiện những điều pháp luật đất đai
cấm, đó chính là các vi phạm pháp luật đất đai.
Như vậy, vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới quyền lợi của Nhà nước, với vai trò là đại diện
của chủ sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như các quy
định về chế độ sử dụng các loại đất.
1.2.
Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1. Khái quát chung về quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1.1.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Theo Từ điển Luật học: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà
nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát
triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi;
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của
cả Bộ máy Nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể
thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính
do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước”1.
Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung được đề cập trên đây, Từ
điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm về quản lý đất đai và quản lý
nhà nước đối với đất đai cụ thể như sau:
-“Quản lý đất đai là hoạt động bao gồm việc thiết lập các cơ chế, các chính
sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và việc vận hành cơ chế đó nhằm
quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao.”
-“Quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai”2.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện những văn bản đó;
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất;
- Lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử
dụng đất;
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
1
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý, Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà
Nội - 2006, tr. 633.
2
Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao
động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 1999, tr.54.
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 5
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Thống kê, kiểm kê đất đai;
- Quản lý tài chính về đất đai;
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản;
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý vi phạm về đất đai;
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai3.
1.2.1.2.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hình thức quản lý nhà nước về đất đai xuất hiện và gắn liền với sự ra
đời của Nhà nước, trước hết nhằm bảo vệ những lợi ích của Nhà nước, của giai cấp
thống trị trong lĩnh vực đất đai. Nếu Nhà nước đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân
dân thì mục đích của quản lý nhà nước đối với đất đai chính là bảo vệ lợi ích của
người dân liên quan đến đất đai.
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy
các cơ quan nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước. Trong quá trình quản lý đất
đai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật đất đai buộc các đối tượng chịu sự quản lý là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng đất phải tuân theo.
Thứ ba, phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai là lãnh thổ của từng
cấp đơn vị hành chính và toàn bộ vốn đất đai nằm trong đường biên giới quốc gia.
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mang tính vĩ mô thể hiện ở việc
xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách về quản lý và sử dụng đất chứ không
hướng vào các hoạt động sử dụng đất mang tính tác nghiệp cụ thể.
1.2.1.3.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 1992, quản lý nhà nước là chức
năng của hệ thống cơ quan hành chính, cao nhất là Chính phủ, dưới đó là Ủy ban nhân
dân các cấp tỉnh, huyện và xã4. Chức năng quản lý của hệ thống các cơ này bao trùm
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương,
từng đơn vị hành chính cơ sở, lẽ dĩ nhiên, đất đai cũng là một trong những đối tượng
chịu sự quản lý. Hệ thống cơ quan này được Nhà nước thành lập và bằng pháp luật,
Nhà nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giúp Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong cả nước theo quy hoạch, kế hoạch
chung. Khi nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm
3
4
Điều 6 Luật Đất đai năm 2003.
Điều 109 và Điều 123 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 6
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và dựa trên khái niệm
về “hệ thống” dưới góc độ ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu về hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước về đất đai như sau: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai là hệ
thống cơ quan do Nhà nước thành lập thống nhất từ Trung ương tới địa phương có cơ
cấu, tổ chức chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau thực hiện chức năng,
nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả
nước và ở mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai ở nước ta bao gồm: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm
quyền chung gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện,
Ủy ban nhân dân cấp xã; Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền
riêng gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài
nguyên và Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó còn có sự
tham gia của hệ thống cơ quan quyền lực vào hoạt động quản lý nhà nước về đất đai
với vai trò đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát.
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước
Trong phần này, người viết đề cập đến hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước là
bởi vì xuất phát từ tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Luật Đất đai năm 2003 cùng với việc
quy định hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cũng đã xác định vai trò
của cơ quan đại diện cho nhân dân là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp không làm thay chức năng quản lý nhà nước về đất
đai mà tham gia hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với tư cách giám sát. Hoạt
động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong lĩnh vực quản lý đất
đai được thực hiện thông qua việc Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối
với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước5; Hội đồng nhân dân các
cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương6.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với đất đai
Với chức năng quản lý nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (trong đó
có lĩnh vực quản lý đất đai), Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Theo đó:
- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng,
an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước7;
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và
quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật Đất đai8.
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
5
Khoản 1 Điều 7 Luật Đất đai năm 2003.
Khoản 3 Điều 7 Luật Đất đai năm 2003.
7
Khoản 2 Điều 7 Luật Đất đai năm 2003.
8
Khoản 4 Điều 7 Luật Đất đai năm 2003.
6
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 7
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Ngày 05 tháng 8 năm 2002, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 quy định danh
sách các Bộ và Cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất và tổ chức
lại các đơn vị sau: Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Môi
trường (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), Cục Địa chất và Khoáng sản
Việt Nam, Viện Địa chất và Khoáng sản (thuộc Bộ Công nghiệp), Bộ phận Quản lý tài
nguyên nước thuộc Cục Quản lý tài nguyên nước và Công trình thuỷ lợi (thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Như vậy, từ năm 2002 đến nay, sau khi Quốc hội quyết định thành lập Bộ Tài
nguyên và Môi trường thì ngành quản lý đất đai của nước ta nằm trong Bộ Tài nguyên
và Môi trường.
Các cơ quan thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường được tổ chức theo nguyên
tắc “song trùng trực thuộc” và hoạt động theo chế độ Thủ trưởng. Người đứng đầu cơ
quan chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan hành chính Nhà nước cùng
cấp và cơ quan quản lý đất đai cấp trên trực tiếp9.
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành lập
thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo bốn cấp đơn vị hành chính sau đây:
o Cấp Trung ương
Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở Trung ương là Bộ Tài
nguyên và Môi trường, đây là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước trong các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất;
môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đo đạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về
biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi
quản lý của Bộ10.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và môi trường trong lĩnh vực quản
lý đất đai:
Ngoài những nhiệm vụ chung quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày
18 tháng 05 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Bộ, Cơ quan ngang Bộ11, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn có trách
nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 Nghị định số 25/2008/NĐCP ngày 04 tháng 03 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
9
Nguyên tắc “song trùng trực thuộc”, có nghĩa là cơ quan Tài nguyên và Môi trường vừa trực thuộc
theo chiều ngang – chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của cơ quan hành chính
nhà nước cùng cấp; đồng thời thực hiện theo chiều dọc – chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn,
nghiệp vụ của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp trên. Chế độ Thủ trưởng được thể hiện thông
qua việc Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và báo cáo trước Chính Phủ. Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và
báo cáo trước Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường. Cán bộ địa chính xã chịu
trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban nhân dân cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường.
10
Điều 1 Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04-03-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
11
Trước đây là Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03-12-2007 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 8
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực đất đai như
sau:
- Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình quốc gia,
kế hoạch dài hạn về quản lý, sử dụng đất đai sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt;
- Chủ trì lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các vùng và cả nước; thẩm định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trình và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh;
hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành,
điều chỉnh khung giá các loại đất; hướng dẫn phương pháp xác định giá đất và kiểm tra
việc xác định giá đất; hướng dẫn giải quyết các trường hợp vướng mắc về xác định giá
đất; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện điều tra, tổng hợp và cung cấp
các dữ liệu thông tin về giá đất;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất; việc đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất;
việc lập và quản lý hồ sơ địa chính; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất
đai, đánh giá đất; quản lý thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các điều kiện, thủ tục về hoạt động dịch
vụ công trong quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật; hướng dẫn hoạt
động của Tổ chức phát triển quỹ đất, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
- Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn
xử lý những vướng mắc về giá đất, giá tài sản gắn liền với đất và chính sách bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hướng dẫn
việc xác định người sử dụng đất thuộc đối tượng được bồi thường, được hỗ trợ hoặc
không được bồi thường, không được hỗ trợ làm cơ sở cho việc tính bồi thường, hỗ trợ;
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với
đất cho người tái định cư; quy định và hướng dẫn về quản lý đất đai trong khu tái định
cư;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành theo thẩm
quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện
các cơ chế, chính sách tài chính về đất đai trong việc thu tiền khi giao đất, cho thuê
đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, phát triển
quỹ đất theo quy hoạch; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thu hồi đất, phát triển quỹ
đất, đấu thầu quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Phát hành và quản lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất;
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 9
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện giải quyết tranh chấp đất
đai theo quy định của pháp luật.
o Cấp tỉnh
Để hoàn thiện bộ máy quản lý đất đai ở các địa phương cho phù hợp với việc
thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường ở Trung ương, ngày 02 tháng 04 năm 2003,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2003/QĐ-TTg về việc thành lập
Sở Tài nguyên và Môi trường, đổi tên Sở Khoa học công nghệ và Môi trường thành Sở
Khoa học và Công nghệ thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Tại Điều 1 Quyết định này nêu rõ: “Thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trên cơ sở hợp nhất tổ chức của
Sở Địa chính (hoặc Sở Địa chính - Nhà đất) và các tổ chức thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường thuộc Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi
trường”. Theo đó, ngày 15 tháng 7 năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ
Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban
nhân dân quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương (TTLT số
01/2003/TTLT-BTNMT-BNV).
Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài
nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn,
đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh theo quy đinh của pháp luật.
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và
công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực quản
lý đất đai:
- Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị về quản lý tài
nguyên đất, đo đạc và bản đồ ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy hoạch phát triển, chương trình, kế hoạch
dài hạn, năm năm và hàng năm về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ phù hợp với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định các biện pháp bảo vệ tài nguyên
đất, đo đạc và bản đồ ở địa phương; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, quy
hoạch, kế hoạch sau khi được xét duyệt; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và
thông tin về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ trên địa phương mình;
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và điều
chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
- Tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và kiểm tra việc thực hiện;
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 10
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
-Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất cho thuê đất, thu hồi đất,
chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
-Tổ chức thực hiện việc điều tra khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và
lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai, lập, quản lý, chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống kê,
kiểm kê đất đai; ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật; đăng ký giao dịch
đảm bảo quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với các tổ chức;
-Tham gia định giá các loại đất ở địa phương theo khung giá, nguyên tắc,
phương pháp định giá các loại đất do Chính phủ quy định;
-Thẩm định và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc uỷ quyền cấp
phép hoạt động đo đạc và bản đồ cho các tổ chức và cá nhân đăng ký hoạt động đo đạc
và bản đồ ở địa phương;
-Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kết quả kiểm tra, thẩm định chất
lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo đạc và bản đồ chuyên dụng
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
-Tổ chức xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng, thành lập hệ
thống bản đồ địa chính, bản đồ chuyên đề phục vụ các mục đích chuyên dụng;
-Theo dõi việc xuất bản phát hành bản đồ và kiến nghị với cơ quan quản lý nhà
nước việc đình chỉ phát hành, thu hồi các ấn phẩm bản đổ có sai sót về thể hiện chủ
quyền quốc gia, địa giới hành chính, địa danh thuộc địa phương; ấn phẩm bản đồ có
sai sót nghiêm trọng về kỹ thuật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực
tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý tài nguyên đất, đo đạc
và bản đồ ở cấp huyện, cấp xã;
- Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc bảo vệ các công trình nghiên
cứu, quan trắc về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ;
- Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật, giải quyết các tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy
định của pháp luật;
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ về quản lý tài
nguyên đất, đo đạc và bản đồ; tham gia hợp tác quốc tế; xây dựng hệ thống thông tin,
lưu trữ tư liệu về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Tham gia thẩm định các dự án, công trình có nội dung liên quan đến lĩnh vực
tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ;
- Báo cáo định kỳ sáu tháng, một năm và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ
về các lĩnh vực công tác được giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; tổ chức
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ xã, phường, thị trấn làm công
tác quản lý về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của Bộ Tài nguyên và
Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 11
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Quản lý tài chính, tài sản của Sở theo quy định của pháp luật và phân cấp của
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
o Cấp huyện
Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai cấp huyện là Phòng Tài
nguyên và Môi trường, đây là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện có chức năng quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ trên địa bàn huyện theo quy
định của pháp luật. Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ
chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo,
kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực
quản lý đất đai:
- Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện các văn bản hướng dẫn việc thực hiện các
chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước về quản lý tài nguyên đất, đo đạc và bản
đồ. Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quy hoạch, kế hoạch về tài nguyên đất; về đo
đạc và bản đồ và tổ chức thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử
dụng đất hàng năm, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tổ chức kiểm tra
việc thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai xã, phường, thị trấn; kiểm tra việc thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi
đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp
huyện và tổ chức thực hiện;
- Quản lý và theo dõi sự biến động về đất đai, cập nhật, chỉnh lý các tài liệu về
đất đai và bản đồ phù hợp với hiện trạng sử dụng đất theo hướng dẫn của Sở Tài
nguyên và Môi trường;
- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn kiểm tra việc thống kê, kiểm kê, đăng ký đất
đai; lập và quản lý hồ sơ địa chính; xây dựng hệ thống thông tin đất đai;
- Hướng dẫn và kiểm tra việc sử dụng bảo vệ tài nguyên đất;
- Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc kiểm tra và
thanh tra việc thi hành pháp luật; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết các tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp
luật;
- Tổ chức thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên đất, đo đạc và
bản đồ theo quy định của pháp luật... Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
thông tin về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ;
- Báo cáo định kỳ ba tháng, sáu tháng, một năm và đột xuất tình hình thực hiện
nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở
Tài nguyên và Môi trường;
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 12
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Quản lý cán bộ, công chức, viên chức; hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn,
nghiệp vụ đối với cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; tham gia với Sở Tài nguyên và
Môi trường trong việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm
công tác quản lý tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ và cán bộ địa chính xã, phường, thị
trấn.
o Cấp xã
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV quy định: Cán bộ địa chính
xã, phường, thị trấn (gọi chung là cán bộ địa chính xã) giúp Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện quản lý nhà nước về
tài nguyên và môi trường trong phạm vi xã, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn
giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ địa chính xã trong lĩnh vực quản lý đất đai:
- Lập văn bản để Ủy ban nhân dân cấp xã trình Ủy ban nhân dân cấp huyện về
quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất hàng năm; về giao đất, cho thuê đất, thu
hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp xã kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và theo dõi kiểm tra việc thực hiện;
- Thẩm định, xác nhận hồ sơ để Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất, chuyển
đổi quyền sử dụng đất, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện việc đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính; theo dõi, quản lý biến
động đất đai; chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống kê, kiểm kê đất đai;
- Tham gia hoà giải, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo
quy định của pháp luật; phát hiện các trường hợp vi phạm pháp luật về đấtđai, kiến
nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền xử lý;
- Tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bảo vệ đất đai;
- Quản lý dấu mốc đo đạc và mốc địa giới; bảo quản tư liệu về đất đai, đo đạc
và bản đồ.
Các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai
Tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai là khái niệm lần đầu tiên được đề
cập trong Luật Đất đai năm 2003. Các tổ chức này ra đời nhằm phúc đáp yêu cầu của
công cuộc cải cách các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất, góp phần đẩy
nhanh sự hình thành thị trường bất động sản có tổ chức và làm “lành mạnh hóa” các
giao dịch liên quan đến bất động sản. Hơn nữa, sự ra đời của tổ chức sự nghiệp công
và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyển đổi nền hành chính
công mang nặng tính chất quan liêu “cai trị, quản lý” sang nền hành chính mang tính
chất gần dân, tính chất “dịch vụ, phục vụ”.
Khái niệm tổ chức sự nghiệp công được Luật Đất đai năm 2003 định nghĩa như
sau: “Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 13
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả”12. Với quan niệm này thì Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất là cơ quan “có chức
năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả”.
o Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được thành lập ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là đơn vị sự nghiệp
công lập, có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng
đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo
quy định của pháp luật13.
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Giám đốc
Sở Tài nguyên và Môi trường và Giám đốc Sở Nội vụ. Văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, do Ủy ban nhân dân cấp
huyện quyết định thành lập theo đề nghị của Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường
và Trưởng phòng Nội vụ. Điều này có nghĩa là, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
chỉ được tổ chức trên địa bàn cấp tỉnh và cấp huyện. Ở cấp xã sẽ không có Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất.
Theo quy định của pháp luật, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất bắt buộc
phải được thành lập ở cấp tỉnh14 và có thể có chi nhánh tại các địa bàn cần thiết15. Văn
phòng Đăng ký quyền sử dụng đất có con dấu riêng, được mở tài khoản theo quy định
của pháp luật.
Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ra đời với chức năng, nhiệm vụ
được xác định cụ thể trên đây chính là Nhà nước đã xác lập mô hình “một cửa” thực
hiện cải cách các thủ tục hành chính về đất đai, giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về
đất đai giảm áp lực từ nhu cầu thực hiện các thủ tục về đất đai từ phía người dân và xã
hội.
o Tổ chức phát triển quỹ đất
Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu
hoặc doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích do Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập để thực hiện bồi thường, giải
phóng mặt bằng trong trường hợp thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
được công bố mà chưa có dự án đầu tư, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong
khu vực có quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi
khác trước khi Nhà nước quyết định thu hồi đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi và tổ chức
12
Khoản 28 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003.
Điều 1 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 15-03-2010 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ
chức, biên chế và cơ chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
14
Điều 185 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy
định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải hoàn thành việc thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ trước ngày 01-7-2005. Như vậy, việc thành lập Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đât là bắt buộc ở cấp tỉnh.
15
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 181/2004/NĐ-CP.
13
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 14
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
đấu giá quyền sử dụng đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối
với diện tích đất được giao quản lý16.
Tổ chức phát triển quỹ đất được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có chức năng tổ chức việc
thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất,
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định thị trường bất động sản; nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; phát triển các khu tái định cư; đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng trên đất; đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; quản lý quỹ
đất đã thu hồi, đã nhận chuyển nhượng, đã tạo lập, phát triển và thực hiện dịch vụ
trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng17.
Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hoặc
toàn bộ kinh phí hoạt động, có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con dấu riêng được mở
tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy định
của pháp luật.
1.2.1.4.
Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai
Hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện bởi:
- Người đứng đầu tổ chức, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về
quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ
địa chính xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục
hành chính trong quản lý đất đai.
- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị
được Nhà nước giao để quản lý.
1.2.2. Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2.2.1.
Khái niệm vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Quan hệ pháp luật đất đai là mối quan hệ vô cùng phức tạp và nhạy cảm, biến
động từng ngày cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tham gia mối quan
hệ này gồm có cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất. Theo Hiến pháp năm
1992: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, bảo đảm sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài. Tổ chức cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử
dụng tiệt kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định
của pháp luật”18.
Như vậy, cơ quan quản lý đất đai là đại diện của Nhà nước, thay mặt Nhà nước
để đảm bảo quyền sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo quyền sử dụng đất đúng theo
quy định của pháp luật đất đai phát huy vai trò vô cùng quan trọng của đất đai, và tổ
chức, cá nhân cũng có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng đất đai hợp lý tuân thủ pháp luật
đất đai. Tuy nhiên, trong quá trình tham gia mối quan hệ này, trong một số trường hợp
16
Điều 10 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 08-01-2010 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ
cấu tổ chức và cơ chế tài chính của Tổ chức phát triển quỹ đất.
18
Điều 18 Hiến pháp năm 1992.
17
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 15
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
vì lợi ích trước mắt của bản thân mình mà có chủ thể quản lý đất đai đã có những hành
vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi bất chính, cố tình vi phạm pháp luật đất đai.
Vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi lợi
dụng chức vụ, quyền hạn một cách cố ý hoặc vô ý của chủ thể quản lý đất đai vi phạm
các quy định của pháp luật, phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trong trường hợp hành vi
có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật.
1.2.2.2.
Cấu thành của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà
nước về đất đai
Mặt khách quan
Khách quan là những gì tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí
của con người.
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà
nước về đất đai là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật. Nó bao gồm
những yếu tố sau:
- Hành vi trái pháp luật đất đai:
Khi nói đến vi phạm pháp luật đất đai thì buộc phải có hành vi trái pháp luật đất
đai của tổ chức hay của cá nhân. Nếu không có hành vi trái pháp luật đất đai thì không
có vi phạm pháp luật đất đai xảy ra. Vì vậy, hành vi trái pháp luật đất đai là một yếu tố
bắt buộc phải có trong cấu thành của vi phạm pháp luật đất đai.
Pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của con người. Hành vi trái
pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật về quản lý đất đai.
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai
không chỉ là hành vi xác định của con người hoặc là hoạt động của cơ quan nhà nước,
các tổ chức xã hội mà hành vi đó phải trái với các quy định của pháp luật đất đai, xâm
hại tới khách thể được Luật Đất đai bảo vệ và gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây
nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi đó có thể bằng hành động hoặc không hành động nhưng phải được biểu
hiện ra bên ngoài hiện thực khách quan, nghĩa là có thể nhìn thấy, nghe thấy, nhận
thức được hành động hay không hành động đó. Một hành vi chỉ bị coi là trái pháp luật
đất đai khi hành vi đó không phù hợp hoặc trái ngược với các quy định của pháp luật
đất đai.
Hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật
đất đai trong quá trình thực hiện việc quản lý đất đai. Đây chính là điểm khác nhau cơ
bản giữa vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất và chủ thể quản lý đất đai vì
vi phạm pháp luật của người sử dụng đất là những hành vi trái pháp luật đất đai trong
quá trình sử dụng đất còn vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản lý là trong quá
trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, chủ thể này đã không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai. Hành vi không thực
hiện những quy định của pháp luật đất đai như: không công bố hoặc chậm công bố quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 16
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
thông báo cho người có đất bị thu hồi; không công khai phương án bồi thường, tái định
cư… Hành vi thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai như: giao
đất, giao lại đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa; thu hồi đất không đúng
thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế
hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt…
- Hậu quả do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra:
Là những thiệt hại do hành vi trái pháp luật đất đai của người quản lý đất đai
gây ra. Hậu quả do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra thể hiện ở chỗ nó xâm hại
quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền sở hữu của người
sử dụng đất.
Sự xâm phạm đó thường được thể hiện trong việc định đoạt một cách bất hợp
pháp số phận pháp lý của đất đai như không tuân theo những thủ tục cấp đất do pháp
luật quy định, giao đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, mua, bán,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái phép dưới nhiều hình thức như núp dưới danh
nghĩa thanh lý tài sản, thanh lý nhà cửa hoặc thu tiền bán đất trên danh nghĩa đền bù
nhưng sử dụng số tiền đó không đúng với mục đích hoặc tự tiện chuyển giao đất cho
người thừa kế, hoặc sử dụng đất không đúng mục đích được giao, tự ý thay đổi mục
đích sử dụng đất khi chưa có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đất đai với hậu quả mà
nó gây ra cho xã hội:
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản
lý đất đai với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội phải có quan hệ hữu cơ với nhau, sự
thiệt hại cho xã hội do chính hành vi của người quản lý gây ra.
Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bên ngoài khác như: công cụ, phương tiện,
phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm…vi phạm.
Khác với căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm
trong các loại quan hệ xã hội khác thì đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai nói
chung, với hành vi vi phạm của chủ thể quản lý đất đai nói riêng, trong đa số trường
hợp, không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại của hành vi và quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó.
Khách thể
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, phá vỡ. Khách thể của vi phạm của vi
phạm pháp luật của chủ thể quản lý chủ thể quản lý đất đai thực hiện là những quan hệ
đất đai được các quy phạm pháp luật đất đai bảo vệ.
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật đất đai là những biểu hiện tâm lý
bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật
của chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai thể hiện ở yếu tố lỗi. Lỗi
là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm pháp luật đất đai. Một hành vi trái pháp luật không
đồng nghĩa với vi phạm pháp luật nếu chưa xác định yếu tố lỗi. Trong quy phạm pháp
luật, Nhà nước đã đưa ra trước những cách xử sự có tính khuôn mẫu mà chủ thể được
phép hoặc buộc phải lựa chọn khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu. Và chủ
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 17
SVTH: Lê Thị Thu Hường
Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
thể khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được Nhà nước dự liệu thì chỉ được phép hoặc
buộc phải lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà quy phạm
pháp luật đã dự liệu cho những trường hợp đó. Các chủ thể pháp luật có lý trí và tự do
ý chí nhưng trong hoàn cảnh đó họ lại lựa chọn cách xử sự trái với ý chí của Nhà nước
do đó chủ thể đã có lỗi và phải chịu trách nhiệm về xử sự của mình.
Lỗi có thể là cố ý hoặc vô ý. Sẽ không bị coi là có lỗi nếu bản thân người thực
hiện hành vi vi phạm không nhận thức được hành vi của mình cũng như hậu quả do
hành vi gây ra. Xét yếu tố lỗi một cách chính xác sẽ xác định được hình thức xử lý phù
hợp nhất đối với một hành vi vi phạm.
Hành vi vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản lý đất đai được thực hiện
với lỗi cố ý hoặc vô ý như: cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa; thu hồi
đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch sử dụng
đất chi tiết đã được xét duyệt…
Chủ thể
Chủ thể của vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực chủ
thể, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với
hành vi trái pháp luật của mình.
Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi
do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được
pháp luật đất đai bảo vệ. Do vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật trong quản lý nhà
nước về đất đai là những cá nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý. Chủ
thể của vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai chính là các chủ thể có
thẩm quyền trong việc quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm trong việc thực hiện
chức năng quản lý đất đai, bao gồm:
- Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về
quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai;
- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính
xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính
trong quản lý đất đai;
- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được
Nhà nước giao đất để quản lý.
1.3.
Các hành vi vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai
Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ngày càng được kiện toàn với sự xuất hiện
của các cơ quan, tổ chức mới. Mỗi cơ quan, tổ chức, mỗi cán bộ quản lý mới được
đảm nhiệm chức trách riêng và kéo theo đó hành vi vi phạm của người quản lý đất đai
cũng rất đa dạng và phức tạp. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (Nghị định số 181/2004/NĐ-CP) đã dành
riêng Mục 2 Chương XIII quy định về các hành vi vi phạm đối với người quản lý đất
đai. Đó là những hành vi vi phạm sau:
GVHD: TS. Phan Trung Hiền
Trang 18
SVTH: Lê Thị Thu Hường