Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009-2013)
Đề tài:
VẤN ĐỀ TRẺ EM KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG KÝ KHAI SINH –
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Thị Trúc Giang
Trần Thị Cẩm Nhung
MSSV: 5095447
Lớp: Luật Tư Pháp 1 khóa 35
Cần Thơ, tháng 11/2012
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 1
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở
nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận
văn là trung thực. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được
đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu
tham khảo của luận văn.
Cần thơ, ngày 29 tháng 11 năm 2012
Người viết
Trần Thị Cẩm Nhung
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 2
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
Lời cảm ơn
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền dạy cho người viết nguồn kiến thức sâu rộng
góp phần hoàn thành luận văn này. Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến Cô Huỳnh Thị Trúc Giang, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên người viết
trong suốt quá trình làm luận văn. Chân thành cảm ơn các tác giả của những bài viết, sách,
báo, tạp chí chuyên luận mà người viết đã sử dụng làm tài liệu trong quá trình nghiên cứu.
Với điều kiện thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn
chế, ắt hẳn luận văn sẽ có nhiều thiếu sót. Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, lòng đam
mê tìm tòi người viết hy vọng đóng góp ý kiến nhỏ của mình vào sự phát triển chung của nền
khoa học pháp lý. Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, những
người đi trước và những anh chị, độc giả quan tâm đến đề tài này.
Cần thơ, ngày 29 tháng 11 năm 2012
Người viết
Trần Thị Cẩm Nhung
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 3
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 4
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 5
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trang
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu của đề tài.................................................................. 1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................ 2
5. Tình hình nghiên cứu ................................................................................................. 2
6. Kết cấu của luận văn .................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN TRẺ EM KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG
KÝ KHAI SINH
1.1. Quy định của pháp luật về quyền được đăng ký khai sinh ................................. 4
1.1.1. Luật Hiến pháp................................................................................................ 4
1.1.2. Bộ Luật Dân sự................................................................................................ 6
1.1.3. Luật Hôn nhân và gia đình ............................................................................. 6
1.1.4. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em....................................................... 7
1.1.5. Luật Quốc tịch ................................................................................................. 8
1.2. Đánh giá chung quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh........................... 8
1.3. Tổng quan tình hình đăng ký khai sinh ở Việt Nam hiện nay ......................... 10
1.3.1. Tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh ở vùng đồng bằng nước ta
.................................................................................................................................. 14
1.3.2. Tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh ở vùng trung du và miền núi
nước ta ........................................................................................................................ 19
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 6
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
1.3.3. Tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh ở vùng ven biển, hải đảo nước
ta ................................................................................................................................. 26
1.3.4. Tình hình đăng ký khai sinh cho trẻ em tại một số xã thuộc huyện An Minh, tỉnh
Kiên Giang .................................................................................................................. 28
1.4.Nguyên nhân trẻ em không được đăng ký khai sinh .......................................... 30
1.4.1. Những bất cập trong quy định của pháp luật ................................................ 30
1.4.2. Những nguyên nhân từ cán bộ Tư pháp hộ tịch, cơ quan có thẩm quyền.........
..........................................................................................................................................
................................................................................................................................. 34
1.4.3. Nguyên nhân xuất phát từ người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em
................................................................................................................................. 41
1.4.3.1. Nguyên nhân khách quan ........................................................................... 42
1.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan............................................................................... 48
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TRẺ EM
KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG KÝ KHAI SINH
2.1. Sự cần thiết của những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em không được
đăng ký khai sinh ....................................................................................................... 50
2.2. Những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em không được đăng ký khai sinh
.................................................................................................................................... 51
2.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật.......................................................... 51
2.2.2. Những giải pháp nhằm khắc phục nguyên nhân từ phía cán bộ Tư pháp hộ tịch,
cơ quan có thẩm quyền ............................................................................................... 55
2.2.2.1. Tăng cường số lượng cán bộ Tư pháp hộ tịch làm công tác đăng ký khai sinh .
.............................................................................................................................. 55
2.2.2.2. Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch trong hoạt động đăng
ký khai sinh .................................................................................................................. 57
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 7
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
2.2.2.3. Nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch trong
hoạt động đăng ký khai sinh......................................................................................... 58
2.2.2.4. Theo dõi, giám sát, đánh giá các hoạt động đăng ký khai sinh và có liên quan
đến đăng ký khai sinh cho trẻ em ................................................................................. 60
2.2.3. Những giải pháp nhằm khắc phục nguyên nhân từ phía người có trách nhiệm đi
đăng ký khai sinh cho trẻ em ...................................................................................... 61
2.2.3.1. Tổ chức đăng ký khai sinh lưu động ....................................................... 61
2.2.3.2. Nâng cao nhận thức pháp luật về đăng ký khai sinh đối với người có trách
nhiệm đi đăng ký khai sinh........................................................................................... 61
2.2.3.3. Đăng ký khai sinh lại cho trẻ em sinh ra trong trại giam ........................ 63
2.2.3.4. Giải pháp đăng ký khai sinh cho trường hợp trẻ sinh ra ngoài giá thú mà bị mẹ
bỏ rơi ........................................................................................................................... 64
2.2.3.5. Khuyến khích giáo viên vùng sâu, vùng xa, miền núi đi đăng ký khai sinh cho
trẻ em........................................................................................................................... 65
2.2.4. Tuyên truyền, phổ biến những quy định pháp luật về đăng ký khai sinh ...... 66
2.2.4.1. Truyền thông nâng cao nhận thức, sự quan tâm của gia đình, cộng đồng và cán
bộ lãnh đạo về đăng ký khai sinh cho trẻ em ................................................................ 67
2.2.4.2. Đổi mới hình thức tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật về đăng ký khai
sinh .............................................................................................................................. 68
2.2.4.3. Phát huy tối đa vai trò của báo chí với công tác tuyên truyền pháp luật về đăng
ký khai sinh .................................................................................................................. 69
2.2.4.4. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đăng ký khai sinh thông qua hoạt động trợ
giúp pháp lý lưu động .................................................................................................. 70
2.2.4.5. Nâng cao trách nhiệm và trình độ chuyên môn cho đội ngũ tuyên truyền viên cơ
sở................................................................................................................................. 71
2.2.5. Đầu tư cơ sở vật chất và Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động đăng ký khai sinh ............................................................................................... 71
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 8
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
2.2.6. Nâng cao trách nhiệm của các cấp, ngành có liên quan đến công tác đăng ký
khai sinh...................................................................................................................... 73
2.2.7. Huy động sự tham gia của các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy chương trình
đăng ký khai sinh cho trẻ em ...................................................................................... 75
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 9
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các loại giấy tờ tùy thân, Giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Đối với mỗi người sau khi có giấy khai
sinh – hộ tịch gốc – người đó có đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật đối với Nhà nước và xã
hội. Tất cả những thông số có liên quan đến cuộc đời cá nhân luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc
này. Hiện nay, vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh cao nhất
cả nước với 98,2% trong khi đồng bằng Sông Cửu Long lại có tỷ lệ trẻ em được đăng ký
khai sinh thấp nhất cả nước với 90,7%. Đây chỉ là mặt bằng chung của cả nước vì thực chất
tỷ lệ trẻ em không được đăng ký khai sinh vẫn còn nhiều.
Giấy khai sinh có ý nghĩa quan trọng, giúp cho trẻ em có thể hòa nhập vào xã hội,
chẳng hạn để thực hiện quyền được học tập, được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe,… Hơn
nữa, việc đăng ký khai sinh còn giúp cho Nhà nước dễ dàng quản lý mật độ dân số tại địa
phương để đưa ra những chính sách phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với địa phương đó.
Với tầm quan trọng của việc đăng ký khai sinh như trên mà tình hình trẻ em chưa
được đăng ký khai sinh ở nước ta vẫn còn nhiều, để hạn chế tình hình này ở một số địa
phương cán bộ Tư pháp hộ tịch đã không ngừng khuyến khích, vận động, tuyên truyền nâng
cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, nhiều trẻ em vẫn
chưa được đăng ký khai sinh, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp
của trẻ em.
Trước tình hình nêu trên việc nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc trẻ
em không được đăng ký khai sinh, qua đó đề ra các giải pháp để nâng cao tỷ lệ trẻ em được
đăng ký khai sinh là cần thiết giúp trẻ em được hưởng những quyền lợi cơ bản.
2. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài “Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh –
Nguyên nhân và giải pháp” người viết xác định mục tiêu khi nghiên cứu đề tài này như sau:
Một là, đánh giá đúng thực tế tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh ở nước
ta, tìm ra được những nguyên nhân làm cho trẻ em không được đăng ký khai sinh. Mặt khác,
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 10
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
tìm ra những khó khăn mà cán bộ Tư pháp hộ tịch và người có trách nhiệm đi đăng ký khai
sinh gặp phải trong công tác đăng ký hai sinh.
Hai là, đề ra các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em không được đăng ký khai
sinh, qua đó giúp nâng cao nhận thức pháp luật về đăng ký khai sinh của người dân, tinh
thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch trong hoạt động đăng ký khai sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này người viết chủ yếu xoay quanh những nội dung cơ bản là khái quát
về tình hình trẻ em đã được đăng ký khai sinh ở một số vùng, miền trên cả nước trong những
năm gần đây, từ đó thấy được tầm quan trọng của việc đăng ký khai sinh. Đồng thời tìm ra
những nguyên nhân trẻ em không được đăng ký khai sinh.
Qua quá trình phân tích các vấn đề nói trên, người viết đề ra các giải pháp cần thiết
mang tính cụ thể, khả thi cần được áp dụng trong quá trình đăng ký khai sinh nhằm nâng cao
hiệu quả đăng ký khai sinh của cả nước trong thời gian sắp tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết đã áp dụng một số phương pháp nghiên
cứu như sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách: Nhằm nghiên cứu các cơ sở lý
luận về đăng ký khai sinh,….
Phương pháp phân tích luật viết: Đặc biệt là nghiên cứu những bất cập của quy định
pháp luật về hoạt động đăng ký khai sinh trong các Nghị định và các văn bản có liên quan.
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Nhằm tìm ra những điểm chung và khác
biệt khi tiếp cận các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn.
Phương pháp sưu tầm số liệu thực tế: Bằng cách tìm trên internet, khảo sát thực tế tại
một số địa phương giúp cho người viết có nguồn thông tin về tình hình trẻ em đã được và
chưa được đăng ký khai sinh.
5. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, chúng ta có thể thấy một số đề tài nghiên cứu về đăng ký hộ tịch nhưng đa
số các đề tài này điều tập trung nghiên cứu về vấn đề đăng ký hộ tịch nói chung chưa có đề
tài nào nghiên cứu riêng biệt về đăng ký khai sinh. Do đó với đề tài “Vấn đề trẻ em không
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 11
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp” người viết hy vọng sẽ đóng góp một
phần công sức của mình vào việc nâng cao tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1: Đánh giá một cách toàn diện thực trạng của quy định pháp luật về đăng ký
khai sinh cho trẻ em, trình bày khái quát về tình hình trẻ em được đăng ký khai sinh để từ đó
có thể biết được tỷ lệ trẻ em không được đăng ký khai sinh ở nước ta hiện nay và tìm ra
những nguyên nhân làm phát sinh tình hình trên.
Chương 2: Những kết luận rút ra từ tình hình trên là căn cứ để hình thành phương
hướng giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả đăng ký khai sinh
cho trẻ em.
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 12
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN TRẺ EM KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG KÝ KHAI SINH
1.1. Quy định của pháp luật về quyền được đăng ký khai sinh
Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, có đối tượng điều chỉnh là
các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Trẻ em là một chủ thể pháp luật,
các quan hệ xã hội về trẻ em cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành
luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta.
Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã
hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam:
Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em, Luật Quốc tịch,... đều bảo vệ quyền trẻ em trong đó có quyền được đăng ký khai sinh
của trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình.
1.1.1. Hiến pháp
Là một đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp quy định những vấn đề quan trọng
như bản chất Nhà nước, cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của cơ quan Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... mang tính nguyên tắc
và làm cơ sở cho các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong lĩnh vực
Hiến pháp, trẻ em được xem như một công dân, hơn thế 1à một công dân đặc biệt. Và vấn đề
bảo vệ quyền trẻ em được điều chỉnh dưới góc độ là phạm trù của quyền con người. Do vậy,
Hiến pháp bảo vệ quyền trẻ em bằng việc quy định các quyền cơ bản nhất của trẻ em, bao
gồm quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định trách
nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản này.
Tuy nhiên, riêng đối với Hiến pháp, xuất phát từ vai trò là một đạo luật cơ bản và mang tính
nền tảng, xin phân tích một cách khái quát quá trình phát triển của vấn đề bảo vệ quyền được
giáo dưỡng cũng như đăng ký khai sinh của trẻ em qua các bản Hiến pháp Việt Nam.
Lịch sử xây dựng và trưởng thành của chính quyền nhân dân đã được đánh dấu bằng
bốn bản Hiến pháp, gọi theo năm ra đời: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980,
Hiến pháp 1992. Có thể thấy rằng quyền được chăm sóc, bảo vệ, học tập và được đăng ký
khai sinh của trẻ em đều được bốn Hiến pháp quy định, chứa đựng trong chương ''Quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân''. Nhưng xuất phát từ điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, xã
hội khác nhau trong từng thời kỳ mà mỗi Hiến pháp dành những quy định không giống nhau
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 13
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
đối với quyền được chăm sóc, bảo vệ, học tập và được đăng ký khai sinh của trẻ em. Hiến
pháp tiếp theo ra đời là sự kế thừa, phát triển những hạt nhân hợp lý của các Hiến pháp trước
và bổ sung thêm những quy định mới nhằm hoàn thiện chế định pháp lý về bảo vệ quyền trẻ
em.
Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam kiểu mới, Hiến pháp 1946 quy định
về quyền được giáo dục và giáo dưỡng của trẻ em. Nhà nước đảm bảo cho trẻ em được giáo
dục, học tập, được chăm sóc về mặt giáo dưỡng. Không những thế, Nhà nước còn có chính
sách trợ giúp đối với học trò nghèo. Chỉ số lượng 2 điều ít ỏi là Điều thứ 14 và Điều thứ 15
Hiến pháp 1946 đã đặt cơ sơ pháp lý đầu tiên khẳng định các quyền cơ bản và thiêng liêng
của trẻ em, bao gồm quyền được học tập và chăm sóc nhưng để được chăm sóc một cách
toàn diện thì trẻ em phải được đăng ký khai sinh ngay từ khi mới chào đời để đảm bảo
những quyền lợi được quy định trong luật chuyên ngành, những quyền lợi cụ thể sẽ được
giới thiệu ở các mục tiếp theo. Cùng với sự quan tâm của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi
ích của trẻ em được tiếp tục thể hiện, phát triển và bổ sung ở những Hiến pháp tiếp theo.
Hiến pháp 1959 đã rất đúng đắn khi gắn quyền lợi của trẻ em với những quyền lợi của phụ
nữ được quy định tại Điều 24. Vì người mẹ là người có trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ cũng
như có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ để đảm bảo quyền
lợi đầy đủ của trẻ em sau khi chào đời. Đến Hiến pháp 1980, ngoài việc kế thừa các Hiến
pháp trước, quy định thêm rằng Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho công
tác chăm sóc sức khỏe, cho hoạt động học tập, giáo dục, sinh hoạt văn hoá tinh thần của trẻ
em. Đặc biệt tại đây, lần đầu tiên quyền lợi của trẻ em được đặt bên cạnh trách nhiệm của
gia đình trong việc nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Từ Hiến pháp 1980 cho thấy những
quy định tương đối hoàn chỉnh và đầy đủ đối với những quyền lợi cơ bản của trẻ em tại Điều
60, 61, 63, 64, 65. Nhà nước đã có những quy định thể hiện sự quan tâm nhiều hơn tới quyền
được chăm sóc sức khoẻ và học tập của trẻ em trong khi đó để được đến trường và được cấp
thẻ bảo hiểm y tế trẻ em phải có Giấy khai sinh, vì vậy việc đăng ký khai sinh cho trẻ em là
một việc làm quan trọng góp phần thực hiện quyền lợi được chăm sóc sức khoẻ và học tập
của trẻ em theo Hiến pháp 1980 quy định.Cho tới Hiến pháp 1992, những quyền lợi của trẻ
em trở thành một chế định hoàn chỉnh chứ không còn là những quy định riêng lẻ như các
Hiến pháp trước. Quy định về quyền trẻ em được gói gọn trong khoảng hơn 10 điều, với nội
dung toàn diện hơn, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của cả xã hội, phù hợp với công
cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế với sự
phát triển của nền văn minh nhân loại, xuất phát từ những góc nhìn, bình diện khác nhau trên
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 14
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
phương diện rộng, thể hiện nhân sinh quan, một nhận thức mới đối với vấn đề quyền trẻ em
một cách bao quát. Hiến pháp lại một lần nữa khẳng định các quyền cơ bản, thiêng liêng của
trẻ em, gồm quyền được học tập, chăm sóc và bảo vệ về mặt sức khỏe, thể chất. Nhà nước
có chính sách học phí, học bổng đối với trẻ em năng khiếu, trẻ em tàn tật hoặc có hoàn cảnh
khó khăn. Hiến pháp đặc biệt nhấn mạnh rằng: nghĩa vụ bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
là của gia đình, Nhà nước và xã hội. Tới Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, một lần nữa một chế
định hoàn chỉnh về quyền trẻ em lại được khẳng định. Tại Điều 65 Hiến pháp 1992 sửa đổi
đã quy định “ Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
Tuy nhiên để hưởng được những quyền lợi cơ bản đó đầu tiên trẻ em phải được đăng ký khai
sinh. Khi được đăng ký khai sinh trẻ em mới có thể đến trường học tập, được hưởng những
quyền lợi từ nền giáo dục nước nhà và khi trẻ em được đăng ký khai sinh thì gia đình mới
hoàn thành nghĩa vụ của mình là tạo điều kiện cho trẻ hưởng quyền lợi được giáo dục.
Đăng ký khai sinh cho trẻ em còn là điều cơ bản để trẻ được hưởng quyền lợi về y tế,
được khám chữa bệnh miễn phí khi trẻ dưới 6 tuổi. Yêu cầu để trẻ dưới 6 tuổi được khám
chữa bệnh miễn phí là trẻ phải có thể bảo hiểm y tế, để có được thẻ bảo hiểm y tế thì trẻ em
phải có Giấy khai sinh. Nhưng trên thực tế nhiều trẻ khi sinh ra không làm khai sinh, hộ
khẩu nên rất khó có căn cứ để cơ quan đoàn thể biết đến cấp thẻ. Vì thế việc đăng ký khai
sinh cho trẻ em là vô cùng quan trọng để trẻ hưởng được quyền bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục.
1.1.2. Bộ Luật Dân sự
Luật Dân sự với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân
phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá
nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của các thành viên trong xã hội. Luật Dân sự coi trẻ em
như một thành viên của đời sống dân sự và có những quy định riêng nhằm xác định địa vị
pháp lý của trẻ em trong lĩnh vực dân sự, gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý.
Đối với vấn đề đăng ký khai sinh của trẻ em tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy
định rõ “ Cá nhân khi sinh ra có quyền được đăng ký khai sinh”. Từ Điều luật trên đã thể
hiện rõ việc đăng ký khai sinh cho trẻ em là một quyền lợi của trẻ gắn liền từ khi trẻ được
sinh ra đời.
1.1.3. Luật Hôn nhân và gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều
chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình. Đó là: các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 15
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
vợ -chồng, giữa cha mẹ- con cái, giữa các thành viên khác trong gia đình. Với phạm vi điều
chỉnh đặc thù của mình, Luật Hôn nhân và gia đình xem trẻ em như là một thành viên đặc
biệt của gia đình, cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em thể hiện
trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về quyền nhân thân và quyền tài sản trong
các mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái, giữa anh chị em, giữa ông bà - cháu, giữa các thành
viên khác trong gia đình như quyền được khai sinh, quyền được xác định cha mẹ, quyền
được cha mẹ yêu thương, trông nom, dạy dỗ, quyền tài sản, quyền được cấp dưỡng, quyền
được cha mẹ thay mặt bồi thường thiệt hại cho người khác. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và
gia đình còn xác định trách nhiệm và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của trẻ em đối với cha
mẹ, anh chị em, ông bà và các thành viên khác trong gia đình. Ông bà, cha mẹ là những
người có trách nhiệm phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ trong vòng 60 ngày kể từ ngày trẻ
được sinh ra đời.
1.1.4. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trẻ em có vai trò đặc biệt quan trọng đối với gia đình và xã hội. Người Việt Nam vốn
có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu, con cháu không chỉ là nguồn hạnh phúc
mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước mơ, niềm tin và sự hãnh diện. Vì vậy,
ngay từ thời xa xưa, các nhà nước phong kiến đã đề ra những quy định bằng pháp luật để
bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em. Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà
nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em. Nhiều chủ trương, chính sách ra đời
hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo
đức của trẻ em. Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lược,
chương trình đào tạo, bồi dưỡng và đã đào tạo được những lớp người giàu lòng yêu nước, có
sức khỏe, có văn hóa, hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những chính sách ưu tiên quyền lợi của trẻ em Luật
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emđã ra đời như một công cụ pháp luật quan trọng để bảo
vệ quyền và lợi ích cơ bản của trẻ em
Về vấn đề đề đăng ký khai sinh Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
quy định tại Điều 11: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” và “Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em” tại
khoản 2, Điều 23. Những quy định trên cho thấy việc đăng ký khai sinh cho trẻ em rất cần
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 16
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
thiết và đang được Nhà nước ta chú trọng nhằm giảm thiểu tối đa tình trạng trẻ em không
được đăng ký khai sinh ở nước ta.
1.1.5. Luật Quốc tịch
Luật Quốc tịch Việt Nam là một ngành luật thuộc hệ thống luật công, điều chỉnh mối
quan hệ giữa Nhà nước và dân cư sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Mối quan hệ này xác
định địa vị pháp lý của cá nhân bao gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý để thực
hiện quyền và nghĩa vụ đó. Như vậy, quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định mối quan hệ
giữa một cá nhân với một Nhà nước nhất định. Người có quốc tịch chịu sự tài phán tuyệt đối
của Nhà nước, đồng thời được hưởng đầy đủ mọi năng lực pháp lý với sự bảo hộ của Nhà
nước, không phân biệt phạm vi cư trú. Do vậy, trẻ em với tư cách là một cá nhân, nên quyền
có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em. Quốc tịch là
căn cứ để trẻ em được hưởng sự bảo hộ pháp lý của Nhà nước, là một trong những điều kiện
cơ bản để xác định tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho đến khi chết.
Rõ ràng, Luật Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Thông
thường, Luật Quốc tịch bảo vệ quyền trẻ em bằng các quy định về sự có, mất, thay đổi quốc
tịch, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch. Việc đăng ký khai sinh là cơ sở
để xác định quốc tịch cho trẻ em. Căn cứ theo khoản 1 Điều 11 Luật Quốc tịch năm 2008
quy định giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam trong đó Giấy khai sinh là giấy tờ có giá
trị để chứng minh người có quốc tịch Việt Nam, nếu trường hợp Giấy khai sinh không thể
hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của
cha mẹ. Ngoài ra Giấy khai sinh còn là một giấy tờ quan trọng để Công dân Việt Nam tại
nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam có thể đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam và không
phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài.
1.2. Đánh giá chung quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh
Quan điểm của Nhà nước ta là ưu tiên cho trẻ em khi sinh ra được đăng ký khai sinh,
pháp luật cũng có nhiều quy định về đăng ký khai sinh cho trẻ em. Việt Nam, trong những
năm gần đây đã có nhiều chủ trương, chính sách về đăng ký khai sinh cho trẻ em: Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam đã được sửa đổi tháng 6 năm 2004, tại Chương II,
điều 11 đã qui định: "1. Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch; 2. Trẻ em chưa xác
định được cha mẹ, nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha,
mẹ theo qui định của pháp luật”. Luật Quốc tịch Việt Nam, tại điều 16, 17, 18, 19 đã qui
định một số vấn đề cơ bản về Quốc tịch, về đăng ký khai sinh cho trẻ em. Nghị định số
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 17
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
83/1998/NĐ-CP, ngày 10 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Thông tư
số 12/1999/TT-BTP, ngày 25 tháng 6 năm 1999 hướng dẫn thi hành một số qui định của
Nghị định số 83/1998/NĐ-CP nhằm cụ thể hóa một số vấn đề đăng ký hộ tịch, trong đó có
đăng ký khai sinh cho trẻ em hiện nay được thay thế bằng Nghị định số 158/2005/NĐ – CP
ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị
định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 và Thông tư số 01/2008/TT – BTP
ngày 02 tháng 6 năm 2008 hướng dẫn thực hiện một số qui định của Nghị định
158/2005/NĐ – CP. Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, đã đề ra mục
tiêu phấn đấu đạt 80% trẻ em được đăng ký khai sinh trước 5 tuổi vào 2005 và 90% vào năm
2010.
Với nhiều quy định pháp luật về lĩnh vực đăng ký khai sinh như vậy Nhà nước ta đã
đạt được một số thành tựu trong vấn đề đăng ký khai sinh của trẻ em. Có thể khẳng định,
tình hình đăng ký khai sinh cho trẻ em của Việt Nam có những cải thiện và thành công rất
đáng khích lệ cho tới năm 2010 đã đạt trung bình hơn 90% trẻ em được đăng ký khai sinh
trên khắp các vùng miền của cả nước1. Từ việc Nhà nước quan tâm đến vấn đề đăng ký khai
sinh cho trẻ em bằng hình thức quy định nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề đăng ký
khai sinh thì cán bộ lãnh đạo, gia đình và cộng đồng đồng cũng có chuyển biến trong nhận
thức, sự quan tâm và hành động trong việc thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em. Cán bộ
lãnh đạo, quản lý, nhất là một số ngành như: Tư pháp, Dân số - Gia đình - Trẻ em , Công an,
Y tế, Phụ nữ, Giáo dục, Đoàn thanh niên, Liên đoàn lao động, Hội chữ thập đỏ, Văn hóa thông tin v.v... có sự chuyển biến quan trọng về nhận thức, sự quan tâm và tham gia chỉ đạo
triển khai đăng ký khai sinh cho trẻ em. Các bậc làm cha, mẹ và đối tượng tiền hôn nhân có
sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức về sự cần thiết phải đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm vấn đề đăng
ký khai sinh cho trẻ em nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Do đó tình trạng trẻ em
không được đăng ký khai sinh vẫn diễn ra khá phổ biến ở một số nơi sẽ được trình bày cụ
thể ở những mục tiếp theo của đề tài.
1
Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng cục thống kê và UNICEF Việt Nam tiến hành điều tra, www.gso.gov.vn/Modules/
Doc_Download.aspx?DocID=14504, [truy cập ngày 02/08/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 18
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
Nhà nước đã tạo được nhiều cơ sở pháp lý nhưng lại chưa đưa ra được cơ chế bảo
đảm cho cơ sở pháp lý đó được thực hiện. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng
trẻ em chưa được đăng ký khai sinh. Cụ thể Nhà nước đã đưa ra những quy định, trình tự thủ
tục và thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em nhưng lại không quy định hình thức chế tài
nào đối với việc không đăng ký khai sinh cho trẻ em do đó nhiều bậc làm cha mẹ không
quan tâm đến việc có cần phải đăng ký khai sinh cho con mình hay không vì không đăng ký
thì cũng không bị chế tài gì.
Bên cạnh đó Nhà nước cũng đưa ra được những quy định mang tính chế tài trong vấn
đề đăng ký khai sinh như vấn đề đăng ký khai sinh quá hạn nếu quá thời hạn 60 ngày mới đi
đăng ký khai sinh thì phải làm thủ tục đăng ký quá hạn và bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ
50.000 đồng đến 100.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP
ngày 23 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư
pháp. Tuy nhiên những quy định chế tài này lại chưa phù hợp với thực tế mà còn là nguyên
nhân làm cho trẻ em không được đăng ký khai sinh vì đối với một số gia đình không nắm bắt
kịp thời những quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh họ không biết được thời hạn
phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là 60 ngày và tiến hành đăng ký khai sinh sau thời gian
đó vậy họ phải làm thủ tục và nộp phạt số tiền như quy định trên. Đối với những gia đình có
điều kiện thì đây không phải là vấn đề nhưng đối với những gia đình kinh tế khó khăn việc
đóng phạt số tiền như vậy có thể họ không có khả năng đóng dẫn đến việc họ không đăng ký
khai sinh cho con em mình.
Vì vậy Nhà nước ta cần xem xét lại để đưa ra những quy định và cơ chế bảo vệ phù
hợp với thực tế nhằm phát huy những mặt đã làm được trong công tác đăng ký khai sinh và
tạo mọi điều kiện để trẻ em được đăng ký khai sinh cũng như có được mọi quyền lợi cơ bản
đáng có.
1.3. Khái quát tình hình đăng ký khai sinh ở Việt nam hiện nay
“Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, quyền
có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm
sóc sau khi ra đời”. Đây là nội dung được quy định tại Điều 7 Công ước của Liên Hợp quốc
về quyền trẻ em, đã được thông qua và ký kết ngày 20 tháng 11 năm 1989 và có hiệu lực từ
ngày 2 tháng 9 năm 1990. Như vậy, quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân
thân quan trọng của trẻ em không chỉ được pháp luật quốc tế quy định và bảo vệ mà pháp
luật nước ta cũng đã thể chế hóa quyền được khai sinh này. Tại Điều 11 của Luật Bảo vệ,
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 19
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có
quốc tịch” và tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền được khai sinh “Cá nhân khi
sinh ra có quyền được khai sinh”. Quyền khai sinh của cá nhân được quy định trong Bộ luật
Dân sự là việc khẳng định sự bảo vệ của Nhà nước đối với giá trị của quyền khai sinh.
Quyền được khai sinh là quyền đầu tiên khẳng định trẻ em là một công dân một quốc gia, là
một công dân bình đẳng như mọi công dân khác và đây là cơ sở phát sinh các quyền và
nghĩa vụ của công dân, mà quyền đầu tiên ở đây của trẻ em là quyền được chăm sóc và bảo
vệ.
Theo kết quả của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2006 do Tổng cục
thống kê và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam tiến hành điều tra, tỷ lệ trẻ em ở Việt
Nam dưới 5 tuổi được đăng ký khai sinh là 88%, cao đáng kể so với 72% của năm 2000.
Chính phủ cũng thừa nhận thực tế rằng không phải tất cả trẻ em sống ở vùng sâu, vùng xa và
trẻ em dân tộc thiểu số đều được đăng ký khai sinh.
Nhận thức được rằng đăng ký khai sinh cho trẻ em là nền tảng phát sinh các quyền
công dân khác, tạo điều kiện cho trẻ được hưởng những quyền lợi đáng có nhưng do những
nguyên nhân sâu xa mà trên thực tế còn nhiều trẻ em chưa được đăng ký khai sinh đúng thời
hạn. Để khắc phục thực tế đó Nhà nước ta đã thực hiện Chương trình hành động Quốc gia vì
trẻ em giai đoạn 2001-2005 của Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, đã có gần 2 triệu 500 trẻ
em được đăng ký khai sinh quá hạn trên tổng số trẻ em được rà soát.
Từ năm 2005 đến nay, để đảm bảo thực hiện những quyền cơ bản của trẻ em, Ủy ban
dân số gia đình và trẻ em các cấp đã tiến hành nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm
thay đổi nhận thức xã hội về quyền và lợi ích của trẻ em khi đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Phối hợp với Hội Phụ nữ, Hội Nông dân địa phương cùng tham gia vào công tác khai sinh
cho trẻ em, trong đó đặc biệt quan tâm đến trẻ em sâu, vùng dân tộc thiểu số. Cán bộ Ủy
ban dân số gia đình và trẻ em ở nhiều địa phương đã phối hợp với cán bộ Tư pháp hộ tịch
trình Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh cho số trẻ em chưa được đăng ký
trước khi thực hiện cấp phát thẻ khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, số này
tập trung chủ yếu ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tính đến
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 20
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
tháng 5/2007, trên toàn quốc đã có trên 97% trẻ em dưới 6 tuổi được nhận thẻ khám chữa
bệnh2.
Có thể thấy rõ, việc trẻ em có Giấy khai sinh gắn liền với quyền lợi được khám chữa
bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế công lập. Qua đó, giúp người dân thấy được sự cần thiết của
việc đăng ký khai sinh cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng không đăng ký khai sinh cho trẻ em
ngay sau khi sinh, đồng thời rà soát, bổ sung đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em ở vùng
sâu, vùng xa còn tồn đọng trước đây.
Gần đây nhất đã diễn ra chiến dịch đăng ký khai sinh cho trẻ em nữ tại Việt Nam do
tổ chức Plan Quốc tế phối hợp với một số ban, ngành Việt Nam thực hiện. Tổ chức Plan là
một trong những tổ chức lâu đời nhất và lớn nhất về phát triển trẻ em toàn cầu. Ngày 20/3 tại
Hà Nội, Tổ chức Plan Quốc tế tại Việt Nam đã kỷ niệm 75 năm hoạt động với sự tham gia
của đông đảo trẻ em Việt Nam. Chương trình trọng tâm của buổi lễ là chiến dịch "Count
Every Child" nhằm giúp trẻ em trên toàn cầu có Giấy khai sinh. Ông Sven Coppens, Giám
đốc chương trình Plan tại Việt Nam cho biết vấn đề cấp Giấy khai sinh cho trẻ em Việt Nam
gần như được đảm bảo hoàn toàn. Chính phủ Việt Nam công nhận việc đăng ký Giấy khai
sinh là một quyền hợp pháp của mọi trẻ em. Tại lễ kỷ niệm, đại diện Plan quốc tế cũng cho
biết, năm 2012 là một năm quan trọng với chiến dịch "Because I am a Girl - BIAG" (Bởi vì
tôi là con gái) của Plan. Chiến dịch này sẽ được mở đầu ở New York (Mỹ) vào Ngày Quốc
tế trẻ em nữ 11/10. "Đăng ký Giấy khai sinh cho trẻ em nữ là một phần quan trọng của chiến
dịch nâng cao nhận thức toàn cầu về bình đẳng giới. Nếu trẻ em nữ được quan tâm đầy đủ
thì khi lớn lên các em lấy chồng sinh con, đứa trẻ sẽ được đầu tư nhiều hơn. Đó là lý do tại
sao Plan quyết định phát động chiến dịch này," Giám đốc chương trình Plan tại Việt Nam
nhấn mạnh.
Tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh ở Việt Nam tăng theo từng năm nhờ vào những
chính sách pháp luật của Nhà Nước và sự hiểu biết tầm quan trọng về việc đăng ký khai sinh
cho con của cha mẹ. Cụ thể cũng theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ
em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do Tổng cục thống kê cùng phối hợp với Bộ Y tế,
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tiến hành từ tháng 12 năm
2010 đến tháng 1 năm 2011 với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Quỹ Nhi đồng Liên
2
Ngọc Lan, Trang tin điện tử của Ủy ban Dân tộc: Cho trẻ em được hưởng những quyền tốt đẹp nhất,
[truy cập ngày
02/8/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 21
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
hợp quốc và hỗ trợ tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc có 95% trẻ em dưới 5 tuổi được
đăng ký khai sinh với 94,6% trẻ em trai và 95,3% trẻ em gái. Chỉ tiêu cho thấy không có sự
chênh lệch nhiều về tỷ lệ được đăng ký khai sinh giữa bé trai và bé gái.
Trẻ em dưới 5 tuổi sống trong hộ gia đình chủ hộ là người dân tộc thiểu số có tỷ lệ
được đăng ký khai sinh là 84,9% thấp hơn so với trẻ em dưới 5 tuổi sống trong hộ gia đình
chủ hộ là người Kinh hoặc người Hoa với 96,7% trẻ em được đăng ký khai sinh. 3
Tính theo nhóm tháng tuổi thì trẻ em ở nhóm từ 48 – 59 tháng tuổi có tỷ lệ được đăng
ký khai sinh cao nhất với 98,6%, trẻ em ở nhóm từ 36 – 47 tháng tuổi có tỷ lệ 97,8% trẻ
được đăng ký khai sinh ở những nhóm tháng tuổi thấp hơn thì tỷ lệ trẻ được đăng ký khai
sinh cũng giảm theo từng nhóm. Cụ thể trẻ từ 24 – 35 tháng tuổi có tỷ lệ được đăng ký khai
sinh là 97,2%, trẻ từ 12 – 23 tháng tuổi có tỷ lệ là 95,7%, trẻ từ 0 – 11 tháng tuổi có tỷ lệ
được đăng ký khai sinh là 84,5%.4
Phần lớn trẻ em không được đăng ký khai sinh phụ thuộc khá nhiều về trình độ học
vấn của người mẹ. Nếu người mẹ có trình độ học vấn cao sẽ nhận thức được tờ giấy khai
sinh đối với đứa trẻ là một quyền lợi cơ bản. Thông thường trẻ em thuộc nhóm mẹ không có
bằng cấp sẽ có tỷ lệ được đăng ký khai sinh thấp hơn nhiều so với trẻ thuộc nhóm mẹ có
bằng Cao đẳng, Đại học. Theo số liệu thống kê năm 2010 – 2011 trẻ em thuộc nhóm mẹ
không có bằng cấp chỉ được đăng ký khai sinh 77,6%, trong khi tỷ lệ trẻ em thuộc nhóm mẹ
có bằng Cao đẳng, Đại học là 98,5% trẻ được đăng ký khai sinh. Ngoài ra, còn có các nhóm
trình độ học vấn của mẹ ở bậc tiểu học thì tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh là 90,2%, mẹ
có trình độ học vấn ở bậc Trung học phổ thông thì tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh là
96,9%.5
3
Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng cục thống kê và UNICEF Việt Nam tiến hành điều tra, www.gso.gov.vn/Modules/DocDownload
.aspx?DocID=14504, [Truy cập ngày 02/8/2012].
4
Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng cục thống kê và UNICEF Việt Nam tiến hành điều tra, www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download
.aspx?DocID=14504, [Truy cập ngày 02/8/2012].
5
Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng cục thống kê và UNICEF Việt Nam tiến hành điều tra, www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download
.aspx?DocID=14504, [Truy cập ngày 02/8/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 22
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
Trẻ em được sinh ra trong gia đình kinh tế khá thường có tỷ lệ được đăng ký khai
sinh cao hơn vì thông thường những gia đình kinh tế khá giả sẽ có điều kiện cho trẻ em đến
trường đầy đủ. Khi đến trường để được hưởng quyền lợi giáo dục thì điều kiện cần có là
Giấy khai sinh của trẻ do đó họ sẽ nhận thức được cần phải đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Trong khi những gia đình có kinh tế khó khăn ít có điều kiện cho con đến trường sẽ không
quan tâm đến chuyện làm giấy khai sinh cho con vì lý do họ thấy không cần thiết. Theo điều
tra của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 – 2011, tỷ lệ trẻ em được đăng
ký khai sinh theo chỉ số giàu nghèo có sự chênh lệch. Cụ thể nhóm trẻ em thuộc gia đình
kinh tế đặc biệt khó khăn chỉ được đăng ký khai sinh 86,8%, trẻ em sinh ra trong gia đình
kinh tế khó khăn được đăng ký khai sinh là 96,2%, trẻ em sinh ra trong gia đình kinh tế
trung bình được đăng ký khai sinh là 97,1%, trẻ em sinh ra trong gia đình kinh tế khá được
đăng ký khai sinh là 97,8%, trẻ em sinh ra trong gia đình giàu có đạt 98,2% tỷ lệ trẻ em được
đăng ký khai sinh.
1.3.1. Tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh ở vùng đồng bằng nước ta
Trên thực tế, vùng đồng bằng là nơi có điều kiện địa lý thuận lợi giúp trẻ em dễ dàng
được đăng ký khai sinh.Trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em được đăng ký
khai sinh cao nhất cả nước với 98,2%6, nhờ vào mặt bằng dân trí nơi đây khá cao so với mặt
bằng chung cả nước. Người dân nhận thức được rằng việc cần làm đầu tiên khi trẻ em mới
được sinh ra là đăng ký khai sinh cho trẻ để làm cơ sở thiết lập hồ sơ, giấy tờ cá nhân.
Mặc dù tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh ở vùng đồng bằng sông Hồng khá cao so
với cả nước nhưng ở những xã vùng sâu, vùng xa nơi đây vẫn diễn ra tình trạng trẻ chưa
được đăng ký khai sinh vì những lý do như nhận thức pháp luật hạn chế, sinh quá nhiều con
nên phải giấu giếm hoặc mê tín dị đoan. Cụ thể như vài trường hợp ở một số xã thuộc tỉnh
Hà Tây trước đây.
6 Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng cục thống kê và UNICEF Việt Nam tiến hành điều tra, www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download
.aspx?DocID=14504, [Truy cập ngày 02/8/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 23
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
Ví dụ: Chị Thân, người dân tộc Mường ở xã An Phú, huyện Mỹ Đức, mới 36 tuổi, có
5 con, trong đó 3 đứa chưa được đăng ký. Lý do thật đơn giản: Xã quy định đẻ từ đứa thứ ba
trở đi phải nộp phạt, thế nên chị không làm khai sinh cho con nữa.7
Nhiều người dân ở các xã vùng sâu, vùng xa cho rằng không cần thiết phải làm Giấy
khai sinh cho trẻ em vì nếu không đi học thì có giấy khai sinh cũng không làm gì. Đây là
những suy nghĩ hạn chế của một bộ phận người dân thiếu hiểu biết pháp luật, không nhận
thức được những thiệt thòi cho trẻ em khi không có Giấy khai sinh.
Ví dụ: Vợ chồng anh Hân ở xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, có con gái đã 5 tuổi song
vẫn chưa được làm khai sinh, thật thà nói: “Chúng tôi chả có điều kiện cho cháu đi học, chỉ
cần nhớ ngày tháng năm sinh để đến tuổi thì gả chồng cho nó”8.
Ngoài những lý do trên những người phụ trách công tác hộ tịch còn cho biết thêm các
quy định pháp luật không rõ ràng khiến đến cấp xã cũng không biết những giấy tờ cần thiết
để đăng ký khai sinh. Nhiều trường hợp người mẹ đã cắt hộ khẩu ở phường, song chưa nhập
được hộ khẩu nơi mới nên không thể làm khai sinh cho con.
Tuy nhiên cũng thuộc vùng đồng bằng nhưng do mặt bằng dân trí chưa cao nên đồng
bằng sông Cửu Long lại có tỷ lệ trẻ em được đăng ký khai sinh thấp nhất cả nước với
90,7%.9
Để cải thiện tình hình trẻ em không được đăng ký khai sinh, Bộ Tư pháp đã xây dựng
Đề án số 278/TP-HT về tổ chức năm tập trung công tác đăng ký khai sinh cho trẻ em trong
toàn quốc. Theo đó, các địa phương đã thực hiện rà soát, lập danh sách những trẻ em chưa
đăng ký khai sinh, tiến hành phân loại và đăng ký. Khảo sát trên địa bàn tỉnh An Giang nhận
được kết quả là có 117 954 trẻ em chưa được đăng ký khai sinh. Thông qua Đề án đã tiến
hành đăng ký cho 111 398 trẻ đạt 94%, còn lại 6556 trẻ chưa được đăng ký khai sinh. Cũng
7 Diễn đàn Việt báo : Nhiều trẻ em ở Hà Tây không được đăng ký khai sinh, [Truy cập ngày 3/8/2012].
8 Diễn đàn Việt báo : Nhiều trẻ em ở Hà Tây không được đăng ký khai sinh, [Truy cập ngày 3/8/2012].
9 Theo kết quả thống kê của MICS (Điều tra các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ) 2010 - 2011 tại Việt Nam do
Tổng
cục
thống
kê
và
UNICEF
Việt
Nam
tiến
hành
www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=14504, [Truy cập ngày 02/8/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 24
điều
tra,
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung
Vấn đề trẻ em không được đăng ký khai sinh – Nguyên nhân và giải pháp
thông qua Đề án đã tiến hành đăng ký khai sinh cho 306 trẻ tại xã Ô Lâm thuộc tỉnh An
Giang10.
Hiện tại ở một số tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn rất nhiều trẻ em
không được đăng ký khai sinh vì nhiều lý do khác nhau. Cụ thể ở thị trấn Sông Đốc, huyện
Trần Văn Thời (Cà Mau) vẫn còn nhiều đứa trẻ thất học vì chưa có giấy khai sinh.
Ví dụ: Chị Nguyễn Thị Lợi - quê ở huyện Phú Tân đến thị trấn Sông Đốc, huyện Trần
Văn Thời mưu sinh bằng nghề nhặt phế liệu hơn sáu tháng nay. Cuộc sống của gia đình chị
lâm vào cảnh cơ hàn khi chồng chị bị mất sau một cơn bệnh nặng. Chị phải một mình cưu
mang ba đứa con thơ. Suốt ngày rong ruổi khắp các con đường quanh thị trấn, hôm nào
chiếc bao trên vai trống rỗng là hôm đó bị đói. Các loại trái cây hư thối được chị nhặt từ
chợ mang về để ăn thay cơm. Nhìn lũ trẻ lem luốc, thiếu ăn, thiếu mặc, chị Lợi chỉ ao ước
giản đơn: "Giá như con mình được đi học... để sau này bớt khổ". Nhưng con chị chưa có
đứa nào có Giấy khai sinh thì làm sao mà đi học được11 ?
Ví dụ: Anh Lê Văn Tuấn đã tạm trú hơn 10 năm ở thị trấn sầm uất này nhưng con
anh, em Trần Thị Yến Tuyết (12 tuổi) vẫn chưa một ngày được đi học chỉ vì chưa có Giấy
khai sinh. Anh Tuấn không dám ra chính quyền làm Giấy khai sinh cho con, vì sợ bị phạt.
Hồi trước, vợ chồng anh từng dắt con đến một trường tiểu học trình bày gia cảnh... nhưng
nhà trường từ chối. Anh Tuấn ngậm ngùi: "Thấy con mình bị dốt chữ, làm cha mẹ mình xót
xa lắm chứ. Người ta đông con không lo nổi cho con ăn học đã đành, còn mình chỉ có một
đứa con, nuôi không xong là có lỗi...".12
Theo chính sách pháp luật của Nhà nước người dân tộc thiểu số ở nước ta thường
được ưu tiên hưởng những quyền lợi như được cộng điểm thi đại học, được tạo điều kiện có
công ăn việc làm, khám chữa bệnh nhưng khi những trẻ em người dân tộc thiểu số không
10
ThS. Nguyễn Văn Đoàn, Diễn đàn Tổng cục dân số - kế hoạch hoá gia đình: Đăng ký khai sinh cho trẻ em:
thực
trạng
và
giải
pháp,
/>C98DA5D74291B924E?p_p_id=62_INSTANCE_ANCE_Z5vv_groupId=18&_62_INSTANCE_Z5vv_articl
eId=1466, [Truy cập ngày 5/8/2012].
11
Kim Hà, Diễn đàn Việt báo: Những đứa trẻ không được khai sinh , [Truy cập ngày 5/8/2012].
12
Kim Hà, Diễn đàn Việt báo: Những đứa trẻ không được khai sinh , [Truy cập ngày 5/8/2012].
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Trang 25
SVTH: Trần Thị Cẩm Nhung