Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP bồi THƯỜNG THIỆT hại DO HÀNH VI xâm PHẠM QUYỀN tác GIẢGÂY RA lý LUẬN và THỰC TIỄN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (910.08 KB, 106 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

BÀI BÁO CÁO LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 34: 2008 – 2012
ĐỀ TÀI:

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI
XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

Phan Văn Dư

Bộ môn: Tư pháp

Mã số Sinh viên: 5085949
Lớp: Tư pháp 1

Cần Thơ, 2012


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cha mẹ, những người đã hết
sức lo cho tôi trong bốn năm đại học, chính nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ mà tôi mới có


kết quả học tập như ngày hôm nay. Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy,
Cô Khoa Luật, các Thầy, Cô đã từng dạy tôi trên giảng đường đại học, chính các
Thầy, Cô đã truyền đạt, vun bồi những kiến thức và khơi dậy niềm đam mê học tập
của tôi. Thứ ba, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh, chị, các bạn cùng khóa, đã giúp
đỡ tôi trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu, thảo luận với tôi những vấn đề còn thắc
mắc. Và cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt đến cô Nguyễn Thị
Ngọc Tuyền - người đã hỗ trợ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn để
tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình.
Tôi xin chúc tất cả mọi người luôn tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, gặp nhiều may
mắn và thành công hơn nữa trong công việc của mình.

Sinh viên thực hiện
PHAN VĂN DƯ

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư



Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 3
5. Kết cấu đề tài ........................................................................................................ 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA....................................... 4
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển chế định bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra............................................................................. 4
1.1.1. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005 ...................................................... 4
1.1.2. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác

giả gây ra của Luật sở hữu trí tuệ 2005 .................................................................... 6
1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra............................................................... 7
1.2.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ............................................ 7
1.2.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra............................................................................................................. 8
1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra.............................................................................................. 10
1.4. Phân biệt bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả và bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây ra..... 12
1.5. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
................................................................................................................................ 14
1.5.1. Nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại............................................ 14
1.5.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời .............................. 15
1.5.3. Nguyên tắc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại................................. 17
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

1.5.4. Nguyên tắc thay đổi mức bồi thường thiệt hại........................................ 19
1.6. Sự cần thiết của việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành
vi xâm phạm quyền tác giả gây ra ...................................................................... 20
1.6.1. Đối với chủ thể quyền tác giả ................................................................. 20
1.6.1.1. Đối với tác giả ................................................................................ 20
1.6.1.2. Đối với chủ sở hữu quyền tác giả................................................... 22
1.6.2. Đối với Nhà nước và công chúng ........................................................... 24
1.6.2.1. Đối với Nhà nước ........................................................................... 24

1.6.2.2. Đối với công chúng ........................................................................ 25
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA.............................. 27
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra.............................................................................................. 27
2.1.1. Có thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra......................... 27
2.1.1.1. Thiệt hại về vật chất ....................................................................... 27
2.1.1.2. Thiệt hại về tinh thần...................................................................... 36
2.1.2. Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền tác giả................................. 37
2.1.2.1. Hành vi xâm phạm quyền nhân thân .............................................. 37
2.1.2.2. Hành vi xâm phạm quyền tài sản ................................................... 38
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm
quyền tác giả........................................................................................................... 39
2.1.4. Có lỗi của chủ thể xâm phạm quyền tác giả ........................................... 40
2.2. Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra ............................................................................................................... 42
2.2.1. Mức bồi thường đối với thiệt hại về vật chất.......................................... 43
2.2.1.1. Khi xác định được lợi nhuận bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm
quyền tác giả........................................................................................................... 43
2.2.1.2. Khi xác định được giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng quyền
tác giả ..................................................................................................................... 44
2.2.1.3. Bồi thường thiệt hại theo luật định................................................. 45
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

2.2.2. Mức bồi thường đối với thiệt hại về tinh thần ........................................ 47

2.2.3. Mức thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư........................................ 48
2.3. Chủ thể của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra .................................................................................. 50
2.3.1. Chủ thể nhận bồi thường thiệt hại........................................................... 50
2.3.1.1. Chủ thể bị thiệt hại trực tiếp ........................................................... 50
2.3.1.2. Người đại diện và người giám hộ................................................... 53
2.3.2. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ....................................... 55
2.3.2.1. Cá nhân........................................................................................... 55
2.3.2.2. Tổ chức ........................................................................................... 57
2.4. Kinh nghiệm về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra từ pháp luật một số quốc gia.................................................................... 57
2.4.1. Hoa Kỳ .................................................................................................... 57
2.4.2. Nhật Bản ................................................................................................. 59
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
GÂY RA. MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ............................................... 63
3.1. Tình hình chung về hành vi xâm phạm quyền tác giả trong một số lĩnh vực
................................................................................................................................ 63
3.1.1. Trong lĩnh vực báo chí ............................................................................ 63
3.1.2. Trong lĩnh vực âm nhạc ......................................................................... 66
3.1.3. Trong lĩnh vực điện ảnh .......................................................................... 68
3.1.4. Trong lĩnh vực xuất bản .......................................................................... 70
3.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra và kiến nghị....................................... 72
3.2.1. Cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra của Tòa án qua một số vụ kiện......................................................... 73
3.2.1.1. Tồn tại............................................................................................. 73
3.2.1.2. Nguyên nhân và giải pháp ............................................................. 77
3.2.2. Các quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả chưa đầy đủ............. 81
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

3.2.2.1. Tồn tại............................................................................................. 81
3.2.2.2. Kiến nghị ........................................................................................ 82
3.2.3. Một số quy định về xác định thiệt hại trùng nhau và mức bồi thường thiệt
hại theo luật định chưa hợp lý ................................................................................ 83
3.2.3.1. Tồn tại............................................................................................. 83
3.2.3.2. Kiến nghị ........................................................................................ 86
3.2.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên đưa ra yêu cầu không đúng chưa
được quy định rõ ràng............................................................................................. 87
3.2.4.1. Tồn tại............................................................................................. 87
3.2.4.2. Kiến nghị ........................................................................................ 89
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, nước ta
chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành

phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ
nghĩa, thì các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng
phát triển mạnh mẽ và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và
tinh thần của con người. Xuất phát từ vai trò đó thì việc xuất hiện các hành vi xâm
phạm quyền tác giả là khó có thể tránh khỏi. Khi đó, việc xây dựng và hoàn thiện
các quy định pháp luật về quyền tác giả, để bảo vệ quyền lợi của thể quyền tác giả
là cần thiết.
Cùng với sự phát triển không ngừng của các đối tượng quyền tác giả, pháp luật
điều chỉnh mối quan hệ về quyền tác giả cũng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp
với tình hình của đất nước và chế định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra là một trong những quy định được các nhà làm luật chú trọng.
Cụ thể, chế định về bồi thường này được thừa nhận đầu tiền trong Bộ luật dân sự
1995 với các quy định chưa đầy đủ về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường,
căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây
ra,...và các quy định này ngày càng được hoàn thiện hơn trong Bộ luật dân sự 2005,
Luật sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung 2009).
Tuy nhiên, trong những năm gần đây hành vi xâm phạm quyền tác giả diễn ra
ngày càng phổ biến trên hầu hết các lĩnh vực của quyền tác giả với mức độ ngày
càng lớn, gây ra nhiều thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả và xã hội. Nhưng phần lớn
các vụ việc xâm phạm quyền tác giả được giải quyết chủ yếu bằng biện pháp hành
chính hoặc hình sự, số lượng lượng vụ xâm phạm được đưa đến Tòa án để yêu cầu
bồi thường thiệt hại rất ít. Trong khi đó, chế định bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm có hiệu quả
nhất, bởi chế định này không những có thể ngăn chặn hành vi xâm phạm mà còn bù
đắp toàn bộ hoặc một phần thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do việc giải quyết vụ kiện yêu cầu bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra trên thực tế chưa thỏa
đáng, chưa đáp ứng được yêu cầu về mức bồi thường cho chủ thể quyền tác giả,
thậm chí chưa thanh toán được chi phí khiếu kiện cho người khởi kiện, bao gồm cả
chi phí hợp lý để thuê luật sư. Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật về bồi

thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra còn nhiều hạn chế, nhiều
vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại do hành vi xâm pham quyền tác gây ra
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

1

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

đang tồn tại trên thực tế mà pháp luật về bồi thường này chưa dự liệu được. Do vậy,
với những hạn chế về các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định
này trong quan hệ bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
hiện nay chưa bảo vệ được đầy đủ quyền và lợi ích chính đáng của các bên chủ thể
trong vụ kiện về bồi thường thiệt hại đối với quyền tác giả bị xâm phạm.
Xuất phát từ những lý do trên nên người viết chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn” cho luận văn kết
thúc khóa học. Với đề tài này người viết sẽ tìm hiểu về mặt lý luận, thực tiễn, cũng
như những bất cấp trong các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành
vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, để từ đó đưa ra những kiện nghị nhằm góp phần
xây dựng và hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại này,
giúp cho việc áp dụng chế định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả trên thực tế đạt hiệu quả cao hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với việc nghiên cứu về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra, người viết hướng đến mục đích làm sáng tỏ chế định pháp luật về bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra và việc áp dụng chế định
này trên thực tế. Qua đó, giúp chúng ta hiểu thêm về các quy định về bồi thường
thiệt hại này, chẳng hạn như điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại,

căn cứ xác định mức bồi thường, chủ thể nào nhận bồi thường, người nào phải chịu
trách nhiệm bồi thường,… trong quan hệ về thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra. Mặt khác từ việc tìm hiểu, phân tích những quy định của pháp
luật, để từ đó thấy được những khuyết điểm, hạn chế trong các quy định pháp luật
cũng như trong thực tiễn áp dụng. Thông qua đó, đề xuất những kiến nghị nhằm
hoàn thiện hơn các quy định pháp luật cũng như khắc phục những trở ngại trong
thực tiễn áp dụng chế định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể trong
quan hệ bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra được hiệu
quả hơn. Đây cũng chính là mục đích xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu luận
văn mà người viết mong muốn đạt được.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này người viết tập trung tìm hiểu những
vấn đề về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm quyền tác giả,
theo đó đề tài nghiên cứu trên ba phương diện: lý luận, pháp lý và thực tiễn. Trong
vấn đề lý luận thì tập trung đưa ra các khái niệm cơ bản, những vấn đề chung liên
quan đến đề tài, những cơ sở lý luận làm tiền cho đề tài nghiên cứu. Tiếp đó, trong
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

2

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

vấn đề pháp lý, tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra chủ yếu dựa trên Bộ luật
dân sự 2005, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung 2009) và các văn bản
hướng dẫn thi hành của hai văn bản luật này. Cuối cùng là vấn đề về thực tiễn, trong

phần này người viết tập trung nghiên cứu một số vụ án về bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, từ đó tìm ra những hạn chế trong việc áp
dụng các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại này và đưa ra những giải
pháp khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp cơ
bản. Đầu tiên, để có tư liệu cho việc nghiên cứu, người viết đã sử dụng biện pháp
sưu tầm, tìm kiếm tài liệu, phân loại tài liệu, tham khảo các thông tin qua báo đài,
tạp chí, để chọn lọc, sắp xếp, cơ cấu cho phù hợp vào nội dung từng chương. Tiếp
đó, trong quá trình viết cũng sử dụng các phương pháp phân tích luật viết, các biện
pháp liệt kê, so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật với nhau, đồng thời để tạo ra
sự dễ dàng cho người đọc trong việc tiếp cận luận văn, người viết cũng đã sử dụng
các biện pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để phân tích, chứng minh hay giải thích
vấn đề. Tất cả các phương pháp trên được trình bày đan xen trong luận văn, tùy
từng nội dung mà áp dụng phương pháp cho phù hợp để tạo ra sự hài hòa, cân đối
mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời cảm ơn, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra.
Chương 2: Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra.
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Một số tồn tại và kiến nghị.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

3


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển chế định bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra
1.1.1. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005
Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo với nền kinh tế nông nghiệp
lạc hậu, chậm phát triển, lại bị ngoại xâm liên tiếp đô hộ. Trong bối cảnh đó, cuộc
sống của người dân Việt Nam vô cùng khốn khổ, chỉ có nhu cầu chủ yếu về vật chất
đó là “cơm áo, gạo tiền”, chưa có nhu cầu cao về cuộc sống tinh thần, do đó những
sản phẩm trí tuệ về quyền tác giả chưa có điều kiện phát triển và pháp luật điều
chỉnh về quyền tác giả còn hạn chế, theo đó chỉ có một văn bản luật và đây cũng là
văn bản pháp luật đầu tiền điều chỉnh riêng biệt về quyền tác giả ở Việt Nam, đó là
Nghị định 142/HĐBT ngày 14/12/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về bảo hộ quyền
tác giả. Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, nước ta bắt
đầu công cuộc đổi mới với sự chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế bao cấp sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đổi mới, nước
ta đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội,…đặc biệt
là sự phát triển về kinh tế, trước sự phát triển đó nhu cầu cuộc sống về tinh thần của
người dân ngày càng cao và sản phẩm trí tuệ thuộc đối tượng của quyền tác giả
được tạo ra ngày càng nhiều. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo ra sản
phẩm trí tuệ này, thì Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh các
quan hệ về quyền tác giả như là: Nghị định 84/CP về quyền tác giả được ban hành
năm 1989, tiếp đó đến Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994.

Tuy nhiên, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ về quyền tác giả
nêu trên mang nặng yếu tố hành chính và hình sự khi xử lý hành vi xâm phạm
quyền tác giả, chưa quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 (BLDS 1995) thì
quyền tác giả chủ yếu được điều chỉnh tập trung bởi bộ luật này. BLDS 1995 cũng
đã dành cả phần 6 (quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) để quy định về
quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả và quyền này được tôn trọng và bảo
vệ tốt hơn ở khía cạnh là một quyền dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả chính thức xuất hiện, cụ thể như sau: “tác giả, chủ
sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

4

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

tác phẩm có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền buộc người đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công
khai, bồi thường thiệt hại”1.
Tuy vậy, BLDS 1995 chủ yếu quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
liên quan đến quyền tác giả, chưa ghi nhận rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, chẳng hạn như chưa đưa ra một khái
niệm về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, cũng chưa
quy định cụ thể những thiệt hại cần được bồi thường cho người bị thiệt hại, mà chỉ
có thể suy đoán từ quyền tác giả là một quyền dân sự để áp dụng cho việc bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, điều này có nghĩa là
quyền tác giả là một tài sản được quy định trong BLDS 1995, do đó khi có hành vi

xâm phạm đến quyền tác giả mà gây ra thiệt hại thì áp dụng quy định của BLDS
1995 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết việc bồi thường thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Nhưng cũng phải nhìn nhận với Thông
tư liên tịch 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 05 tháng 12 năm 2001
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự trong việc giải quyết các
tranh chấp liên quan đến quyền tác giả tại Tòa án nhân dân thì các quy định về bồi
thường thiệt hại đối với quyền tác giả bị xâm phạm được cụ thể hơn, tại Khoản 1
mục III của Thông tư đã chỉ ra được bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về
tinh thần, nhưng việc xác định thiệt hại này lại dựa vào Điều 609, 610, 611 và Điều
615 của BLDS 1995 để áp dụng. Do đó, những quy định của BLDS 1995 và Thông
tư 01/2001 đã nêu trên chưa thể đáp ứng được yêu cầu về bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra.
Đến Bộ luật dân sự 2005 (BLDS 2005) thì quyền tác giả cũng được điều chỉnh
chủ yếu bởi bộ luật này, tuy BLDS 2005 điều chỉnh quan hệ về quyền tác giả đầy đủ
hơn so với BLDS 1995. Thế nhưng, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra lại không có sự khác biệt lớn so với
BLDS 1995. Tuy vậy, đóng góp quan trọng của BLDS 1995 và BLDS 2005 với các
văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành
BLDS 1995 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành BLDS 2005) đó
là ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây
ra, đây là điểm tiến bộ hơn so với những văn bản pháp luật của Việt Nam về quyền
tác giả trước đó, với quy định này đã đặt nền tảng cho việc hình thành chế định
pháp luật chuyên biệt về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí
1

Xem: Điều 759, BLDS 1995

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

5


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

tuệ gây ra nói chung và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây
ra nói riêng.
1.1.2. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra của Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trong điều kiện khoa học công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, các sản
phẩm trí tuệ của quyền tác giả được tạo ra ngày càng nhiều với giá trị kinh tế và xã
hội cao. Xuất phát từ giá trị to lớn đó của các sản phẩm trí tuệ đã dẫn đến thực trạng
xâm phạm quyền tác giả ngày càng phổ biến. Hầu hết những vụ xâm phạm quyền
tác giả được xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự, những biện pháp xử lý
này chưa thực sự có hiệu quả, bởi lẽ các biện pháp này chỉ nhằm răn đe chủ thể vi
phạm chứ không khắc phục được thiệt hại cho chủ thể có quyền. Tuy nhiên, một
trong những biện pháp xử lý vi phạm quyền tác giả hiệu quả nhất là biện pháp dân
sự, cụ thể là bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra vì việc
bồi thường thiệt hại này sẽ khắc phục được toàn bộ hoặc một phần thiệt hại xảy ra
cho chủ thể bị thiệt hại, đồng thời giáo dục được ý thức của người gây ra thiệt hại.
Với các quy định về bồi thường thiệt hại do hành xâm phạm quyền tác giả gây
ra của BLDS 2005, chưa thể đáp ứng yêu cầu được điều chỉnh một cách đặc thù của
quyền tác giả. Chính vì vậy, mà chủ thể bị thiệt hại ít chọn phương thức bồi thường
thiệt hại khi quyền tác giả của mình bị xâm phạm. Trước tình thế cấp thiết đó Luật
sở hữu trí tuệ 2005 ra đời và có hiệu lực ngày 01/07/2006 và được sửa đổi, bổ sung
năm 2009 (Luật SHTT 2005). Theo đó, các quy định về quyền tác giả trở nên hoàn
thiện hơn và các biện pháp chế tài dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả
cũng được quy định cụ thể hơn (Điều 202 quy định các biện pháp dân sự xử lý hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả). Đặc biệt, Luật SHTT

2005 có quy định nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra (Điều 204), căn cứ xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây
ra (Điều 205), cũng như quy định khá cụ thể trong Nghị định 105/2006/NĐ-CP
ngày 22 tháng 09 năm 2006 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật SHTT 2005 và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; được sửa
đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật SHTT
và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (Nghị định 105/2006/NĐ-CP). Ngoài ra, với
Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKHCNBTP ngày 03 tháng 04 năm 2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án (Thông tư

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

6

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

liên tịch 02/2008), cũng đã góp phần làm cho các quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra được đầy đủ hơn.
Như vậy, những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra của BLDS 2005, Luật SHTT 2005 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đã tạo nên hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật về bồi thường thiệt hại kể trên.
1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
1.2.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Ở Việt Nam chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất hiện từ lâu đời,

bắt đầu từ Quốc triều hình luật dưới thời đại nhà Lê, tiếp đến Hoàng Việt luật lệ của
triều đại nhà Nguyễn,…cho đến BLDS 2005. Như vậy, chế định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài gắn liền với các giai
đoạn lịch sử. Tuy nhiên, khi xem xét lại các văn bản pháp luật Việt Nam có liên
quan đến chế định bồi thường thiệt hại thì những văn bản pháp luật này chỉ quy
định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường
thiệt hại, năng lực chiu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thời hạn hưởng bồi thường
thiệt hại,… nhưng không quy định rõ về khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Như vậy, để đưa ra được khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cần
làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, trách nhiệm pháp lý là gì, theo đó trách nhiệm pháp lý được hiểu
là: “ trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm
pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm
pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi
phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được
quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật”2. Với cách định nghĩa trên thì trách
nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật,
những chủ thể vi phạm pháp luật thì sẽ phải gánh chịu chế tài của pháp luật. Hơn
nữa, trách nhiệm pháp lý không chỉ là sự trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp
luật mà còn thể hiện tính đền bù, có nghĩa là khôi phục lại tình trạng ban đầu tương
đương với phần hậu quả mà người vi phạm pháp luật gây ra.
Thứ hai, thiệt hại là gì, thiệt hại xảy ra khi nào. Thiệt hại là sự mất mát hoặc
giảm sút về vật chất và tinh thần mà một bên chủ thể của quan hệ pháp luật phải
gánh chịu do hành vi xâm phạm của chủ thể khác. Những thiệt hại có thể kể đến đó
2

Xem: Đại học luật Hà Nội, “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2009, Tr.508

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền


7

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

là thiệt hại về vật chất bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng,…và thiệt
hại về tinh thần như là thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Do trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định bảo vệ người bị thiệt hại
trước hành vi trái pháp luật của chủ thể khác, nên pháp luật Việt Nam đã dành một
phần của BLDS 2005 (Chương XXI) điều chỉnh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, điều này được thể hiện cụ thể với quy định “người nào do lỗi cố ý
hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”3. Qua đó, cho
thấy pháp luật Việt Nam quy định về bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc là người
gây ra thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
Tiếp cận từ góc độ khoa học pháp lý, thiết nghĩ rằng, mỗi người sống trong xã
hội phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể chỉ vì lợi ích của mình mà
xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác. Khi một người có hành vi vi phạm
pháp luật mà gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải gánh chịu một hậu
quả bất lợi do hành vi của mình đã gây ra. Sự gánh chịu hậu quả bất lợi bằng việc
bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Qua những phân tích trên thì có thể hiểu: trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
một loại trách nhiệm dân sự mang tính tài sản, theo đó khi một chủ thể có hành vi vi
phạm pháp luật mà gây tổn thất cho người khác thì phải bồi thường tổn thất do
mình gây ra.
1.2.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm

quyền tác giả gây ra
Để đưa ra khái niệm về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra thì ta cần làm rõ các nội dung sau:
Trước tiên, có thể hiểu “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”4. Với cách định nghĩa như trên thì
quyền tác giả được hiểu là: một người tạo ra sản phẩm trí tuệ thông qua hoạt động
sáng tạo của mình bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (các tác phẩm
tiểu thuyết, thơ; các tác phẩm điêu khắc, hội họa,…) được gọi là tác giả, thì người
này có quyền đối với sản phẩm trí tuệ mà mình tạo ra hoặc chủ thể không trực tiếp
tạo ra sản phẩm trí tuệ bằng sự sáng tạo của mình nhưng có được tài sản này thông
qua hợp đồng chuyển nhượng đối tượng quyền tác giả, nhận thừa kế quyền tác
giả,…gọi là chủ sở hữu quyền tác giả thì cũng có quyền đối với sản phẩm trí tuệ
3
4

Xem: Khoản 1, Điều 604, BLDS 2005
Xem: Khoản 2, Điều 4, Luật SHTT 2005

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

8

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

này. Quyền đối với tài sản trí tuệ được nhắc đến ở đây bao gồm: quyền nhân thân và
quyền tài sản (sẽ được phân tích ở mục 2.1.2, chương 2 của luận văn).
Tiếp đến, hiểu như thế nào là hành vi xâm phạm quyền tác giả, theo đó một

chủ thể có những hành vi xâm phạm pháp luật về quyền tác giả, tức là xâm phạm
đến quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Những hành vi xâm phạm này sẽ làm cho chủ thể quyền tác giả bị mất đi những lợi
ích vật chất mà đáng lẽ họ được hưởng ( tiền nhuận bút, thù lao,…) hoặc gây ra tổn
thất về tinh thần cho tác giả ( uy tín, danh dự,…).
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều phát triển theo hướng nền kinh tế
tri thức cho nên tài sản trí tuệ giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển đất
nước, theo đó một nhà hóa học người Hoa Kỳ gốc Phi ông George Washington
Carver có nhận định “tài sản trí tuệ, sản phẩm của sự sáng tạo không phải tuyệt đối
thuộc về riêng một cá nhân hay một quốc gia mà là một nguồn lực vô hạn của toàn
nhân loại. Tri thức là sức mạnh được sử dụng làm giàu, làm phong phú thêm cuộc
sống của các cá nhân và tương lai của các quốc gia về vật chất, văn hóa và xã
hội”5. Xuất phát từ giá trị to lớn cũng như thuộc tính vô hình của tài sản trí tuệ nên
những hành vi xâm phạm quyền tác giả đã và đang diễn ra ngày càng nhiều dưới
nhiều hình thức đa dạng nhằm khai thác và sử dụng bất hợp pháp quyền tác giả gây
thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Như đã phân tích ở phần trên thì chủ thể có hành vi trái pháp luật mà gây ra
thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường6. Hơn nữa, theo quy
định của pháp luật sở hữu trí tuệ thì: “Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây
để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: buộc chấm dứt
hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện đúng nghĩa
vụ; buộc bồi thường thiệt hại,…”7. Mà quyền tác giả là một tài sản mang tính chất
dân sự và là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, khi quyền tác giả của chủ
thể quyền tác giả bị xâm phạm và có thiệt hại xảy ra thì người thực hiện hành vi
xâm phạm cũng phải có trách nhiệm bồi thường.
Qua những phân tích trên thì có thể hiểu: trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra là một loại trách dân sự mang tính tài sản,
theo đó chủ thể có hành vi xâm phạm pháp luật về quyền tác giả mà gây ra thiệt hại

5


Xem: Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Phương, “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề lý
luận và thực tiễn”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.9
6
7

Xem: Mục 1.2.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại, tr.7-8 của luận văn
Xem: Điều 202, Luật SHTT 2005

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

9

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhằm bù đắp những thiệt hại mà mình gây
ra cho người bị thiệt hại.
1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra là
một loại trách nhiệm dân sự, cho nên nó mang đầy đủ những đặc điểm của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, cụ
thể ở Chương XXI của BLDS 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành của bộ luật
này. Do vậy, khi một người có hành vi xâm phạm quyền tác giả và gây ra thiệt hại
cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì họ phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường

thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả
gây ra chỉ được phát sinh khi thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của
pháp luật đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật và có mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra. Đây là những điều
kiện chung nhất để xác định trách nhiệm bồi thường của người gây ra thiệt hại, nếu
thiếu một trong những điều kiện nêu trên thì trách nhiệm bồi thường không được
đặt ra.
Thứ ba, người gây ra thiệt hại phải gánh chịu một hậu quả bất lợi về tài sản do
trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang đến. Bởi vì những tổn thất về vật chất có thể
được tính toán thành tiền hoặc được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất
nhất định. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được
nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để những tổn thất của
người bị thiệt hại được bù đắp, qua đó góp phần khôi phục lại những thiệt hại mà
chủ thể bị thiệt hại phải gánh chịu.
Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể thực hiện bởi người gây ra thiệt
hại hoặc bởi người thứ ba, bởi lẽ trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo pháp luật
Việt Nam là sự bù đắp nhằm khắc phục hậu quả thực tế xảy ra cho chủ thể quyền,
không phải là sự trừng phạt, cho nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được
thực hiện bởi người khác, không nhất thiết phải là người gây ra thiệt hại.
Tuy nhiên, đối với quyền tác giả là một tài sản vô hình, theo đó tài sản này có
những đặc điểm khác biệt so với tài sản hữu hình khác của pháp luật dân sự như là,
nó không mang một hình thái nhất định, chúng ta không thể cầm nắm được nó,
không thể nhìn thấy nó được, mà chúng ta chỉ có thể cảm nhận nó bằng trực giác
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

10

SVTH: Phan Văn Dư



Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

của mình, đồng thời tài sản này cũng mang lại giá trị sử dụng khác biệt so với tài
sản hữu hình. Do tính chất đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác
giả nói riêng nên vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra mang những đặc điểm riêng biệt sau đây:
Một là, do quyền tác giả có những thuộc tính, đặc điểm riêng biệt so với các
loại tài sản hữu hình khác của pháp luật dân sự, cho nên cùng với Bộ luật dân sự
2005 thì chế định bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
được điều chỉnh bởi pháp luật riêng của nó đó là Luật SHTT 2005 và các văn bản
hướng dẫn thi hành luật này.
Hai là, thiệt hại được xác định để bồi thường do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần. Nhưng thiệt hại về tinh thần
chiếm tỉ lệ khá quan trọng trong quan hệ về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyên tác giả gây ra. Bởi vì, ngoài việc mang lại lợi ích về kinh tế cho chủ thể
quyền tác giả thì đối tượng quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học được tạo ra cũng nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người,
một số tác giả khi tạo ra những tác phẩm là không vì mục tiêu kinh tế mà muốn chia
sẽ với công chúng một vấn đề nào đó trong cuộc sống, khi đó nếu có hành vi xâm
phạm quyền tác giả thì người sáng tạo ra tác phẩm bị tổn thất về tinh thần nhiều hơn
là tổn thất về vật chất. Do vậy, thiệt hại được xác định để bồi thường do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra trong một số trường hợp phần lớn là thiệt hại về tinh
thần.
Ba là, thiệt hại phát sinh do quyền tác giả bị xâm phạm chủ yếu là những thiệt
hại gián tiếp, bởi vì các sản phẩm trí tuệ của quyền tác giả là tài sản vô hình nên
những hành vi xâm phạm quyền tác giả không gây ra thiệt hại trực tiếp cho các đối
tượng quyền tác giả mà chủ yếu là gây ra thiệt hại gián tiếp cho chủ thể quyền tác
giả đó là làm cản trở khả năng thực hiện quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, qua đó làm hại đến kết quả khai thác tài sản là quyền tác giả của chủ thể quyền.

Mặc khác thiệt hại được bồi thường do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra có
thể chưa xảy ra ở hiện tại nhưng chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, do đó việc xác
định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra rất khó xác định. Chính vì
vậy mà việc xác định thiệt hại chưa được chính xác và đầy đủ, nên mức bồi thường
mà chủ thể bị thiệt hại được nhận chưa tương xứng với thiệt hại mà họ gánh chịu.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

11

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

1.4. Phân biệt bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả và bồi
thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây ra
Để phân biệt trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi xâm phạm
phạm quyền tác giả gây ra và thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp gây ra, thì trước tiên ta cần làm rõ quyền tác giả và quyền sở hữu công
nghiệp là gì, như thế nào là quyền tác giả thì người viết đã phân tích ở phần trên8.
Đối với quyền sở hữu công nghiệp, thì quyền này được hiểu là: “quyền sở hữu công
nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật
kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành
mạnh”9. Giống như quan hệ bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực quyền tác giả thì
chủ thể nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp mà gây ra thiệt hại cho
chủ thể quyền này cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Do quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận của quyền sở hữu
trí tuệ, đều mang những đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ như là: điều là tài

sản vô hình, là một quyền không tuyệt đối,…Tuy nhiên, quyền tác giả và quyền sở
hữu công nghiệp mang những đặc điểm riêng của mình. Chính những đặc điểm
riêng này sẽ tạo nên sự khác biệt trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền tác giả gây ra và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp gây ra, cụ thể như sau:
Thứ nhất, quyền tác giả được bảo hộ tự động, có nghĩa là khi tác giả sáng tạo
ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học mang tính nguyên gốc thì sẽ được pháp
luật về quyền tác giả thừa nhận và bảo vệ kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới
hình thức vật chất nhất định, mà không cần phải qua thủ tục đăng ký bảo hộ quyền
tác giả. Do đó, khi có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả vào bất cứ thời điểm nào
kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định mà gây thiệt hại cho
chủ thể quyền tác giả thì người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại (trừ trường
hợp quyền tài sản của quyền tác giả hết thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp
luật). Khác với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ
tục đăng kí và theo thời hạn của văn bằng bảo hộ (trừ trường hợp đối tượng quyền
sở hữu công nghiệp là tên thương mại và bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng).
Vì sao có sự khác nhau này, bởi vì những tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân, vì vậy mà không thể có hai tác phẩm giống hệt
8

Xem: Mục 1.2.2. Khái niệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra, tr 8-9 của luận

văn
Xem: Khoản 4, Điều 4, Luật SHTT 2005

9

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

12


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

nhau được, cho nên việc đăng kí bảo hộ quyền tác giả là không cần thiết. Tuy nhiên,
có thể có hai đối tượng sở hữu công nghiệp giống nhau, thậm chí giống nhau đến
mức gây nhầm lẫn. Do vậy, pháp luật không thể thừa nhận và bảo vệ hai đối tượng
quyền sở hữu công nghiệp giống nhau, vì sẽ gây hại đến hoạt động thương mại sau
này. Chính vì vậy, quyền sở hữu công nghiệp chỉ được bảo vệ khi có đăng kí bảo
hộ. Nếu một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra mà không đăng kí
bảo hộ, thì khi có hành vi xâm phạm đến đối tượng quyền sở hữu công nghiệp này
mà gây ra thiệt hại thì người gây ra thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại, vì
quyền sở hữu công nghiệp này chưa đăng kí bảo hộ nên không biết ai là người có
quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp này, cho nên bất cứ ai cũng có quyền
sử dụng nó. Nếu quyền sở hữu công nghiệp đã được đăng kí bảo hộ, thì người gây
ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong thời hạn
quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo văn bằng bảo hộ.
Thứ hai, quyền tác giả chỉ được bảo hộ về hình thức thể hiện tác phẩm, điều
này có nghĩa là pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện những ý
tưởng sáng tạo của tác giả, nhưng không bảo hộ những ý tưởng sáng tạo chứa trong
tác phẩm. Do đó, khi một bên chủ thể mà xâm phạm đến ý tưởng của tác giả trong
tác phẩm thì không được xem là có hành vi xâm phạm quyền tác giả, nếu gây ra
thiệt hại thì cũng không có trách nhiệm phải bồi thường. Đối với quyền sở hữu công
nghiệp thì chỉ được bảo hộ với nội dung sáng tạo, không bảo vệ hình thức sáng tạo,
có nghĩa là pháp luật sở hữu trí tuệ về quyền sở hữu công nghiệp chỉ bảo vệ thành
quả lao động sáng tạo của tác giả quyền sở hữu công nghiệp, không bảo vệ hình
thức thể hiện. Do đó, chủ thể có trách nhiệm bồi thường chỉ phải bồi thường khi
xâm phạm đến nội dung sáng tạo của quyền sở hữu công nghiệp nếu gây ra thiệt

hại. Ví dụ, A bộc lộ ý tưởng của mình về việc sáng chế một chiếc máy gặt lúa trong
một bài viết đã được đăng trên tạp chí, theo đó A sẽ được hưởng quyền tác giả đối
với bài báo, tức là không ai được sao chép, sửa chữa, cắt xén nội dung của bài
báo,… nếu không có sự đồng ý A. Sau đó, A đã đi đăng kí bảo hộ độc quyền sáng
chế đối với ý tưởng tạo ra chiếc máy gặt lúa. Giả sử B đã lấy ý tưởng trong bài báo
của anh A để sáng chế ra một chiếc máy gặt lúa và gây thiệt hại cho anh A, khi đó
hành vi của B không được xem là vi phạm pháp luật về quyền tác giả mà hành vi
của B là vi phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Do đó, B
chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với sáng chế.
Thứ ba, đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học, những đối tượng này của quyền tác giả không những phục vụ lợi ích về vật
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

13

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

chất cho chủ thể quyền tác giả mà còn đáp ứng nhu cầu về tinh thần, giải trí của con
người, cho nên thiệt hại trong quan hệ bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền tác giả gây ra bao gồm cả thiệt hại vật chất về tinh thần. Trong khi đó, đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp là: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh, những đối tượng này chủ yếu nhằm để áp dụng cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp phần lớn gây ra
thiệt hại về tài sản như: làm giảm sút về doanh thu, lợi nhuận bán hàng,…Vì vậy,
khi xác định thiệt hại bồi thường do xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu

là thiệt hại về vật chất.
1.5. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là những quy định, chuẩn mực được pháp luật
ghi nhận mà căn cứ vào đó các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật về bồi thường
thiệt hại phải tuân theo để đảm bảo quyền và lợi ích của mình. Do đó, pháp luật dân
sự và pháp luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả thừa nhận một số nguyên tắc bồi
thường thiệt hại sau đây:
1.5.1. Nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại
Trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
tác giả gây ra, thì pháp luật cho phép chủ thể gây ra thiệt hại và chủ thể bị thiệt có
quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, được quy
định cụ thể tại Khoản 1 Điều 605 của BLDS 2005. Sở dĩ, pháp luật quy định như
vậy là để cho các bên chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại này thể hiện ý chí
của mình về việc giải quyết quyền lợi giữa họ và đây cũng là một nguyên tắc hiệu
quả nhất để khắc phục thiệt hại xảy ra cho người bị thiệt hại. Như vậy, để thực hiện
trách nhiệm bồi thường thì chủ thể gây ra thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại có thể thỏa
thuận với nhau về những nội dung bồi thường thiệt hại sau đây:
Thứ nhất, thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, theo đó các bên chủ thể có
quyền tự thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt hại. Do vậy, các bên chủ thể
có thể thỏa thuận mức bồi thường cao hơn hay thấp hơn, hoặc ngang bằng với thiệt
hại thực tế xảy ra cho chủ thể bị thiệt hại mà không cần phải phụ thuộc vào căn cứ
pháp lý hoặc thiệt hại thực tế xảy ra.
Thứ hai, thỏa thuận về hình thức bồi thường thiệt hại, do đó chủ thể gây ra
thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại có thể thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt
hại dưới mọi hình thức như: bồi thường bằng một khoản tiền, bồi thường bằng hiện
vật hoặc bồi thường bằng cách người gây ra thiệt hại thực hiện cho chủ thể có
quyền một hoặc một số công việc nhất định theo yêu cầu của người này. Tuy nhiên,
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

14


SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

thực tế cho thấy hình thức bồi thường bằng tiền là được các bên chủ thể lựa chọn
phổ biến nhất, bởi vì khi người gây ra thiệt hại bồi thường cho chủ thể quyền tác giả
một khoản tiền theo thỏa thuận thì sẽ giúp cho người bị thiệt hại nhanh chóng khắc
phục được thiệt hại trước mắt, người bị thiệt hại có thể dùng khoản tiền được bồi
thường để ngăn chặn, khắc phục hành vi xâm phạm như: trả tiền cho việc thông
báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm
quyền tác giả.
Thứ ba, các bên có thể thỏa thuận về phương thức bồi thường thiệt hại, theo
đó việc bồi thường thiệt hại có thể thực hiện một lần hoặc nhiều lần vào bất cứ thời
điểm nào, kể từ khi xảy ra tranh chấp tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên.
Tuy nhiên, pháp luật quy định các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường
thiệt hại, hình thức bồi thường thiệt hại, phương thức bồi thường thiệt hại, các thỏa
thuận này không được trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Như
vậy, với nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác
giả gây ra, thể hiện sự tôn trọng ý chí của các bên chủ thể người bị thiệt hại và
người gây ra thiệt hại của pháp luật. Qua đó, góp phần giải quyết nhanh chóng và
thỏa đáng vụ việc xâm phạm quyền tác giả.
1.5.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời
Bên cạnh, nguyên tắc thỏa thuận bồi thường thiệt hại, pháp luật còn quy định
bồi thường thiệt hại phải toàn bộ, được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 605 BLDS
2005. Do đó, nguyên tắc bồi thường toàn bộ được áp dụng khi các bên chủ thể
không có thỏa thuận, thỏa thuận bị vô hiệu hoặc pháp luật không cho phép thỏa
thuận về bồi thường thiệt hại. Theo đó, nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại
được hiểu là việc bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào thiệt hại thực tế mà chủ thể

thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra cho người bị thiệt hại là bao gồm
những thiệt hại nào, kể cả những thiệt hại mà chắc sẽ xảy ra trong tương lai như là:
giảm sút về thu nhập, lợi nhuận hoặc tổn thất về cơ hội kinh doanh,…và thiệt hại
xảy ra là bao nhiêu để buộc người gây ra thiệt hại phải bồi thường tương xứng với
thiệt hại đã gây ra. Nguyên tắc bồi thường này khá hợp lý, bởi nó có thể đảm bảo
cho việc khắc phục được toàn thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả phải gánh chịu từ
hành vi xâm phạm quyền tác giả. Do vậy, mà có nhiều tác giả nghiên cứu về bồi
thường thiệt hại ủng hộ nguyên tắc bồi thường toàn bộ của pháp luật, chẳng hạn như
có quan điểm cho rằng: “bồi thường thiệt hại thể hiện triết lý rằng, không ai được
lợi từ việc bị thiệt hại và không ai phải bồi thường vượt quá phần thiệt hại mà mình

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

15

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

đã gây ra”10. Một quan điểm khác cho rằng: “bồi thường toàn bộ thiệt hại là tất cả
thiệt hại được bồi thường và chỉ có thiệt hại mới được bồi thường, người bị thiệt hại
không được lợi hơn hay bất lợi hơn từ việc bồi thường”11. Với nguyên tắc bồi
thường toàn bộ của pháp luật dân sự đảm bảo cho chủ thể quyền tác giả được bồi
thường đầy đủ thiệt hại mà mình phải gánh chịu, đồng thời có thể tránh được trường
hợp bồi thường mà đem lại cho người bị thiệt hại một khoản bồi thường lớn hơn
thiệt hại xảy ra, bởi vì nếu bồi thường không đầy đủ thì người bị thiệt hại không thể
khắc phục được hoàn toàn thiệt hại xảy ra đối với mình, suy cho cùng người bị thiệt
hại vẫn còn trong tình trạng bị thiệt hại, điều này có khác gì với việc thiệt hại chưa
được bồi thường, còn nếu bồi thường thiệt hại mà đem lại cho người bị thiệt hại

khoản bồi thường lớn hơn so với thiệt hại thực tế xảy ra, thì sẽ không phù hợp với
quan điểm của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại mang tính bù đắp chứ
không phải mang tính trừng phạt.
Như vậy, với nguyên tắc bồi thường toàn bộ thì cho dù chủ thể có trách nhiệm
bồi thường có lỗi cố ý hay vô ý mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ.
Khác với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đối với pháp luật Việt Nam
trước đây thì nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ chỉ được áp dụng khi người
gây ra thiệt hại có lỗi vô ý, còn nếu người gây ra thiệt hại với lỗi cố ý thì mức bồi
thường thiệt hại gấp nhiều lần so với thiệt hại thực tế xảy ra, theo đó người gây ra
thiệt hại phải bồi thường:“ thêm hai lần đối với tang vật của công, bồi thường thêm
một lần đối với các tội tạp phạm. Trong trường hợp nghiêm trọng thì bồi thường
thêm năm lần, nếu cố ý tái phạm thì bồi thường thêm chín lần”12. Qua đó, cho thấy
pháp luật Việt Nam về bồi thiệt hại ngày càng có sự thay đổi theo chiều hướng tiến
bộ phù hợp với các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh về bồi thường thiệt hại
của hệ thống pháp luật dân sự. Đối với việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm
phạm quyền tác giả gây ra thì yếu tố lỗi không có nhiều ý nghĩa trong việc xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do vậy, trong quan hệ bồi thường này người gây
ra thiệt hại có lỗi hay không có lỗi thì cũng phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ
thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả theo Khoản 1 Điều 605 BLDS 2005.
Cùng với nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại, thì nguyên tắc bồi thường
kịp thời cũng được quy định tại khoản 1 Điều 605 BLDS 2005 đã góp phần giúp
10

Xem: Nguyễn Văn Cương và Chu thị hoa, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí nghiên cứu lập

pháp số 04/2005, truy cập ngày 10/01/2012]
Xem: Trần Ngọc Thành, “Một số vấn đề về nguyên tắc bồi thường đầy đủ trong dân sư”, Tạp chí Tòa án.

11


Tòa án nhân dân tối cao số 02/2006. tr 3-6
12
Xem : Điều 28, Bộ luật Hồng Đức

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

16

SVTH: Phan Văn Dư


Bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Lý luận và thực tiễn

cho người bị thiệt hại nhanh chóng khắc phục được những tổn thất do chủ thể vi
phạm pháp luật về quyền tác giả gây ra. Theo đó, nguyên tắc bồi thường thiệt hại
kịp thời được hiểu là bồi thường một cách đúng lúc, không chậm trễ cho người bị
thiệt hại. Tuy nhiên, để thiệt hại có thể được bồi thường một cách kịp thời, thì Tòa
án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của chủ thể bị thiệt
hại trong thời gian luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc
một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để
giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự13. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng
khi giải quyết bồi thường thiệt hại về quyền nhân thân của tác giả bị xâm phạm, bởi
lẽ quyền nhân thân của tác giả gắn liền với danh dự, uy tín của tác giả, trong khi đó
chi phí để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại xảy ra vượt quá khả năng của tác giả, do
vậy việc bồi thường kịp thời cho tác giả là cần thiệt. Như vậy, có thể nói bồi thường
thiệt hại kịp thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người bị thiệt hại trong việc
khắc phục thiệt hại xảy ra mà mình phải gánh chịu.
1.5.3. Nguyên tắc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung thì người có
trách nhiệm bồi thường dù là do lỗi cố ý hay vô ý mà gây thiệt hại cho người khác

thì phải bồi thường. Không vì lỗi cố ý hay vô ý mà tăng hay giảm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo luật định thì
người có trách nhiệm bồi thường được giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể
được quy định tại Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005 “người gây thiệt hại có thể được
giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế trước mắt và lâu dài của mình”. Như vậy, người gây thiệt hại chỉ có thể được
xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại khi có đủ hai điều kiện đó là:
Thứ nhất, người gây ra thiệt hại phải do lỗi vô ý, theo đó chủ thể gây ra thiệt
hại phải không cố ý gây ra thiệt hại, không mong muốn hậu quả bất lợi xảy ra đối
với người bị thiệt hại nhưng do tính không cẩn thẩn hay gọi là cẩu thả hoặc do quá
tự tin mà gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại. Do đó, khi người gây ra thiệt hại với
lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp thì sẽ không xét đến việc giảm mức bồi thường thiệt
hại.
Thứ hai, thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài
của người gây ra thiệt hại, điều này có nghĩa là thiệt hại mà chủ thể vi phạm gây ra
lớn hơn gấp nhiều lần so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt và lâu dài của họ bao
13

Xem: Điểm b, Mục 2, Phần I, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

17

SVTH: Phan Văn Dư



×