Luận văn tốt nghiệp
Họ và tên
Sơn Hồng Nhân
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
MSSV
5044054
Tên đề tài
Thực trạng quản
lý nhà nước đối
với chất thải
Điểm
7.3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoá 30 ( 2004 – 2008 )
Đề Tài:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CHẤT THẢI
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Kim Oanh Na
Bộ môn: Luật Kinh Doanh Và Thương Mại
Sinh viên thực hiện:
Sơn Hồng Nhân
MSSV: 5044054
Lớp: Luật Hành Chính K30
Cần thơ, 5/2008
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………..
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
cứu
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
MỤC LỤC
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................................ 2
3. Phạm vi của luận văn .................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
5. Cơ cấu luận văn.......................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: Một số vấn đề chất thải và chính sách của Việt Nam về bảo vệ môi
trường .............................................................................................................4
1.1. Một số khái niệm và hiện trạng môi trường của Việt Nam.......................4
1.1.1. Một số khái niệm................................................................................4
1.1.2. Hiện trạng môi trường Việt Nam ........................................................6
1.1.2.1. Hiện trạng tài nguyên đất............................................................... 6
1.1.2.2. Hiện trạng tài nguyên nước............................................................ 8
1.1.2.3. Hiện trạng tài nguyên không khí.................................................. 10
1.2. Tổng quan về chất thải .......................................................................... 12
1.2.1. Phân loại chất thải ............................................................................ 12
1.2.2. Nguồn chất thải ................................................................................ 16
chấtCần
thải ..................................................................
19
Trung1.2.3.
tâmThành
Họcphần
liệucủaĐH
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
1.3. Ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường và đời sống xã hội............ 20
1.3.1. Đối với môi trường đất ..................................................................... 20
1.3.2. Đối với môi trường nước .................................................................. 22
1.3.3. Đối với không khí............................................................................. 23
1.3.4. Đối với sức khoẻ con người.............................................................. 24
1.3.5. Đối với cảnh quan thiên nhiên và vệ sinh môi trường ....................... 25
1.4. Sơ lược về sự phát triển của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam...... 26
CHƯƠNG 2: Thực trạng pháp luật của Việt Nam về vấn đề chất thải..... 29
2.1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và chất thải....... 29
2.1.1. Cơ quan có thẩm quyền chung.......................................................... 29
2.1.2. Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ................................................ 30
2.2. Thực trạng pháp luật quản lý chất thải................................................... 34
2.2.1. Luật bảo vệ môi trường và các văn bản luật liên quan....................... 34
2.2.2. Các văn bản dưới luật....................................................................... 38
2.3. Xử lý vi phạm pháp luật trong bảo vệ môi trường và vấn đề chất thải.... 42
2.3.1. Trách nhiệm hành chính ................................................................... 43
2.3.1.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ................................... 43
2.3.1.2. Trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính............................... 45
2.3.2. Trách nhiệm dân sự .......................................................................... 45
2.3.3. Trách nhiệm hình sự......................................................................... 46
2.4. Những tồn tại trong công tác quản lý chất thải, nguyên nhân và giải
pháp ........................................................................................................ 47
2.4.1. Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh chất thải............................ 47
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
cứu
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
2.4.2. Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh về chất thải ở Việt Nam..... 50
2.4.3. Giải pháp cho vấn đề chất thải.......................................................... 52
KẾT LUẬN .................................................................................................. 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của mọi quốc gia, dù đó là quốc gia
phát triển hay là quốc gia đang phát triển. Sự ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi
trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao đang đặt con người trước những sự trả thù ghê
gớm của thiên nhiên. Nguy cơ môi trường đặc biệt nóng bỏng ở các quốc gia đang
phát triển, nơi nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người và nhu cầu phát triển của
xã hội xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường. Việt Nam đứng trong hàng ngũ của các quốc gia đang phát triển và cũng đang
phải đối đầu với vấn đề môi trường.
Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất ra của cải
vật chất đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của con người. Tuy nhiên, cùng với sự gia
tăng của các của cải vật chất đó, lượng các chất thải của các quá trình sản xuất cũng
không ngừng tăng lên. Các chất thải nếu không được xử lý và quản lý chặt chẽ thì
bằng các con đường khác nhau chúng sẽ đi vào đất, vào nước, vào không khí gây ảnh
hưởng xấu cho môi trường và cuộc sống con người. Vấn đề chất thải hiện nay là một
vấn đề mà môi trường thế giới đang phải đối mặt. Sự gia tăng dân số, sự gia tăng nhu
cầu sản xuất tiêu dùng dẫn đến sự gia tăng chất thải. Các quốc gia, các cộng đồng đều
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có chất thải mà nếu không xử lý thì chỉ có thể thải vào môi trường. Một số quốc gia
phát triển đã lợi dụng sự thiếu thốn của các quốc gia nghèo tìm cách xuất khẩu vào đó
những chất thải, đặc biệt là chất thải rắn.
Quản lý chất thải, vấn đề này đã được các nước phát triển trên thế giới tiến hành
thực hiện từ rất lâu, nhưng, ở nước ta cũng như các nước đang phát triển khác điều này
chưa được quan tâm đúng mức. Ở Việt Nam, việc quản lý môi trường nói chung và
quản lý chất thải nói riêng mới chỉ được Nhà nước ta thực sự chú ý trong vài thập niên
gần đây. Quản lý tốt chất thải sẽ làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ
của nhân dân, đảm bảo sự phát triển bền vững và góp phần bảo vệ môi trường toàn
cầu.
Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh về vấn đề chất thải. Các văn bản này là cở sở cho việc quản lý các hoạt
động liên quan đến chất thải và là cơ sở cho việc xử lý các trường hợp gây ô nhiễm
môi trường xuất phát từ các chất thải. Các văn bản này đã phát huy được những ưu
điểm trong công tác quản lý chất thải ở nước ta như từ khi có pháp luật điều chỉnh,
công tác quản lý chất thải đi vào nề nếp hơn, hạn chế được tình trạng gây ô nhiễm môi
trường, việc xử lý chất thải được thực hiện theo đúng quy trình. Mặc dù vậy, các quy
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
định này vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu sự đồng bộ giữa các quy định, có những vấn
đề trên thực tế phát sinh nhưng lại chưa được pháp luật điều chỉnh, một số quy định về
lý thuyết rất hữu hiệu nhưng thực tế áp dụng lại nảy sinh nhiều khó khăn, có những
vấn đề luật đã điều chỉnh nhưng trên thực tế không được tuân thủ do chưa có biện
pháp chế tài hoặc biện pháp chế tài chưa đủ mạnh. Từ những điều trên, người nghiên
cứu nhận thấy rằng để quản lý chất thải được tốt hơn thì việc đi sâu tìm hiểu các quy
định của pháp luật liên quan đến chất thải nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu cho công tác
quản lý chất thải là rất cần thiết.
2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh về vấn đề chất thải đã được
ban hành và áp dụng vào thực tế được một thời gian. Bên cạnh những hiệu quả do các
quy định này mang lại nó cũng bộc lộ những hạn chế như các quy định chưa chặt chẽ,
còn nhiều lỗ hỏng, có những quy định khó áp dụng trên thực tế, một số vấn đề chưa
được luật điều chỉnh. Mục đích của đề tài là đi sâu tìm hiểu về các quy định của pháp
luật liên quan đến chất thải; nghiên cứu, phân tích, đánh giá nhằm làm sáng tỏ các quy
định này. Từ đó, nhận thấy các quy định nào mang lại hiệu quả cần được phát huy
đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung những quy định chưa được hoàn thiện.
3.Phạm vi của luận văn:
Trung tâm
Họclý liệu
Cần
Thơnay@đang
Tàiđược
liệu
tậpngành
và nghiên
Việc quản
và xửĐH
lý chất
thải hiện
cáchọc
cấp, các
quan tâm, cứu
chú ý, cụ thể là đã có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này, các chính sách về
môi trường do Nhà nước ta đề ra cũng đề cập tới các vấn đề liên quan đến chất thải.
Các văn bản này đã góp phần đáng kể trong việc giữ cho môi trường trong sạch, giảm
thiểu được ô nhiễm. Mặc dù vậy, nó cũng còn có những hạn chế nhất định.
Do yêu cầu của một đề tài Luận văn tốt nghiệp và thời gian có hạn nên người viết
chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh về
chất thải, thực trạng chất thải và chính sách bảo vệ môi trường có liên quan ở Việt
Nam, những ưu nhược điểm trong việc áp dụng các quy định đó vào thực tế; từ đó, rút
ra những nhận định, vạch ra giải pháp cho pháp luật điều chỉnh về chất thải ở Việt
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài luận văn này, người nghiên cứu chủ yếu vận dụng các phương pháp sau:
- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin,
- Dùng phương pháp lịch sử để đánh giá vấn đề,
- Sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp, so sánh kết
hợp lý luận với thực tiễn…
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
- Bên cạnh việc đi sâu tìm hiểu hiện trạng môi trường hiện nay thông qua việc
thu thập tài liệu, thông tin từ sách, báo, những tài liệu đã được nghiên cứu sẵn và tìm
hiểu tình hình thực tế để nhìn nhận đúng đắn vấn đề.
- Cùng một số phương pháp nghiên cứu khác mà người viết đã vận dụng để
hoàn thành bài luận văn này.
5. Cơ cấu Luận văn:
Nội dung luận văn tốt nghiệp cử nhân luật ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong hai
chương:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHẤT THẢI VÀ CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT
NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ
CHẤT THẢI
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHẤT THẢI VÀ CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT
NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1. Một số khái niệm và hiện trạng môi trường của Việt Nam:
1.1.1. Một số khái niệm:
* Chất thải: Chất thải được định nghĩa chung là các dạng vật chất cụ thể ở thể
rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt
động khác (khoản 10 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005). Chất thải có thể được
nhận biết dưới các dạng sau đây:
+ Căn cứ vào tính chất của chất thải, chất thải được chia thành: chất thải lỏng,
chất thải khí, chất thải rắn, chất thải ở dạng mùi, chất phóng xạ và các dạng hỗn hợp
khác.
+ Căn cứ vào nguồn phát sinh chất thải, chất thải được chia thành: chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế.
+ Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải tới môi trường xung quanh, chất
thải được chia thành: chất thải thông thường và chất thải nguy hại, trong đó chất thải
nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm,
gâytâm
ngộ độc
hoặc
đặc ĐH
tính nguy
khác @
(khoản
điều học
3 Luậttập
bảo và
vệ môi
trường cứu
Trung
Học
liệu
CầnhạiThơ
Tài11liệu
nghiên
năm 2005).
+ Chất thải nhưng đáp ứng các yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất được gọi là
phế liệu.
* Môi trường:
Môi trường là một khái niệm có nội hàm vô cùng rộng và được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong cuộc sống người ta dùng nhiều khái niệm môi trường
như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường giáo dục… Môi trường theo
định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội
trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con
người hay sinh vật ấy”; là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có
ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”.
Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được
hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu
như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Khoản 1
Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa môi trường “Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Như vậy, theo cách
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì con người trở thành trung tâm
trong mối quan hệ với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với nhau tạo
thành trung tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác nhau của môi
trường.
* Ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ
số hoá học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế
học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính
chất vật lý, hoá học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến
sức khoẻ của con người, các loài thực vật và các điều kiện sống khác. Dưới góc độ
pháp lý, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (khoản 6
Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005).
Có thể thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi
trường là chúng đều đề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều
hướng xấu, gây bất lợi cho con người và sinh vật.
Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên
Trung
tâm
liệu ĐH
tập
nghiên
nhân trongHọc
đó nguyên
nhân Cần
chủ yếuThơ
là do@
cácTài
chất liệu
gây ô học
nhiễm.
Chấtvà
gây
ô nhiễm cứu
được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong
môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm. Thông thường chất gây ô nhiễm là các
chất thải, tuy nhiên, chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm,
phế liệu, phế phẩm…
* Bảo vệ môi trường:
Môi trường ngày nay đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nếu không có các hoạt
động bảo vệ thiết thực thì trong một tương lai không xa con người phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường mang lại. Hiện nay, thuật ngữ bảo vệ
môi trường không còn là xa lạ đối với mọi người, đó là lời kêu gọi mọi người hãy giữ
lấy môi trường mình đang sống. Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2005
“hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp;
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc
phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý
và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” (khoản 3 Điều 3).
1.1.2. Hiện trạng môi trường Việt Nam:
Hiện trạng môi trường ở nước ta vô cùng phức tạp và đa dạng. Sự phức tạp và
đa dạng này bị quy định bởi tính phức tạp và đa dạng của trình độ phát triển của xã hội
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
ta hiện nay. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, chúng ta đã có một kiến trúc thượng
tầng và một ý thức xã hội khá phát triển nhưng cơ sở hạ tầng và tồn tại xã hội đang còn
ở trình độ thấp; có một chế độ chính trị ở mức tiên tiến nhưng điều kiện kinh tế - xã
hội còn kém phát triển. Tất cả những điều đó được phản ánh một cách rõ nét qua hiện
trạng của môi trường và quy định đặc điểm của nó.
Việt Nam là một thành viên của ngôi nhà trái đất. Vì vậy, tuy có những nét
đặc thù riêng nhưng vấn đề môi trường nước ta không nằm ngoài những vấn đề môi
trường của trái đất. Cùng với tình hình môi trường toàn cầu như: trái đất đang nóng
lên, tầng ozon bị suy giảm, mực nước biển dâng cao, sự suy giảm chất lượng nước ở
các dòng sông chung quốc gia và các thảm rừng chung biên giới, mưa acid, các cực trị
về bão lũ, mưa lớn, hạn hán ngày càng gia tăng ở nhiều nơi thì tình hình môi trường ở
Việt Nam cũng đang biến đổi theo chiều hướng xấu và có nguy cơ bị huỷ hoại.
Như vậy, có thể thấy hiện trạng môi trường ở Việt Nam có cả những vấn đề
về sự khan hiếm và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lẫn những vấn đề về ô
nhiễm môi trường sống. Về mặt biểu hiện thì tình hình môi trường ở Việt Nam về cơ
bản không có gì khác biệt so với tình hình môi trường ở các nước phát triển về mặt
công nghệ, mà sự khác biệt chính là nguyên nhân đưa đến những hiện tượng đó.
Nếu như ở các nước phát triển hậu quả môi trường là do sự phát triển của kỹ
Trung
tâm
Học
Thơ
liệu
học
tập
và nghiên
thuật, công
nghệ,liệu
do sựĐH
phátCần
triển tự
phát @
của Tài
nền văn
minh
công
nghiệp,
thì ở Việt cứu
Nam hậu quả môi trường lại do sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu; do ảnh hưởng
còn nặng nề của nếp nghĩ, nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối sống công nghiệp
còn chưa được thực hiện. Có thể nói, hiện trạng môi trường sống ở Việt Nam là biểu
hiện sự hội tụ đan xen của những vấn đề môi trường của thời đại.
1.1.2.1. Hiện trạng tài nguyên đất:
Đất là một thành phần chủ yếu và quan trọng của môi trường tự nhiên, là nơi
nuôi dưỡng sự sống của các sinh vật và con người trên trái đất. Các sinh vật trong đất
và trên bề mặt đất được sinh tồn, phát triển và tham gia vào chu trình biến đổi vật chất
của tự nhiên thông qua vai trò của đất. Đất cùng với các nhân tố môi trường khác như
nước và không khí đã tạo ra điều kiện sinh cảnh cho các sinh vật sống và góp phần làm
sạch các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và có đa dạng sinh học như ngày nay.
Với đặc thù độc đáo mà không một vật thể tự nhiên nào có được – đó là độ
phì nhiêu, đất cung cấp dinh dưỡng cho toàn bộ cây trồng vật nuôi, giúp nó sinh sôi
nảy nở và phát triển. Đất là chỗ dựa cho tất cả các hệ sinh thái. Đất giữ nhiệt độ làm
giảm sức nóng thiêu đốt của mặt trời bằng nhiều tầng đất của mình. Vì vậy, đất là một
trong những yếu tố quan trọng để điều hoà nhiệt độ và điều hoà khí hậu. Đất còn là túi
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm và chứa trong lòng nó vô khối mạch nước
tinh khiết. Đất điều hoà lưu lượng nước trên toàn bộ hành tinh.
Với giá trị mọi mặt như vậy, đất được coi là một trong những thành phần
quan trọng nhất của môi trường.
Đất của Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều, nhiệt độ không khí cao,
khoáng hoá mạnh, dễ bị rửa trôi, bào mòn, sự màu mỡ của đất dễ bị thoái hoá, môi
trường đất nhạy cảm với mọi sự biến đổi và khó khôi phục lại trạng thái ban đầu. Xói
mòn, rửa trôi chủ yếu xảy ra ở những vùng đất trống, đồi núi trọc. Có đến 13 triệu ha
đất bị suy thoái thành đất trống, đồi núi trọc, trong đó những diện tích đã bị trơ sỏi đá
và mất khả năng sinh sản là khoảng 1,2 triệu ha. Đồi núi trọc không có rừng đạt xấp xỉ
11 triệu ha. Nếu kể cả mặt đất và mặt nước đang bị bỏ hoang thì diện tích đất trống,
đồi núi trọc toàn quốc lên tới hơn 13 triệu ha.
Ở khu vực đất lâm nghiệp, diện tích đất trống, đồi núi trọc chiếm tỷ lệ đáng lo
ngại, song đến nay vẫn chưa có chuyển biến mới rõ nét. Nếu như hơn 50 năm trước
(1943), trong số hơn 20 triệu ha đất lâm nghiệp chỉ có khoảng 6 triệu ha không có rừng
(chiếm 30%) thì đến năm 1993, con số này đã là hơn 11,4 triệu ha, chiếm xấp xỉ 60%.
Thêm nữa là những di hại do chiến tranh hoá học của đế quốc Mỹ để lại trên 48% diện
tích đất trồng trọt, đất lâm nghiệp ở miền Nam. Kết quả nghiên cứu gần đây nhất cho
Trung
liệu
ĐH trước
Cầnđây
Thơ
@hạiTài
tậphọc
vàvẫn
nghiên
thấytâm
hàng Học
triệu ha
đất rừng
bị tác
của liệu
chiến học
tranh hoá
tiếp tục cứu
chịu ảnh hưởng, một phần rừng trên các diện tích đó không có khả năng tự hồi phục.1
Ngoài tác động của các yếu tố tự nhiên thì tác động của con người là nguyên
nhân chính làm cho môi trường đất bị ô nhiễm. Bằng các hoạt động sống hàng ngày
của mình con người đã đưa vào môi trường đất một lượng lớn các chất độc hại gây ảnh
hưởng đến sự sống của sinh vật, con người và các yếu tố môi trường khác. Trong công
nghiệp và trong sinh hoạt hàng ngày con người đã thải vào đất các chất thải như rác
thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và còn
có các chất phóng xạ làm thay đổi thành phần, cấu trúc vốn có của đất. Trong nông
nghiệp, đất ô nhiễm do người dân sử dụng quá nhiều các loại phân hoá học cộng với
việc sử dụng không đúng kỹ thuật dẫn đến việc chúng phân hủy không hết trong quá
trình này nên đã bị ngấm vào đất. Các loại phân bón hữu cơ (phân xanh) cũng là
nguyên nhân gây ô nhiễm nếu sử dụng quá liều lượng và không qua xử lý. Các loại
thuốc bảo vệ thực vật cũng có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất và cả môi trường
không khí. Chúng ta cũng cần phải kể đến một diện tích không nhỏ đất đai bị biến
1
Giáo trình Luật môi trường - Trường Đại học luật Hà Nội - NXB công an nhân dân - năm 2004, trang 230.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
thành bãi rác, lại không được quy hoạch phù hợp, không chỉ làm cho đất nơi đó bị ô
nhiễm mà còn làm ô nhiễm cả mạch nước ngầm.
Như vậy, có thể thấy suy thoái đất ở Việt Nam đã và đang xảy ra trên quy mô
rộng lớn, từ vùng ven biển, vùng đồng bằng đến vùng đồi núi, liên quan tới hầu hết đất
canh tác và vùng hoang hoá, với diện tích hàng chục triệu ha. Ô nhiễm môi trường đất
đang có biểu hiện nghiêm trọng do nước thải các đô thị, các khu công nghiệp và việc
sử dụng phân bón không hợp lý. Do đó, cần phải có nhiều biện pháp thiết thực hơn
nữa để hạn chế tình trạng gây suy thoái và ô nhiễm đất.
1.1.2.2. Hiện trạng tài nguyên nước:
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là yếu tố cần thiết của sự sống và môi
trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của toàn cầu.
Trên trái đất tổng lượng nước khoảng 1,4 tỷ km3, trong đó có khoảng 96,5%
là nước nằm trong các đại dương và là nước mặn không dùng được để uống hoặc tưới
cho cây trồng, hơn nữa số lượng có hạn trên lại bị nhiễm bẩn do nước thải của sản xuất
và sinh hoạt của con người tạo ra, và nó không được phân bố đồng đều ở các quốc gia.
Theo một số điều tra cho thấy rằng trên thế giới mỗi năm có khoảng hơn 400 tỷ m3
nước bẩn thải vào các sông hồ và biển, với số lượng 650 triệu tấn rác/năm đổ xuống
biển là con số rất nghiêm trọng làm cho 40% lưu lượng ổn định của các dòng sông trên
2
Trung
liệu
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trái tâm
đất bị Học
ô nhiễm.
Theo nhận định của các cơ quan chuyên môn, thiếu nước sạch hiện nay là tình
trạng nghiêm trọng không chỉ đối với riêng một quốc gia mà thực sự là vấn đề của toàn
cầu. Trong 20 năm qua, mức sử dụng nước trên thế giới đã tăng gấp đôi, Liên Hiệp
Quốc cũng vừa đưa ra lời cảnh báo tương tự cho dù đã bỏ ra hơn 3.000 tỷ USD trong
năm thập niên qua cho các chương trình phát triển, nhưng đến nay gần 1 tỷ người với
nhiều lý do khác nhau vẫn chưa được sử dụng nước hợp vệ sinh.
Ở Việt Nam, với tổng dòng chảy nước mặt khoảng 835 tỷ m3/năm và lượng
mưa trung bình hàng năm là 2000mm, cùng với nước ngầm và lượng nước trên các
con sông (trong đó có 15 con sông có diện tích lưu vực từ 3000 km2 trở lên, và riêng
sông Mêkong có lượng dòng chảy hàng năm trên 500 tỷ m 3, sông Hồng đạt trên 120 tỷ
m 3) cho thấy rằng Việt Nam là quốc gia có nguồn nước tương đối giàu có và phong
phú so với nhiều quốc gia trên thế giới3. Tuy nhiên, hiện tượng suy giảm và ô nhiễm
nước là một trong những thực trạng đáng lo ngại nhất của của sự huỷ hoại môi trường
tự nhiên, điều đó đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam.
2
3
Giáo trình Luật môi trường - Khoa luật Trường Đại học Cần Thơ - năm 2002.
Giáo trình Luật môi trường - Khoa luật Trường Đại học Cần Thơ - năm 2002.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm cho thấy hơn 70% tổng lượng nước
dùng cho các nhu cầu cấp nước sinh hoạt được lấy từ các nguồn nước mặt, trong khi
đó hiện tượng suy giảm chất lượng nguồn nước mặt đang có chiều hướng gia tăng ở
nhiều nơi như sông Thái Bình (tại khu vực Phả Lại), sông Hồng (tại khu vực Việt Trì),
sông Đồng Nai (tại khu vực Đồng Nai) … Ở những nơi này nồng độ các chất ô nhiễm
đã vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép (giới hạn cho phép các chất ô nhiễm
trong nước mặt được quy định trong Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt – TCVN 5942 –
1995). Nghiêm trọng hơn là đã phát hiện thấy các hoá chất như phenol, xyanua - chất
cực kỳ độc hại đối với sức khoẻ con người - ở một số nguồn nước mặt kể trên. Đặc
biệt trong những năm gần đây, một số dòng sông như sông Thu Bồn ở Quảng Nam –
Đà Nẵng, sông Cầu ở Thái Nguyên, do hoạt động khai thác khoáng sản ở đầu nguồn
và các hoạt động công nghiệp trong lưu vực đã làm cho nước sông ô nhiễm tới mức
trầm trọng đáng báo động.4
Tài nguyên nước ngầm cũng đang ở trong tình trạng tương tự. Hiện tượng các
nguồn nước ngầm bị cạn kiệt về số lượng và giảm sút về chất lượng đang xảy ra ngày
một nhiều ở các khu vực đô thị, đặc biệt là các thành phố lớn và các khu công nghiệp
tập trung. Mực nước ngầm bị hạ thấp đã làm tăng khả năng xâm thực của nước biển,
nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt vào các nguồn nước này, khiến cho quá
Trung
tâm
liệu
ĐH
Cần
Tàisinh
liệu
học
và nghiên
trình
khai Học
thác và
xử lý
nước
ngầmThơ
phục @
vụ cho
hoạt
gặp tập
rất nhiều
khó khăn. cứu
Nghiêm trọng hơn nữa là ở những nơi này đã xuất hiện hiện tượng lở đất, lún đất làm
ảnh hưởng tới nhiều công trình công cộng cũng như công trình phục vụ sinh hoạt của
nhân dân.
Chất lượng nước biển ven bờ cũng đang suy giảm, hàm lượng chất phù sa lơ
lửng, dầu, kẽm, coliform … trong nước vùng ven biển (nơi gần các thành phố và khu
công nghiệp) lớn gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép, điều này dẫn đến hậu quả
là nguồn lợi thuỷ sản bị huỷ diệt đáng kể, thậm chí có một số loài hải sản quý hiếm đã
bị tuyệt chủng.
Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm
phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, ven
biển miền Trung…
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất dùng tưới lúa và hoa màu,
chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông dược và
phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
4
Giáo trình Luật môi trường - Trường Đại học luật Hà Nội - NXB công an nhân dân - năm 2006, trang 185,186.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước nghiêm trọng, mỗi ngành có một
loại nước thải khác nhau, và điển hình khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến
sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số; khu công
nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất,
thuốc trừ sâu, giấy, dệt…xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể; khu công
nghiệp Biên Hoà và Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và
sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng lân cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng do quá trình tăng dân
số và các đô thị hoá. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ
sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước
ta.
Điều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường,
chưa qua xử lý gì cả bởi nước ta chưa có hệ thống hoàn chỉnh để xử lý nước thải nào
đúng nghĩa như tên gọi, điều đó có thể gây thiệt hại về người, tài sản của nhà nước, tập
thể và cá nhân, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái.
Sự ô nhiễm và suy thoái các nguồn nước nói trên đã làm gia tăng các sự cố
môi trường một cách rõ rệt. Các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, nứt đá, sạt lở đất đã và
đang xảy ra thường xuyên, tác động đến nhiều vùng rộng lớn, đồng thời kéo theo các
Trung
tâmkhác
Học
Cần
tậpTheo
vàdựnghiên
tai biến
nhưliệu
ngập ĐH
úng, phá
huỷThơ
nhiều @
côngTài
trìnhliệu
cơ sởhọc
hạ tầng.
báo, các cứu
tai biến thiên nhiên có chiều hướng ngày càng tăng về tần suất cũng như cường độ, đe
doạ phá vỡ trạng thái cân bằng của môi trường.
1.1.2.3. Hiện trạng môi trường không khí:
Không khí tương tự như đất, nước có ý nghĩa sống còn để duy trì sự sống trên
trái đất, trong đó có sự sống của con người. Song cùng với sự gia tăng dân số và sự
phát triển của sản xuất, sự suy giảm của các yếu tố tự nhiên đã làm cho môi trường
không khí ngày càng bị ô nhiễm.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, môi trường không khí
hiện nay bị ô nhiễm đến mức báo động toàn cầu. Đã có nhiều trận mưa bụi, mưa axit
xảy ra là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí; tầng ozon ngày một suy giảm, lỗ thủng
ngày một tăng cũng là nguyên nhân tăng tiến ô nhiễm không khí. Ô nhiễm không khí,
hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ toàn cầu lên cao. Hậu quả của quá trình này rất
nghiêm trọng, chỉ cần một sự thay đổi rất nhỏ về nhiệt độ trung bình trên trái đất cũng
dẫn đến diễn biến xấu của thời tiết như: nước biển dâng cao, gia tăng tần suất bão tố,
ảnh hưởng đến chế độ mưa toàn cầu … Tác động ô nhiễm còn làm thay đổi giới hạn và
quy mô các hệ sinh thái tự nhiên. Ô nhiễm không khí lại là nguyên nhân của nhiều
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
bệnh tật nguy hiểm mới, nhất là các bệnh về hô hấp, nó cũng gây huỷ hoại các di tích
lịch sử, các công trình khoa học…
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá
mạnh mẽ. Do đó không thể tránh khỏi tình trạng ô nhiễm môi trường không khí. Theo
kết quả khảo sát, điều tra đã được công bố, môi trường không khí ở nước ta đang ngày
càng bị nhiễm bẩn. Có những nơi mức độ ô nhiễm rất nghiêm trọng, vượt quá tiêu
chuẩn cho phép, đặc biệt là các loại khói bụi, hoá chất trong công nghiệp và nông
nghiệp. Bên cạnh tốc độ đô thị hoá là sự gia tăng lượng chất thải, việc xử lý chất thải
lại chưa triệt để, công nghệ xử lý còn lạc hậu đã tăng lượng các chất khí độc hại, vi
sinh vật độc hại, phát tán vào môi trường không khí.
Tại các khu công nghiệp, nhất là các khu công nghiệp cũ như nhà máy gang
thép, luyện kim, các nhà máy xi măng, nhà máy hoá chất, lọc dầu… đang bị ô nhiễm
do các chất thải rắn, nước thải, khí thải và các chất độc hại khác chưa được xử lý theo
đúng quy định. Hiện nay, ở Việt Nam hầu hết các cơ sở sản xuất chưa có thiết bị xử lý
nước thải. Theo thống kê, cả nước đã hình thành gần 100 khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao nhưng chỉ có 1/3 trong số đó đã xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật cao và rất ít khu có hệ thống xử lý rác thải, nước thải tập trung.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu tràn lan
Trung
tâm
Học
ĐHnguồn
Cầnnước
Thơ
liệucả học
tập khí.
và Nhiều
nghiên
không những
làmliệu
ô nhiễm
mà @
còn Tài
ô nhiễm
bầu không
chất cứu
thải như rác thải (vỏ chai, bao nhựa, các dụng cụ pha trộn phân bón, thuốc trừ
sâu…),nước thải không được xử lý mà đổ trực tiếp ra kênh rạch làm ô nhiễm môi
trường.
Việc phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp và công
nghiệp chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ,
phân tán trong các khu dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom, xử lý chất thải
(mà phần lớn xử lý bằng cách đốt các lượng rác thải ra) đã gây ô nhiễm nghiêm trọng
cho khí quyển bởi các chất khí nguy hiểm phát sinh khi rác thải cháy.
Điều kiện vệ sinh nông thôn nước ta còn quá thấp kém. Mặc dù trước đây
nông thôn được xem là môi trường trong lành nhất thì hiện nay cũng phải chịu cảnh ô
nhiễm nặng. Nguồn nước ô nhiễm kéo theo nguy cơ ô nhiễm của không khí, các chất
thải sinh hoạt và hoạt động sản xuất nhỏ thì không được xử lý. Nguyên nhân của hiện
trạng này là do sự hiểu biết về bảo vệ môi trường của người dân nông thôn thấp kém,
hơn nữa trình độ chưa được nâng cao và không tiếp thu được sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật.
Việc gia tăng các phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở
nhiều nơi. Tại một số nút giao thông lớn, nồng độ khí CO, NO2 và SO2 khá cao, trực
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
tiếp gây hại đến sức khoẻ của những người tham gia giao thông và người dân sống
quanh khu vực. Chủ trương dùng xăng không pha chì của Chính phủ đã cơ bản khắc
phục tình trạng gia tăng bụi chì trong không khí ở các đô thị và khu công nghiệp. Bên
cạnh đó, nhiều vụ cháy rừng lớn trong thời gian gần đây đã làm suy giảm chất lượng
không khí và gây ra một số hiện tượng tự nhiên không bình thường khác.
Trên đây là một số những hiện trạng về các yếu tố tự nhiên của môi trường
(đất, nước, không khí). Đấy là những gì mà môi trường đã mang đến cho con người và
con người đã tác động thế nào đến môi trường. Qua đó, ta có thể thấy hiển hiện tác hại
nguy hiểm của các chất thải đối với môi trường. Những ảnh hưởng này của chất thải sẽ
còn lớn gấp nhiều lần nếu như chúng ta không có một chính sách điều chỉnh hợp lý
cũng như có một chiến lược hợp lý về nâng cao trình độ, ý thức bảo vệ môi trường của
người dân.
1.2. Tổng quan về chất thải:
1.2.1. Phân loại chất thải:
Chất thải là những vật chất, trong một quá trình sản xuất nào đó, nó không có
khả năng sử dụng được nữa (giá trị sử dụng bằng không), nó bị loại ra từ các quá trình
sản xuất đó, có thể là, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, hoạt động du lịch, giao
thông vận tải, từ sinh hoạt đời sống, từ khu dân cư và kể cả các hoạt động du hành vũ
Trung
Học
liệuthải.
ĐH
Cần
Thơ
học
trụ tâm
cũng đều
là chất
Chất
thải của
một@
quáTài
trình liệu
sản xuất
nàytập
chưavà
hẳnnghiên
đã là chất cứu
thải của quá trình sản xuất khác, thậm chí lại còn là nguyên liệu cho quá trình sản xuất
tiếp theo. Chất thải có thể ở dạng khí, lỏng hoặc rắn.
Rác và chất thải bản chất đầu tiên của nó có thể chưa ô nhiễm hoặc mới ở mức
làm bẩn môi trường. Nhưng qua tác động của các yếu tố môi trường, qua phân giải,
hoạt hoá mà chất bẩn mới trở nên ô nhiễm và gây độc. Rác hữu cơ thì bị lên men gây
thối và độc. Nước thải chứa hoá chất làm ô nhiễm đất, ô nhiễm nước mặt, nước ngầm.
Chất thải phóng xạ gây ô nhiễm phóng xạ. Khí thải từ các nhà máy, xí nghiệp, từ các
phương tiện giao thông gây ô nhiễm không khí và ảnh hường đến sức khoẻ của con
người. Hầu hết, ở đâu có sinh vật sống là ở đó có chất thải hoặc ở dạng này hay là
dạng khác. Vì vậy, chỗ nào càng tập trung sinh vật, con người và hoạt động của họ
càng cao thì chất thải càng nhiều.
Như chúng ta biết chất thải là thuật ngữ dùng chung cho tất cả những gì bị loại
ra trong quá trình sống và hoạt động của con người. Từ định nghĩa chung đó và dựa
vào đặc điểm của từng loại chất thải mà người ta đã phân loại chất thải thành một số
dạng, cụ thể:
* Chất thải rắn (rác):
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Rác, chất thải rắn xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của động vật và
con người trên trái đất. Lấy từ những tài nguyên thiên nhiên trên trái đất những nguyên
vật liệu, những thức ăn để phục vụ cho đời sống của chính mình để rồi thải các chất
thải rắn (rác) ra môi trường xung quanh. Ở giai đoạn tiền sử khi mà số lượng của con
người còn quá nhỏ bé, sống riêng lẻ từ những vùng xa xôi, với cách sống hoang dã,
mặc dù có thải ra chất thải rắn nhưng chưa ảnh hưởng đến môi trường. Bởi vì lượng
rác thải ra còn ở một tỷ lệ rất thấp, mặt khác khả năng tự làm sạch của thiên nhiên nên
môi trường vẫn được an toàn. Đến khi sự phát triển của con người và xã hội con người
đến một trình độ cao hơn, sống tập trung từ các bản làng cho đến các thị tứ, thị trấn,
thành phố nhỏ rồi đến thành phố lớn cho đến thành phố tập trung hàng triệu hàng triệu
người, thì rác thải trở thành vấn đề cấp bách. Khi mà lượng nước thải trở nên quá lớn
khả năng tự làm sạch của môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí
đã vượt quá giới hạn của nó, đặc biệt là những chất thải độc hại hoá chất phân bón
dùng một cách vô tội vạ như hiện nay thì môi trường sinh thái càng bị huỷ hoại nhanh
chóng. Hơn thế nữa, khoa học kỹ thuật càng phát triển thì càng sản xuất ra nhiều loại
mà rác thải của nó có phạm vi nguy hiểm cho xã hội. Ở Việt Nam, chỉ riêng ở thành
phố Hồ Chí Minh hàng ngày phải có 2500 người công nhân phải quét trên 13 triệu m 2,
119 chợ, 100 tụ điểm chợ trời tương đương với 3500 tấn rác/ngày. Chỉ tính riêng công
5
Trung
Học
liệu
Cần
@ Tài
học
vàlý nghiên
tác tâm
thu gom
đã tiêu
tốnĐH
đến 20
– 30 Thơ
tỷ đồng/năm
. Đóliệu
là chưa
kể tập
đến xử
rác và các cứu
vấn đề có liên quan.
Vậy rác và các chất thải rắn là gì. Rác – solid waste, chất thải rắn là các
chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và
động vật. Chất thải rắn của một quá trình sản xuất này có thể là nguyên liệu cho một
quá trình sản xuất khác. Chất thải của động vật này có thể là thức ăn cho động vật khác
trong dây chuyền thực phẩm. Vì vậy, khái niệm chất thải và rắn cũng chỉ là tương đối
và đi kèm với quá trình sống là rác sinh hoạt và quá trình sản xuất tạo ra rác sản xuất.
Chính vì vậy mà mức độ tác hại của nó đối với môi trường ở trong những điều kiện
khác nhau sẽ khác nhau.
Rác gồm có các loại cơ bản sau:
- Rác thực phẩm: đó là những chất thải từ nguồn thực phẩm, nông
phẩm hoa quả trong quá trình sản xuất, thu hoạch, chế biến bảo quản bị hư bị thải loại
ra. Tính chất đặc trưng loại này là quá trình lên men thối cao, nhất là trong điều kiện
ẩm độ không khí 85 – 90% nhiệt độ 30 – 35oC. Quá trình này gây mùi thối nồng nặc
5
Nguyễn Đình Hoè - Dân số và môi trường - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2000.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
và phát tán vào không khí nhiều bào tử nấm bệnh. Loại này thường lớn: ví dụ ở thành
phố Hồ Chí Minh chiếm 58 – 60%.
- Rác tạp: từ công sở, nhà ăn, khu chợ. Ở đây vừa có loại phân giải
nhanh chóng nhưng lại vừa có loại phân giải chậm hoặc khó phân giải (như bao
nylon). Có loại đốt được nhưng có loại không cháy. Loại đốt được bao gồm các chất
giấy, bìa, plastic, vải, cao su, da, gỗ, lá cây; loại không cháy gồm: thuỷ tinh, đồ nhôm,
kim loại.
- Xà bần, bùn cống: chất thải của quá trình xây dựng và chỉnh trang
đô thị bao gồm bụi đá, mảnh vỡ, bê tông, gỗ, gạch, ngói, đường ống những vật liệu
thừa của trang bị nội thất (gọi là “búc lúc”). Loại này chiếm một lượng khoảng 35 –
40%, theo số liệu của công ty dịch vụ coong cộng, lượng xà bần hiện nay tăng đáng
kể: 1000 tấn/ngày.
- Tro: tro bếp và tro trong các công nghệ sấy đốt bằng tro trấu thành
phần chủ yếu là carbon và kali, các chất khoáng khác khi khô có gió thì gây bụi bay
mù mịt, khi ướt thì kết dính. Tuy nhiên tro có tính hấp thụ lý học rất cao, đặc biệt là
hấp thụ mùi, và có khả năng làm trung hoà môi trường chua.
- Chất thải từ nhà máy nước: bao gồm bùn cát lắng trong quá trình
ngưng tụ chiếm 25 – 29%. Thành phần cấp hạt có thay đổi đôi chút do nguồn nước lấy
Trung
liệunghệ.
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vàotâm
và quáHọc
trình công
- Chất thải là sản phẩm thừa nông nghiệp: xuất hiện ở vùng nông
thôn thành phần chủ yếu là rơm rạ (trừ loại cho bò ăn và đun nấu), dây khoai, cành lá
cây trồng, rau bỏ. Khối lượng phụ thuộc vào mùa vụ và đặc tính cũng như phong tục
nông nghiệp ở mỗi vùng. Có vùng nó là chất thải nhưng có vùng nó lại là nguyên liệu
cho sản xuất, ví dụ: rơm, rạ có vùng bỏ hoặc đốt hoặc làm “dầm” ở ruộng nhưng có
vùng lại lấy cho trâu bò ăn hoặc dùng làm nguyên liệu trồng nấm rơm, trát vách …
- Chất thải độc hại (hazardous wastes): bao gồm các chất thải chứa
các chất độc hại nguy hiểm như các chất thải phóng xạ uran thori, các loại thuốc nổ
TNT, chất dễ bắt lửa, chất thải sinh học, chất thải trong sản xuất nhựa hoặc chất thải
trong sản xuất vi trùng. Nghĩa là toàn bộ những chất thải rắn gây hại trực tiếp và rất
độc dù ở mức rất thấp đối với người, động vật và thực vật.
- Lá cây và các ngành lá đốn bỏ hoặc gãy đổ: trong đô thị các đường
phố, công viên và khu dân cư thường có cây bóng mát mọc. cành lá của nó cũng gây ra
loại rác thải. Tuy vậy loại này không cao, chỉ chiếm 1 – 2%.
* Chất thải lỏng:
Con người trong hoạt động kinh tế xã hội sử dụng một lượng nước rất
lớn. Nước cấp sau khi sử dụng vào mục đích sinh hoạt, sản xuất, nước mưa chảy trên
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
các mái nhà, mặt đường, sân vườn,… bị nhiễm bẩn trở thành nước thải chứa nhiều hợp
chất vô cơ, hữu cơ dễ bị phân huỷ thối rữa và chứa nhiều vi trùng gây bệnh và truyền
bệnh nguy hiểm. Nước thải thường được phân thành nước thải sinh hoạt và nước thải
công nghiệp.
Nước thải sinh hoạt: Trong hoạt động sống của mình con người cần
một lượng nước rất lớn. Xã hội càng phát triển nhu cầu dùng nước càng tăng, đặc biệt
là ở các đô thị. Trong các đô thị, nước thải sinh hoạt được tạo thành từ các khu dân cư,
các công trình công cộng. Nước thải sinh hoạt trong đô thị chứa hàm lượng các chất
hữu cơ không bền vững tính theo BOD5 cao, là môi trường cho các loài vi khuẩn gây
bệnh. Trong nước thải còn chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng, có khả năng gây hiện
tượng phì dưỡng (eutrofication) trong nguồn nước.
Nước thải công nghiệp: Sự tăng nhanh nền công nghiệp làm tăng nhu
cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, giấy, hoá
chất, dầu mỏ và than, luyện kim,…Thành phần nước thải sản xuất của các nhà máy xí
nghiệp rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào loại hình sản xuất, dây chuyền công
nghệ, thành phần nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm,… Trong nước thải sản xuất,
ngoài các loại cặn lơ lửng, còn có nhiều tạp chất hoá học khác nhau: các chất hữu cơ
(axit, este, phenol, dầu mỡ, chất hoạt tính bề mặt…), các chất độc (xianua, arsen, thuỷ
Trung
tâm
Học
liệucác
ĐH
Thơ
học
vàchất
nghiên
ngân,
muối
đồng…),
chấtCần
gây mùi,
các@
loạiTài
muốiliệu
khoáng
và tập
một số
đồng vị cứu
phóng xạ. Các chất này khi vào môi trường sẽ gây ô nhiễm đất, nguồn nước và không
khí, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Dầu và các sản phẩm dầu có
tác động nguy hiểm nhất đối với nguồn nước. Chúng tạo thành màng mỏng trên mặt
nước cản trở quá trình hoà tan oxy trong nguồn nước.
* Chất thải khí:
Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các khu công nghiệp, khu chế xuất,
sự phát triển mạnh mẽ của giao thông vận tải đã ảnh hưởng xấu đến môi trường không
khí. Hàng ngày lượng khí thải ra từ các hoạt động kể trên là rất lớn, tất cả đều là những
chất độc hại, gây nguy hiểm cho môi trường và sức khoẻ con người.
Khí thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Các ống thải ở các
nhà máy thải ra môi trường không khí rất nhiều loại chất độc hại. Trong quá trình sản
xuất các chất độc hại thoát ra do bốc hơi, rò rỉ, tổn hao trên dây chuyền sản xuất, trên
các phương tiện dẫn tải…Khí thải từ các nhà máy hoá chất, luyện kim, cơ khí, sản xuất
vật liệu xây dựng thường thải ra bụi và các khí độc hại như SO2, CO, NOx làm ô nhiễm
không khí.
Khí thải từ các phương tiện giao thông: hoạt động giao thông vận tải
đã thải vào môi trường các loại khí như cacbon monoxit, hydro cacbon, nitơ oxit, chì.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải kể đến một lượng khí thải từ sinh
hoạt hàng ngày của con người. Việc đun nấu bếp, các lò sưởi sử dụng nhiên liệu than,
củi, dầu, khí đốt cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường. Mặc dù lượng độc hại toả ra
không nhiều lắm, nhưng nó gây ô nhiễm cục bộ và vì nó ở sát cạnh con người nên tác
hại của nó lớn và nguy hiểm. Đối với các khu nhà có đông người ở, khu bếp xen lẫn
với khu ở, hệ thống thoát khói nếu thiết kế không tốt, thì sẽ ảnh hưởng xấu tới con
người, bởi vì nồng độ CO cao và khói bụi làm ô nhiễm nặng môi trường không khí có
thể gây tai hoạ trực tiếp cho người ở.
1.2.2. Nguồn chất thải:
* Nguồn rác thải:
Rác thải xuất hiện từ nhiều nguồn khác nhau. Tựu trung có thể có một số
nguồn sau:
- Rác nông nghiệp: bao gồm các loại nông phẩm hư hỏng (lúa, bắp, khoai
sùng thối …), chất thải cây trồng, vỏ trấu, rơm rạ xác cây nông nghiệp … Rác nông
nghiệp không đồng nhất.
- Rác công nghiệp: trong công nghiệp lại tuỳ dây chuyền công nghệ để
rồi tạo ra các chất thải khác nhau.
+ Nhà máy nước: Rác là bùn
Trung tâm Học
liệunghiệp
ĐH Cần
Thơ
@thải
Tàira rác
liệuđộchọc
+ Công
hoá chất:
thường
hại. tập và nghiên cứu
+ Công nghiệp thực phẩm đồ hộp: rác thải của nó là các chất hữu cơ bán
phân giải, hoặc lon, bao bì hư.
+ Công nghệ cơ khí: rác thải là phoi bào, phoi tiện, búc lúc …
+ Công nghiệp nhựa: các chất thải là đồ nhựa…
- Rác khu thương mại, chợ: bao gồm các loại rác, thực phẩm thừa, ôi thiu
… rau cỏ loại bỏ, đồ vứt bỏ trong khi làm thịt gà, heo …
- Rác khu xây dựng: vật liệu xây dựng bị loại thải trong quá trình xây
dựng, trang trí nội thất … chủ yếu là xà bần.
- Rác đô thị: rác đô thị bao gồm rất nhiều rác trừ rác nông nghiệp.
- Rác vũ trụ: những bộ phận tàu vũ trụ bị cháy, nổ thành mảnh vỡ, những
vệ tinh nhân tạo bị hỏng, các thùng nhiên liệu,…
- Rác khu dân cư: bao gồm thực phẩm thừa, tro bếp, giấy vụn, đồ dùng
gia đình bị vỡ hỏng, các bao nylon, plastic gói hàng, dép giầy quần áo bỏ …
* Nguồn nước thải:
- Nước thải sinh hoạt: Các khu vực đô thị, các vùng tập trung đông dân
cư có dân số và mật độ dân cư cao so với các vùng khác, nên hàng ngày cũng thải ra
môi trường một lượng rất lớn nước thải sinh hoạt.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Nước ta hiện nay có 569 đô thị lớn nhỏ với số dân khoảng hơn 20 triệu
người trong đó có hai thành phố lớn với dân số từ ba triệu đến tám triệu, còn lại là các
thị xã, thị trấn với số dân ít hơn. Chỉ ước tính cho thành phố một triệu dân với lượng
nước thải 100l/người/ngày thì mỗi ngày thành phố cũng có tới 100.000 m 3 nước thải
sinh hoạt thải ra môi trường.
Nước thải sinh hoạt ngoài chứa một lượng các chất vô cơ còn có đặc
tính chung là chứa nhiều chất hữu cơ có nguồn gốc động vật và thực vật có chứa các vi
khuẩn gây bệnh. Khi vào môi trường các chất ô nhiễm hữu cơ dễ bị các vi khuẩn và vi
sinh vật phân huỷ, gây ô nhiễm cho môi trường. Ngoài ra, trong các đô thị cũng có
nhiều các bệnh viện mà nước thải bệnh viện lại chứa nhiều chất bẩn và đặc biệt là
nhiều loại vi trùng của nhiều bệnh khác nhau. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ và
xử lý trước khi xả ra ngoài môi trường thì sẽ có nguy cơ làm lây lan dịch bệnh và ảnh
hưởng xấu tới sức khoẻ cộng đồng.
- Nước thải công nghiệp: Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà máy,
xí nghiệp đã góp phần gây ô nhiễm môi trường. Hàng ngày các nhà máy, xí nghiệp
thải vào môi trường đã đưa vào môi trường các loại chất thải đủ thành phần, trong đó
chủ yếu nhất vẫn là nước thải. Trong nước thải công nghiệp, thành phần chủ yếu là các
kim loại nặng, các hoá chất độc hại khác và còn có cả chất phóng xạ. Đặc biệt nước
Trung
liệu
@chất
Tàihoá
liệu
tập và
thảitâm
trongHọc
các nhà
máyĐH
giấyCần
ngoài Thơ
các hợp
họchọc
như kiềm,
este,nghiên
cồn, axit cứu
sunfuaric… còn có nhiều loại cặn và xơ sợi với hàm lượng rất lớn. Ví dụ hàm lượng
cặn lơ lửng trong nước thải công ty giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) là 130 ÷ 400mg/l, trong
đó lượng xơ sợi gần 100 mg/l. Các tạp chất rắn này lắng đọng tại vùng cống xả nước
thải vào sông, hồ gây nên lên men yếm khí và gây ra tình trạng thiếu hụt oxy nghiêm
trọng trong nguồn nước.
- Ngoài các nguồn nước thải nêu trên, bệnh viện và các trung tâm y tế
cũng thải ra hàng nghìn m 3 nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. Nước
thải được tạo ra từ các hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể
làm ô nhiễm môi trường.
* Nguồn khí thải:
Các nguồn khí thải thông thường tập trung ở các đô thị và khu công
nghiệp. Ở nước ta đang diễn ra quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá tương đối
nhanh. Vì vậy hiện trạng chất lượng môi trường đô thị và khu công nghiệp nước ta
biến đổi hàng năm, theo chiều hướng bất lợi, vì chất thải ô nhiễm từ sản xuất công
nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt đô thị ngày càng tăng về số lượng, chủng loại
và tính độc hại. Có nhiều khu chế xuất và khu công nghiệp mới đang hình thành, đó là
các khu công nghiệp mới, nguồn thải tập trung trong phạm vi lãnh thổ không nhỏ,
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
chúng sẽ gây ô nhiễm các vùng xung quanh, do đó sẽ mở rộng diện tích các vùng bị
ảnh hưởng của ô nhiễm sản xuất công nghiệp.
- Nguồn khí thải từ hoạt động công nghiệp:
Công nghiệp cũ: (được xây dựng trước năm 1975) đều là công nghiệp vừa và nhỏ,
công nghệ lạc hậu, một số cơ sở sản xuất có thiết bị lọc bụi, hầu như chưa có thiết bị
xử lý khí thải độc hại. Nói chung, công nghiệp cũ là một trong những nguồn chính gây
ô nhiễm không khí hiện nay.
Công nghiệp mới: phần lớn các cơ sở công nghiệp mới ở nước ta có quy mô lớn
hơn và được đầu tư tập trung vào 68 khu công nghiệp. Tuy được trang bị xử lý chất
thải, nhưng với các nguồn thải lớn và tập trung, nếu quản lý môi trường các KCN
không tốt thì sẽ tác động xấu đến môi trường của các khu dân cư xung quanh.
Mấy năm gần đây ở nước ta đang phát triển một số ngành công nghiệp
mới như công nghiệp điện tử, chất dẻo, công nghiệp hoá chất, công nghiệp dầu khí,
công nghiệp nhuộm, mạ, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp vật liệu, v.v…Do vậy
đã làm cho chất thải công nghiệp ở nước ta ngày càng đa dạng và độc hại hơn.
- Ô nhiễm do giao thông vận tải gây ra cũng là một nguồn lớn. Như ô tô
gây ô nhiễm bụi đất đá đối với môi trường không khí (bụi thứ cấp) và bụi rất độc hại
qua ống xả là bụi hơi chì và tàn khói. Tàu hoả, tàu thuỷ chạy bằng nhiên liệu than hay
Trung
tâm
Họcgây
liệu
Thơtương
@ Tài
liệu
xăng
dầu cũng
ra ô ĐH
nhiễmCần
môi trường
tự như
ô tô.học tập và nghiên cứu
Máy bay cũng là nguồn gây ô nhiễm bụi, hơi độc hại và tiếng ồn. Bụi và
hơi độc hại do máy bay thải ra, nói chung là nhỏ, tính tỷ lệ trên lượng nhiên liệu tiêu
hao trên đường bay cũng ít hơn ô tô. Chất thải của máy bay khác với khu công nghiệp
là nó gây ra trên đường bay cao, không chỉ bó hẹp trong một tiểu khu hay một thành
phố. Khói phụt của máy bay phản lực làm giảm độ nhìn rõ và thường gây phiền lòng
cho mọi người dưới tuyến đường hàng không và xung quanh sân bay. Một điều đáng
chú ý là máy bay siêu âm bay ở độ cao lớn thải ra khí nitơ oxit, chất này sẽ gây nguy
hiểm đối với các phân tử ozon trong khí quyển.
- Nguồn khí thải do sinh hoạt: sinh hoạt của con người chủ yếu là bếp đun
và lò sưởi sử dụng nhiên liệu than đá, củi, dầu hoả và khí đốt. Nhìn chung nguồn ô
nhiễm này là nhỏ, nhưng đặc điểm của nó là thường gây ô nhiễm cục bộ trong một nhà
hay trong một buồng. Hiện nay việc dùng than để đun nấu lan tràn trong đô thị, đó
cũng là điều đáng quan tâm đối với các nhà tập thể có hành lang kín và các căn hộ
khép kín, nồng độ khí CO tại bếp đun thường là lớn, có thể gây tai hoạ đối với con
người. Đun bếp than tổ ong sẽ thải ra nhiều chất khí độc hại như: SO2, CO, CO2 và
bụi.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
- Nguồn khí thải từ nông nghiệp: Người ta chứng minh rằng nông nghiệp
đã tạo ra khoảng 15% tổng các chất khí ô nhiễm gây bức xạ tạo nên hiệu ứng nhà kính.
Trong đó CO2 được tạo thành là do việc đốt rừng làm rẫy và do hoả hoạn. Chỉ tính
trong thập kỷ qua đã có tới 1.700.000 km2/năm rừng nhiệt đới bị tàn phá mà hậu quả
lượng CO2 tăng lên nhiều. Mặt khác những cánh đồng lúa miền đất ướt, giải phóng khí
mêtan từ các quá trình phân giải yếm khí chất hữu cơ. Nguồn sản sinh các chất này
đáng kể từ các trang trại chăn nuôi và từ các đống rác không xử lý đúng kỹ thuật. Các
chất khí này gây ô nhiễm môi trường làm tăng hiệu ứng nhà kính và phá huỷ tầng
ozon.
1.2.3. Thành phần của chất thải:
Thành phần của các chất thải vô cùng phong phú. Tuỳ theo từng loại chất
thải mà thành phần của chúng cũng rất đa dạng, chẳng hạn:
Thành phần chất thải rắn: chất thải rắn chủ yếu là rác thải, trong rác thải đô
thị thường có các thành phần phổ biến như giấy (bao gồm các vật liệu làm từ giấy và
bột giấy), hàng dệt (vật có nguồn gốc từ các sợi), thực phẩm (các chất thải ra từ thực
phẩm, đồ ăn được), gỗ, củi, rơm rạ, cỏ, chất dẻo (các vật liệu và sản phẩm đựoc chế
tạo từ chất dẻo), da và cao su,… đây là các chất dễ cháy, chất không cháy gồm có các
loại kim loại sắt, các kim loại phi sắt, thuỷ tinh, đá và sành sứ. Ngoài ra, còn có một số
Trung
Học
liệu
ĐHnhững
Cầnloại
Thơ
@trên
Tàithành
liệuphần
họctừng
tập
chấttâm
hỗn hợp
khác.
Trong
rác nói
rácvà
thảinghiên
đều có tỷ cứu
trọng khác nhau, độ ẩm khác nhau và sự tác động vào môi trường cũng khác nhau.
Thành phần nước thải: Nước thải chứa các hợp chất hoá học dạng vô cơ như
sắt, magiê, canxi, silic, nhiều chất hữu cơ sinh hoạt như phân, nước tiểu và các chất
thải khác như cát, sét, dầu mỡ. Nước thải vừa xả ra thường có tính kiềm, nhưng dần trở
nên có tính axit vì thối rữa. Các chất hữu cơ có thể xuất xứ từ thực vật hoặc động vật.
Những chất hữu cơ trong nước thải có thể chia thành các chất chứa nitơ và các chất
chứa cacbon. Các hợp chất chứa nitơ chủ yếu như urê, protein, amin và axit amin. Các
hợp chất chứa cacbon như mỡ, xà phòng, hydrocacbon trong đó có cả xelulo… từ chất
thải công nghiệp lẫn vào làm cho thành phần và tính chất nước thải càng thêm đa
dạng.
Thành phần khí thải: Thành phần chính của khí thải gồm có Cacbon
monioxit (CO), Sulfur oxit (SOx) chủ yếu là SO2, Hydro cacbon (HC), Nitơ oxit (NOx)
chủ yếu là NO2 và NO, các loại bụi.
1.3. Ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường và đời sống xã hội:
1.3.1. Đối với đất:
Như đã nêu, đất là một trong những yếu tố tự nhiên tổng hợp nên môi trường.
Điều này đã được quy định rõ tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân
Luận văn tốt nghiệp
Thực trạng quản lý nhà nước đối với chất thải
Do đó, những hành vi, việc làm gây ô nhiễm môi trường đất cũng chính là làm ô
nhiễm môi trường.
Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị có ảnh hưởng lớn đến các tính chất
lý và hoá học đất. Những tác động về mặt vật lý như: gây xói mòn, nén chặt đất và phá
huỷ cấu trúc đất do kết quả của các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ. Về
mặt hoá học, các chất thải rắn, lỏng và khí đều có tác động đến đất.
Tác động của công nghiệp và đô thị đến đất xảy ra rất mạnh từ cuộc cách mạng
công nghiệp diễn ra ở thế kỷ XVIII – XIX, đặc biệt là trong những thập niên gần đây.
Các chất thải công nghiệp ngày càng nhiều và có độc tính ngày càng cao, nhiều loại rất
khó bị phân huỷ sinh học. Các chất thải độc hại có thể được tích luỹ trong đất trong
thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm năng đối với môi trường.
Các chất thải hữu cơ sẽ được phân huỷ trong môi trường đất. Cùng trong hai
điều kiện yếm khí và háo khí khi có độ ẩm thích hợp để rồi qua hàng loạt sản phẩm
trung gian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2. Nhưng nếu
là yếm khí, thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4, H2O, CO2, gây độc cho môi
trường. Với một lượng vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ làm
cho các chất từ rác không trở thành ô nhiễm. Nhưng với lượng rác quá lớn thì môi
trường đất sẽ trở nên quá tải và gây ô nhiễm. Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim
Trung
liệu
Cầntrong
Thơ
liệu
học
vàlàmnghiên
loạitâm
nặng, Học
chất độc
hại ĐH
theo nước
đất @
chảyTài
xuống
mạch
nướctập
ngầm,
ô nhiễm cứu
nước ngầm. Mà một khi nước ngầm bị ô nhiễm thì không cách gì cứu chữa.
Các chất thải như: chất thải xây dựng, chất thải kim loại, chất thải hoá học và
hữu cơ. Các chất thải xây dựng như gạch, ngói, thuỷ tinh, gỗ, nhựa… Trong đất, các
chất này biến đổi theo nhiều con đường khác nhau, nhiều chất rất khó bị phân huỷ. Các
chất thải kim loại, đặc biệt là kim loại nặng (Pb, Zn, Cd, Cu và Ni) thường có nhiều ở
khu vực khai thác mỏ, các khu công nghiệp và đô thị.
Đất thường được dùng làm chỗ tiếp nhận rác, phân và các chất thải rắn khác ở
các thành phố và các khu công nghiệp. Hàng ngày, các thành phố và các khu dân cư
tạo ra một lượng lớn rác thải sinh hoạt và thải vào môi trường. Sau đó theo nhiều
đường khác nhau chúng thâm nhập vào đất.
Trong khu vực đô thị mỗi người mỗi ngày tạo ra từ 0,4 kg đến 1,8 kg rác thải
sinh hoạt tuỳ theo từng loại đô thị. Lượng phân xả vào môi trường theo hệ thống cống
rãnh thoát nước tính theo hàm lượng chất lơ lửng là từ 65 gam đến 100 gam mỗi người
mỗi ngày đêm. Trong rác thải sinh hoạt của đô thị có nhiều loại như đất cát, phế thải
thực phẩm, lá cây, vật liệu xây dựng, các loại bao bì, phân người và súc vật. Nói chung
rác thải sinh hoạt đô thị có hàm lượng chất hữu cơ lớn, độ ẩm cao và có nhiều vi khuẩn
GVHD: Th.s Kim Oanh Na
SVTH: Sơn Hồng Nhân