-------
-------
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
C
✁
✂
✄
☎
✆
✝
✄
✞
✁
✟
✠
✡
☛
☞
☞
✌
-------
-------
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Trung…………………………………………………………………………………………………
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày……tháng…….năm………
-------
-------
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Trung…………………………………………………………………………………………………
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày…….tháng……..năm………
-------
-------
Người viết xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô Khoa Luật - Đại Học Cần
Thơ đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức cơ bản về khoa học pháp lý giúp cho
người viết có những tri thức, kỹ năng cần thiết để hoàn thành luận văn.
Người viết xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình
của thầy Nguyễn Hữu Lạc trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các tác giả của các bài viết, các
công trình nghiên cứu mà người viết đã sử dụng trong luận văn khi thực hiện đề tài.
Cuối cùng, người viết xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè đã góp ý ủng hộ để
người viết có thể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cần Thơ, tháng 5 năm 2008.
TRẦN VĂN HÊN
-------
-------
……………………………………………………………………………1
………………………………………………………..3
1.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý hành chính nhà nước………………………….....3
1.1.1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước………………………………………..3
1.1.1.1. Quản lý………………………………………………………………………..3
1.1.1.2. Quản lý nhà nước……………………………………………………………..4
1.1.1.3. Hành chính nhà nước……………………………………………………….....4
1.1.1.4. Nền hành chính nhà nước……………………………………………………..5
1.1.1.5. Quản lý hành chính nhà nước…………………………………………………6
Trung1.1.2.
tâmĐặc
Học
Cần
Thơ
Tài liệu học tập và nghiên cứu
điểmliệu
quảnĐH
lý hành
chính
nhà@
nước………………………………………...7
1.1.2.1. Quản lý hành chính nhà nước là một dạng quản lý xã hội……………………7
1.1.2.2. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực hiện quyền hành pháp trong
quyền lực nhà nước thống nhất………………………………………………………10
1.1.2.3. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo quy định hiến pháp………….12
1.2. Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước…………………………………...14
1.2.1. Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà
nước…………………………………………………………………………………..14
1.2.1.1. Khái niệm…………………………………………………………………....14
1.2.1.2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước……….15
……….25
2.1. Khái niệm và hệ thống các phương pháp quản lý hành chính nhà nước………...25
2.1.1. Khái niệm phương pháp quản lý hành chính nhà nước………………………..25
2.1.2. Hệ thống các phương pháp hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước...29
2.2. Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước………………………………...31
2.2.1. Thuyết phục và cưỡng chế hành chính trong quản lý hành chính nhà nước…..31
2.2.1.1. Sự cần thiết thuyết phục và cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước...31
2.2.1.2. Cưỡng chế hành chính và đặc điểm của nó………………………………….33
2.2.1.2.1. Quan niệm về cưỡng chế hành chính……………………………………...33
2.2.1.2.2. Đặc điểm của cưỡng chế hành chính………………………………………34
2.2.1.2.3. Các biện pháp cưỡng chế hành chính………………………………….......36
2.2.2. Phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế trong quản lý hành chính nhà
nước…………………………………………………………………………………..40
2.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm phương pháp hành chính…………………………...40
2.2.2.2. Khái niệm và đặc điểm phương pháp kinh tế………………………………..41
2.2.2.3. Mối quan hệ giữa phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế……….42
2.2.3. Phương pháp tổ chức…………………………………………………………..44
2.2.3.1. Cơ sở phương pháp luận của công tác cán bộ……………………………….44
2.2.3.2. Khoa học sử dụng con người………………………………………………...48
…………………………………………………………………………………..53
Thực
trạngliệu
các phương
phápThơ
quản lý
nước……………………..53
Trung3.1.
tâm
Học
ĐH Cần
@hành
Tàichính
liệunhà
học
tập và nghiên cứu
3.2. Những phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở
Việt Nam……………………………………………………………………………..65
……………………………………………………………………………...70
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo đã thu
được những thắng lợi to lớn. Đất nước đã vượt qua khủng hoảng kinh tế, từng
bước phát triển, tăng trưởng. Đời sống nhân dân được cải thiện, bảo đảm ngày
càng tốt hơn. Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đang được đẩy
mạnh; hệ thống chính trị được cải cách, đổi mới theo hướng phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; lòng tin của nhân
dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố.
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới Nhà nước vẫn còn
tồn tại nhiều hạn chế, đồng thời, thực tiễn quá trình đổi mới đã nảy sinh nhiều vấn
đề mới cả về lý luận và thực tiễn. Cũng qua thực hiện cải cách, mở cửa trong điều
kiện chuyển đổi cơ chế, nhiều vấn đề tiêu cực cũng đang nảy sinh, ảnh hưởng đến
hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý hành chính Nhà nước.
Trung tâm Học
liệu
ĐH
Cần
@ và
Tài
liệu
Trong
số rất
nhiều
vấn Thơ
đề lý luận
thực
tiễn,học
đang tập
đặt ravà
đối nghiên
với các Nhàcứu
lãnh đạo, quản lý, các Nhà nghiên cứu, thì những vấn đề gắn với cải cách Nhà
nước, cải cách nền hành chính Nhà nước như: Tổ chức bộ máy; phân định chức
năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước; các phương pháp quản lý
hành chính Nhà nước cần được nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học để góp
phần vào công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước nâng cao hiệu quả, hiệu lực
quản lý hành chính Nhà nước.
Quản lý hành chính Nhà nước là một lĩnh vực hết sức quan trọng, có tác
động rất lớn đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của một quốc
gia. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình đổi mới sâu sắc và toàn diện nhằm xây
dựng một Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa văn minh, giàu mạnh, do đó quản
lý Hành chính Nhà nước lại càng có tầm quan trọng đặc biệt, đây cũng chính là lý
do để người viết chọn đề tài ‘‘ CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN’’ làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước rất phong phú và đa dạng.
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, không thể nào đi sâu nghiên cứu
được tất cả các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước, mà chỉ đi sâu nghiên
cứu các phương pháp của khoa học quản lý hành chính như: phương pháp cưỡng
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
1
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
chế và thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp
tổ chức.
Qua nghiên cứu đề tài người viết hy vọng sẽ tìm ra được những bất cập và
tồn tại của các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước từ lý luận đến thực tiễn
để từ đó đưa ra giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính
Nhà nước. Xây dựng một Nhà nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh như mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã dựa trên nền tảng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, để xem xét các vấn đề liên quan. Tiếp cận
góc độ lý luận: các vấn đề pháp lý được xem xét đánh giá nhờ vào việc sử dụng
các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê... Tiếp cận dưới góc độ
thực tiễn: các thông tin thu thập được thông qua việc áp dụng phương pháp khảo
sát thực tiễn.
Kết cấu của luận văn bao gồm lời nói đầu, kết luận và ba chương.
Chương 1: Lý luận chung về quản lý hành chính Nhà nước và các nguyên
tắc quản lý hành chính Nhà nước. Ở chương 1 người viết nghiên cứu cơ sở lý luận
về quản lý hành chính Nhà nước và các nguyên tắc quản lý.
Chương
Các phương
pháp quản
lý hành
chính
Nhàtập
nướcvà
ở Việt
Nam. Ởcứu
Trung tâm Học
liệu2: ĐH
Cần Thơ
@ Tài
liệu
học
nghiên
chương 2 người viết đi sâu nghiên cứu nội dung các phương pháp quản lý hành
chính Nhà nước. Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng...của các
phương pháp, qua đó đưa ra các so sánh, đánh giá các phương pháp quản lý hành
chính Nhà nước.
Chương 3: Thực trạng các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước và
những phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước ở Việt
Nam. Ở chương 3 người viết nghiên cứu những ưu điểm và những tồn tại bất cập
của các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước. Qua đó người viết đưa ra các
giải pháp để khắc phục những tồn tại yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
hành chính Nhà nước.
Trong quá trình làm luận văn, với sự nổ lực rất lớn của bản thân nhưng do
năng lực và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn không thể tránh
khỏi những sai sót, kính mong thầy cô góp ý cho luận văn được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện:
TRẦN VĂN HÊN
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
2
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ
CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý hành chính Nhà nước.
1.1.1. Khái niệm quản lý hành chính Nhà nước.
Để nắm vững nội hàm của khái niệm quản lý hành chính Nhà nước, chúng
ta lần lượt nghiên cứu các khái niệm quan trọng sau đây:
1.1.1.1. Quản lý.
Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
♦ Theo góc độ chính trị - xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri
thức với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp, cơ
chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội chậm phát triển hoặc rối
ren.
♦ Theo
độ hành
đượcliệu
hiểuhọc
là chỉtập
huy, và
điềunghiên
khiển, điềucứu
Trung tâm Học
liệugócĐH
Cầnđộng,
Thơquản
@lýTài
hành.
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao
động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua
hoạt động của con người và thông qua quản lý. Người viết: “ Tất cả mọi lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít
nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và
thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản
xuất khác với vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ
cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”1.
Từ phân tích cơ sở lý luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân
hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội
phát triển càng cao thì vai trò quản lý càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung
càng phong phú, phức tạp.
1
. C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, T. 23, trang 480.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
3
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.1.1.2. Quản lý Nhà nước.
Quản lý Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lý
của Nhà nước đối với xã hội và công dân.
Quản lý Nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực Nhà
nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy Nhà nước có trách
nhiệm quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước, do các cơ quan của Nhà nước
có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong
việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Cần lưu ý phân biệt hai khái niệm “ Quản lý Nhà nước ” và “ Nhà nước
quản lý ”.
♦ “ Quản lý Nhà nước ” là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực Nhà
nước; dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan hành chính Nhà nước.
Điều 12, Hiến pháp 1992 đã ghi: “ Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không
ngừng tăng cường pháp luật xã hội chủ nghĩa ”. Theo định nghĩa của Liên hiệp
quốc, quản lý Nhà nước tương đồng với khái niệm quản lý Quốc gia, nghĩa là:
quản lý Nhà nước một cách hợp lý, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự
Trung tâm
ĐHthểCần
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thamHọc
gia củaliệu
các chủ
liên quan.
♦ “ Nhà nước quản lý ” là nói đến chủ thể quản lý; đó là hệ thống tổ chức
của các cơ quan Nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính Nhà nước.
1.1.1.3. Hành chính Nhà nước.
Hành chính là một dạng hoạt động xã hội rộng và rất phức tạp.
Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều mang tính xã hội; các
cá nhân luôn có quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Khi hoạt động có từ hai người
trở lên để thực hiện một mục tiêu chung, mà nếu chỉ có một người không thể làm
được, thì sẽ xuất hiện yếu tố tổ chức và quản lý hoạt động. Hành chính là một dạng
của sự quản lý các hoạt động đó.
Thuật ngữ “ hành chính ” (tiếng Anh là Adminitration).
♦ Theo nghĩa rộng, hành chính là sự thi hành chính sách và pháp luật của
Chính phủ tức là hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước. Quản lý hành chính
Nhà nước là một hình thức quản lý, mà chủ thể quản lý là Nhà nước. Hành chính
Nhà nước là một bộ phận quản lý của Nhà nước – nó là hoạt động của cơ quan
hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng quyền lập quy và quyền hành chính.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
4
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
♦ Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành chính của các cơ quan Nhà
nước ở địa phương như: Quản lý hộ khẩu, trật tự, an ninh công cộng, quản lý công
văn giấy tờ không thuộc văn bản pháp luật,… và có cả nghĩa thông thường như hỗ
trợ, dịch vụ hành chính,…
Hành chính quan hệ mật thiết với quản lý, tổ chức, chính trị tạo nên các
phạm trù: Hành chính và quản lý, hành chính và tổ chức, hành chính và chính trị,
hành chính và pháp luật.
Nhà nước quản lý hành chính bằng pháp luật. Còn hành chính Nhà nước là
“ hành pháp trong hành động ”, là sự thực thi pháp luật trong quản lý, điều hành
mọi lĩnh vực đời sống của đất nước.
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lý
Nhà nước, trong đó cơ quan quyền lực Nhà nước tác động lên các đối tượng quản
lý (cơ quan, tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng
đối nội và đối ngoại, quản lý hành chính Nhà nước do các cơ quan hành chính Nhà
nước thực hiện.
1.1.1.4. Nền hành chính Nhà nước.
Nền hành chính Nhà nước là tổng thể cơ chế được cấu thành bởi ba yếu tố
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sau đây:
Một là, hệ thống thể chế quản lý xã hội theo pháp luật bao gồm: Hiến
pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản, Quyết định, Nghị định, Thông tư của Chính
phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp và
quản lý Nhà nước. Xây dựng thể chế của nền hành chính Nhà nước dân chủ, thực
hiện quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của
nhân dân, thiết lập kỷ cương Nhà nước, ý thức và trật tự pháp luật, cải cách và
hoàn thiện thủ tục hành chính. Xây dựng thể chế quản lý kinh tế của Nhà nước phù
hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà
nước và tạo sự thích nghi về thể chế trong quan hệ đối ngoại, với luật pháp và tập
quán quốc tế.
Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy Nhà nước từ trung
ương đến cơ sở. Quy định thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, mối quan hệ
dọc, ngang, trung ương và địa phương. Vận dụng tốt nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Các cơ quan trong
hệ thống phải đủ mạnh về uy tín, năng lực và phẩm chất để phát huy hiệu lực và
hiệu qủa quản lý Nhà nước.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
5
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ba là, đội ngũ cán bộ và công chức Nhà nước, chế độ công vụ và chế độ
công chức, các quy định về hệ thống ngạch, bậc, tiêu chuẩn chức danh và chế độ
tiền lương, các quy chế bổ nhiệm, tuyển dụng, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen
thưởng, đãi ngộ là những cơ sở để nâng cao chất lượng công tác, nâng cao hiệu quả
hoạt động và làm căn cứ cho đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức Nhà nước.
Thực tế hoạt động của nền hành chính Nhà nước xuất phát từ bản chất Nhà
nước pháp quyền, sống và làm việc theo khuôn khổ pháp luật để quản lý xã hội,
đưa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, là tạo lập môi
trường cho mọi tổ chức và công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
1.1.1.5. Quản lý hành chính Nhà nước.
Bộ máy Nhà nước được cấu thành bởi ba tổ chức giữ ba quyền: Quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền hành pháp là quyền chấp
hành luật (lập quy), tổ chức thực hiện luật (quản lý hành chính). Hai quyền này đều
tập trung vào Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương
đến địa phương, được thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Bộ máy hành chính Nhà nước còn được gọi là bộ máy quản lý Nhà nước.
Hành pháp mang tính quyền lực chính trị, còn quản lý hành chính Nhà nước
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
là “ hành pháp hành động ”, là quyền thực thi quyền hành pháp. Bản thân quản lý
hành chính Nhà nước không chỉ là chính trị, mà còn là hành chính.
Ví dụ: Bộ trưởng có vai trò:
• Là thành viên của Chính phủ (chính trị).
• Là người đứng đầu về quản lý hành chính Nhà nước của một bộ, ngành
hay lĩnh vực (quản lý hành chính).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân có vai trò:
• Là thành viên của Hội đồng nhân dân bầu ra để chấp hành các nghị quyết
của Hội đồng nhân dân (chính trị).
• Là người đứng đầu về quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương (quản
lý hành chính).
Từ phân tích trên, có thể định nghĩa quản lý hành chính Nhà nước như sau:
Quản lý hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức, và điều chỉnh bằng
quyền lực Nhà nước đối với các quá trình và hành vi hoạt động của công dân do
các cơ quan có tư cách pháp nhân công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lý
hành chính Nhà nước tiến hành bằng những văn bản quy phạm pháp luật dưới luật
để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
6
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu
hàng ngày của nhân dân.
Nói một cách đơn giản hơn, quản lý hành chính Nhà nước là việc tổ chức
thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng
pháp luật và theo pháp luật.
Như vậy, có thể thấy ba nội dung chính của khái niệm quản lý hành chính
Nhà nước:
Một là, quản lý hành chính Nhà nước với tư cách là quyền lực Nhà nước
được gọi là quyền quản lý hành chính, tức là quyền “ quyền hành pháp trong hành
động ”.
Hai là, quản lý hành chính Nhà nước với tư cách là hoạt động thực tiễn
hàng ngày, tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của
công dân bằng việc ra các quyết định hành chính mang tính quy phạm hành chính,
phục vụ cho các Nhà cầm quyền, các Nhà lãnh đạo và quản lý Đất nước.
Ba là, quản lý hành chính Nhà nước, với tư cách là pháp nhân công pháp,
chính là hệ thống thiết chế tổ chức hành chính Nhà nước. Trong hệ thống này,
đứng đầu là Chính phủ và Thủ tướng chính phủ, các bộ, các cơ quan quản lý hành
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chính Nhà nước trung ương, các cấp quản lý hành chính Nhà nước địa phương và
các tổ chức công quyền khác có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh
tế kỹ thuật, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, nội vụ, ngoại giao… và các hoạt
động của tổ chức và công dân.
1.1.2. Đặc điểm quản lý hành chính Nhà nước.
1.1.2.1. Quản lý hành chính Nhà nước là một dạng quản lý xã hội.
Lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời kỳ mông muội đến nền văn minh
hiện đại các tri thức, sức lao động và quản lý được nổi lên rõ nét. Trong ba yếu tố
này thì quản lý là sự kết hợp giữa trí thức với lao động. Kết hợp tốt thì xã hội phát
triển. Ngược lại, sự phát triển sẽ chậm lại hoặc rối ren. Vận hành sự kết hợp này
trước hết cần có một cơ chế quản lý phải biết tác động một cách nào đó để người bị
quản lý luôn cố gắng để sáng tạo ra lợi ích cho mình, cho Nhà nước và cho xã hội.
Từ góc nhìn hành động thì quản lý là điều khiển các quá trình hoạt động của con
người đối với các đối tượng khác nhau. Ở khía cạnh này có ba dạng quản lý:
Thứ nhất, là việc con người điều khiển các vật hữu sinh mà không phải
con người bắt chúng phải thực hiện ý đồ và ý chí của người điều khiển. Đây là
quản lý trong sinh học, thiên nhiên, môi trường. Các nhà khoa học làm công việc
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
7
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
lai giống động vật, ghép cây cối, tìm giống mới, thực hiện các quy trình công nghệ
sinh học.
Thứ hai, là con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực
hiện ý đồ của người điều khiển. Đây là quản lý trong kỹ thuật như: Việc điều khiển
máy điện toán, người máy, thông tin viễn thông,…
Thứ ba, là việc con người điều khiển con người, những tổ chức quản lý
của Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội,
khoa học – kỹ thuật. Đó là quản lý xã hội.
Ở đây, không đề cập đến hai loại đầu, mà chỉ nghiên cứu loại hình quản lý
xã hội.
Quản lý xã hội được C.Mác coi là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính
chất xã hội hóa lao động. Người viết: Bất kỳ một lao động xã hội hay cộng đồng
nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều có sự quản lý, nó xác lập
mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện chức năng chung
nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất. Từ đó, ta có thể hiểu
quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được tới mục đích, đúng ý chí của
Trung tâm
ĐHhợp
Cần
Thơ
Tàiquan.
liệu học tập và nghiên cứu
ngườiHọc
quản liệu
lý và phù
với quy
luật@
khách
Từ quan niệm quản lý xã hội là sự tác động có ý chí của con người vào quá
trình xã hội thì quản lý xã hội bao gồm các yếu tố: Chủ thể, khách thể và mối liên
hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể.
Chủ thể quản lý xã hội là con người và cơ quan, tổ chức của con người.
Hoạt động do chủ thể quản lý thực hiện là hoạt động quản lý.
Khách thể của quá trình xã hội là hành vi, là hoạt động của con người, hoạt
động bị quản lý.
Quá trình quản lý xã hội thực hiện được là nhờ thực hiện mối quan hệ
quyền lực phục tùng giữa người quản lý và người bị quản lý. Đó là đặc trưng của
mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý xã hội, và cũng chính là bản chất
của quản lý xã hội. Quyền lực và sự phục tùng tạo thành nội dung của quyền lực
quản lý. Không thể có quản lý nếu không có quyền lực, dù đại diện cho quyền lực
ấy là một người hay một tập thể. Vì có quyền lực nên ý chí của chủ thể quản lý trở
thành ý chí thống trị buộc đối tượng bị quản lý phải phục tùng, và chính bản thân
hoạt động quản lý là sự thực hiện quyền lực này. Quyền lực – phục tùng là đặc
trưng của quản lý xã hội.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
8
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần, càng cần có trật tự, kỷ cương nhờ
đó sẽ đảm bảo xã hội văn minh, hiện đại. Xã hội càng hiện đại, càng cần đến quản
lý, có nghĩa là càng cần quyền lực quản lý Nhà nước.
Quản lý là hành động – một loại hoạt động xã hội, nhằm đạt mục đích đề ra
bằng việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng theo một phương pháp quản lý phù
hợp.
Quản lý là tác động định hướng. Vì vậy quản lý xã hội nói chung và quản lý
hành chính Nhà nước nói riêng có mục đích và nhiệm vụ của mình. Mục đích
chung của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước của tất cả các cơ quan Nhà
nước là thống nhất. Nhưng mỗi cơ quan Nhà nước có mục đích hoạt động riêng
được quy định trong pháp luật, và so với mục đích chung thì các mục đích riêng là
bộ phận hợp thành để đạt mục đích chung. Mục đích chung của hoạt động quản lý
Nhà nước là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, độc lập, tự do,
hạnh phúc và dân chủ.
Nhiệm vụ của quản lý hành chính Nhà nước là cái đích cụ thể cần đạt được
Trung
với những nội dung cụ thể được vạch ra tương ứng với quản lý các ngành, lĩnh vực
tâm
Học
ĐH cụCần
Thơvậy,
@đểTài
họcđích
tậpquản
và lý,
nghiên
cụ thể,
các liệu
đối tượng
thể. Như
đạt liệu
được mục
phải thựccứu
hiện nhiều nhiệm vụ khác ở nhiều cấp độ khác nhau. Nhiệm vụ quản lý của cơ
quan Nhà nước có thể phân loại thành những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên được
quy định trong văn bản pháp luật, và nhiệm vụ mang tính tạm thời, không cơ bản,
chỉ tồn tại trong từng giai đoạn, thời điểm nào đó. Chức năng quản lý là phương
tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý. Mỗi cơ quan Nhà nước tham gia thực hiện các
chức năng của Nhà nước ở phạm vi khác nhau.
Quản lý xã hội cũng như quản lý hành chính Nhà nước có các chức năng:
Chức năng kế hoạch hóa – là xác định mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể như về:
Tỷ lệ, tốc độ, phương hướng và các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng cụ thể của
sự phát triển của các quá trình kinh tế, văn hóa, chiến tranh, xác định con người và
phương tiện để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó.
Chức năng tổ chức là hoạt động nhằm tạo lập hệ thống quản lý và bị quản
lý. Tổ chức là hoạt động thành lập xác nhập, giải thể, hợp nhất, tách các cơ quan,
xí nghiệp, đơn vị, phân định chức năng, quyền và nghĩa vụ của chúng, xác định các
quan hệ qua lại, cơ cấu các cơ quan, đơn vị, biên chế, lựa chọn và sắp xếp cán bộ,
cấp phương tiện vật chất – tài chính. Đó cũng có nghĩa là sắp xếp quản lý.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
9
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tóm lại, quản lý xã hội tồn tại trước khi có Nhà nước, xuất hiện song song
với quá trình xã hội hóa lao động. Khi Nhà nước xuất hiện thì phần cơ bản và quan
trọng của quản lý xã hội được Nhà nước thực hiện, nó mang tính Nhà nước.
1.1.2.2. Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực hiện quyền hành
pháp trong quyền lực Nhà nước thống nhất.
Quản lý hành chính Nhà nước trong quyền lực Nhà nước thống nhất. Quyền
lực thống nhất của Nhà nước được phân công cho các cơ quan, tổ chức Nhà nước
để thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp phân công quyền lực thành
các quyền và trao cho các cơ cấu Nhà nước những thẩm quyền xác định được thực
hiện trong sự phối hợp với các cơ cấu khác là phương thức tổ chức thực hiện
quyền lực Nhà nước. Hay nói cách khác, việc phân công quyền lực nhằm trả lời
câu hỏi tổ chức quyền lực như thế nào chứ không hướng tới vấn đề quyền lực đó
thuộc về ai? Không nên nhằm lẫn giữa bản chất nhân dân của quyền lực được biểu
hiện trong sự thiết lập quyền lực nhân dân thông qua chế độ bầu cử phổ thông đầu
phiếu với việc tổ chức thực hiện quyền lực trong Nhà nước dân chủ pháp quyền
nhằm tránh sự độc quyền, lạm dụng quyền lực bằng cách phân công quyền lực đó
thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, và phối hợp chúng trong một thể
thốngHọc
nhất. liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trung tâm
♦ Quyền lập pháp là thẩm quyền ban hành các quy phạm luật được thực
hiện bằng hoạt động quyết định về luật của Quốc hội và ủy quyền của Quốc hội
cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh. Trong quá trình lập pháp có nhiều
cơ cấu Nhà nước tham gia, phối hợp bằng việc thực hiện các thẩm quyền: Kiến
nghị về luật, soạn thảo và trình dự án luật, thẩm tra dự án luật.
♦ Quyền tư pháp là quyền tài phán bằng hoạt động xét xử theo pháp luật tố
tụng của tòa án. Đó là sự phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các quyết định pháp
luật và sự phán quyết về hành vi tội phạm, tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động và
về tranh chấp hành chính. Trong xét xử trước hết các tòa án nhân danh Nhà nước,
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật phán quyết hành vi của công dân: Định tội đối
với người vi phạm pháp luật hình sự, giải quyết tranh chấp dân sự trong nhân dân,
cùng với việc xử dân, tòa án còn có quyền xử quan, tức là phán xét các văn bản vi
hiến và các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây thiệt hại
cho dân, bị dân kiếu kiện ra tòa án đòi bồi thường.
Quyền tư pháp được thực hiện dưới sự tham gia, phối hợp của các cơ cấu
quyền lực bằng hoạt động hỗ trợ tư pháp: Điều tra, giám định, pháp y, luật sư,
công chứng… Thiếu những hoạt động hỗ trợ có tính độc lập về mặt thẩm quyền ấy
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
10
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
thì hoạt động xét xử không có căn cứ, khó có thể phán xử đúng đắn. Tuy nhiên,
những thẩm quyền đó khó có thể khẳng định dứt khoát thuộc về quyền tư pháp.
♦ Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội
theo pháp luật. Quyền hành pháp được thực hiện bởi các thẩm quyền: Ban hành
chính sách quản lý, ra quyết định quy phạm hành chính bằng hoạt động lập quy, áp
dụng pháp luật bằng việc ra quyết định hành chính cá biệt cụ thể, tổ chức phục vụ
đời sống xã hội để bảo đảm thực hiện lợi ích công cộng.
Những thẩm quyền trên thực hiện bởi bộ máy hành chính công và sự kết
ước bằng hợp đồng hành chính tạo thành hoạt động công vụ Nhà nước, trong đó
nền hành chính có vai trò quyết định. Vai trò quyết định ấy được thể hiện tuân theo
nguyên tắc pháp lý là: Hành chính được quyền hành động để quản lý xã hội, nhưng
phải lệ thuộc vào pháp luật; hành chính được quyền hành động vì lợi ích công,
nhưng phải chịu trách nhiệm công vụ vì gây ra thiệt hại tới lợi ích hợp pháp của
nhân dân trước quyền lực Nhà nước. Nói cách khác, hành chính là hoạt động dưới
quyền lực của pháp luật.
Quyền hành pháp được thực hiện trên các đơn vị hành chính Nhà nước.
Phân chia dân cư trong quốc gia theo các đơn vị hành chính lãnh thổ là một
Trung tâm
ĐHcơCần
Thơ
@ quyền
Tài liệu
học
tậpTừvà
nghiên
trongHọc
nhữngliệu
dấu hiệu
bản của
tổ chức
lực Nhà
nước.
sự phân
chia ấycứu
đòi hỏi trên mỗi cộng đồng lãnh thổ hành chính phải tổ chức các cơ cấu quyền lực
để dân cư ở đó thể hiện ý chí, nguyện vọng quyền lợi của mình.
Từ quy định của pháp luật hiện hành thì quyền lập pháp chỉ thuộc về Quốc
hội và chỉ được ủy quyền cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, nên nó không được
phân xuống các đơn vị hành chính ở địa phương, hay địa phương không có quyền
lập pháp. Còn quyền tư pháp được thực hiện theo nguyên tắc: Khi xét xử, thẩm
phán nhân danh Nhà nước, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nó không phụ thuộc
vào bất cứ cơ quan hoặc cấp hành chính nào.Vì vậy, quyền tư pháp – xét xử là
quyền thống nhất – quyền lực Nhà nước, không phải là quyền của từng cộng đồng
địa phương; hay nói theo cách khác là địa phương không có quyền xét xử.
Quyền hành pháp được triển khai xuống các đơn vị hành chính Nhà nước
trong mối quan hệ chặt chẽ với quyền tự chủ, tự quản của dân cư mỗi cộng đồng
hành chính – lãnh thổ.
Quyền hành pháp được thực hiện bởi các cơ quan chính quyền địa phương
và các cơ cấu, tổ chức ngoại thuộc, thuộc hệ thống dọc lên trung ương.
Chính quyền địa phương thực hiện quyền hành pháp theo các hướng: Một
là, thực hiện pháp luật và quyết định của các cơ quan Nhà nước cấp trên; Hai là,
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
11
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
quyết định các chủ trương biện pháp bằng việc nghị quyết để giải quyết các vấn đề
quan trọng thuộc quyền tự chủ của cộng đồng hành chính; Ba là, giám sát hoạt
động thi hành pháp luật và quyết định của chính quyền địa phương đối với tất cả
các cơ quan, tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính. Các hướng đó được thực
hiện bởi hai loại cơ quan. Hội đồng nhân dân – nghị quyết về các công việc của địa
phương và bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp
trên bằng hoạt động quyết định tập thể tại kỳ họp và giám sát. Ủy ban nhân dân do
Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu có sự phê chuẩn của cơ quan hành chính cấp trên
có quyết định và tổ chức thực hiện quyết định của chính mình, của cơ quan cấp
trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và tổ thực thi luật theo thẩm quyền.
1.1.2.3. Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước theo quy định Hiến pháp.
Tìm kiếm khái niệm quản lý hành chính Nhà nước và phạm vi của nó được
thể hiện trong Hiến pháp nước ta sẽ làm sáng rõ hơn về quyền hành pháp và hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước.
Hiến pháp năm 1946 đã phân tách ra loại cơ quan hành chính. Đây là cơ quan
chủ yếu thực hiện chức năng hành pháp – quản lý hành chính Nhà nước, bởi lẽ thuật
Trung
ngữ hành chính theo nghĩa của gốc từ Hán – Việt và các quy định cụ thể về quyền
tâm
Học
liệuphủĐH
Cần
vàchỉnghiên
hạn của
Chính
(Điều
52) Thơ
và Ủy @
ban Tài
hành liệu
chính học
(Điều tập
59) đã
rõ là các cứu
cơ
quan này thi hành các đạo luật và nghị quyết của nghị viện, và các mệnh lệnh của
trên, bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc
chuyên môn, chỉ huy công việc hành chính ở địa phương. Đứng đầu Chính phủ, cơ
quan hành pháp cao nhất là Chủ tịch nước (Điều 44).
Hiến pháp năm 1959 sử dụng thuật ngữ quản lý các mặt của đời sống xã hội:
Ủy ban hành chính các cấp quản lý công tác hành chính của địa phương (Điều 89),
và Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hành chính các khu vực tự trị, quản lý tài
chính (Điều 94), hoặc là Hội đồng Chính phủ quản lý nội thương và ngoại thương,
quản lý công tác văn hóa xã hội (Điều 74).
Chức năng hành pháp, theo các quy định của hiến pháp 1959, được giao cho
Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính các cấp thực hiện vì đó là cơ quan chấp
hành của cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước (Điều 71, 78).
Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng (Điều 72, 75). Chủ tịch nước đã tách ra
thành một chế định độc lập (Chương V: Điều 61 – 70 ), là người thay mặt cho đất
nước về mặt đối nội và đối ngoại (Điều 61). Chủ tịch nước, tuy vậy, vẫn có một số
quyền hạn nhất định trong lĩnh vực hành pháp như: Thống lĩnh các lực lượng vũ
trang toàn quốc; khi xét thấy cần thiết, có quyền tham dự chủ tọa các phiên họp của
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
12
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Hội đồng Chính phủ; triệu tập và chủ tọa Hội đồng chính trị đặc biệt (Các điều 65,
66, 67).
Nhưng chức năng hành pháp không phải chỉ do hệ thống các cơ quan hành
chính Nhà nước thực hiện. Trong các quyền hạn của Quốc hội quy định tại điều 50
thì không phải chỉ có quyền lập pháp, mà quyết định rất nhiều việc cá biệt cụ thể
trong lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước và quản lý địa giới hành chính, quyết định
vấn đề chiến tranh và hòa bình. Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng thực hiện những
quyền hạn cụ thể trong lĩnh vực hành pháp. Hội đồng nhân dân cũng là cơ quan
hành pháp, có nhiệm vụ căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp
trên mà ra những nghị quyết nhằm bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành pháp luật của
Nhà nước ở địa phương, xây dựng địa phương về mọi mặt, duy trì trật tự an ninh ở
địa phương, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ quyền lợi của công dân, bảo vệ quyền
bình đẳng của các dân tộc, bầu và bãi nhiệm các thành viên của ủy ban hành chính,
giám sát hoạt động của Ủy ban hành chính cấp mình và Hội đồng nhân dân và Ủy
ban hành chính cấp dưới trực tiếp (các điều 82, 86, 94).
Hiến pháp năm 1980, sử dụng rộng rãi thuật ngữ “ quản lý ” và quản lý Nhà
nước theo nghĩa hẹp “ quản lý hành chính Nhà nước ”. Ngoài ra, về cơ bản, địa vị
phápHọc
lý củaliệu
các cơ
quanCần
trongThơ
bộ máy@
Nhà
nước
và sự
phântập
côngvà
thực
hiện quyền
Trung tâm
ĐH
Tài
liệu
học
nghiên
cứu
lực Nhà nước giữa các cơ quan đó, so với hiến pháp năm 1959, không thay đổi.
Tương tự hiến pháp năm 1959, chức năng hành pháp chủ yếu do hệ thống cơ quan
hành chính Nhà nước đứng đầu là Hội đồng bộ trưởng, thực hiện. Vì Quốc hội vẫn
là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp (Điều 82), nên Hội đồng nhân
dân thực chất cũng làm chức năng hành pháp, tuy bằng hình thức và phương tiện
khác với Ủy ban nhân dân. Cùng với cách xem xét tương tự như trên khi phân tích
Hiến pháp năm 1959, thì Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, theo các quy định tại các
điều 82, 83, 100, 103, cũng tham gia thực hiện chức năng hành pháp.
Hiến pháp năm 1992 cũng có những quy định tương tự và phân tích chúng ta
cũng rút ra kết luận tương tự, mặc dù thiết chế bộ máy quản lý hành chính Nhà nước
có những đổi mới nhất định trên cơ sở mô hình Hiến pháp 1959.
Tóm lại, theo cả bốn bản hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay, hoạt động
quản lý hành chính Nhà nước chủ yếu do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước
thực hiện. Nhưng một số hoạt động hành pháp quan trọng các Hiến pháp cũng giao
cho các cơ quan Nhà nước khác thực hiện: Từ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc
hội, Chủ tịch nước, Hội đồng nhân dân. Mặt khác, các cơ quan xét xử, kiểm sát cũng
được trao cho một số hoạt động hành chính, Tòa án nhân dân tối cao quản lý các
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
13
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tòa án địa phương, Tòa án nhân dân các cấp được quyền xử phạt theo thủ tục hành
chính các vi phạm hành chính cản trở hoạt động xét xử. Và cuối cùng, theo luật
pháp Việt Nam hiện hành các tổ chức xã hội và các cơ quan xã hội cũng có thể tham
gia thực hiện các chức năng quản lý hành chính Nhà nước, nếu được trao quyền.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp Việt Nam có thể kết luận rằng, hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước – hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà
nước chủ yếu được giao cho các cơ quan hành chính Nhà nước và bộ máy trực
thuộc thực hiện. Chính trong hoạt động của loại cơ quan này mà bản chất, các đặc
trưng của quản lý hành chính Nhà nước thể hiện rõ nét nhất. Trong điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể các cơ quan quản lý hành chính nhà nước áp dụng các phương pháp
quản lý phù hợp. Trong các bản Hiến pháp cũng như pháp luật Việt Nam hiện nay
không có quy định cụ thể về các phương pháp quản lý hành chính nhà nước. Trên
thực tế quản lý hành chính Nhà nước, sẽ đưa ra các phương pháp quản lý phù hợp
với từng thời kỳ nhất định. Các phương pháp như: Thuyết phục và cưỡng chế,
phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế đã được áp dụng vào thực tế quản lý
từ Hiến pháp năm 1946. Phương pháp được hình thành sau này như phương pháp tổ
Trung
chức. Xã hội luôn vận động và phát triển, chính vì vậy sẽ hình thành các phương
phápHọc
quản lý
hànhĐH
chínhCần
Nhà nước
các phương
pháp tập
quản và
lý không
hiệu quả
tâm
liệu
Thơmới
@vàTài
liệu học
nghiên
cứu
sẽ bị loại bỏ.
1.2. Các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước.
1.2.1. Khái niệm và hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính
Nhà nước.
1.2.1.1. Khái niệm.
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý hành chính
Nhà nước được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đó chính là những
tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể
quản lý hành chính Nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các
lĩnh vực đã được phân công.
Thuật ngữ nguyên tắc, theo nghĩa chung, được hiểu là những điểm cơ bản
nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm. Mỗi ngành khoa học, mỗi lĩnh
vực hoạt động cụ thể đề cập tới vấn đề nguyên tắc theo góc độ riêng, đặc thù cho
ngành khoa học pháp lý, các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước được
xác định là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ những cơ sở khoa học của hoạt
động quản lý, từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật, làm nền tảng
cho tổ chức và hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Xem xét một cách cụ thể, ở
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
14
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
góc độ của luật hành chính, nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước là tổng
thể các quy phạm pháp luật hành chính có nội dung là những tư tưởng chủ đạo làm
cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật của Nhà nước, từ Hiến pháp, luật đến các văn bản dưới luật. Điều
này thể hiện tính chất pháp lý của các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà
nước. Nó tạo ra cơ sở để buộc các chủ thể phải tuân thủ một cách thống nhất và
chính xác các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước. Hiến pháp – đạo luật
cơ bản của Nhà nước ghi nhận những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước nói chung, trong đó có các cơ quan hành
chính Nhà nước. Đến lượt mình, các văn bản luật và dưới luật lại cụ thể hóa nội
dung các nguyên tắc này trong lĩnh vực hoạt động khác nhau của Nhà nước. Những
nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp là những nguyên tắc cơ bản và được coi
là cơ sở của hệ thống các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước.
Các nguyên tắc trong quản lý hành chính Nhà nước mang tính khách quan và
khoa học. Ăngghen cho rằng: “ Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào giới tự
nhiên và lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người.
Không
phảiliệu
giới tự
nhiên
và loài
người
với học
nguyêntập
tắc mà
lại nguyên
Trung tâm
Học
ĐH
Cần
Thơ
@thích
Tàiứng
liệu
vàtrái
nghiên
cứu
tắc chỉ đúng nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử ”1. Các nguyên tắc trong
quản lý hành chính Nhà nước được xây dựng, tổng kết và rút ra từ thực tiễn quản lý
hành chính Nhà nước. Vì thế, chúng không phải là những nội dung chủ quan theo ý
muốn của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước mà được xác định trên cơ sở
của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Những nguyên tắc quản lý sai lầm,
hoàn toàn dựa trên cơ sở nhận thức chủ quan có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả
hoạt động quản lý hành chính Nhà nước và sớm hay muộn chúng sẽ bị đào thải để
phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội.
1.2.1.2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính Nhà nước.
Như đã nêu ở trên, các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính Nhà nước
với nội dung rất đa dạng có tính thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau. Việc phân
loại chúng một cách khoa học nhằm xác định cụ thể vị trí, vai trò của chúng trong
quản lý hành chính Nhà nước, trên cơ sở đó xây dựng và áp dụng chúng một cách có
hiệu quả trong thực tiễn quản lý hành chính Nhà nước là điều vô cùng cần thiết.
Việc phân loại các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính Nhà nước cần
dựa trên những cơ sở khoa học về quản lý Nhà nước. Mác cho rằng hoạt động quản
1
. Ph. Ăngghen: chống Đuyrinh, Nxb. Sự thật, H. 1984, tr.56,57.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
15
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
lý Nhà nước được biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ chức, nó bao gồm hai mặt tổ
chức chính trị và tổ chức kỹ thuật. Do vậy, các nguyên tắc trong quản lý hành chính
Nhà nước thường được phân chia thành hai nhóm: Các nguyên tắc chính trị - xã hội
và các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật. Các nguyên tắc chính trị - xã hội là các nguyên
tắc chung, được quán triệt trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước
trong đó có hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Đây là các nguyên tắc thể hiện
sâu sắc bản chất giai cấp của Nhà nước. Nhóm này bao gồm các nguyên tắc cơ bản
sau đây:
• Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nước;
• Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước;
• Nguyên tắc tập trung dân chủ;
• Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
• Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật là những nguyên tắc mang tính đặc thù cho
hoạt động quản lý hành chính Nhà nước. Nội dung của những nguyên tắc này chi
Trung
phối các yếu tố mang tính chất kỹ thuật của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
Cho Học
dù được
thựcĐH
hiệnCần
trong Thơ
điều kiện
trị hoặc
giaitập
cấp và
như nghiên
thế nào, hoạt
tâm
liệu
@ chính
Tài liệu
học
cứu
động quản lý hành chính Nhà nước đều phải tuân theo các nguyên tắc đó. Bản thân
nhóm nguyên tắc này gồm nhiều nguyên tắc khác nhau, song ở đây chúng ta chỉ đề
cập hai nguyên tắc cơ bản sau đây:
• Nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo địa
phương;
• Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng và phối
hợp quản lý liên ngành.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng sự phân chia các nguyên tắc trong quản lý
hành chính Nhà nước thành hai nhóm nêu trên chỉ mang tính chất tương đối, bởi
các yếu tố tổ chức – kỹ thuật và chính trị trong quản lý hành chính Nhà nước liên
quan chặt chẽ với nhau. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật là để thực
hiện một cách đúng đắn các nguyên tắc chính trị – xã hội và việc thực hiện các
nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
16
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Các nguyên tắc chính trị Xã hội.
• Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng tháng Tám đã thắng lợi và nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước Việt Nam kiểu mới đã ra đời. Kể từ đó sự phát
triển của Nhà nước Việt Nam kiểu mới luôn gắn với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là hạt nhân của
mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Bằng những hình thức và phương pháp hoạt
động của mình, Đảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương
hướng hoạt động của Nhà nước trên mọi lĩnh vực. Sự lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước mang tính toàn diện cả về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tư tưởng
văn hóa.Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Nhà nước không
đồng nghĩa với việc can thiệp vào các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ
quan Nhà nước, mà đó chính là việc Đảng định hướng về mặt tư tưởng, xác định
đường lối quan điểm giai cấp, phương châm chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh
vực chuyên môn. Hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với hoạt động của
Nhà nước không phải là không có giới hạn. Hiến pháp của nước ta đã xác định rõ: “
Trung
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật ” (Điều 4
– Hiến
phápliệu
1992ĐH
(sửa đổi
nămThơ
2001)).
định
này học
khôngtập
những
phủ nhận
tâm
Học
Cần
@Quy
Tài
liệu
vàkhông
nghiên
cứu
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà còn nêu cao hơn nữa uy tín lãnh đạo
của tổ chức này. Việc các tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp
và pháp luật là thực hiện đường lối của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân cùng
toàn thể Nhân dân lao động.
• Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước.
Với bản chất dân chủ sâu sắc, nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân được Nhà nước xã hội chủ nghĩa ghi nhận và đảm bảo thực hiện. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa do chính nhân dân lao động tự tổ chức và lập nên để thực
hiện quyền lực của mình. Nó là một tổ chức để thông qua đó phát huy tài năng, sức
lực của nhân dân lao động trong việc gánh vác các công việc của Nhà nước và xã
hội nhằm phục vụ lợi ích cho chính những người lao động. Ghi nhận nội dung này,
Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) nêu rõ:
“ Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực của Nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức ”.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
17
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Để nhân dân lao động thực sự giữ vai trò là người làm chủ đất nước, việc tạo
điều kiện để nhân dân lao động tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước phải
được ghi nhận và đảm bảo thực hiện như là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý
hành chính Nhà nước. Điều 3 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định:
“ Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân
dân”. Quyền được tham gia vào quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội là
quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và trên thực tế nó đã được bảo
đảm thực hiện thông qua hàng loạt những hoạt động cụ thể.
Nguyên tắc này là một nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý hành chính
Nhà nước. Một mặt nó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân lao động
trong quản lý hành chính Nhà nước, đúng như nguyên lý “ nhân dân là gốc của
quyền lực Nhà nước ” một nguyên lý thực sự khoa học mà chủ nghĩa Mác - Lênin
đã vạch ra và được thực tiễn lịch sử chứng minh. Mặt khác nó cũng xác định những
nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản
để nhân dân lao động được tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước. Trong quản
lý hành chính Nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở những hình thức tham gia vào
hoạt động quản lý hành chính Nhà nước của nhân dân lao động. Đây là những hình
thức Học
được pháp
nhận và
đảm@
bảoTài
thực liệu
hiện bằng
phương
tiện của Nhà
Trung tâm
liệuluật
ĐHghiCần
Thơ
họccác
tập
và nghiên
cứu
nước. Các hình thức tham gia vào quản lý hành chính Nhà nước của nhân dân lao
động bao gồm:
♦ Tham gia vào hoạt động của các cơ quan Nhà nước.
♦ Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
♦ Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở.
♦ Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý
hành chính Nhà nước.
• Nguyên tắc tập trung – dân chủ.
Tập trung – dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước cho nên việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước lẽ tất
nhiên cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ được quy
định cụ thể trong Điều 6 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001):
“ Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ ”. Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp
giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ: Vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở
dân chủ; vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Tập trung là
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
18
SVTH: Trần Văn Hên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
thâu tóm quyền lực Nhà nước và chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo việc thực
hiện pháp luật. Dân chủ là việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát
huy trí tuệ tập thể trong hoạt động quản lý, phát huy khả năng tiềm tàng của đối
tượng quản lý trong quá trình thực hiện pháp luật. Cả hai yếu tố này phải có sự
phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ với nhau, chúng có mối quan hệ qua lại phụ
thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính Nhà nước. Nếu
chỉ có sự lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện cho
các hành vi vi phạm quyền của công dân, cho các tệ quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, tham nhũng phát triển. Ngược lại, nếu không có sự lãnh đạo tập trung thống
nhất, sự phát triển của xã hội sẽ trở thành tự phát. Lực lượng dân chủ sẽ bị phân
tán. Không đủ sức chống lại các thế lực phản động, phản dân chủ. Điều này sẽ nảy
sinh tình trạng tùy tiện, vô Chính phủ, cục bộ địa phương. Trong điều kiện hiện
nay sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ là một yêu cầu khách quan của việc
“thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” (Điều 15 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001)). Nguyên tắc tập
trung dân chủ trong quản lý hành chính Nhà nước biểu hiện ở những điểm sau:
♦ Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính Nhà nước vào cơ quan quyền lực
Nhà Học
nước cùng
Trung tâm
liệucấp.
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
♦Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung
ương.
♦ Sự phân cấp quản lý.
♦ Sự hướng về cơ sở.
♦ Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương.
• Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc.
Chính sách dân tộc là một chính sách xã hội rất quan trọng luôn được Đảng
và Nhà nước ta quan tâm. Các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam có
quyền bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và đều
được Nhà nước quan tâm, giúp đỡ về mọi mặt để phát huy tài năng, sức lực và trí
tuệ của mình. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “ Thực hiện chính sách bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ của các dân tôc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi
lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam…Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc
thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số ”. Điều 5 Hiến pháp
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
19
SVTH: Trần Văn Hên