Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu....................................................................................4
3. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................4
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................4
5. Bố cục đề tài.................................................................................................4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
...............................................................................................................................5
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng............................5
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng................................................5
1.1.2 Đặc điểm tài sản chung của vợ chồng..................................................7
1.2 Quá trình phát triển của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ
chồng.................................................................................................................8
1.2.1 Chế độ tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật phong kiến Việt
Nam...............................................................................................................8
1.2.2 Chế độ tài sản chung của vợ chồng thời kỳ pháp thuộc 1858-1945. .12
1.2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật ở miền Nam nước ta
trước ngày thống nhất đất nước (1954-1975).............................................20
1.2.4 Chế độ tài sản chung của vợ chồng từ năm 1976 đến nay.................25
1.2.4.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.........................................25
1.2.4.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.........................................27
1.2.4.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.........................................29
1.3 Vai trò, ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng
.........................................................................................................................31
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH VIỆT NAM.....................................................................................33
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng........................................33
2.1.1 Tài sản chung do hoạt động thu nhập................................................34
2.1.2 Tài sản chung do được thừa kế, tặng, cho chung...............................36
2.1.3 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân....................................38
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
1
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
2.1.4 Tài sản chung vợ chồng có được từ thu nhập hợp pháp khác của vợ
và chồng trong thời kỳ hôn nhân.................................................................39
2.1.5 Tài sản chung do nhập tài sản riềng vào tài sản chung.....................43
2.1.6 Tài sản chung có được do suy đoán...................................................44
2.1.7 Nghĩa vụ đối với tài sản chung của vợ chồng....................................46
2.2 Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung.............47
2.3 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung......................................51
2.3.1 Quản lý chung tài sản chung..............................................................51
2.3.2 Định đoạt tài sản chung.....................................................................53
2.4 Phân chia tài sản chung..........................................................................57
2.4.1 Phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân................................57
2.4.2 Phân chia tài sản chung khi ly hôn....................................................62
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
VẤN ĐỀ TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH67
3.1 Thực tiễn về chế định tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình
.........................................................................................................................67
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện về chế độ tài sản chung trong Luật
Hôn nhân và gia đình....................................................................................76
KẾT LUẬN........................................................................................................78
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
2
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mối quan hệ giửa hôn nhân và tài sản, hôn nhân có ảnh hưởng sâu rộng đối
với tình trạng tài sản của vợ chồng với tư cách là hai con người, hai cá nhân trong
quan hệ pháp luật.
Trước khi kết hôn vợ, chồng là những người độc thân. Người độc thân có tài
sản riêng, còn gọi là tài sản cá nhân. Sau khi kết hôn tài sản đó có thể trở thành tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân. Khi kết hôn vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn
phận, trong đó có những bổn phận có ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn của vợ,
chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản, thậm chí có những bổn
phận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung hay riêng của một tài sản
do vợ hoặc chồng tạo ra. Suy cho cùng, tất cả các tài sản của vợ, chồng, dù là của riêng
mỗi người hay của chung hai người, đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằm
bảo đảm sự duy trì và phát triển của gia đình, sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sở
hữu. Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực hiện
các giao dịch trên tài sản chung và, trong một số trường hợp, nghĩa vụ phát sinh từ các
giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên đới, nghĩa là khiến cho
người chồng hoặc vợ dù không trực tiếp đứng ra giao dịch, phải chịu trách nhiệm cùng
với vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng
của mình.
Ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình
đã có nhiều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản chung của vợ
chồng nói riêng. Pháp luật điều chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng vừa mang tính
khách quan vừa thể hiện ý chí chủ quan của Nhà nước.
Trên thực tế nếu các tranh chấp xảy ra liên quan đến tài sản giữa vợ chồng luôn
là việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, có nhiều hạn
chế và bất cập trong thi hành án. Kế thừa và phát triển các quy định về tài sản chung
của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2014 ra đời có phần hoàn thiện hơn, quy định về tài sản chung của vợ chồng tương đối
cụ thể và có điểm mới hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành năm
1959, 1986 và 2000.
Để tìm hiểu rõ hơn quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về vấn đề tài
sản chung của vợ chồng; sự cần thiết của những chế định về khối tài sản chung, cũng
như những điểm mới của Luật này so với Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành
trước đây, tôi quyết định chọn đề tài: “Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam - Thực tiễn và hướng đề xuất” để thực hiện ý tưởng nghiên cứu
sâu về tài sản chung trong hôn nhân.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
3
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu một cách cơ bản và khái quát những vấn đề lý luận về tài sản chung
của vợ chồng từ những quy định tại các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986,
2000; đồng thời so sánh, phân tích về mặt lý luận và thực tiễn với những quy định cụ
thể về tài sản chung của vợ chồng quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Từ đó, tác giả rút ra những bất cập, hạn chế của Luật hiện hành để có những nhận xét,
đánh giá và kiến nghị về chế định tài sản chung của vợ chồng được áp dụng trong thực
tiễn đạt hiệu quả cao.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu trên, đề tài chủ yếu nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi luật hiện
hành về tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng
thời dựa vào những quy định về vấn đề tài sản chung của vợ chồng được đề cập tại các
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ để so sánh và đối chiếu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả tìm hiểu, phân tích, đánh giá quy định pháp luật về vấn đề tài sản
chung của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật khác
có liên quan.
Để thực hiện nghiên cứu tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử được sử dụng nghiên cứu, tìm hiểu về tài sản chung của
vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt nam qua các năm 1959,1986, 2000 và 2014.
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên
quan đến tài sản chung của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn
đề được nghiên cứu.
Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện
hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam về chế độ tài sản chung của vợ chồng.
5. Bố cục đề tài
Đề tài “Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Thực tiễn và hướng đề xuất” bao gồm những phần chủ yếu sau:
Mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và ba chương chính đó là:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VẤN
ĐỀ TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
4
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trong chế định quyền sở hữu thì tài sản giữ một vai trò quan trọng vừa là đối
tượng của quyền sở hữu vừa là khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự.
Khi nhắc đến tài sản thì chúng ta có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,
nhưng nhìn chung có thể hiểu theo hai cách khác nhau:
Theo cách hiểu thông thường thì tài sản là của cải được con người sử dụng,
một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết bằng giác quan hay tiếp xúc trực tiếp.
Bộ luật Dân sự năm 2015 dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở
hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể đưa vào giao dịch dân sự. Theo quy định Bộ
luật Dân sự 2015 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản và
bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có
và tài sản hình thành trong tương lai”1. Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình,
con người có thể tri giác được và chiếm giữ một phần trong không gian và đồng thời
phải đáp ứng được một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần con người. Tiền bao
gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. Giấy tờ có giá được xem là tài sản
khi đáp ứng được các yêu cầu sau: do Nhà nước phát hành, có mệnh giá ghi trên giấy
và có thể thay thế tiền trong giao dịch dân sự. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.
Như vậy, so với Bộ luật Dân sự 2005 thì khái niệm tài sản theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2015 đã được mở rộng hơn. Đối tượng được xem là tài sản không chỉ
là những “vật có thực” - “bất động sản, động sản” và những vật được hình thành
trong tương lai cũng được gọi là tài sản. Mặc dù trên thực tế xoay quanh vấn đề tài sản
vẫn còn nhiều vướng mắc nhưng quy định về tài sản theo Bộ luật Dân sự 2015 đã được
hoàn thiện thêm, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật.
Tóm lại tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản tạo ra, thu nhập hợp pháp
trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung, tài sản vợ chồng
thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung của hai vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất, hai bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt”.
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung bao
gồm: “tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
1
Điều 105 - Bộ luật Dân sự 2015 - Tài sản
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
5
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và tài sản khác mà vợ
chồng thỏa thuận là tài sản chung”2. Đó là căn cứ lập tài sản chung của vợ chồng. Từ
điều Luật này, có thể thấy khối tài sản chung gồm các tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra
bằng sức lao động hoặc thông qua các hoạt động chuyển nhượng tài sản có đền bù; các
thu nhập hợp pháp do lao động hoặc thu nhập không do lao động; các tài sản có do
được chuyển dịch chung.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã khái quát, cụ thể hơn: “Tài sản
chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp
khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của
Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài
sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng
có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài
sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo
đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mổi bên thì tài sản đó đươc coi là tài sản chung”.3
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ ràng hơn là phần hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ
chồng và những tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất được dùng để đảm bảo nhu cầu
của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do vậy, việc xây dựng khối
tài sản chung không căn cứ vào công sức đóng góp của hai vợ chồng đối với tài sản
thuộc sở hữu chung đó.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về khái niệm tài sản chung của vợ chồng
được Luật quy định cụ thể, tiến bộ hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về
vấn đề hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tài
sản chung của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về phần chừ và điều
Luật rõ ràng và đã bổ sung, sửa đổi một số vấn đề về tài sản chung của vợ chồng.
1.1.2 Đặc điểm tài sản chung của vợ chồng
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng
đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm đảm bảo quyền lợi của gia đình,
trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng; từ đó, theo Luật định, dù vợ chồng lựa chọn
2
3
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
6
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
loại chế độ tài sản nào thì cũng phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, nhằm bảo đảm
cuộc sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi dưỡng, giáo dục
các con. Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp
nhất, với những đặc điểm riêng: các tài sản do vợ, chồng tạo ra; những thu nhập hợp
pháp của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được tính thuộc khối tài sản chung của
vợ chồng, trừ nguồn gốc là tài sản riêng của mỗi bên. Công sức tạo ra tài sản của
người chồng đã hàm chứa cả công sức của người vợ trong đó và ngược lại.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giao
dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Thông thường, khi vợ
chồng sử dụng tài sản chung để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì pháp
luật luôn coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, trừ những tài sản
chung có giá trị lớn.
Tài sản chung của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản chung của vợ
chồng. Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập
- tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân. Vợ, chồng có tư cách vừa là chủ thể của quan
hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu
của mình, tham gia các giao dịch dân sự. Vì vậy, tài sản chung của vợ chồng có những
đặc điểm riêng biệt sau đây:
+ Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, thì các
bên phái có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau - đây là đặc
điểm chỉ tồn tại trong loại chế độ tài sản nói chung và tài sản chung của vợ chồng nói
riêng. Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có
đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các
điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình (ví dụ, các điều
kiện về tuổi kết hôn, điều kiện về sự tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn).
+ Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi quy định về tài sản chung của vợ
chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của
gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng; từ đó, theo Luật định, dù vợ chồng
có tài sản chung hay tài sản riêng thì cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc,
nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi
dưỡng, giáo dục các con. Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ, chồng là sở
hữu chung hợp nhất, với những đặc điểm riêng: các tài sản do vợ, chồng tạo ra, những
thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được tính thuộc khối tài
sản chung của vợ, chồng (trừ nguồn gốc là tài sản riêng của mỗi bên). Công sức tạo ra
tài sản của người chồng đã hàm chứa cả công sức của người vợ trong đó và ngược lại.
+ Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự kiện
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
7
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân. Hay nói cách khác, tài sản chung của vợ
chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Từ đó, tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể
phát sinh khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chấm dứt khi một bên vợ, chồng chết
trước hoặc vợ chồng ly hôn.
+ Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Đối với tài sản chung của vợ chồng,
bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích
chung của gia đình. Thông thường, khi vợ chồng sử dụng tài sản chung để đáp ứng
những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì pháp luật luôn coi là có sự thỏa thuận đương
nhiên của cả hai vợ chồng, trừ những tài sản chung có giá trị lớn.
1.2 Quá trình phát triển của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ
chồng
Việc quy định chế định tài sản chung của vợ chồng có vai trò quan trọng, là cơ
sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản
vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người khác, đảm bảo việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người có tài sản khi tham gia các giao dịch dân sự trong thời kỳ
hôn nhân. Tương ứng với mỗi điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống, tập
quán ở các thời kỳ khác nhau thì việc quy định chế định tài sản chung của vợ chồng
cũng được quy định tương ứng:
1.2.1 Chế độ tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật phong kiến Việt
Nam
Theo một số nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam thì cổ Luật Việt Nam
được giới hạn từ cuộc khởi nghĩa của vua Hàm Nghi chống Pháp (1885) trở về trước.
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về hôn nhân và gia đình chiếm một
vị trí quan trọng trong các văn bản Luật. Tuy nhiên, khảo cứu các quy định của pháp
luật về chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ Luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng cổ Luật Việt Nam không dự liệu về chế độ tài sản vợ chồng theo như quan niệm
của những nhà lập pháp tư sản.
Quốc triều hình Luật được ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu
Hồng Đức (1470-1497) và Hoàng Việt luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn (1812) đều
có các quy định về vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng tuyệt nhiên chế độ tài sản của
vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể. Pháp luật dưới
triều Lê là công cụ quyền lực chính trị của vua chúa, chính vì mục đích này mà nó
được dựa theo hệ tư tưởng nho giáo. Điều đó không mâu thuẩn với một thực tế là pháp
luật Việt Nam vẫn còn giữ lại những khía cạnh của luật. Các quy định về vấn đề tài sản
của vợ chồng không rõ ràng. Quốc Triều hình luật không có các điều khoản nào đề cập
đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số trường
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
8
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
hợp chia tài sản của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 374, 375, 376).
Hoàng Việt luật lệ do chép nguyên văn của Luật nhà Thanh nên không có một điều
khoản nào về vấn đề tài sản của vợ chồng. Theo Điều 94 Hoàng Việt luật lệ quy định
về sự thoái hôn: Người nào đã bằng lòng gả con gái và chấp nhận “hôn thư” hoặc đã
ký kết “tư ước” tức là đã biết rõ về tình trạng hôn nhân và gia đình của vị hôn phu
(tuổi, tật bệnh, dòng giống, con chính thức, con nuôi v.v...) mà rồi tự mình vô cớ cự
tuyệt sẽ bị phạt 50 trượng. Dù là không có khế ước viết nhưng nếu đã nhận lễ vật (sính
lễ), thì cũng bị trừng phạt như trên. “Hôn thư” được quy định trong điều luật này
không phải là một “hôn ước” thỏa thuận về vấn đề tài sản của vợ chồng như quan niệm
ngày nay ở các nước tư bản. “Hôn thư” chỉ là một văn bản ghi nhận sự đính hôn giữa
hai bên gia đình gả con cho nhau mà thôi. Luật và tục lệ cổ ở Việt Nam không hề biết
đến “hôn thư” như một hợp đồng thỏa thuận về vấn đề tài sản giữa vợ chồng để chi
phối trong suốt thời kỳ hôn nhân. Trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, khổng
giáo giữ vai trò chủ đạo, chi phối các hành vi ứng xử trong các quan hệ hôn nhân và
gia đình: Tình nghĩa vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và các con ... Theo quan niệm
truyên thống của người phương Đông thì hôn nhân được tác thành xuất phát từ lợi ích
của gia đình, để xây dựng gia đình “sinh con đẻ cái” để nối dõi tông đường, thờ phụng
tô tiên. Tình nghĩa vợ chồng buộc người vợ phải tuyệt đối “trung thành” với chồng,
phải sinh con (đặc biệt là con trai) để có người nối dõi tông đường, phụng sự lợi ích
của gia đình chồng.
Người vợ mà “vô tử” (không có con), hoặc có hành vi không chung tình mà
“gian dâm” (ngoại tình) với người khác là một trong bảy tội (thất xuất) để người chồng
bỏ vợ (ly hôn). Như vậy, trong gia đình truyền thống ở Việt Nam, yếu tố tình cảm, với
những lại ích về tinh thần được coi trọng hơn là các yếu tố tài sản, với quan niệm “trai
lớn dựng vợ, gái lớn gã chồng”, sinh đẻ, giáo dục con cái vì lợi ích của xã hội và gia
đình. Hôn nhân là một sự phối hợp tuyệt đối về mọi phương diện và mục tiêu là để xây
dựng gia đình, sinh con, đẻ cái để nối dõi tông đường, vợ chồng khi có con chung, với
tư cách là cha mẹ, họ cùng chung sức, chung ý chí để tạo dựng tài sản nhằm vào mục
đích là nuôi dưỡng, giáo dục các con, vì lợi ích của các con. Vì vậy, toàn bộ tài sản mà
vợ chồng tạo dựng được hợp nhất thành một khối để cho gia đình sử dụng vào việc
nuôi dưỡng các con, để lại cho các con khi cha, mẹ chết. Quan niệm và chế độ này đã
ăn sâu vào tục lệ của người Việt Nam, trãi qua bao nhiêu thế kỷ và cho đến tận ngày
nay, hầu như vẫn không hề thay đổi. Dưới thời Pháp thuộc, trước khi ban hành Dân
luật Bắc kỳ, ủy ban tư vấn án lệ Bắc Việt đã sưu tầm và ghi chép (từ năm 1927-1930)
thành một tập ý kiến gồm 324 câu giải đáp, trong đó khi trả lời câu hỏi thứ 31, ủy ban
tư vấn án lệ này đã giải đáp như sau: Nguyên tắc căn bản vẫn còn được áp dụng trong
gia đình Việt Nam về chế độ tài sản giữa vợ chồng là tất cả các của cải của đôi vợ
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
9
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
chồng, không phân biệt bản chất và nguồn gốc; đều để dành cho các con theo tục ngữ:
cha mẹ làm việc để nuôi con, cho nên suốt thời kỳ hôn nhân, tất cả các của cải là của
chung. Như vậy, suốt trong thời kỳ hôn nhân, tất cả của cải của vợ chồng tạo thành
khối cộng đồng. Cũng theo tư tưởng nho giáo, người vợ khi lấy chồng là thuộc hẳn về
nhà chồng, là “hiền thê” (vợ hiền) của người chồng, “Thuyền theo lái, gái theo chồng”
- Thuyết tam tòng buộc người vợ phải theo chồng. Người chồng trong hôn nhân phong
kiến được coi là trụ cột của gia đình, là người chủ gia đình, đại diện cho mọi quyền lợi
của gia đình. Cũng là chủ sở hữu các tài sản trong gia đình, định đoạt tài sản vì quyền
lợi của gia đình; vì thế, không cần thiết phải dự liệu về vấn đề tài sản chung hay tài sản
riêng của vợ, chồng. Điều đó có thể lý giải tại sao Luật cổ của ta không dự liệu cụ thể
về chế độ tài sản của vợ chồng.
Qua nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tài sản vợ chồng trong
Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, cũng như các tục lệ được thực hiện trong
phong kiến, có thể thấy rằng, chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ Luật Việt Nam là
chế độ cộng đồng pháp định. Chế độ tài sản này được áp dụng như là duy nhất cho các
quan hệ vợ chồng. Loại chế độ tài sản ước định (hôn ước) được áp dụng cho các cặp
vợ chồng thời nay tại nhiều nước tư bản chủ nghĩa thì luật cổ và cả tục lệ ở nước ta
không hề biết tới.
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong luật cổ và tục lệ ở
Việt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có
được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ, chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều
thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng với thành phần
bao gồm các tài sản là động sản (Quốc triều hình luật gọi là phù vật) và các bất động
sản (điền sản). Trong đó điền sản được coi là tài sản chủ yếu, chiếm vị trí hàng đầu
trong khối tài sản chung của vợ chồng. Nó có ý nghĩa thiêng liêng và thể hiện trật tự
giữa các thành viên trong gia đình. Với quan niệm coi điền sản là chính yếu, Quốc
triều hình luật đã quy định thành phần khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại:
+ Phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình);
+ Thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình);
+ Tần tảo điền sản (những tài sản mà vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân).
Tất cả các tài sản này được đặt dưới sự quản lý của người chồng - chủ gia
đình, tài sản chung của vợ chồng chỉ được chia khi một bên vợ, chồng chết trước mà
giữa họ không có con ... Tuy nhiên, pháp luật thời Lê hoặc theo tục lệ cũng giành cho
người vợ được tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng; người vợ được
tự do hành động trong các nhu cầu gia vụ đảm bảo đời sống chung của gia đình với tư
cách là “nội tướng” sử dụng tài sản chung của vợ chồng. Sự đồng ý của người chồng
thường các trường hợp này là mặc nhiên. Đặc biệt đối với các giao dịch liên quan đến
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
10
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
tài sản chung của vợ chồng có giá trị là “điền sản” thì đều phải có sự thỏa thuận đồng
ý của cả hai vợ chồng. Trong các văn tự cổ như mua, bán, cầm cố tài sản liên quan đến
tài sản chung của vợ chồng là “điền sản” thì đều phải có chữ ký của hai vợ chồng;
hoặc trường hợp người chồng sử dụng tài sản chung không đảm bảo quyền lợi của các
con và lợi ích của gia đình thì người vợ cũng có quyền phản đối. Thể hiện quan niệm
này, Ủy ban tư vấn án lệ Bắc Việt khi giải đáp câu hỏi thứ 31 đã chỉ rõ: “Với tư cách
gia trưởng, người chồng có quyền quản trị và có cả quyền sử dụng, nhưng dần dần về
sau, khi thực hiện các hành vi sử dụng, người chồng cần có sự thỏa thuận, hoặc minh
thị, hoặc mặc nhiên của người vợ”. Điều đó đã thể hiện trong chừng mực nhất định,
người vợ được “bình đẳng” cùng chồng định đoạt tài sản chung, hoàn toàn không phải
là “người vô năng lực”. Quy định này của pháp luật nhà Lê tiến bộ hơn hẳn so với
pháp luật của Trung Quốc cùng thời, đã coi người vợ hoàn toàn vô năng lực, phụ thuộc
vào người chồng một cách tuyệt đối. Thật đáng tiếc, điều này lại được ghi nhận lại
trong Hoàng Việt luật lệ, người vợ bị coi là vô năng lực, vì Hoàng Việt luật lệ sao chép
nguyên văn luật của Nhà Thanh.
Quốc triều hình luật - Bộ luật quan trọng, chính thống nhất của triều Lê. Quốc
triều hình luật cũng chính là Bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ đầy đủ cho
đến ngày nay. Mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Nho giáo - hệ tư tưởng thống
trị trong xã hội thời Lê cũng như ảnh hưởng của các Bộ luật Trung Quốc (Luật nhà
Đường, nhà Minh), những nhà làm luật thời Lê đã biết tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo
pháp luật Trung Quốc đồng thời kết hợp với các phong tục, tập quán đặc thù của xã hội
Việt Nam, hòa nhập chúng với hệ thống pháp luật, tạo nên nét riêng biệt độc đáo của
Bộ luật. Trong đó, phải kể đến chế độ tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân một chế định đặc sắc được quy định tương đối cụ thể, thể hiện gián tiếp thông qua các
Điều 374, 375, 376 ở Chương Điền sản.
Theo như quy định tại các Điều 374, 375, 376 thì tài sản của vợ chồng bao gồm
tài sản chung cùng làm ra trong thời kỳ hôn nhân và tài sản riêng của mỗi người được
thừa kế từ gia đình. Sự quy định rõ ràng thành phần khối tài sản chung và riêng là
điểm rất tiến bộ, độc đáo của pháp luật nhà Lê; nó được tiếp thu trong việc xây dựng
pháp luật hiện nay. Phản ánh một cách khá trung thực và điều chỉnh một cách hợp lý
mối quan hệ giữa vợ chồng là phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam, địa vị pháp lý của
người vợ được cải thiện hơn hẳn so với các quan niệm Nho giáo qua việc thừa nhận
quyền bình đẳng về tài sản giữa vợ chồng.
Lần đầu tiên, pháp luật công nhận công lao đóng góp vào việc tạo tài sản
chung của hai vợ chồng - tài sản vợ chồng làm ra trong thời gian hôn nhân, từ đó
công nhận quyền sở hữu của người vợ đối với một nữa tài sản của hai vợ chồng
làm ra thể hiện qua các quy định tại Điều 374: “... Nếu điền sản là của chồng và vợ
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
11
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
trước làm ra thì chi làm hai phần, vợ trước và chồng mỗi người một phần, phần của
vợ tnrớc thì để riêng cho con, còn phần chồng thì lại chia như trước. Nếu điền sản là
của chồng và vợ sau làm ra, thì cũng chia làm hai phần, chồng và vợ sau mổi người
một phần, phần của chồng thì chia như trước, còn phần của vợ sau thì được nhận làm
của riêng ...” và Điều 375 quy định: “ ... còn điền sản của vợ chồng làm thì chia làm
hai, vợ chồng mỗi người một phần; phần của vợ được nhận làm của riêng ...”.
Việc chia đôi khối tài sản chung chứng tỏ rằng sự đóng góp của người vợ vào
khối tài sản chung là ngang bằng với người chồng. Sự bình đẳng đó còn thể hiện ở
quyền định đoạt tài sản chung. Việc đứng tên đồng chủ thể trong khối tài sản chung là
cơ sở để tạo ra các năng lực pháp lý dân sự của người phụ nữ. Pháp luật đòi hỏi phải
có sự đồng ý của cả hai vợ chồng trong việc chuyển nhượng tài sản chung cho người
khác
1.2.2 Chế độ tài sản chung của vợ chồng thời kỳ pháp thuộc 1858-1945
Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực thì chế độ đa thê
được áp dụng rộng rãi theo tục lệ thời cổ. Nhìn chung tài sản chung của vợ chồng theo
quy định trong Dân luật Bắc kỳ 1931, Dân luật Trung kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam
kỳ 1883 đã giành cho người chồng những đặc quyền riêng biệt hơn so với người vợ.
Điều này thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ thời kỳ này. Chẳng hạn theo
đoạn 2 Điều 109 Dân luật Bắc kỳ và đoạn 2 Điều 107 Dân luật Trung Kỳ thì người
chồng có thể định đoạt tài sản chung không cần phải vợ bằng lòng cũng được miễn
dùng vào việc lợi ích cho gia đình, trừ bất động sản là tài sản riêng của người vợ.
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã
đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng đã đầu hàng vô điều kiện. Thời
kỳ Pháp đã chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các
Bộ luật riêng điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản
của vợ chồng.
+ Bắc kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (BLBK);
+ Trung kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (BLTK);
+ Nam kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK).
Nhìn chung, những quy định của pháp luật thời kỳ này nhằm điều chỉnh các
quan hệ hôn nhân và gia đình đã mang những sắc thái mới so với cổ Luật phong kiến
Việt Nam. Bên cạnh những tục lệ tồn tại trong xã hội phong kiến từ lâu đời, nhà làm
luật đã “phỏng theo” Bộ luật Dân sự Pháp (1804) khi quy định về chế độ hôn nhân và
gia đình trong đó có chế độ tài sản vợ chồng. Quy định của pháp luật thời kỳ này vẫn
thực hiện chế độ đa thê (nhiều vợ), việc kết hôn được tiến hành khi nam nữ còn chưa
đến tuổi thành niên (nam trong 18 tuổi, nữ tròn 15 tuổi); trường hợp đặc biệt có thể
cho phép hạ thấp tuổi kết hôn của nam xuống 15 tuổi, nữ xuống 12 tuổi (Điều 73, 75
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
12
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
DLBK 1931); việc kết hôn dù con đã thành niên hay chưa thành niên đều phải được sự
ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn trưởng trong gia đình, nếu cha mẹ chết hoặc mất
năng lực hành vi dân sự (hôn nhân cưỡng ép); bảo vệ quyền gia trưởng của cha mẹ đối
với các con. Trong quan hệ giữa vợ chồng vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đắng,
người vợ; phụ thuộc chồng về mọi phương diện, người vợ ở đâu, làm gì phải được
chồng ưng thuận, cho phép, vẫn với quan niệm “Thuyền theo lái, gái theo chồng”,
“Phu xướng phụ tùy” ...
Về vấn đề tài sản giữa vợ chồng đã có những quy định cụ thể trong các văn
bản pháp luật (DLBK 1931, DLTK 1936). Đối với Tập Dân luật giản yếu ngày
03/10/1883 áp dụng ở Nam Kỳ bao gồm 3 tiết nói về thất tung, hôn thú, ly dị, phụ hệ,
con nuôi, phu quyền, vị thành niên, giám hộ; chỉ quy định các vấn đề thuộc về khả
năng theo Bộ luật Dân sự Pháp (1804) mà không có đoạn nào nói về tài sản, khế ước
và nghĩa vụ.
Đối với tài sản trong gia đình thì Tập Dân luật giản yếu không nói gì đến chế
độ tài sản của vợ chồng, về di sản. Chính vì “sự im lặng” của các nhà lập pháp năm
1883 về chế độ tài sản của vợ chồng, trãi qua mấy chục năm thực hiện ở Nam kỳ, đã
có nhiều trường phái với những quan điểm khác nhau khi áp dụng chế độ tài sản của
vợ chồng trong thực tế. Có quan điểm cho rằng, không có tài sản cộng đồng giữa vợ
chồng, “Khối cộng đồng tài sản không có trong luật Việt Nam, theo nguyên tắc người
chồng là chúa tể tuyệt đối tất cả các tài sản bất luận là của ai hoặc ở đâu mang lại”. Đó
là hệ quả của tổ chức gia đình Việt Nam, trong đó người vợ có địa vị kém hơn người
chồng. Người chồng là chủ đoàn thể phu thê mà cũng là chủ sở hữu duy nhất toàn bộ
tài sản gia đình. Theo thuyết này thì người vợ không có tài sản riêng. Có quan điểm
cho rằng, người vợ trong gia đình Việt Nam có của riêng. Theo luật pháp thời Nguyễn
thì người chồng có quyền tự ý sử dụng của cải của người vợ, dù là người vợ không
đồng ý, vì luật cẩm không cho người vợ đi kiện chồng, nhưng tục lệ lại công nhận rằng
người chồng có quyền quản trị của cải của vợ, nhưng không thể sử dụng của cải ấy nếu
vợ không đồng ý.
Người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và
chồng. Tất cả tài sản của gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý của người
chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết. Trong trường hợp
người vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lực
của hôn nhân chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ; nhưng nếu người chồng
chết trước thì người vợ chỉ cơ quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình
khi còn ở góa.
Theo đó, các án lệ tại các Tòa án ở Nam kỳ đã áp dụng nguyên tắc người chồng
là chủ sở hữu duy nhất các tài sản của gia đình, bao gồm:
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
13
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
+ Các động sản đã mua được trong thời kỳ hôn nhân, kể cả các động sản khi
mua đã đứng tên vợ;
+ Các bất động sản đã ban cấp riêng cho người vợ;
+ Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân mặc dù các bất động sản đó
đã đứng tên người vợ khi mua ...
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng tại Nam kv dưới thời kỳ
Pháp thuộc đã rất bất công đối với người vợ, kể cả những tài sản do người vợ tạo ra
được khi hành nghề riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải coi là thuộc tài sản của
chồng.
Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận trong một số trường hợp người vợ (có thể) có
tài sản riêng, bao gồm:
+ Các đồ tư trang của vợ;
+ Tài sản mà người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc để lại thừa
kế;
+ Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ.
Do các án lệ đã công nhận người chồng là chủ sở hữu duy nhất đối với các tài
sản của gia đình, nên trong việc quản lý tài sản, người chồng có quyền một mình đứng
ra thực hiện các giao dịch và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả
món nợ đó cho người chồng. Ngược lại, người vợ không được ký kết các hợp đồng
một mình và người chồng có quyền khiếu nại để phủ nhận hợp đồng đó. Là chủ sở hữu
đối với tài sản của gia đình, nên người chồng có quyền một mình ký kết các hợp đồng
để chuyển dịch các động sản và bất động sản. Trên thực tế, mỗi khi người chồng bán
hoặc tặng cho bất động sản thì người vợ cũng thường ký cùng chồng vào các giấy tờ,
văn tự, nhưng các án lệ lại không cho đó là một thể thức có giá trị pháp lý.
Tại Bắc và Trung kỳ, ảnh hưởng của BLDS Pháp (1804) thể hiện trong việc
nhà làm luật dự liệu chế độ tài sản ước định, và áp dụng nguyên tắc bất di, bất dịch của
chế độ tài sản của vợ chồng theo hôn khế. Dân luật Bắc kỳ gồm 1455 điều được ban
hành ngày 30/3/1931, có hiệu lực từ ngày 01/7/1931. Bộ luật dân sự Trung kỳ (Hoàng
Việt bộ luật) được ban hành từng quyển một từ ngày 13/6/1936 đến ngày 28/9/1939 do
Ban Tư pháp Huế soạn thảo phỏng theo Dân luật Bắc kỳ 1931. Được ban hành sau,
nên Dân luật Trung kỳ đã có một số sửa đổi cho phù hợp hơn so với Dân luật Bắc kỳ.
Tại điều 104, Dân luật Bắc kỳ quy định: “về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến
toàn thể vợ chồng là khi vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi,
miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và không được trái với quyền lợi
người chồng là người chủ trương trong đoàn thể”; phàm tư ước về tài sản của vợ
chồng khi đã làm giá thú thì không được thay đổi gì nữa (Điều 105 Dân luật Bắc kỳ).
Quy định chế độ tài sản ước định này lần đầu tiên được dự liệu trong hệ thống
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
14
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
pháp luật Việt Nam theo quan niệm của nhà làm luật tư sản đã không phù hợp với tục
lệ và truyền thống của gia đình người Việt Nam; nên mặc dù được hai bộ Dân luật Bắc
kỳ và Dân luật Trung kỳ dự liệu, các cặp vợ chồng thường không thỏa thuận lựa chọn
loại chế độ tài sản ước định này.
Trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận lập hôn khế khi kết lập giá
thú, Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định để
áp dụng cho họ. Tuy nhiên, nếu những đôi vợ chồng không lập hôn khế trước ngày lập
hôn thú và đồng thời còn dự liệu một chế độ hôn sản là kiểu mẫu để cho các đôi vợ
chồng lựa chọn trong trường hợp họ lập hôn khế; thì trong Dân luật Bắc kỳ và Dân
luật Trung kỳ chỉ quy định một loại chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp
vợ chồng không lập hôn khế trước ngày lập hôn khế; thì trong Dân luật Bắc kỳ và Dân
luật Trung kỳ chỉ quy định một loại chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp
vợ chồng không lập hôn khế. Đó là chế độ cộng đồng toàn sản. Theo tục lệ của người
Việt Nam, mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho các con
cháu. Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đã chấp nhận tục lệ này khi dự liệu chế độ
tài sản pháp định của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, bao gồm tất cả các của
cải và hoa lợi của chồng cũng như của vợ hợp thành khối tài sản chung của vợ chồng.
Theo Điều 106, 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 105 Dân luật Trung kỳ quy định: “Nếu
hai vợ chồng không có tư ước với nhau thì cứ theo lệ hợp nhất tài sản, nghĩa là bao
nhiêu lợi tức tài sản của chồng và của vợ hợp làm một mà chung nhau” ...
Mặc dù vợ hoặc chồng có thể có tài sản riêng từ trước khi kết hôn, nhưng kể từ
khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả động
sản và bất động sản) được hợp nhất thành khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên,
đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân. Chỉ có những tài sản do hai vợ
chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức. Khi hôn nhân
chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ, chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài
sản chung của vợ chồng lại được tách ra để chia theo nguyên tắc tài sản riêng của bên
nào thì bên đó có quyền lấy lại, còn đối với tài sản chung sẽ được chia đôi cho vợ
chồng.
Một điểm cần chú ý là vào thời kỳ này, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và
Dân luật giản yếu Nam kỳ đều thực hiện chế độ đa thê, cho phép người chồng có
quyền lấy nhiều vợ. Chế độ đa thê đã được áp dụng rộng rãi theo tục lệ trong thời cổ ở
xã hội Việt Nam; đến thời Pháp thuộc, nó được nhà làm luật dự liệu một cách minh thị
(Điều 79, 80 Dân luật Bắc kỳ, Điều 79 Dân luật Trung kỳ, Tiết V của Dân luật giản
yếu Nam kỳ). Chế độ đa thê này bị bãi bỏ từ khi có Luật gia đình ngày 02/01/1959
dưới chế độ Ngô Đình Nhiệm (ở miền Nam) và theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 của nhà nước ta. Theo chế độ đa thê, có hai cách giá thú hợp pháp: chính thất (vợ
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
15
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
cả) và thứ thất (vợ lẽ). Trong gia đình, nếu người chồng lấy nhiều vợ thì chỉ được có
một vợ là chính thất (vợ cả), có nhiều quyền hành trong các bà vợ, còn vợ thứ nhất (vợ
lẽ) thì không kể, thường là vợ hai, vợ ba. Cũng có khi có người chồng, ngoài vợ cả ra
còn sống chung với một hay nhiều đàn bà khác, với danh nghĩa là “thiếp”, “tỳ”, “nàng
hầu” mà không lập hôn thú (thứ thất) với những người đàn bà này. “Vợ lẽ có một địa
vị thấp kém và lệ thuộc so với địa vị người vợ cả, vợ lẽ ở vào tình trạng nào cũng rất
bấp bênh và tình trạng ấy thường chỉ được ổn định sau khi vợ lẽ đã sinh con mà thôi.
Vợ lẽ chỉ được ở nhà chồng khi vợ cả ưng thuận, chồng không thể bắt vợ cả phải nhận
vợ lẽ về ở chung” (Trả lời câu hỏi 38 của ủy ban tư vấn án lệ Bắc kỳ).
Tuy nhiên, trong trường hợp người chồng lấy vợ lẽ, chế độ tài sản được áp
dụng cũng không khác gì so với trường hợp của chồng với vợ cả, vì dù vợ lẽ có lập
hôn thú (thứ thất) hợp pháp hay không, thì tài sản của vợ lẽ cũng riêng biệt hẳn với tài
sản của chồng.
Cả hai bộ Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu về thành phần
khối hôn sản của vợ chồng bao gồm:
+ Kỷ phần hay phần đóng góp của chồng;
+ Kỷ phần hay phần góp của vợ;
+ Của chung của vợ chồng.
Đồng thời còn dự liệu khối cộng đồng (tài sản chung của vợ chồng) phải bảo
đảm cho cuộc sống chung của gia đình, cũng như các món nợ của vợ chồng vay cho
lợi ích của gia đình (thành phần tiêu sản) ...
Theo Điều 106, 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 104, 105 Dân luật Trung kỳ thì
chế độ tài sản pháp định được áp dụng cho các cặp vợ chồng không lập hôn khế trước
khi kết hôn là chế độ cộng đồng toàn sản, với thành phần tài sản chung của vợ chồng
bao gồm:
+ Các tài sản do vợ chồng có được (tạo mãi) trong thời kỳ hôn nhân;
+ Tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra;
+ Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức đó thu
được từ tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng.
Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả động
sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng. Để phân biệt được động sản,
bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, pháp luật căn cứ vào
việc đăng ký quyền sở hữu hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó. Đối
với các động sản không được đăng ký và cũng không có chứng thư xác nhận nguồn
gốc thì được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu bên vợ, chồng cho rằng đó là
tài sản riêng của mình thì có nghĩa vụ phải chứng minh. Rõ ràng, Dân luật Bắc kỳ và
Dân luật Trung kỳ cũng như các án lệ tại Nam kỳ đã không đặt ra ngoại lệ nào đối với
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
16
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
những tài sản do một bên vợ hay chồng hành nghề mà kiếm ra hoặc có được. Một giải
pháp đã được dự liệu giống như với Bộ luật Dân sự Pháp là: Tất cả các tài sản (lương
bổng, lợi tức thu được từ tài sản của vợ chồng) trong thời kỳ hôn nhân, dù là động sản
hay bất động sản đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng; trừ khi vợ, chồng chứng
minh được tài sản đó là tài sản riêng của mình. Giải pháp này có ý nghĩa giúp cho việc
thanh toán (chia) tài sản chung của vợ chồng được thuận lợi và đơn giản, vì không
nhất thiết vợ chồng phải chứng minh một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng
(theo phương pháp suy đoán là tài sản chung từ chế độ cộng đồng toàn sản). Vả lại,
nếu bên vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì đương nhiên phải chứng
minh.
Theo Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Dân luật Trung kỳ dự liệu khối tài
sản cộng đồng phải gánh chịu các khoản nợ (thành phần tiêu sản của khối cộng đồng)
sau đây:
+ Những khoản nợ của vợ chồng đã vay trước khi kết hôn;
+ Những khoản nợ của chồng vay trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những khoản nợ do vợ vay với tư cách là đại diện cho đoàn thể vợ chồng và
các khoản nợ do vợ vay với sự ưng thuận của chồng;
+ Những khoản nợ do vợ ký kết khi hành nghề buôn bán hay làm công nghệ
một cách hợp lệ;
+ Những khoản nợ do hành vi phạm pháp của vợ gây ra.
Theo quy định trên đây, tất cả các khoản nợ của chồng, dù vay từ trước khi kết
hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt là do ký kết hợp đồng hoặc do hành
vi phạm pháp mà gây ra thì đều phải coi là nợ của hai vợ chồng và do khối cộng đồng
phải gánh chịu. Riêng đối với những món nợ do hành vi phạm pháp của chồng gây ra,
mặc dù Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Dân luật Trung Kỳ không dự liệu rõ
ràng nhưng xét trên cơ sở đạo lý và theo lẽ tất nhiên khối cộng đồng phải gánh chịu vì
người chồng (theo Luật định) luôn là người chủ gia đình. Đối với việc quản lý, sử
dụng và định đoạt tài sản của gia đình, dựa theo Bộ luật Dân sự Pháp (1804) đã coi
người đàn bà lấy chồng là “vô năng cách”; Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều
dự liệu trong việc quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình thì cần có sự phân
biệt về quyền hạn của vợ và của chồng theo từng trường hợp cụ thể:
Việc mà vợ chồng có thể tự mình thực hiện:
Theo Điều 100, Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98, Điều 109 Dân luật
Trung kỳ thì đối với những nhu cầu chung của gia đình, vợ hoặc chồng đều có thể đại
diện cho gia đình để giao dịch và khối tài sản cộng đồng được bảo đảm cho các giao
dịch do vợ chồng kết ước với người khác. Thông thường, việc vợ chồng sử dụng tài
sản chung nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình (nhu cầu gia vụ:
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
17
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
ăn, ở, chữa bệnh ...) thì pháp luật đều đương nhiên coi là đã có sự thỏa thuận của hai
vợ chồng khi định đoạt tài sản chung.
Việc phải do cả hai vợ chồng cùng thực hiện:
Theo Điều 109 Dân luật Bắc kỳ và Điều 107 Dân luật Trung kỳ thì ngoài việc
quản lý thường, vợ và chồng muốn định đoạt tài sản chung phải cùng nhau thỏa thuận
(đồng ý), sự đồng ý có thể là công nhiên hoặc mặc nhiên.
Việc một mình chồng làm được, còn vợ phải xin phép chồng:
Theo Điều 98 Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ thì đối với các việc như
lập hội, vay mượn, thuê mướn, đi kiện ... người chồng có quyền tự mình thực hiện; vả
lại, người vợ chỉ được thực hiện nếu được chồng cho phép (ưng thuận); sự cho phép
của người chồng có thể là công nhiên hay mặc nhiên.
Đặc quyền của người chồng khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Đoạn 2
Điều 109 Dân luật Bắc kỳ quy định: Người chồng có thể định đoạt tài sản chung
không cần phải vợ bằng lòng cũng được, miễn là dùng vào việc có lợi ích cho gia đình,
trừ bất động sản là tài sản riêng của người vợ.
Như vậy, trên cơ sở phân định quyền hạn của vợ chồng trong việc thực hiện
quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng theo luật định, người chồng là chủ gia đình
có quyền tự mình định đoạt tài sản chung, dù tài sản là động sản hay bất động sản,
miễn là vì quyền lợi của gia đình. Ngược lại, người vợ (thông thường) chỉ được đại
diện trong những nhu cầu gia vụ; nếu định đoạt những tài sản có giá trị lớn của gia
đình, đều phải được chồng ưng thuận, việc ưng thuận của người chồng phải bàng văn
bản có chữ ký của người chồng. Điều này thật bất công đối với người vợ trong gia
đình quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng luôn được áp dụng trong
xã hội và trong pháp luật của nhà nước thực dân, phong kiến ở nước ta trước đây.
Bên cạnh đó, pháp luật còn dự liệu về phương thức bảo vệ khối tài sản của gia
đình. Theo Điều 100 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98 Dân luật Trung kỳ thì trường hợp
người vợ một mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng
mà lạm dụng quyền đó, ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình thì người chồng có
quyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyền của người vợ.
Trường hợp người chồng không chu cấp để nuôi dưỡng vợ, con hoặc có hành
vi phá tán tài sản của gia đình thì người vợ có quyền yêu cầu Tòa án cấm người chồng
sử dụng kỷ phần của mình và tất cả các tài sản do người vợ hành nghề mà có. Tòa án
có thể cho phép người vợ quản lý, hưởng dụng tài sản đó (Điều 110 Dân luật Bắc kỳ,
Điều 108 Dân luật Trung kỳ), về việc chia tài sản chung của vợ chồng, pháp luật thời
kỳ pháp thuộc (thông qua Dân luật giản yếu Nam kỳ, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung
kỳ) đã dự liệu một vài trường hợp và nguyên tắc phân chia. Tuy nhiên, khác với Bộ
luật Dân sự Pháp dự liệu khi vợ, chồng chết trước thì khối cộng đồng tài sản chấm dứt
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
18
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
và phải được thanh toán; án lệ tại Nam kỳ cũng như Dân luật Bắc kỳ và Dân luật
Trung kỳ đã áp dụng thuyết “Cộng đồng tiếp tục” trong trường hợp vợ hoặc chồng
chết trước. Theo Điều 113“ Dân luật Bắc kỳ và Điều 111 Dân luật Trung kỳ thì:
+ Khi người chồng mệnh một (chết) đã rồi, nếu người vợ cứ sương thủ tiết
(không tái giá) thì của chung vẫn để nguyên. Khi ấy người vợ góa được thay quyền
chồng mà quản lý tài sản chung;
+ Khi người vợ chết trước, thì một mình người chồng trở thành sở hữu chủ tất
cả tài sản chung, kể cả kỷ phần của người vợ nữa.
Rõ ràng quy định này không đảm bảo được quyền bình đẳng của người vợ
trong quan hệ thừa kế.
Trong trường hợp vợ, chồng ly hôn, theo Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ
thì cộng đồng tài sản sẽ được phân chia. Tuy nhiên, việc áp dụng quan niệm khối cộng
đồng tài sản được gây dựng để cho các con, do vậy pháp luật phân biệt hai trường hợp:
Vợ, chồng ly hôn mà có con chung hoặc không có con chung với nhau. Tùy theo từng
trường hợp mà áp dụng nguyên tắc phân chia khác nhau.
Khi ly hôn, nếu hai vợ chồng có lập hôn khế thì chia theo các điều khoản trong
hôn khế mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu không có hôn khế thì áp dụng Điều 112
Dân luật Bắc kỳ và Điều 110 Dân luật Trung kỳ chia như sau: Trường hợp giữa hai vợ
chồng không có con chung, người vợ được lấy lại kỷ phần tài sản của mình “bằng hiện
vật hiện còn”. Nếu tài sản riêng của người vợ đã bị bán đi để chi dùng cho gia đình
hay cho riêng người chồng thì người vợ không có quyền đòi lại. Vả lại, nếu tài sản
riêng của vợ hay chồng đã được tu sửa, quản lý bằng tài sản chung của vợ chồng thì
phần tài sản chung đó phải được tính vào khối tài sản cộng đồng để chia. Sau khi đã
trả lại cho vợ, chồng kỷ phần của vợ, chồng, phần tài sản chung của vợ chồng được
chia đôi cho vợ chồng mỗi người một nữa.
Trường hợp hai vợ chồng có con chung: Người vợ không được thu hồi toàn bộ
của riêng của mình, tức là những của cải đã đem về nhà chồng khi cưới và tài sản đã
được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản ấy sẽ thuộc tài sản chung của vợ
chồng do người chồng quản lý, vì của cải của vợ chồng là để dành cho các con. Dân
luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đã ấn định rằng nếu vợ, chồng ly hôn mà có con với
nhau thì sẽ không thanh toán tài sản chung. Theo Điều 112 Dân luật Bắc kỳ dự liệu
rằng nếu có con thì sau khi ly hôn người vợ được hưởng một phần của chung, phần ấy
nhiều hay ít sẽ do Tòa án quyết định tùy theo công sức của người vợ. Còn theo Điều
110 Dân luật Trung kỳ thì dự liệu kỷ phần của người vợ sẽ là 1/3 số của chung, với
ngụ ý rằng 1/3 chia cho chồng và 1/3 chia cho các con. Trường hợp vợ chồng ly hôn
do lỗi của người vợ (phạm gian) thì phần trả cho người vợ sẽ bị giảm đi một nữa (1/2)
(Điều 112 Dân luật Bắc kỳ) và một phần tư (1/4) (Điều 112 Dân luật Trung kỳ).
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
19
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
1.2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật ở miền Nam nước ta
trước ngày thống nhất đất nước (1954-1975)
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Theo Hiệp định Giơnevơ, đất
nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị khác biệt. Miền
Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Ở
miền Nam nước ta, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp tiến hành
cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Sự nghiệp cách
mạng nước ta trong giai đoạn này thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng
XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam. Về vấn đề
pháp luật điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và Gia đình trong giai đoạn này ở miền
Nam, chế độ ngụy quyền Sài Gòn theo thời gian đã cho ban hành và áp dụng ba văn
bản pháp luật:
- Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm gồm 135 điều
chia làm bốn thiên;
- Sắc Luật số 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ Nguyễn Khánh, quy định về
giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng, gồm ba Chương và 158 Điều;
- Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Nhìn chung, các văn bản pháp luật này đều có khuynh hướng “dân luật hóa”
các quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng; mặc dù
lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định riêng trong hai văn bản Luật Gia đình số
1-59 ngày 02/01/1959 (LGĐ) và sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964; trong Bộ luật Dân
sự ngày 20/12/1972 (BLDS), các quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định như là
một chế định của BLDS trong các thiên thứ V, VI, VII, VIII. Về chế độ tài sản của vợ
chồng (LGĐ quy định trong Chương II từ Điều 45 đến Điều 54; sắc luật số 15/64 quy
định ở tiết 6 của Chương I từ Điều 49 đến Điều 61; BLDS quy định tại Chương thứ
VI, thiên thứ V, từ Điều 144 đến Điều 169); cả ba văn bản luật này đều dự liệu về chế
độ tài sản ước định, cho phép vợ chồng ký kết với nhau một hôn ước thỏa thuận về vấn
đề tài sản từ trước khi kết hôn, miễn là sự thỏa thuận bằng hôn ước đó không trái với
trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và quyền lợi của con (Điều 45 LGĐ, Điều 49
Sắc luật số 15/64 và Điều 144, 145 BLDS). Trong trường hợp hai vợ chồng không lập
hôn ước với nhau về tài sản thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ
quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định). Cả ba văn bản luật này cũng đều dự
liệu chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật, tuy nhiên, có
sự khác nhau về thành phần tài sản trong khối cộng đồng, dẫn tới có những quy định
khác nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt, và thanh toán khối hôn sản.
Theo LGĐ, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định cũng là chế độ cộng
đồng toàn sản, giống như chế độ tài sản của vợ chồng đã được áp dụng trong Dân luật
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
20
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ trước đây. Tuy vậy, LGĐ cũng như Dân luật Bắc kỳ và
Dân luật Trung kỳ đã dự liệu khác với Bộ luật Dân sự Pháp (1804), không dự liệu chế
độ tài sản làm kiểu mẫu để cho các cặp vợ chồng lựa chọn khi họ lập hôn ước, mà chỉ
dự liệu chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp vợ chồng không lập hôn ước.
Những nhà lập pháp LGĐ 1959 cho rằng chế độ cộng đồng toàn sản đã được áp dụng
từ trước theo Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ và phù hợp với phong tục của
người Việt Nam. Theo đó, nội dung của chế độ tài sản pháp định được dự liệu trong
LGĐ (Điều 48) cũng giống như Dân luật Bắc kỳ (Điều 106, Điều 107) và Dân luật
Trung kỳ (Điều 105). Điều 48 LGĐ quy định khối cộng đồng tài sản của vợ chồng
(thành phần tích sản) bao gồm:
+ Tất cả của cải, động sản và bất động sản thuộc quyền sở hữu của vợ hay
chồng khi lập hôn thú (tức là tất cả các tài sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết
hôn);
- Các động sản và bất động sản của mỗi bên được hưởng do được thừa kế hoặc
tặng cho (các tài sản này thuộc kỷ phần của vợ hay của chồng trong thời kỳ hôn nhân
được nhập chung với tài sản của vợ chồng, trừ những tài sản do vợ hoặc chồng được
thừa kế hay tặng cho mà người lập di chúc hay người tặng chỉ định khác);
+ Các tài sản do hai vợ chồng có được hoặc do một bên vợ, chồng tạo ra trong
thời kỳ hôn nhân;
+ Các hoa lợi thu được từ tài sản chung của vợ chồng hoặc thu được từ tài sản
riêng của mỗi bên vợ, chồng.
Cũng như Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ, Luật Gia đình cũng dự liệu
những tài sản (động sản hoặc bất động sản) mà vợ, chồng có từ trước khi kết hôn thuộc
quyền sở hữu riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản
này, được coi là tài sản chung của vợ chồng một cách “tạm thời”; trường hợp phải
phân chia tài sản của vợ chồng thì của riêng ai lại trả cho người đó.
Theo Điều 54 Luật Gia đình thì tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu:
(thành phần tiêu sản của khối cộng đồng)
+ Nợ của vợ hay chồng đã vay từ trước khi kết hôn;
+ Những nợ của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những nợ do hành vi trái pháp luật của vợ hay chồng gây ra.
Khác với Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ, Luật Gia đình được xây dựng
theo quan niệm nhằm bảo đảm quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng (Điều 43), cả vợ
chồng đều có đủ năng lực pháp lý. Vì vậy, trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với
tài sản chung của vợ chồng, Điều 49 ấn định rằng “vợ, chồng cùng quản trị khối tài
sản cộng đồng”. Tuy nhiên, quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản này vẫn chưa
được bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội; bởi lẽ về mặt pháp lý, tại Điều 39 Luật
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
21
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
Gia đình vẫn ghi nhận: “Người chồng là trưởng gia đình và người vợ phải cùng nhau
lo sự thịnh vượng của phối hiệp phu phụ và việc nuôi dưỡng cùng giáo dục con cái”.
Mặt khác, xét về bản chất của chế độ xã hội cũng như tục lệ của xã hội phong kiến đã
không chấp nhận quyền bình đẳng giữa vợ chồng.
Về việc thanh toán hôn sản, khác với Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ
đều quy định việc thanh toán hôn sản khi vợ, chồng ly hôn và ấn định về việc cộng
đồng tài sản vẫn tiếp tục sau khi người vợ, chồng chết trước (Điều 112, 113 Dân luật
Bắc kỳ; Điều 110,111 Dân luật Trung kỳ); Luật Gia đình đã không đề cập vấn đề này.
Theo Luật Gia đình thì vấn đề thanh toán hôn sản chỉ được đặt ra khi một bên vợ hoặc
chồng chết. Cũng bởi lẽ, vấn đề ly hôn của vợ chồng không được Luật Gia đình chấp
nhận, vì thế Luật Gia đình không dự liệu việc chia tài sản của vợ chồng trong trường
hợp ly hôn. Duy nhất một ngoại lệ đã cho phép Tổng thống có quyền cho đôi vợ chồng
được ly hôn, sau khi đã hỏi ý kiến Chánh án Tóa phá án và Chánh nhất Tòa Thượng
thâm, nơi cư trú của vợ chồng và sau khi nghe Tộc trưởng hai bên cùng ý kiến, nguyện
vọng của hai vợ chồng (Điều 55). Nếu Tổng thống cho phép vợ chồng được ly hôn,
khi đó vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng mới được giải quyết. Đối với trường hợp
vợ chồng ly thân, Luật Gia đình đã dự liệu cho khối cộng đồng tài sản vẫn tiếp tục
theo Điều 66, “Bản án tuyên bố ly thân không chấm dứt chế độ cộng đồng tài sản”.
Tuy vậy, do ly thân mà vợ chồng không cùng sống chung với nhau, dẫn tới phải có sự
thay đổi về việc quản lý tài sản chung của vợ chồng, do Tòa án quyết định (Điều 66),
cũng như việc giải quyết vấn đề cấp dưỡng và nuôi con giữa hai vợ chồng.
Sắc Luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế
ngụy quyền Sài Gòn cũng ghi nhận chế độ tài sản ước định cho phép vợ chồng được tự
do ký kết hôn ước, thỏa thuận về vấn đề tài sản của họ từ trước khi kết hôn, miễn sao
không trái với thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng (Điều 49 sắc luật số 15/64;
Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 1972).
Trường hợp vợ chồng không lập hôn ước, thỏa thuận về vấn đề tài sản của họ,
Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự đã dự liệu một chế độ tài sản áp dụng cho các cặp
vợ chồng, đó là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Điều 53 sắc luật số 15/64. Điều
150 Bộ luật Dân sự). Loại chế độ tài sản này với thành phần khối tài sản cộng đồng và
quyền quản lý của vợ chồng đối với khối tài sản cộng động khác với chế độ cộng đồng
toàn sản đã được thực hiện theo Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và Luật Gia đình
trước đây.
Theo Điều 54 sắc luật số 15/64 và Điều 151 Bộ luật Dân sự năm 1972 thì khối
tài sản chung của vợ chồng (thành phần tích sản) gồm có:
+ Các động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn;
+ Các động sản của vợ hay chồng được hưởng trong thời kỳ hôn nhân do được
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
22
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
tặng cho, thừa kế;
+ Các động sản và bất động sản của vợ hay chồng có được trong thời kỳ hôn
nhân;
+ Hoa lợi thu được của tất cả các loại tài sản mà vợ, chồng có được từ trước
khi kết hôn hoặc trong thời kỷ hôn nhân.
Bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng, sắc luật số 15/64 (Điều 55) và Bộ
luật Dân sự năm 1972 (Điều 152) đã dự liệu cho mỗi bên vợ, chồng có một khối tài
sản riêng, bao gồm:
+ Những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn
(tức là các bất động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn);
+ Những bất động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân
do được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng.
Rõ ràng, theo quy định của sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự thì thành phần
khối tài sản của vợ chồng hẹp hơn nhiều so với chế độ cộng đồng toàn sản đã được áp
dụng trong Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và Luật Gia đình. Ngoài ra, sắc luật số
15/64 và Bộ luật dân sự còn ghi nhận về khối tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có). Nếu
như trong chế độ cộng đồng toàn sản mà các bộ Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và
Luật Gia đình dự liệu thì khi hôn nhân được xác lập, toàn bộ tài sản của vợ chồng có
được từ trước khi kết hôn hoặc được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, đều là tài sản
chung của vợ chồng; kỷ phần tài sản riêng của vợ, chồng chỉ được lấy về trong trường
hợp phân chia khối hôn sản; thì ngược lại, sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự đã ấn
định bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng; vợ, chồng có một khối tài sản riêng
(nếu có) tồn tại độc lập. Quy định theo chế độ cộng đồng động sản và tạo sản này của
Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự giống với chế độ tài sản của vợ và chồng mà Bộ
luật Dân sự Pháp (1804) áp dụng ở thời kỳ đầu, khi coi các bất động sản là tài sản chủ
yếu của gia đình, trước khi có sự thay đổi theo Đạo luật số 65-570 ngày 13/07/1965
(chế độ tài sản của vợ chồng theo Bộ luật Dân sự Pháp kể từ khi ban hành Đạo luật số
65-570 ngày 13/07/1965 là chế độ cộng đồng tạo sản).
Về thành phần tiêu sản (Điều 61 sắc luật số 15/64, Điều 160 Bộ luật Dân sự),
khối tài sản chung của vợ chồng phải được bảo đảm:
+ Những nợ của vợ hay chồng đã vay từ trước khi kết hôn, trừ những nợ được
bảo đảm bởi những quyền đối vật các bất động sản (theo Điều 55 sắc luật số 15/64;
Điều 52 Bộ luật Dân sự);
+ Những nợ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những nợ do hành vi phạm pháp của vợ hay chồng gây ra.
Về việc quản lý tài sản của vợ chồng khác với Luật Gia đình 1959 dự liệu vợ
và chồng đều có đủ năng lực về pháp lý; sắc luật số 15/64 (Điều 42) và Bộ luật Dân sự
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
23
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
(Điều 137) đã ghi nhận người chồng là gia trưởng và hành xử quyền gia trưởng theo
quyền lợi của gia đình và con cái. Vợ cộng tác với chồng trong việc sinh hoạt gia đình,
giáo dục và gầy dựng cho con cái. Quy định này một lần nữa đặt người vợ vào tình
trạng như là “vô năng lực”, với địa vị thấp kém so với người chồng - là người chủ gia
đình. Người vợ chỉ được hành xử nghề nghiệp riêng biệt, trừ phi chồng phản kháng
(Điều 47 Sắc luật số 15/64; Điều 142 Bộ luật Dân sự). Đối với tài sản chung của vợ
chồng, Sắc luật số 15/64 (Điều 56) và Bộ luật Dân sự (Điều 153) đã giành cho người
chồng - chủ gia đình có quyền quản lý tài sản chung như là chủ sở hữu duy nhất, trừ
trường hợp người chồng bị mất tích hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, luật định cho
người vợ thay thế chồng quản lý tài sản chung như là chủ sở hữu duy nhất, trừ trường
hợp thay thế chồng quản lý tài sản chung của gia đình. Ngoài ra, người chồng còn có
quyền quản lý tài sản riêng của người vợ. Đối với tài sản riêng của người chồng thì
người chồng có toàn quyền sở hữu với tư cách là chủ sở hữu. Vì quyền lợi của gia
đình, khi có lý do chính đáng, vợ hay chồng có quyền yêu cầu Tòa án ngăn cản người
chồng hoặc vợ rút tiền ở các chương mục do vợ, chồng mở tại ngân hàng hoặc sai áp
lương bổng và lợi tức, hoa lợi từ tài sản của chồng, vợ (như một bên vợ, chồng đã có
hành vi hoang phí, phát tán tài sản của gia đình, vô trách nhiệm đối với quyền lợi của
gia đình ...).
Về việc thanh toán hôn sản, sắc luật số 15/64 không dự liệu việc chia tài sản
chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước mà chỉ dự liệu việc chia tài sản
chung của vợ chồng khi vợ chồng ly thân hoặc ly hôn. Đối với Bộ luật Dân sự thì việc
thanh toán hôn sản được đặt ra trong cả ba trường hợp. Khi vợ, chồng chết; khi vợ
chồng ly hôn hoặc ly thân. Bởi lẽ, bên cạnh việc thừa nhận vấn đề ly thân, sắc luật số
15/64 và Bộ luật Dân sự năm 1972 đã dự liệu việc ly hôn của vợ chồng; (vấn đề ly hôn
đã bị cấm chỉ theo quy định của Luật Gia đình năm 1959). Như vậy, khi thanh toán
hôn sản cần phân biệt:
+ Nếu có hôn ước thì phải phân chia theo các điều khoản của hôn ước;
+ Nếu không có hôn ước thì chia theo nguyên tắc;
+ Tài sản của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó;
+ Tài sản của vợ chồng được chia đôi cho vợ chồng, mỗi người một nửa (Điều
94 Sắc luật số 15/64; Điều 201 Bộ luật Dân sự).
Đối với trường hợp ly hôn do lỗi của vợ, chồng thì người vợ, chồng có lỗi đó
sẽ bị mất hết những quyền lợi mà người kia dành cho hoặc do hôn ước từ khi kết hôn
(Điều 92 Sắc luật số 15/64; Điều 200 Bộ luật Dân sự). Trường hợp thanh toán hôn sản
khi vợ chồng ly thân, hậu quả của việc thanh toán tài sản của vợ chồng đặt vợ, chồng
rơi vào tình trạng biệt sản. Tuy nhiên, Sắc luật số 15/64 không dự liệu cụ thể vấn đề
này, mà chỉ quy định chung: Sự ly thân đặt vợ chồng rơi vào tình trạng tài sản riêng
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
24
SVTH: Trần Thiên Lãnh
Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Thực tiễn và hướng đề xuất
biệt. Tài sản sẽ phân chia ... (Điều 97), Ngược lại, Bộ luật Dân sự đã dự liệu khi lập
hôn ước, vợ chồng có quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản riêng của mình.
Cũng có thể chế độ biệt sản sẽ do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ,
chồng khi có lý do chính đáng (Điều 165). Ngoài ra, trường hợp vợ chồng ly thân thì
tài sản của vợ chồng sẽ được chia như khi ly hôn, tuy nhiên, ly thân không làm chấm
dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng, mà chỉ làm chấm dứt chế độ tài sản chung, việc ly
thân đương nhiên đặt vợ chồng rơi vào tình trạng biệt sản (Điều 204).
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo các văn bản pháp luật dưới chế độ
ngụy Sài Gòn ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (1954-1975) đã được nhà
làm luật dự liệu tương đối cụ thể: Vợ chồng có quyền tự do lập hôn ước, thỏa thuận về
vấn đề tài sản của vợ chồng nhằm duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân. Nếu không lập
hôn ước, chế độ tài sản cộng đồng pháp định sẽ được áp dụng cho hai vợ chồng.
Những văn bản pháp luật trên đây đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản (Luật Gia đình
1959) hoặc chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự
năm 1972) với những thành phần tài sản, phạm vi quản lý, định đoạt tài sản và việc
phân chia tài sản chung của vợ chồng, có những nội dung khác nhau. Đặc biệt, cả ba
văn bản luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình; vì vậy,
quan hệ bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng vẫn tồn tại trong pháp luật và thực tế
đời sống xã hội. Điều đó như một minh chứng thể hiện bản chất của chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến, tư sản trong xã hội duy trì đối kháng giai cấp, quyền lợi của
người phụ nữ, người vợ trong gia đình không được bảo vệ chặt chẽ. Mặt khác, những
quy định về Hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng luôn theo
khuynh hướng “dân luật hóa”, coi trọng vấn đề tiền bạc, tài sản hơn là yếu tố tình cảm
gắn bó trong quan hệ vợ chồng.
1.2.4 Chế độ tài sản chung của vợ chồng từ năm 1976 đến nay
1.2.4.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, đất nước
ta bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng
và đặc biệt là về mặt kinh tế. Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt của công dân,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông
qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03 tháng
01 năm 1987. Luật gồm 10 Chương, 57 Điều, được xây dựng và thực hiện theo các
nguyên tắc:
- Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ;
- Hôn nhân một vợ một chồng;
- Vợ chồng bình đẳng;
- Bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con;
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Trúc Giang
25
SVTH: Trần Thiên Lãnh