ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------
LÊ THỊ CẨM NHUNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ
ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Bảo
Đà Nẵng - Năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Cẩm Nhung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bq
C.ty
CP
DN
DNTN
DT
ĐVT
TNHH
KTTN
UBND
WTO
Bình quân
Công ty
Cổ phần
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh thu
Đơn vị tính
Trách nhiệm hữu hạn
Kinh tế tư nhân
Uỷ ban nhân dân
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Tran
bảng
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
2.6.
2.7.
2.8.
2.9.
2.10.
2.11.
2.12.
2.13.
Bảng số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh
Bảng tình hình nguồn nhân lực DN KTTN thành phố
Đông Hà
Bảng trình độ đào tạo của giám đốc các DN khu vực
KTTN
Bảng lợi thế về mặt bằng của cơ sở sxkd
Bảng phương tiện bảo quản, vận chuyển hàng hóa các
DN
Bảng vốn CSH bình quân 1 doanh nghiệp qua các năm
Bảng trình độ kỹ thuật của máy móc thiết bị các DN
Bảng doanh nghiệp KTTN theo loại hình doanh nghiệp
Bảng doanh nghiệp KTTN theo nghành nghệ KD
Bảng thực trạng về tham gia hiệp hội của DN năm 2015
Bảng lợi nhuận sau thuế bình quân của một DN
Bảng doanh thu bình quân của 1 DN
Bảng tiền lương 1 tháng bình quân của 1 lao động qua
các năm
g
46
49
51
52
54
54
58
58
61
62
63
66
69
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu hình
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
2.6.
2.7.
Tên hình
Biểu đồ tốc độ ph
Biểu đồ cơ cấu la
Biểu đồ tỷ lệ mứ
Biểu đổ tỷ lệ vốn
Biểu đồ cơ cấu k
Biểu đồ lợi nhuận
Biểu đồ tốc độ tă
7
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với
mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Thực hiện phát
triển kinh tế nhiều thành phần , kinh tế Nhà nước làm chủ đạo có sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng xã hội chu nghĩa. Tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế ngoài quóc doanh có cơ hội phát triển, đóng góp vào sự phát
triển chung của đất nước
Qua một thời gian thực hiện, với chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà
nước, nền kinh tế nước ta có bước phát triển vượt bậc. Thu hút rất nhiều nhà
đầu tư nước ngoài vào làm ăn, mở ra cơ hội cho nhiều doanh nghiệp trong
nước. Với chủ trương phát triển đa dạng hóa nền kinh tế và các thành phần
kinh tế, đất nước thay đổi đi lên từng ngày. Từ thành thị tới nông thôn, các
nhà máy xí nghiệp, các khu công nghiệp liên tiếp mọc ra. Các khu đô thị mới,
các công trình phúc lợi được hình thành chiếm lĩnh các vị trí trọng yếu, làm
đầu tàu cho sự phát triển kinh tế của các vùng, các địa phương.
Kinh tế phát triển, các ngành nghề phi nông nghiệp cũng phát triển theo.
Đặc biệt, các nhà máy, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là nơi thu
hút một lực lượng lớn lao động của đấ nước
Kinh tế tư nhân được xác định là một giai đoạn phát triển cao của kinh tế
hàng hóa. Chưa có một nước nào thành công trong phát triển nền kinh tế thị
trường lại thiếu khu vực kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân như là một động lực
thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế, thành phần kinh tế.
Đảng và nhà nước đã không ngừng nghiên cứu đưa ra các chủ trương, hoàn
thiện các chính sách hỗ trợ phát triển. Trong đó có chính sách đối với sự phát
8
triển của khu vực kinh tế tư nhân. Điều này mở ra cơ hội lớn cho thành phần
kinh tế tư nhân không ngừng phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của
nền kinh tế đất nước. Để có những bước phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những
chiến lược và hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển khối tư nhân, thành phố
Đông Hà cũng cần có những giải pháp thiết thực để tạo môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp này phát triển.
Trước đây khi chưa có chính sác khuyến khích sự phát triển đối với kinh
tế tư nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chỉ có loại hình
kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước tồn tại. Một lượng lớn nguồn lực đã bị lãng
phí, không được huy động vào sản xuất kinh doanh.
Từ những năm 1990 trở lại đây, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khu
vực KTTN được tạo điều kiện phát triển song hành cùng nhiều khu vực kinh
tế khác. Thực tế đã khẳng định vai trò, cũng như đóng góp lớn của KTTN vào
sự phát triển chung của cả nước, của thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị nói
riêng. Hiện nay, khi nước ta đã gia nhập WTO, hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển kinh tế đất
nước, trong đó có sự tác động tới khu vực kinh tế tư nhân
Việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng phát triển, cũng như tác động của
KTTN tới sự phát triển kinh tế là rất cần, từ đó kịp thời có các giải pháo phát
huy những mật mạnh, hạn chế những tác động tiêu cực, có các cơ chế thức
đẩy khu vực KTTN tiếp tục phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế
địa phương và cả nước. Với ý nghĩa lý luận và mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của thành phố Đông Hà nói chung và phát triển khối tư nhân trên địa bàn
thành phố nói riêng, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển kinh tế tư
nhân trên địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”
9
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân và
phát triển kinh tế tư nhân.
- Đánh giá tình hình phát triển kinh tế tư nhân, nguyên nhân của các mặt
hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển thành phần kinh tế này tại thành phố
Đông Hà trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp phát triển KTTN trên địa bàn thành phố Đông Hà
trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về phát triển kinh tế tư nhân của
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản
của phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị
thông qua các loại hình doanh nghiệp của thành phần KTTN gồm: doanh
nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần. (Kinh tế cá thể, hộ gia đình
cũng thuộc khu vực KTTN tuy nhiên do giới hạn về số liệu nên đề tài giới hạn
phạm vi nghiên cứu chỉ bao gồm 3 loại hình doanh nghiệp trên).
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung trên địa bàn thành
phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
+ Thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển KTTT giai đoạn 2011 2015. Các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong những năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp
sau:
- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp thống kê mô tả
10
- Phướng pháp phân tích so sánh
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp trong luận văn được thu thập chủ yếu từ
Niên giám thống kê thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị
Số liệu sơ cấp: Để thu thập được số liệu sơ cấp, tác giả luận văn đã thiết
kế bảng câu hỏi phục vụ điều tra khảo sát (Phụ lục). Với phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên sau khi lập ra danh sách các doanh nghiệp tư nhân có trên địa
bàn thành phố Đông Hà. Với hơn 800 doanh nghiệp khu vực tư nhân năm
2015, tác giả sẽ chọn ra các doanh nghiệp ngẫu nhiên để điều tra thu thập để
200 phiếu điều tra tức có 200 doanh nghiệp tư nhân được khảo sát. Từ những
thông tin thu được, tác giả sẽ sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, so sánh,
… để phân tích dữ liệu phục vụ bài viết luận văn.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận phát triển kinh tế tư nhân
Chương 2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Chương 3. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố
Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- MPDF, 1997: Khu vực kinh tế tư nhân mới nổi lên và sự nghiệp công
nghiệp hoá ở Việt Nam. Dựa trên đánh giá các tài liệu thứ cấp và các cuộc
phỏng vấn sâu với khoảng 50 công ty tư nhân trong mùa hè 1996, Công ty
James Riedel đi thay mặt cho chương trình phát triển dự án Mêkong (MPDF)
để soạn thảo báo cáo này. Là nơi quy tụ nhiều nhà tài trợ và do công ty tài
11
chính quốc tế quẩn lý, chướng trình phát triển dự án Mekong được ra đời
nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân ở ba nước Việt Nam, Lào và
Campuchia. Trình bày tầm quan trọng của các doanh nghiệp tư nhân vừa và
nhỏ, quy mô và cơ cấu khu vực kinh tế tư nhân mới nổi lên và sự nghiệp công
nghiệp hóa ở Việt Nam. Những vấn đề các công ty tư nhân phải đối mặt.
- TS. Trần Tiến Cường, Hà Nội 2011 “Đổi mới tư duy về vai trò, vị trí
doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta”. Đề tài nêu rõ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ở nước ta, vai trò, vị trí DNNN gắn liền với vai trò của KTNN
và phụ thuộc vào vai trò KTNN trong kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Các kỳ đại hội Đảng trước đây cũng như Đại hội XI vừa qua tiếp tục khẳng
định KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Đây là một chủ trương nhất
quán của Đảng. Điểm xuất phát và cũng là điểm tựa của việc định vị lại vai
trò, vị trí của DNNN, như trên đã nêu, đó là nhận thức mới về vai trò chủ đạo
của KTNN mà hồn cốt của nó là nhận thức đúng đắn về tính chủ đạo và đặc
điểm của tính chủ đạo của KTNN.
- TS. Đỗ Quang Vinh với đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân ở các tỉnh
miền núi Tây Bắc nước ta hiện này”, Hà Nội 2005. Trên cơ sở khái quát
những vấn đề lý luận vè KTTN và phân tích đánh giá thực trạng phát triển
khu vực KTTN ở các tỉnh miền núi Tây bác, rút ra những thành tựu, hạn chế
và nguyên nhân của chúng, từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp
cơ bản để phát triển KTTN phù hợp với đặc điểm vùng. Đề tài làm rõ những
đặc điểm chủ yếu về tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của vùng Tây bắc ảnh
hưởng đến phát triển KTTN của vùng, đề xuất những phương hướng và giải
pháp chủ yếu để phát triển KTTN phù hợp với đặc điểm của vùng.
- Nguyễn Đình Luận, phát triển & Hội nhập số 25(35) - Tháng 1112/2015: “Vai trò của kinh tế tư nhân với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”.
12
Với một nền kinh tế đa thành phần cùng tồn tại và phát triển, không còn dừng
lại ở khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế nào mà cần
nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế riêng,
dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Vì vậy, điều quan
trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần kinh tế và sử dụng
chúng một cách có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh tế quốc tế giúp
cho nền kinh tế nước nhà ngày càng vững mạnh. Vấn đề hiện nay, không còn
dừng lại ở khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế nào mà
cần nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế
riêng, dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Đề tài nêu
rõ được điều quan trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần kinh
tế và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh
tế quốc tế giúp cho nền kinh tế nước nhà ngày càng vững mạnh mẽ.
- Phạm Minh Chính – Vương Quân Hoàng : “Kinh tế Việt Nam : Thăng
trầm và đột phá”, Hà Nội 2009. Đề tài làm nổi bật được tầm quan trọng cũng
như đóng góp của kinh tế tư nhân vào nền tăng trưởng kinh tế, bên cạnh đó
còn làm rõ được thực trạng phát triển của KTTN tại Việt Nam. Cụ thể, Việt
Nam có khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa đủ mạnh. Vấn đề không chỉ phụ
thuộc vào chính phủ tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển, mà còn lệ
thuộc vào chính mong muốn và nỗ lực phát triển của các doanh nhân Việt
Nam
- TS. Vũ Tiến Lộc bài viết: “Kinh tế tư nhân phải là đầu kéo đoàn tàu của
kinh tế thị trường”, Hà Nội 2015. Quá trình phát triển số lượng doanh nghiệp
phải gắn với nâng cao chất lượng doanh nghiệp thành lập mới trong nền kinh
tế. Một trong những yêu cầu quan trọng trong thời gian tới là phải làm thế nào
13
để nâng cao được năng lực của khu vực kinh tế tư nhân để tham gia vào các
chuỗi giá trị. Giải pháp được đưa ra ở đây là cần nâng cao được chất lượng
của công tác dạy nghề, tái cấu trúc lại công tác dạy nghề, tăng cường sự đầu
tư của khu vực kinh tế tư nhân và hợp tác quốc tế để làm sao để hệ thống dạy
nghề đạt được chuẩn mực quốc tế. Thị trường là cơ chế vận hạnh của nền kinh
tế Việt Nam như con tàu cao tốc, thì đường ray chính là kinh tế thị trường,
còn đầu máy chính là kinh tế tư nhân cũng là động lực kinh tế
- GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Nguyễn Quốc Tế và TS Lương
Minh Cừ (2003), Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Sách tham khảo, NXB Tổng
hợp, TP Hồ Chí Minh. Công trình nêu lên các yếu tố khách quan của KTTN,
nhấn mạnh vai trò của Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam
-
Công trình “Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả TS. Nguyễn Minh Tuấn năm
2011, TP.Hồ Chí Minh là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển
kinh tế tư nhân. Tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển
kinh tế tư nhân ở nước ta nói chung, Tp. Hồ Chí Minh nói riêng. Công trình
đánh giá được thực trạng phát triển, cũng như tác động của kinh tế tư nhân tới
sự phát triển kinh tế và đưa ra được các giải pháp phát huy những mặt mạnh,
hạn chế những tác động tiêu cực, đưa ra các cơ chế thúc đẩy khuv ực kinh tế
tư nhân tiếp tục phát triẻn, đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế cả nước
-
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XII, 2016 - Hà Nội. Nghị quyết Đại
hội XII đã có một một bước phát triển mới về nhìn nhận vai trò của kinh tế tư
nhân và được đông đảo dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Đó là sự
xác nhận “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng ” và “ tạo mọi điều kiện
thuận lợi phát triển mạnh các doanh nghiệp trong khu vực KTTN đẻ tạo động
lực nâng cao nâng lực cạnh tranh của nền kinh tế” trong sự phát triển của đất
14
nước. Hoàn toàn có thể khẳng định rằng đó không chỉ là một sự xác nhận vai
trò mới của kinh tế tư nhân mà còn mở ra những cơ hội mới để thành phần
kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới.
-
Trong bài viết:” Giải pháp trọng yếu để kinh tế tư nhân bứt phá” của Tạp chí
tài chính – kinh tế, 2016 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư
nhân trong việc đảm bảo phúc lợi và thu nhập cho người lao động cả nước,
cũng chính là chìa khóa để mở đường dịch chuyển lên vị trí cao hơn trong
chuỗi giá tri các nước công nghiệp hóa sớm Đông Á. Bên cạnh đó, bài viết đã
thể hiện được thành phần kinh tế tư nhân được đánh giá là động lực cơ bản để
kinh tế Việt Nam bứt phá mạnh mẽ trong tương lại và có những giải pháp để
nâng cao năng lực cạnh tranh đối với thành phần kinh tế tư nhân Việt Nam.
-
Nguyễn Trần Bạt, Với cuốn sách “ Cải cách và phát triển”, 2008 đã nhấn
mạnh rằng ”Mở rộng không gian tự do cho kinh tế tư nhân là giải pháp hữu
hiệu giúp cho mỗi quốc gia không bị tụt hậu trên đường đua phát triển.” Tác
giả đã nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế tư nhân và các giá trị chân
chính của nó. Chỉ rõ rằng, kinh tế tư nhân là “ Phương tiện hiệu quả nhất để
phát triển kinh tế”, kinh tế tư nhân có sự tương thích rất cao với kinh tế thị
trường, đặc biệt là khi tính chất mở của thị trường ngày càng tăng, sự hợp tác
và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các thực thể kinh tế phải rất linh hoạt và tự chủ
trong hoạt động kinh doanh, điều này vốn là nhược điểm của kinh tế nhà
nước.
Những bài viết này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau trong phát triển
kinh tế tư nhân ở Việt nam cũng như ở tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu sâu và cập nhật về thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Quảng Trị một
cách có hệ thống cùng với những so sánh và bài học kinh nghiệm từ các khu
vực kinh tế khác vẫn luôn luôn cần thiết và mang tính thời sự đối với phát
triển kinh tế Việt Nam hiện nay.
15
16
CHƯƠNG 1
CƠ SƠ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
KTTN là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn
bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh
doanh. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ
về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương
hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước.
Khu vực kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được
tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Hiện nay ở các quốc gia có rất nhiều cách
hiểu khác nhau về kinh tế tư nhân. Ở các quốc gia phát triển thì mọi hoạt động
kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì đều được coi là khu vực
kinh tế tư nhân. Các công ty tư nhân hay các hợp tác xã, các công ty hợp danh
của một ngóm người hay các công ty cổ phần xuyên quốc gia cũng đều có
đặc điểm chung là những đơn vị sản xuất kinh doanh không phải của Nhà
nước, các quyết định hoạt động cho các doanh nghiệp luôn do cá nhân, hay
đại diện của một nhóm cá nhân đề ra. Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết
tiềm lực KTTN của một quốc gia, mà cò là cơ sở cho phương thức quản lý
thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội.
Ở Việt Nam có những cách hiểu khác nhau về phạm vi của kinh tế tư
nhân:
Cách hiểu thứ nhất: Khu vực kinh tế tư nhân gồm các DNTN trong nước
và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới dạng liên doanh hay
100% vốn nước ngoài. Các DNTN trong nước bao hàm cả hợp tác xã nông
17
nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Việc hiểu khu vực KTTN theo
nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của KTTN đối với phát
triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách
bạch phần góp vốn của Nhà nước trong các công ty cổ phần, cũng như trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, theo các phân biệt này,
việc phân tích đôi khi sẽ gặp khó khăn, bởi không phải tất cả các bộ phận
trong khu vực KTTN đều được Nhà nước đối xử như nhau. Các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung luôn nhận được những điều kiện thuận
lợi hơn các DNTN trong nước, cũng như công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ
kinh doanh cá thể.
Cách hiểu thứ hai: Khu vực KTTN cũng có thể được hiểu là khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh. Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành
ba khu vực kinh tế : Khu vực kinh tế quốc doanh, khu vưc kinh tế ngoài quốc
doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Một số chuyên gia cho
rằng việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực
KTTN trong nước sẽ không đánh giá được đúng tiềm năng, cũng như vai trò
của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt tron điều kiện
kinh tế mở, từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế hiện nay.
Cách hiểu thứ ba: Khu vực KTTN bao gồm các loại hình DNTN trong
nước, nhưng không bao hàm hộ kinh doanh cá thể. Các hiểu này bộc lộ nhiều
hạn chế. Tuy nhiên, các số liệu thống kê của Việt Nam thường theo cách phân
loại này.
Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX: Việc hiểu KTTN gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế. Trong nền
kinh tế của nước ta theo quan niệm lúc đó có 6 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà
nước; Kinh tế tập thể, Kinh tế cá thể, tiểu chủ; Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế
tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong Nghị Quyết Hội
18
nghị lần thứ năm của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ:”…
KTTN gốm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới
hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân…”.Hộ
kinh doanh cá thể là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ,
dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất. Hình thức này chủ yếu sử dụng
lao động trong gia đình, việc sử dụng lao động thuw không thường xuyên. Hộ
kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là
chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất và tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính
của mình. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN là doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Các
loại doanh nghiệp này là hình thước tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư
nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất.
Theo quan niệm của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Việc
hiểu KTTN tiếp tục gắn liền với khái niệm thành phần kinh tế. Đảng ta xác
định có 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, KTTN (cá
thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài.KTTN gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, được xác định
có vai trò quan trọng, là động lực của nền kinh tế.
Từ những ý kiến trên có thể thấy rằng, quan niệm về KTTN ở nước ta
chưa thống nhất và được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tiêu thức phân loại
chưa rõ ràng và thiếu nhất quán: Nếu lấy tiêu thức sở hữu làm cơ sở để phân
loại thì tại sao lại có sự khác biệt giữa tư nhân với cá thể. Nếu tính đến tiêu
thức có bóc lột người lao động để phân biệt giữa tư nhân và cá thể thì không ai
dám chắc các cơ sở cá thể có hàng chục lao động là không có bóc lột. Hơn nữa
trên thực tế, khó có thể xác định một cách chính xác khu vực KTTN do hiện
tượng tư nhân núp bóng quốc doanh, mượn tên quốc doanh xây dựng các sân
sau bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước, trốn tránh đăng ký kinh doanh, tư
19
nhân đội lốt tập thể dưới dạng các tổ hợp và đội lốt hộ kinh doanh gia đình....
Trên thế giới, trước khi hình thành khu vực kinh tế Nhà nước, KTTN giữ
vị trí độc tôn trên thị trường và thường đồng nhất với kinh tế thị trường.
Chính vì vậy, nói đến kinh tế thị trường bao giờ cũng nói đến KTTN và trong
các tài liệu, sách báo thường chỉ đề cập tới bản chất của KTTN đó là sở hữu
tư nhân. Khu vực kinh tế nhà nước do nhà nước sở hữu (hoặc có CP khống
chế) nên nhà nước có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Khu vực KTTN là phần còn lại, ngoài khu vực
Nhà nước. Sự phân chia như vậy chủ yếu dựa trên tiêu chí sở hữu tư liệu sản
xuất hoặc vốn. Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện nay, sự đan xen sở hữu giữa
khu vực kinh tế nhà nước và khu vực KTTN hiện nay làm cho sự phân loại
thêm phức tạp.
1.1.2. Khái niệm phát triển kinh tế tư nhân
Là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng
lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Tăng lên về số lượng nghĩa
là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp
được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng,
máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động
của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh
doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá
trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên. Thay đổi
về cơ cấu trong lao động, cơ cấu ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn...
1.1.3. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
Về hình thức sở hữu: KTTN tồn tại và phát triển dựa trên quan hệ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn cũng như tất cả của cải vật chất được tạo ra
nhờ tư liệu sản xuất và vốn ấy. Trong quá trình phát triển sản xuất xã hội, sở
hữu tư nhân đã trải qua các trình độ phát triển từ thấp đến cao. Trình độ thấp
20
là sở hữu tư nhân nhỏ, đây là sở hữu của những người lao động tự do sản xuất
ra sản phẩm từ lao động của mình và các thành viên trong gia đình là chính.
Trình độ cao là sở hữu tư nhân lớn. Tuy nó được phát triển từ sở hữu tư nhân
nhỏ, nhưng khi đã được hình thành thì nó lại là cơ sở làm nảy sinh quan hệ
kinh tế mới, đó là quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm thuê. Những trình
độ khác nhau của sở hữu tư nhân là những hình thức sở hữu đặc trưng của các
phương thức sản xuất trong lịch sử. Sở hữu tư nhân của chủ nô đặc trưng cho
phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân của địa chủ và phương
hội đặc trưng cho phương thức sản xuất phong kiến, sở hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa đặc trưng cho phương thức sản xuất TBCN.
Mặc dù sở hữu tư nhân đã tồn tại và phát triển trong các giai đoạn lịch sử
khác nhau về cả phương thức sản xuất và chế độ chính trị, nhưng chúng đều
có đặc điểm chung là tồn tại và phát triển khách quan dựa trên quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất, chứ không
phải theo ý muốn chủ quan của bất cứ một người hay một tổ chức nào.
Về hình thức tổ chức, quản lý: Trong thời kỳ kinh tế tự cung, tự cấp,
KTTN tồn tại dưới hình thức tổ chức hộ sản xuất, còn trong kinh tế thị trường,
hoạt động kinh tế của tư nhân được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau.
Dưới đây là các hình thức tổ chức, quản lý chủ yếu của KTTN trong kinh tế
thị trường:
- Doanh nghiệp một chủ: Đây là hình thức truyền thống và phổ biến của
KTTN. Nó do một cá nhân nắm quyền sở hữu. Hình thức này đặc biệt thích
hợp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ, không đòi hỏi vốn lớn và
công nghệ phức tạp. Ưu thế của loại hình doanh nghiệp này là:
Chủ doanh nghiệp được toàn quyền thu lợi nhuận tại doanh nghiệp, qua
đó kích thích người có vốn vừa và nhỏ ham muốn kinh doanh tham gia
thương trường.
21
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp thường là vô hạn gắn liền với tài
sản và uy tín, thân nhân của cá nhân người chủ, điều này làm cho doanh
nghiệp dễ hoạt động (được bạn hàng tin cậy trong làm ăn) dù số vốn đầu tư có
thể rất nhỏ.
Về tâm lý, chủ doanh nghiệp có được cảm giác hài lòng khi tự mình làm
chủ doanh nghiệp, nó kích thích người có vốn tự khẳng định mình trong hoạt
động kinh tế.
Quản lý doanh nghiệp do một người, cá nhân chủ sở hữu, trực tiếp quyết
định. Điều này làm cho doanh nghiệp có ưu thế trong xử lý các tình huống,
linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên doanh nghiệp một chủ còn
có những bất lợi như trách nhiệm pháp lý về tài chính doanh nghiệp là vô hạn
nên dễ gây tâm lý nặng nề khi chủ doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đổi mới công
nghệ thường gặp khó khăn, vì không có người chia sẻ trách nhiệm trong quản
lý nên các quyết định lớn thường có độ rủi ro cao.
- Doanh nghiệp nhiều chủ (sở hữu nhóm): Đây là doanh nghiệp mà sở hữu
gồm ít nhất là hai chủ. Họ ký kết với nhau một hợp đồng sở hữu nhóm để xác
lập doanh nghiệp. Ưu thế của loại doanh nghiệp này là huy động được nhiều
vốn ban đầu, các thành viên tích cực cao vì cùng tham gia điều hành doanh
nghiệp. Song nó cũng có những bất lợi như tất cả các thành viên đều phải chịu
trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp, tính bền vững của
doanh nghiệp không cao vì có thể xảy ra bất đồng giữa các thành viên...
- Công ty: Đây là một thực thể kinh doanh tồn tại độc lập với các chủ sở
hữu của nó. Lợi thế của hình thức này là các chủ sở hữu chỉ phải chịu trách
nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp vào công ty; công ty thường có khả năng
tồn tại và phát triển lâu dài không phụ thuộc vào những biến đổi gắn với cuộc
đời các chủ sở hữu, quyền sở hữu công ty sẵn sàng chuyển nhượng; dễ huy
động được nguồn vốn lớn thông qua phát hành các loại chứng khoán. Song nó
22
có những bất lợi như thường phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý
tài chính nên thường không có bí mật hoạt động.
Ngoài ba hình thức chủ yếu trên, KTTN còn có thể tồn tại dưới các hình
thức tổ chức, quản lý như doanh nghiệp nhóm hữu hạn (có một hoặc một
nhóm nhỏ chủ sở hữu tham gia chính cùng với một hoặc nhiều chủ sở hữu
tham gia phụ), liên doanh giữa các chủ tư nhân, uỷ quyền kinh doanh...
- Về hình thức phân phối: Trong KTTN hình thức này được thực hiện
dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đồng thời là người lao động,
không có thuê mướn nhân công, thì phân phối sản phẩm được thực hiện trực
tiếp trong nội bộ gia đình. Đối với các cơ sở tư nhân mà chủ sở hữu có sử
dụng lao động làm thuê, thì phân phối sản phẩm căn cứ vào giá trị sức lao
động của lao động làm thuê để trả công cho họ, còn phần thặng dư thuộc về
người sở hữu. Đối với các công ty tư nhân có nhiều chủ đồng sở hữu, việc
phân phối kết quả sản xuất kinh doanh được dựa trên cơ sở vốn góp của mỗi
chủ có ở trong công ty. Tất nhiên, trong các chế độ xã hội khác nhau thì cơ
chế phân phối của kinh tế tư nhân có sự khác biệt nhất định. Trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta, hình thức phân phối trong KTTN
được dựa trên nguyên tắc vốn góp và các đóng góp của tư nhân vào kết quả
hoạt động của doanh nghiệp. Nó được tồn tại và phát triển cùng với các hình
thức phân phối khác, trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu.
1.1.4. Ưu điểm và nhược điểm kinh tế tư nhân
a. Ưu điểm
Sự phát triển của KTTN góp phần huy động ngày càng nhiều các nguồn
vốn của các tầng lớp nhân dân đầu tư vào sản xuất. Vốn đầu tư của khu vực
KTTN đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương.
23
Khu vực KTTN phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tăng
thu ngân sách cho Nhà nước, mở rộng thị trường, thúc đẩy việc thu hút nguồn
vốn đầu tư nước ngoài. Để đánh giá đúng được sự phát triển của nó một tiêu
chí quan trọng không thể bỏ qua đó là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
mà kết quả cuối cùng là các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp và
tổng sản phẩm trong nước đóng góp, nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp đối
với Nhà nước. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là một chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định thường là 1 năm. Mức độ
đóng góp của khu vực KTTN xét về góc độ kinh tế được thể hiện rõ nét nhất
chính là tỷ lệ GDP của khu vực KTTN so với GDP của nền kinh tế. Giá trị sản
xuất cuối cùng được thể hiện bằng doanh thu. Một phần doanh nghiệp sẽ thu
về cho mình, tiếp tục tái đầu tư, một phần khác doanh nghiệp đóng góp cho
Nhà nước theo một tỷ lệ quy định, đó là thuế. Tỷ lệ đóng thuế cho Nhà nước
hằng năm phản ánh cụ thể con số thực chất trên góc độ tài chính mà doanh
nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Doanh nghiệp
đóng thuế càng nhiều chứng tỏ làm ăn có hiệu quả, thể hiện sự lớn mạnh và
phát triển của KTTN trên địa bàn.
Ngoài các ưu điểm qua các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp và các chỉ tiêu tài
chính ở trên sự phát triển của KTTN nói chung hay của các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế này nói riêng còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu
về giải quyết việc làm, thu hút lao động địa phương vào làm việc, vấn đề nâng
cao thu nhập cho người lao động, đóng góp xây dựng các công trình phúc lợi,
cơ sở hạ tầng cho địa phương. Góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kinh tế tư nhân cung cấp
cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu đời sống, nhu
24
cầu cho quá trình tái sản xuất cho xã hội. Suất đầu tư thấp, dễ chuyển đổi
phương hướng sản xuất cho phù hộp với nhu cầu của thị trường, quy mô phù
hợp với năng lực quản lý của các hộ gia đình.
Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân khá ổn định,tạo việc làm
và xóa đói giảm nghèo, đóng góp và huy động vón trong xã hội nộp ngân sách
nhà nước. Tất cả các yếu tố đó đều thể hiện được sự thay đổi cả về chất và
lượng, thể hiện sự phát triển thực sự của kinh tế tư nhân
b. Nhược điểm
- Hạn chế về quy mô: Khu vực KTTN đa số là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Quy mô nhỏ là cho doanh nghiệp khó tiếp cận với các nguồn vốn tín
dụng chính thống từ các tổ chức Ngân hàng.
- Hạn chế về nguồn lực:
+ Thiếu vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Sự phát triển của khu vực
KTTN đã góp phần sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư trong xã hội. Tuy nhiên
với tiềm năng phát triển của khu vực kinh tế này thì vốn là một vấn đề đang
đặt ra cho kinh tế tư nhân. Thiếu vốn thể hiện ở tình trạng quy mô nhỏ của các
cơ sở thuộc kinh tế tư nhân. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc KTTN đều có
quy mô nhỏ và vừa, bình quân vốn của mỗi doanh nghiệp đăng ký khoảng
1,2 tỷ đồng. Quy mô nhỏ tạo điều kiện cho khu vực KTTN dễ dàng thích ứng
với sự thay đổi của thị trường…Tuy nhiên, vốn ít lại chính là rào cản chính
cho doanh nghiệp khi muốn mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ.
+ Chất lượng lao động còn thấp: Làm việc trong khu vực KTTN còn
thiếu những lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu đội ngũ công nhân
lành nghề. Trình độ học vấn của lao động trong khu vực tư nhân còn thấp, đa
phần là lao động phổ thông.
+ Ý thức chấp hành pháp luật kém: Nhiều đơn vị KTTN chưa thực hiện
tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo
25
hiểm, tiền lương, tiền công, bảo hộ lao động, giờ làm việc đối với người lao
động, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về sổ sách
kế toán, hóa đơn chứng từ, báo cáo định kỳ…. Hiện tượng kinh doanh vi
phạm pháp luật, không đăng ký kinh doanh, trốn lậu thuế, gian lận thương
mại, kinh doanh trái phép vẫn còn diễn ra ở một bộ phận các cơ sở kinh tế tư
nhân.
+ Trình độ và khả năng đổi mới kỹ thuật, công nghệ thấp: Máy móc,
thiết bị công nghệ của khu vực KTTN còn lạc hậu, chắp vá và chậm đổi mới.
Nhiều cơ sở mới thành lập nhưng vẫn còn sử dụng công nghệ lạc hậu đã thải
ra từ nước ngoài.
- Thiếu vắng các cơ sở tư nhân trong các lĩnh vực quan trọng và có sự
phân bổ không đều giữa các vùng miền trong nền kinh tế. Trong những năm
gần đây sự phát triển của khu vực KTTN cũng vẫn tập trung vào lĩnh vực dịch
vụ, trong khi đó dịch vụ tập trung ở những nơi đông dân cư, chính điều này
dẫn tới sự mất cân đối giữa các vùng trong quá trình phát triển.
- Khả năng tiếp cận thị trường yếu: Khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị
trường của các DNTN Việt Nam còn thấp, đặc biệt là trong khâu tiếp thị,
quảng bá thương hiệu, hình ảnh của sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp.
1.1.5. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
Việt Nam hiện nay
+ KTTN khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn
nguyên liệu ở từng địa phương. Phát triển KTTN sẽ tạo ra nguồn đầu tư quan
trọng đóng góp vào quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc
dân.
+ KTTN phát triển sẽ tạo việc làm cho một lượng lớn lao động, bảo đảm
đời sống và do đó góp phần vào việc ổn định kinh tế- xã hội. Trong giai đoạn