Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chủ đề tiểu luận
Từ 1996, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD công bố báo cáo về một nền kinh tế
lấy tri thức làm cơ sở. Thuật ngữ: “Kinh tế tri thức” đã nhanh chóng lan rộng khắp thế giới.
Nhiều nhà khoa học, đặc biệt là các nhà kinh tế cho rằng thuật ngữ “Kinh tế tri thức” đã khái
quát hoá được đặc trưng làm nổi bật được xu thế phát triển mới nhất của nền kinh tế thế giới. Tuy
nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng kinh tế tri thức đã được dự báo từ rất sớm. Vai trò của tri thức về
kinh tế tri thức (KTTT) không phải đến nay nhân loại mới nói tới mà nó được đề cập từ thời cổ
Hy Lạp, nhà triết gia cổ Hy Lạp Zeno đã đưa ra hình ảnh “Nếu 1 khách lữ hành một ngày chỉ đi
được một ½ đoạn đường của mình hướng tới thì vĩnh viễn không sao đạt được mục đích cuối
cùng”.
Bước sang thế kỷ XXI, tri thức sẽ trở thành yếu tố có sức sống nhất, quan trọng nhất trong
các yếu tố sản xuất, là hạt nhân kết nối, tổ chức lại và thúc đẩy đổi mới các yếu tố sản xuất khác.
Do vậy, ai nắm được tri thức kẻ đó sẽ ở vào địa vị chi phối kinh tế xã hội; quốc gia nào nắm
được nhiều tri thức nhất, quốc gia đó sẽ ở vào địa vị chi phối nền kinh tế toàn cầu; khu vực nào
hội tụ được nhiều tri thức nhất, khu vực đó sẽ trở thành trung tâm của nền kinh tế thế giới.
Tiền đồ sáng lạn của kinh tế tri thức đã làm cho người ta phải hướng tới nó, rất nhiều nước
đang nghiên cứu các biện pháp thích ứng, tranh thủ giành địa vị chủ đạo trong cạnh tranh quốc tế
ở thời đại kinh tế tri thức. Với ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn chủ đề:
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu của tiểu luận
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong tiểu luận là phương pháp lịch sử, phương pháp
lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó. Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh,… để làm rõ nội dung tiểu luận đề cập.
4. Giá trị, ý nghĩa của tiểu luận:
NỘI DUNG
1. Sự cần thiết phải phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam ta hiện nay
Thứ nhất, phát triển kinh tế tri thức là bước đi tất yếu của nền kinh tế thế giới trong thế
kỷ 21.
Xã hội loài người đã trải qua ba nấc thang kinh tế chủ yếu: Kinh tế nông nghiệp với trình độ
sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp, sức lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu và nông
nghiệp đóng vai trò nền tảng xã hội. Kinh tế công nghiệp đạt trình độ sản xuất cao hơn, máy móc
trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu và các ngành công nghiệp là nền tảng của xã hội. Một số nhà
1
khoa học cho rằng sau khi thực hiện thành công công nghiệp hoá, các nước phát triển đã chuyển
sang nền kinh tế phân phối với sự phát triển mạnh mẽ của giao thông vận tải và các loại hình dịch
vụ làm gia tăng giá trị sản phẩm. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, sự phát triển như vũ bão
của công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin học, vi điện tử và sinh học đã tạo ra những tiến bộ
thần kỳ trong kinh tế và sẽ tiếp tục cung cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong vòng
hai hoặc ba mươi năm tới. Sự phát triển không ngừng có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất, trong
đó tri thức đóng vai trò như lực lượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự hình thành một nền kinh tế
mới, nền kinh tế tri thức.
Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít.
Kinh tế nông nghiệp, khởi đầu cách đây khoảng mười ngàn năm phải dựa nhiều vào hiểu biết về
canh tác, chăn nuôi, thời tiết… tức là tri thức cơ bản về nông nghiệp, nhưng lúc đó đất đai, lao
động thủ công lại quan trọng hơn, nên tri thức chỉ đóng vai trò thứ yếu.
Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh, dựa
vào các tri thức cơ học cổ điển để chế tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất. Nhưng để hình thành
được thị trường hàng hóa của kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan trọng
hơn nên tri thức cổ điển cũng đóng vai trò thứ yếu.
Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt đầu
suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh huỷ diệt đe
dọa thường xuyên… Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại xuất hiện
và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và vô cùng phong phú về thế
giới vật chất vĩ mô và vi mô. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực chủ yếu
là tri thức tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện
tử (máy điện toán) mô phỏng não người. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới đã thúc
đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX. Trong kinh tế tri thức, thì sản xuất
chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là động vật duy nhất có
năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức
là chính. Bởi vậy, phát triển kinh tế tri thức là tất yếu của lịch sử phát triển sản xuất xã hội loài
người.
Hai là, phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để nước ta rút ngắn quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu
vực.
Như đã biết, Việt Nam hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, nông dân vẫn là lực
lượng đông đảo trong xã hội; nông dân còn nhiều khó khăn, nhiều nơi chưa thoát khỏi đói nghèo,
2
lao động thủ công còn là phổ biến ở vùng sâu, vùng xa; năng suất lao động trong toàn xã hội còn
rất thấp. Vì thế khả năng tụt hậu xa hơn về kinh tế của nước ta với nhiều nước trong khu vực và thế
giới là một nguy cơ rất lớn.
Để khắc phục nguy cơ đó, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng ta không còn con đường
nào khác hiệu quả hơn là phát triển kinh tế tri thức. Vì vậy, gắn việc đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức không chỉ là cơ hội để nước ta khắc phục nguy cơ tụt hậu
mà còn là phương cách tốt nhất để Việt Nam bắt kịp xu thế của thời đại, đi tắt, đón đầu và “tăng
tốc” để theo kịp các nước tiên tiến.
Ba là, do yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế có hiệu quả.
Theo tư duy mới của Đảng ta, nền kinh tế độc lập tự chủ là độc lập tự chủ về đường lối chính
trị, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không lệ thuộc vào sức ép từ bên ngoài; có tiềm lực kinh tế đủ
mạnh đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, đồng thời có tích luỹ ngày càng cao; có cơ cấu
kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cao, có khả năng ứng phó hiệu quả với những tác động bất lợi từ bên
ngoài; giữ vững được ổn định kinh tế - tài chính, bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng và
môi trường.
Tất cả những thuộc tính của một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế mà chúng ta xây dựng chỉ có thể trở thành hiện thực khi chúng đẩy mạnh quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá gắn chặt với phát triển kinh tế tri thức. Bởi lẽ, chỉ có gắn hai quá trình đó thì
chúng ta mới có thể từng bước tạo dựng được các yếu tố trên đây của một nền kinh tế độc lập tự
chủ và cũng mới có được vị thế đủ mạnh để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Bốn là, do yêu cầu xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
Bước sang thế kỷ 21, các nước tư bản đứng đầu là Mỹ vẫn đang nắm những ưu thế về vốn,
khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực trình độ cao, cho nên có điều kiện để phát triển kinh tế, lợi
dụng toàn cầu hoá kinh tế để thao túng các dân tộc đang phát triển, tìm mọi cách thực hiện toàn cầu
hoá chính trị, văn hoá và xã hội, đẩy các nước, các dân tộc vào vòng xoáy của chủ nghĩa tư bản.
Mặt khác, chúng lợi dụng những thành quả của khoa học - công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức
để tiếp tục củng cố vị trí siêu cường, áp đặt sự thống trị lên toàn cầu. Sử dụng con bài kinh tế (hợp
tác, trao đổi thương mại, vốn, công nghệ…) để tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hoà bình
nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam được coi là một trọng điểm. Đặc biệt,
trong tương lai để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, không loại trừ địch có thể sử dụng chiến
tranh công nghệ cao.
Vì vậy, để có đủ sức đánh thắng địch trong mọi tình huống dưới mọi mô thức chiến tranh,
Việt Nam cần phải tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri
3
thức. Chỉ có như vậy, chúng ta mới vừa tạo được vị thế bình đẳng, cùng có lợi trong hợp tác kinh tế
quốc tế; vừa tạo điều kiện để phát triển công nghiệp quốc phòng nhằm trang bị vũ khí, trang bị tiên
tiến, nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh.
2 Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt nam
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo chiều hướng tiến bộ tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế tri thức.
Liên tục trong nhiều năm Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, trung bình đạt
khoảng hơn 7,5% hàng năm trong giai đoạn Giai đoạn 1990 - 2010. Nước ta đã ra khỏi tình trạng
kém phát triển, bước vào Nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình và hoàn thành
nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân
5 năm (2011 - 2015) đạt 5,82%/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP
năm 2015 đạt khoảng 204 tỉ USD, bình quân đầu người khoảng 2.200 USD. Sản xuất công nghiệp
từng bước phục hồi; chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2014 - 2015 tăng trên 7,5%; tỉ trọng công
nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng mạnh. Khu vực nông nghiệp phát triển ổn
định, giá trị sản xuất tăng bình quân 3,9%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 42% vào năm 2015.
Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, đạt bình quân 6,5%/năm. Chất lượng tăng trưởng nhiều
mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ tăng; năng suất lao động tăng bình quân
3,8%/năm; vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hơn…
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đã có sự
chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao, trong đó có những lĩnh vực
dựa nhiều vào tri thức ngày càng tăng. Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều
đặn và tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên tương ứng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP từ 41% năm
2005 tăng lên 41,1% năm 2010; khu vực dịch vụ từ 38% năm 2005 tăng lên 38,5% năm 2010;
tương tự, khu vực nông nghiệp từ 21% giảm xuống còn 20,6%. Năm 2015 tỉ trọng công nghiệp và
dịch vụ trong GDP tăng, đạt trên 83%, tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội
giảm, còn khoảng 46,5%. Một số lĩnh vực công nghệ trụ cột của kinh tế tri thức như công nghiệp
thông tin, công nghiệp công nghệ cao, các lĩnh vực dịch vụ dựa vào sử lý thông tin, tài chính ngân
hàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ đã dần dần hình thành và có bước phát
triển đáng kể. Những lĩnh vực được chờ đợi này dần trở thành đầu tàu thúc đẩy đổi mới và phát
triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, xây dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
kinh tế tri thức.
4
Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Đã ban hành và triển khai thực hiện Hiến
pháp năm 2013. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định cụ thể hơn,
từng bước thực thi có hiệu quả và tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Các yếu tố thị trường và
các loại thị trường được hình thành và vận hành khá đồng bộ, gắn kết hiệu quả hơn với thị trường
ngoài nước. Giá hàng hoá, dịch vụ đã cơ bản theo nguyên tắc thị trường. Thực hiện giá thị trường
theo lộ trình đối với xăng dầu, than, điện, nước, dịch vụ giáo dục, y tế... gắn với hỗ trợ các đối
tượng chính sách, hộ nghèo, vùng khó khăn.
Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, cạnh tranh minh bạch, bình đẳng hơn giữa các
thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng ngày càng
hiệu quả các nguồn lực trong, ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội. Ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý nhà nước được tăng cường. Năng lực cạnh tranh có bước được nâng lên.
Vai trò kinh tế ngoài nhà nước (không kể đầu tư nước ngoài) ngày càng được phát huy, đóng góp
39% tổng đầu tư toàn xã hội và khoảng 50% GDP.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích
cực góp phần tạo nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức
Hệ thống thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công
nghệ tiếp tục được hoàn thiện. Mạng lưới giáo dục, đào tạo được mở rộng, quy mô và chất lượng
được nâng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo, thi
cử và kiểm định chất lượng có đổi mới. Cơ cấu đào tạo hợp lý hơn. Tập trung đầu tư cơ sở vật chất
và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo. Chú trọng giáo dục, đào tạo
vùng khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý có bước phát triển.
Xã hội hoá giáo dục, đào tạo được đẩy mạnh. Tỉ lệ nhập học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở
đạt mức cao. Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 50% vào năm 2015. Dạy nghề cho lao động
nông thôn được quan tâm.
Tiềm lực khoa học, công nghệ được tăng cường. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa
học, công nghệ tăng bình quân 16,5%/năm, đạt khoảng 2% tổng chi ngân sách nhà nước. Đầu tư xã
hội cho khoa học, công nghệ tăng nhanh, ước đạt 1,3% GDP vào năm 2015. Khoa học cơ bản đã có
bước phát triển. Ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh
vực nông nghiệp, xây dựng, y tế, thông tin truyền thông... Các quỹ về khoa học và công nghệ được
thành lập, bước đầu đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả. Phát triển thị trường khoa học, công
nghệ, tăng cường hoạt động kết nối cung - cầu, giá trị giao dịch công nghệ tăng bình quân
13,5%/năm. Hình thành một số mô hình gắn kết hiệu quả giữa viện, trường với doanh nghiệp trong
hoạt động khoa học, công nghệ.
Thứ tư, từng bước hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho phát triển kinh tế
5
tri thức.
Mạng thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất của xã hội và kinh tế tri thức.
Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thực hiện Chương trình quốc gia về công nghệ
thông tin từ năm 1995 và chiến lược đẩy mạnh phát triển lĩnh vực viễn thông, m¹ng th«ng tin ở
nước ta đã được mở rộng và phát triển nhanh chóng, viễn thông được đánh giá là một trong những
lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của nền kinh tế nước ta. Hiện nay, mạng lưới thông tin của
nền kinh tế đã được tự động hoá hoàn toàn, với 100% các hệ thống chuyển mạch số và truyền dẫn
số trải rộng trên toàn quốc và kết nối với quốc tế.
Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã được tạo lập và mở rộng để đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý nhà nước, giáo dục,
y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp...
Thực tiễn, chúng ta đã có những nhân tố mới, mô hình mới phát triển dựa vào tri thức: Tổng
Công ty bưu chính viễn thông; những cánh đồng 600 triệu ở xã Đoàn Thượng, Gia Lộc, Hải
Dương; Công ty hoa HASFARM và các cơ sở khác ở Đà Lạt; ứng dụng công nghệ mới trong ngành
thủy sản, công nghiệp đóng tàu biển; ở Viện máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI); ở một số trường
đại học lớn, ở Công ty Phát triển Phụ gia và sản phẩm dầu mỏ (APP), ở công ty cổ phần
TRAPHACO...
2.2. Những hạn chế, yếu kém
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện nhiều làm hạn chế đến
tạo nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, năng
lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch
về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng
lực quản lý điều hành của bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kể chi phí giao
dịch và chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh. Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện
còn chậm; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp
(TFP) vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh quốc
gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường và thể chế thị trường còn yếu, chưa đồng bộ nên còn gây
khó khăn cho phát triển kinh tế tri thức.
Thể chế kinh tế thị trường chưa thật đồng bộ, thông suốt; chưa thực sự là động lực tạo đột
phá để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng
lực cạnh tranh và cải thiện môi trường kinh doanh.
6
Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế. Cải cách hành chính và năng lực tạo dựng thể chế để bảo đảm cho doanh nghiệp, người
dân tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng trong kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế.
Hệ thống kinh tế thị trường ở nước ta, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa theo kịp diễn biến
thực tế của hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, không minh
bạch và nhất là năng lực thực thi pháp luật yếu. Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ vào khoảng 0,2 - 0,3 doanh thu (Ấn Độ 5%, Hàn Quốc 10%). Tỷ lệ đổi mới
máy móc thiết bị của Việt Nam chỉ đạt 8 -10%, còn các nước trong khu vực là 15 - 20%.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế tri thức còn chậm.
Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm;
thiếu lao động chất lượng cao. Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông, chưa thật hợp lý và
thiếu đồng bộ. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khắc phục còn
chậm. Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.
Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng
lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có giải pháp đủ mạnh để khuyến khích
doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Thị trường khoa học, công nghệ phát triển còn chậm. Năng lực đội ngũ khoa học, công nghệ còn
hạn chế, thiếu các nhà khoa học đầu ngành. Số lượng sáng chế, bài báo công bố quốc tế còn ít.
Thứ tư, các lĩnh vực biểu hiện của kinh tế tri thức chưa phát triển.
Các ngành mới đại diện cho kinh tế tri thức, hay còn gọi là các ngành công nghệ cao chưa
được hình thành hoặc mới ở trình độ rất sơ khai. Số doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm, đầu tư cho
nghiên cứu vµ phát triển (R&D) nhằm tạo ra công nghệ mới không đáng kể. Tri thức chưa thực sự
trở thành vốn quí, ý thức xã hội và thể chế pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ còn kém, những người
có khả năng tạo ra tri thức chưa hình thành được thói quen đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho
sản phẩm khoa học và công nghệ của mình. Với thực trạng yếu kém như vậy sẽ gây khó khăn cho
hình thành ở Việt Nam một xã hội học tập, ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống xã hội còn
hạn chế. Nền giáo dục của nước ta đang chứa đựng nhiều bức xúc, công tác xã hội hoá giáo dục
còn diễn ra chậm. Với thực trạng yếu kém như vậy sẽ gây khó khăn cho hình thành ở Việt Nam
một xã hội học tập, một đội ngũ đông đảo các nhà trí thức.
Việt Nam vẫn thuộc những nước nghèo nhất thế giới, GDP bình quân của Việt Nam mới
bằng 1/14 Malaysia, 1/30 Hàn Quốc, tại sao như vậy? Tại sao cái tiềm năng ấy chưa được phát huy,
điều gì ngăn trở giải phóng cái tiềm năng ấy? Giải đáp nghịch lý này chỉ có một cách trả lời: Vì cơ
7
chế quản lý chưa thuận; vì trí tuệ cộng đồng chưa cao; vì cái phần mềm hệ thống còn nhiều trục
trặc; vì trí tuệ và tài năng đang bị vướng mắc bởi một cơ chế tự thân mâu thuẫn, thiếu nhất quán.
Do đó vấn đề cốt tử là tập trung trí tuệ cải cách quản lý, xây dựng một môi trường kinh tế - xã hội
lành mạnh và thoáng đãng, khuyến khích mọi sáng tạo, phát huy mọi tài năng, đồng thời hạn chế,
loại trừ những yếu tố và xu hướng tiêu cực.
3. Giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam đến năm 2020
Một là, soát xét, bổ sung chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tri thức.
Phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển nhanh
chóng của khoa học - công nghệ hiện đại tác động rất lớn đến nước ta. Bên cạnh những thời cơ,
thuận lợi, nước ta đang đứng trước những thách thức lớn. Nhưng chỉ có phát triển kinh tế tri thức,
chúng ta mới thực hiện được sự phát triển rút ngắn, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với các nước trong khu vực và thế giới. Một trong những khâu đột phá của Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011 - 2020 là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó
ngoài những vấn đề chung, chúng ta cần tiếp tục rà soát, bổ sung hoàn thiện luật pháp, các chủ
trương, chính sách nhất là luật pháp, chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế tri thức
như Luật sở hữu Trí tuệ; các chính sách về liên quan đến thị trường khoa học - công nghệ, đến
chuyển giao tri thức. Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách kinh tế năng động, rộng
mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả những tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác
động cho nở rộ doanh nghiệp mới làm ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần tăng sức cạnh tranh. Bên
cạnh đó, Việt Nam phải xây dựng được chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế tri thức
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta, vừa bắt kịp và tiến kịp xu thế phát triển chung của nhân
loại. Vấn đề cốt lõi là đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Phải thực sự coi giáo dục đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Hai là, tập trung sức tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện nhiệm vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, với trọng tâm phát triển theo chiều sâu,
ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả những thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong
nông nghiệp.
Quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có tầm quan trọng hàng đầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều đó xuất phát từ vai trò to lớn của nông nghiệp, nông thôn
và giai cấp nông dân. Trong cuộc cách trước đây, vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta rất quan
tâm thì ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
càng phải đặc biệt quan tâm.
Hơn nữa, thách thức lớn nhất đối với nước ta hiện nay là trình độ chung về hiện đại hoá
8
nông nghiệp còn thấp, thiếu công nghệ hiện đại, năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp tương
đối thấp, sức cạnh tranh kém. Khi gia nhập AFTA, WTO và thời gian sắp tới là Hiệp định đối tác
xuyên Thái Bình Dương TPP có hiệu lực, nền nông nghiệp nước ta phải đương đầu với cạnh tranh
quốc tế rất gay gắt; nông nghiệp, nông dân là những người bị ảnh hưởng trước nhất.
Vì vậy, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, nông nghiệp phải gắn kết với phát triển ứng
dụng tri thức sáng tạo mới, cụ thể là: Phải chuyển giao tri thức về công nghệ sinh học, tri thức về
giống cây, con chất lượng và năng suất cao, về canh tác và chăn nuôi hiện đại cho nông dân. Đồng
thời, phải cung cấp tri thức về tổ chức sản xuất gắn với thị trường và xây dựng nông thôn mới; đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong mọi hoạt động hiện đại hóa nông nghiệp.
Khoa học sinh học, khoa học công trình cơ điện nông nghiệp, khoa học kinh tế và quản lý
nông nghiệp là những bộ phận chủ yếu của hệ thống khoa học kỹ thuật nông nghiệp hiện đại, trợ
giúp đắc lực cho việc xây dựng hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại theo hướng kinh tế tri thức.
Trang bị kỹ thuật cho nông nghiệp tập trung vào ứng dụng các thành tựu tiên tiến thuộc các lĩnh
vực cơ khí, thuỷ lợi, vật liệu mới, điện tử, điều khiển tự động... trong tất cả các khâu sản xuất. Sản
xuất nông nghiệp trong nhà kính, nhà lưới, trong các trang trại đều dựa vào công nghệ sinh học,
công nghệ điều khiển. Các nhà máy chế biến nông - lâm sản, hệ thống kho tàng bảo quản đều được
vận hành qua mạng.
Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia
tăng này càng cao, gắn với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường. Thực hiện cơ khí hóa,
điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản
xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa
phương. Giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ. Khuyến khích dồn điền, đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất. Phát triển trồng
trọt, chăn nuôi tập trung, khu nông nghiệp công nghệ cao.
Tiếp tục thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng; giao đất, giao rừng cho nông dân,
cải thiện đời sống người làm nghề rừng, bảo đảm nguyên liệu cho chế biến sản phẩm tiêu dùng và
xuất khẩu.
Phát triển đồng bộ và hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
Làm tốt khâu giống, xử lý môi trường, mở rộng thị trường, phát triển các hiệp hội.
Nhà nước tác động đối với nông nghiệp và kinh tế nông thôn bằng cách tăng đầu tư vốn xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ; khuyến nông,
khuyến ngư, khuyến lâm, bảo vệ động thực vật và dịch vụ kỹ thuật.
Giải quyết tốt các vấn đề xây dựng qui hoạch phát triển nông thôn, đô thị hóa nông thôn, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, dân chủ hoá và xây dựng nếp sống nông thôn, làng, xã, ấp,
9
bản văn minh.
Giải quyết tốt vấn đề giảm nghèo, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng
đồng bào dân tộc. Giải quyết việc làm cho nông dân, chú trọng dạy nghề, đầu tư mạnh cho chương
trình xóa nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ba là, định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu là chủ đạo.
Phát triển công nghiệp theo chiều sâu làm chủ đạo nhưng trong giai đoạn trước mắt phải phát
triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Trong công nghiệp và xây dựng thì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa sẽ gắn kết thuận lợi với phát triển kinh tế tri thức. Vì công nghiệp trong điều kiện
kinh tế thị trường rất hiện đại dựa chủ yếu vào các công nghệ cao. Việc tiếp thu nắm vững công
nghệ cao trong công nghiệp và xây dựng sẽ là điểm tựa để Việt Nam có thể sáng tạo thêm nhiều tri
thức mới trong lĩnh vực này.
Phải xây dựng được cơ cấu công nghiệp có hiệu quả kết hợp giải quyết những nhiệm vụ
trước mắt với yêu cầu phát triển lâu dài. Định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu là chủ
đạo; một số ngành sản xuất sản phẩm có hàm lượng tri thức thấp vẫn được tiếp tục phát triển nhưng
với trình độ trang bị công nghệ cao hơn để tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Xây dựng kết cấu hạ tầng thích hợp cả về kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội.
Phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác, công nghệ phần mềm... Phát triển
khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất. Khuyến
khích mọi thành phần kinh tế tham gia công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, sản xuất
tư liệu sản xuất quan trọng, hiện đại. Thu hút vốn trong, ngoài nước và các chuyên gia giỏi cho các
dự án công nghiệp quan trọng.
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật. Phát triển kinh tế tri thức tất yếu đòi hỏi phải
xây dựng kết cấu hạ tầng thích hợp. Đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cần hết
sức chú trọng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trước hết là giáo dục, khoa học và tư vấn.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ như thương mại, du lịch, bưu chính,
viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn và áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào
các lĩnh vực này.
Dịch vụ là một lĩnh vực rộng lớn của kinh tế tri thức, có khi chiếm đến trên 70% GDP, bởi
vậy gắn kết với phát triển kinh tế tri thức sẽ có điều kiện thuận lợi đẩy mạnh hiện đại hóa nhanh
dịch vụ ở nước ta. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ như thương mại, du lịch, bưu chính
viễn thông, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn y tế, giáo dục, pháp luật... bắt buộc phải nhanh
chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thông toàn cầu... Thông
qua quá trình xã hội hóa, nới lỏng các điều kiện cho phép các nhà đầu tư tư nhân hoạt động trong
các lĩnh vực này và áp dụng khoa học - công nghệ hiện đại trong các ngành dịch vụ.
10
Nm l, to lp nn múng vng chc cho phỏt trin nhng ngnh cụng ngh cao trong tng
lai.
Cac loai cụng nghờ nh cụng nghờ thụng tin, cụng nghờ sinh hoc, cụng nghờ võt liờu mi, cụng
nghờ nng lng mi la nhng tru cụt cua kinh tờ tri thc, vi võy cõn phai c biờt chu trong phat triờn ờ
tao nờn tang cho kinh tờ tri thc. Tich cc xõy dng kờt cõu ha tõng cụng nghờ thụng tin va truyờn thụng,
õy manh ng dung va phat triờn nganh cụng nghờ cao dn õu nay. Tao iờu kiờn thuõn li cho viờc
anh gia, phụ biờn va sang tao tri thc.
Ngay nay, nhiờu cụng nghờ mi ra i, trong o cụng nghờ thụng tin phat triờn rõt nhanh, a
va se tiờp tuc gi vai tro tụng hp trong s tac ụng cua con ngi ụi vi qua trinh san xuõt va cac
hoat ụng khac; ụng thi no cng ong vai tro chuyờn ụi t kinh tờ cụng nghiờp sang kinh tờ da
vao tri thc. Nờn kinh tờ da vao tri thc ờn lt no lai m ng cho cac nờn kinh tờ ang phat
triờn nh Viờt Nam tiờp nhõn cụng nghờ mi, nhõt la cụng nghờ thụng tin ờ c cõu lai nờn kinh tờ;
coi phat triờn cụng nghờ thụng tin la hng u tiờn hang õu ờ hụi nhõp kinh tờ quục tờ, thụng qua
cac hoat ụng tiờp nhõn chuyờn giao k thuõt, cụng nghờ, vụn va tri thc kinh doanh, kinh nghiờm
quan ly tiờn tiờn thc hiờn chiờn lc phat triờn rut ngn.
Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng
cao dựa nhiều vào tri thức (sử dụng tri thức của ngời Việt Nam và của nhân
loại). Võn ờ quan trong hang õu la, chung ta phai chu ụng phat huy nng lc sang tao tri thc
trong nc, ụng thi phai biờt tranh thu c hụi tiờp thu tri thc cua thờ gii toan cõu hoa.
Trong iờu kiờn cha co u nguụn lc ờ phat triờn kinh tờ tri thc lờn ngay trinh ụ cao,
chung ta phai coi trong chu ụng hụi nhõp kinh tờ quục tờ nhm õy manh hp tac vờ cụng nghờ
cao trong nhiờu linh vc, trờn c s cung co li. Qua hụi nhõp va hp tac cung vi viờc gi ngi
i hoc nõng cao trinh ụ nc ngoai, cac chuyờn gia Viờt Nam tng bc trng thanh, co thờ
chu ụng trong ng dung cac cụng nghờ cao va tiờn ti sang tao tri thc mi rõt cõn thiờt cho cụng
nghiờp hoa, hiờn ai hoa trinh ụ cao. Thc tiờn cho thõy trong cụng nghiờp iờn t, thiờt lõp
mang viờn thụng quục gia, cụng nghiờp chờ biờn nụng san phõm va trong chờ tao trang thiờt bi c iờn t... Viờt Nam a at kờt qua tụt va co tiờn nhanh rừ rờt.
Sỏu l, phỏt trin ngun nhõn lc, o to ngun nhõn lc ti nng sỏng to, bit phi hp v
chia s ng dng nhng thụng tin, tri thc thnh sn phm cú sc cnh tranh cao.
Phat triờn kinh tờ tri thc, suy cho cung con ngi la nhõn tụ gi vai tro quyờt inh. Vi võy,
Cng linh 2011 khng inh: Con ngi la trung tõm cua chiờn lc phat triờn, ụng thi la chu
thờ phat triờn. Theo o, Chiờn lc phat triờn kinh tờ - xa hụi 2011 - 2020 rõt coi trong phat huy
nhõn tụ con ngi: M rụng dõn chu, phat huy tụi a nhõn tụ con ngi; coi con ngi la chu thờ,
nguụn lc chu yờu va la muc tiờu cua s phat triờn. Va ờ phat huy õy u, at hiờu qua cao nhõt vai
11
trò của nhân tố con người, các nghị quyết của Đảng đều khẳng định: “Giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”. Phát huy nhân tố con người mà trước hết là lực lượng lao động cán bộ khoa học công nghệ, khoa học quản lý và công nhân lành nghề rất quan trọng. Vì đó là lực lượng tiếp nhận
sử dụng công nghệ mới; trực tiếp nghiên cứu cải tiến, phát minh, quản lý nền sản xuất lớn; trực tiếp
khai thác, sử dụng có hiệu quả kỹ thuật công nghệ cao.
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao tập trung vào đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học - công nghệ là một trong 3 khâu đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020.
Phương hướng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta theo yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là: Coi trọng nguồn nhân lực, đặt con người vào vị
trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế. Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo
yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng mô hình
giáo dục mở, mô hình xã hội học tập. Có chiến lược, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực bảo đảm số
lượng, chất lương, cơ cấu nguồn nhân lực. Trong phát triển nguồn nhân lực đặc biệt xây dựng giai
cấp công nhân Việt Nam là nhiệm vụ trung tâm, phát triển đội ngũ trí thức. Đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
Kết luận
Để chớp thời cơ do thời đại kinh tế tri thức mang đến, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về nó để
đề ra chính sách thích hợp. Kinh nghiệm các nước cho thấy chúng ta trước hết phải biết cách phát
triển giáo dục, nâng cao dân trí, rút ngắn khoảng cách về tri thức với các nước phát triển. phải biết
cách phát triển khoa học công nghệ, tìm cách đi thẳng vào công nghệ mới nhất, phát triển mạnh
loại công nghệ mà con người Việt Nam có nhiều khả năng nhất như công nghệ tin học, đặc biệt chú
trong phát triển phần mềm, tham gia xuất khẩu phần mềm; phải xã hội hoá, thị trường hoá hoạt
động nghiên cứu triển khai, biến các công ty xí nghiệp thành các chủ thể nghiên cứu triển khai.
phải có một hệ thống chính sách và biện pháp tổ chức đủ sức kích thích cao độ tính tích cực sáng
tạo cái mới của mọi người. Nghĩa là phải tìm ra phương thức đi tắt, đón đầu phù hợp để rút nhanh
khoảng cách, đón bắt được mọi thời cơ của thời đại kinh tế tri thức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tập bài giảng Kinh tế chính trị
12
2. Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến XII và một số Nghị quyết chuyên đề
như Nghị quyết TW 2 Khóa VIII, TW 5, TW 6, TW 9 Khóa IX.
3. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011 - 2020 (Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thư IX, XI, Nxb
CTQG, H, 2001, 2011).
1. Tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới số 3 (65) 2000.
13