Truyện Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền
văn học phong kiến Việt Nam. Ðây là một loại hình tự sự có khả năng
phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng thông qua trình bày,
miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách nhân vật bằng một
cốt truyện với hệ thống biến cố, sự kiện. Truyện Nôm đã ghi dấu trên thi
đàn văn học Việt Nam với tên tuổi của nhiều tác gia, tác phẩm lớn thuộc
cả hai nhóm tác phẩm truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học. Chủ
đề nổi bật nhất của truyện Nôm là vấn đề con người đặc biệt là thân phận
người phụ nữ.
Truyện Nôm là hiện tượng văn học khá phức tạp từ quá trình hình
thành và phát triển, đặc điểm thể loại đến phương thức lưu hành.Với
truyện Nôm bác học ta không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của nó
về cả nội dung và hình thức biểu hiện.Ta cũng không thể không kể đến
thành tựu đặc sắc của nó ở các tác phẩm: “Đoạn trường tân thanh” của
Nguyễn Du, “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái, “Hoa Tiên” của Nguyễn
Huy Tự, “Song Tinh Bất Dạ” của Nguyễn Hữu Hào,…Ở nhóm truyện
này, chủ đề chính là câu chuyện tình yêu của các tài tử giai nhân. Các tác
giả khẳng định về một tình yêu thật sự không trên cơ sở sắp đặt, bắt
nguồn từ những giao cảm, rung động của con tim. Đáng chú ý nhất là
nhân vật Thúy Kiều trong tương quan với các nhân vật nữ của nhóm
truyện tài tử giai nhân kể trên. Trong so sánh đó các nhân vật hiện lên rõ
nét ở những tương đồng và khác biệt. Song có cùng dòng lịch sử cuối thế
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã chi phối khá rõ nét cách nhìn nhận đánh giá
nhân vật của các tác giả.
Các nhân vật tài tử Thúy Kiều, Dương Dao Tiên, Trần Kiều Liên, Nhụy
Châu, Quỳnh Thư trước hết đều là những tiểu thư lá ngọc cành vàng, xuất
thân trong những gia đình gia giáo, tuổi thanh xuân với cuộc sống “êm
đềm trướng rủ màn che – tường đông ong bướm đi về mặc ai” (Thúy
Kiều). Họ đều là con của các vị quan lại như Dao Tiên là con của Dương
Tướng Công, Trần Kiều Liên là con quan họ trần, Nhụy Châu là con quan
Ngự sử Giang Chương. Chính vì vậy cái nôi gia đình nề nếp gia phong,
được giáo dục tử tế là nhân tố cơ bản bồi dưỡng phẩm chất sau này cho
các nhân vật.
Hơn nữa họ còn được xây dựng là những người phụ nữ xinh đep, có
tâm hồn đa cảm, và giàu tài năng. Ta hãy xem tác giả Phan Trần miêu tả
vẻ đẹp nàng Trần Kiều Liên:
“Một nàng tiên nữ xinh sao!
Mày nghiêng bán nguyệt, miệng chào trăm hoa
Mỉa chiều cung quế Hằng Nga”
Để làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều Liên tác giả chú ý đến gương mặt thanh
thoát, nét ngài cong cùng nụ cười tưa hoa. Đó là vẻ đẹp trong sáng, thuần
khiết và thanh cao. Hơn nữa người con gái của cung quế còn thục nữ,
khéo léo, giỏi giang với se tơ dệt vải, và tài năng đàn hát văn chương
không kém.
“Dạy con oanh – cửi việc thường nữ công
Hoa dưới trướng gần trên khung
Gồm hay thi lễ lầu thông cầm kì”
Tiểu thư Dương Dao Tiên cũng sở hữu một hình thức tuyệt vời. Còn gì
để sánh với:
“Nhác trông chiều mỉm mỉm cười
Sóng dầm khóc mắt chưa dời nét trông
Nội đào hé mặt phù dung
Xiêm in bóng tuyết sen lồng bóng hoa”
“Viện thơ, khung dệt, màn thêu” cũng là những tài năng vượt trội của
nàng.
Các nhân vật tài tử đều tài sắc vẹn toàn nhưng lại mỗi người một vẻ.
Quỳnh Thư là một thiếu nữ có nhan sắc và tài năng phi thường. Chỉ vài
nét chấm phá tinh tế khuôn trang Quỳnh Thư hiện lên thật rõ nét.
“Xuân hoa bực ấy đương vừa
Tuổi vừa đôi tám phong thư lạ lùng
Thước tầm phỏng dạn bằng ông
Lan pha mày liễu, mỡ đong da gà
Chiều cá nhảy vẽ nhạn sa
Mắt long lanh nguyệt tóc rà rà mây
Má hồng môi thắm hây hây
Khổ mê thược dược thức say hải đường”.
Đặc biệt ai đã một lần đọc Kiều thì đều không thể quên được những vần
thơ miêu tả vẻ đẹp đậm đà, sắc sảo hơn người của nàng.
“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Tả Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp đặc tả đôi mắt để qua đó nói lên
vẻ đẹp trong thế giới tâm hồn của nhân vật. Kiều đẹp đến mức thiên nhiên
cũng đem lòng đố kị. Sắc đẹp của nàng đạt đến độ thẩm mĩ hoàn thiện.
Nguyễn Du viết về tài sắc của Kiều “sắc đành đồi một tài đành họa hai”
như vậy đủ cho ta thấy tài năng vượt bậc của nàng. Ở Kiều không đơn
thuần là tài năng của một tiểu thư biết đan nát, thêu thùa, văn chương đàn
hát mà tất cả những tài năng ấy đạt đến độ chín.Kiều giỏi về âm luật của
đàn đến mức “cung thương làu bậc ngũ âm”. Cây đàn mà nàng thường
chơi lầ cây hồ cầm,tiếng đàn của nàng thật hay “ăn đứt hồ cầm một
chương”.Người con giá tài sắc này còn có khả năng sáng tác nhạc,bản
nhạc nàng viết có tên “thiên bạc mệnh”. Kiều còn là một người con gái có
tâm hồn trong sáng, trái tim đa sầu đa cảm. Có ai mang được tấm lòng đa
cảm như nàng, trong buổi du xuân kiều gặp nấm mộ Đạm Tiên – người
phụ nữ xấu số không quen biết bên đường nàng đã khóc tỏ lòng thương
cảm.
“Kiếp hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương”
Kiều luôn luôn hiểu, cảm thông và chia sẻ với nỗi đau khổ của người
khác.
Ở tất cả các nhân vật tài tử ta đều nhận thấy tấm lòng hiếu thảo, yêu
thương mọi người trong gia đình, trọn đạo làm con. Mỗi nhân vật dù
trong hoàn cảnh nào cũng luôn đặt chữ hiếu lên trên hết. Đó là người con
đau đớn khi nghe tin cha bị giặc vây bắt (Dương Dao Tiên), là người con
bán mình chuộc cha (Thúy Kiều). Cuộc đời Kiều luôn bị trói buộc bới
những mâu thuẫn, dằn vặt nhưng với Kiều gia đình là niềm thổn thức
khôn nguôi. Trong suốt quãng đời lưu lạc không lúc nào Kiều không nghĩ
đến làm tròn bổn phận của người con. Ngay cả khi bị giam lỏng ở lầu
Ngưng Bích, nàng cũng không nguôi nhớ về cha mẹ. Đó là những lo lắng:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?”.
Các nhân vật nữ ở đây còn được đặc biệt quan tâm ở phương diện kết
cấu cuộc đời. Họ đều phải trải qua các giai đoạn gặp gỡ, tai iến, lưu lạc.
Gặp gỡ thường là sự kiện quan trọng có liên quan chặt chẽ đến việc thể
hiện tính cách và số phận nhân vật. Tai biến phản ánh phần nào hiện thực
khách quan với những thăng trầm trong cuộc sống của con người. Đoàn tụ
với tư cách là sự kiện kết thúc tác phẩm được miêu tả với nhiều cấp độ
khác nhau cho dù là hạnh phúc viên mãn hay hạnh phúc phải trả giá, hạnh
phúc là cuộc tái ngộ hay tìm ở một nơi khác, một kiếp sống khác.
Câu chuyện tình yêu giữa các nhân vật thường bắt đầu từ những cuộc
gặp gỡ ngẫu nhiên không định trước.Trong tình yêu, các nhân vật nữ đều
được xây dựng là những con người có tình yêu chung thủy, khát vọng tình
yêu mãnh liệt. Đó là tình yêu ngoài vòng lễ giáo phong kiến bất chấp ràng
buộc xã hội. Họ đến với tình yêu ban đầu còn nhiều e ngại nhưng sau đó
lại hết sức sôi nổi, mạnh mẽ.Thúy Kiều hiện lên với những hành động táo
bạo, liều lĩnh. Nhân dịp bố mẹ và hai e mừng thọ ngoại vắng nhà, Thúy
Kiều vội thoăn thoắt gót sen, xé rào “mở khóa động đào”, chủ động bước
vòa thiên thia của chàng Kim. Nàng ngồi ở nhà Kim Trọng từ sáng cho tới
lúc mặt trời lặn xuống núi phía tây “trông ra ác đã ngậm gương non
đoài” mà vẫn còn bảo với chàng là “vắng nhà chẳng tiện ngồi dai”. Về
tới nhà, biết bố mẹ và hai em “còn dở tiệc hoa chưa về”, thế là, nàng lại
“xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang nhà Kim Trọng. Họ ngồi
với nhau trong tư thế “dải là hương lộn, bình gương bóng lồng” cho tới
tang tảng khi “bóng tàu vừa lạt vẻ ngân”. Và nếu như không có gia đồng
đến báo tin người chú của Kim Trọng vừa qua đời thì chắc gì họ đã chia
tay nhau? Thế nhưng họ có chia tay được đâu. Chàng lại băng mình lẻn
đến gặp nàng để tiếp tục tự tình cho đến khi giữa trưa lúc “vừng đông
trông đã đứng ngay nóc nhà” mà vẫn còn “dùng dằng chưa nỡ rời tay”.
Thì Quỳnh Thư cũng táo bạo không kém. Giữa đêm nàng xuất hiện trước
cửa nhà người yêu để nhìn Phạm Kim lần cuối.
“Canh ba canh tiếng kim trang
Thác rèm hoa thấy một nàng tiên nga
Chiều ư liễu, vẻ ôi hoa
Ngọc ngần môi thắm, châu sa má đào
Nhác xem chàng ngỡ chiêm bao
Dẫu người dắt cũng lệ trào lọ ai”
Khi đến được với tình yêu họ có thể chấp nhận mọi khổ đau, bất hạnh
thậm chí hi sinh tính mạng để giữ gìn hạnh phúc, bảo vệ tình yêu chung
thủy. Hầu hết các nhân vật đều lấy cái chết để minh chứng cho tình yêu
sắt son của mình cho dù có thực hiện được hay không?
Song hầu hết các tài tử danh nhân đều đã có một thời hạnh phúc đắm say :
“Xuân năm ngoái vui lắm
Xuân nay lại vui ghê
Muốn xuân mãi để nhởn nhơ ngày tháng bụt”
Họ cũng có những ngày xa thì nhớ gần thì thương :
“Hương lửa tình này dễ nói năng
Chẳng hay lòng khách thấu cùng chăng”
Hay như Thúy Kiều luôn luôn thao thức nghĩ về người yêu, táo bạo khi
tình yêu đến độ cao trào :
“Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”
Thúy Kiều mang theo mối tình suốt đối với chàng Kim ngay cả khi đã có
Từ Hải, nàng vẫn chẳng thể quên nổi chàng :
“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng!”
Ta cũng không thể không nhắc tới tình yêu chung thủy của nàng Nhụy
Châu với Song Tinh: “ngõ còn nhớ nghĩa thủy chung – Tiện nơi nương
dựa dụng công sách đèn”.
Một điều đáng chú ý là tình yêu của các cặp uyên ương đều không khỏi
gặp trắc trở khó khăn, thử thách. Điều đó không ngoài những dự cảm của
Nguyễn Du về số phận người tài tử “chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Đối với các nhân vật Dao Tiên,Kiều Liên, Quỳnh Thư đó chỉ là những
khó khăn, trở ngại trước mắt không có tính chất dai dẳng trở thành bi kịch
như Thúy Kiều. Ta thấy Dao Tiên cùng từng dở khóc, dở cười, đau khổ
khi nghe tin Lương Sinh đính hôn. Hay Trần Kiều Liên mặc dù đã có hôn
ước với Phan Sinh, những tưởng duyên tình đã thuận buồm xuôi gió
nhưng nàng lại phải đối mặt với không ít khó khăn: Phan Sinh thi hỏng
xấu hổ không dám về quê, cha mất, mẹ con li biệt, nàng tìm đến sự thanh
tịnh ở chùa Kim Lang. Tuy nhiên tất cả những nỗi đau đó chỉ là thử thách
trước mắt và cuối cùng họ đều có được hạnh phúc. Ở Kiều thì tất cả
những điều đó lớn hơn, đau hơn và dai dẳng hơn. Nàng không những chịu
đau đớn về thể xác mà còn là bi kịch tinh thần. Tuổi thanh xuân, chứng
kiến cảnh gia đình bị vu oan và hành động bán mình chuộc cha. Đó là
khởi đầu cho những đau khổ trong cuộc đời sau này. Mười lăm năm lưu
lạc, Kiều đã trải qua bao nỗi nhục nhã ê chề. Cuộc sống ở lầu xanh là
những tháng ngày nàng bị chà đạp hạ nhục. Mỗi lần khát vọng hạnh phúc
tự do nơi nàng bùng lên thì nàng lại càng bị nhấn chìm. Ta không thể quên
trăm nghìn đòn roi từ tay Hoạn Thư giày xéo thân xác nàng “làm cho cho
mệt cho mê – làm cho đau đớn ê chề cho coi”. Kiều luôn đề cao đạo đức
Nho gia, muốn giữ gìn gia phong hoặc mong trở thành người tiết phụ để
được thờ trong các miếu đền linh thiêng mà chỉ đơn thuần vì nàng muốn
dành cho tình yêu cho người mình yêu một sự trọn vẹn nhất, tràn đầy
nhất. Tuy nhiên mối tình của nàng lại không như mong ước. Gia biến đã
đẩy nàng tới chỗ phải lấy lẽ một kẻ “quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt
hoa”. Nỗi đau đớn ấy chẳng thể chia sẻ cùng ai. Kiều đành gạt lệ theo Mã
Giám Sinh nhưng lại phải sống cuộc sống nhơ nhớp nơi lầu xanh. Nàng bị
Tú Bà lừa gạt, gánh chịu một trận đòn thập tử nhất sinh “uốn lưng thịt đổ
cất đầu máu sa”. Tiếp đó nàng lại bị Sở Khanh lừa gạt, nàng phải thực thi
cái nghề mà nàng nghề ghê tởm nhất trên đời: nghề làm đĩ. Đau khổ hơn
cho mối tình của nàng đó là bị Hồ Tôn Hiến – kẻ đại diện triều đình lừa
gạt. Tin Hồ Tôn Hiến, Thúy Kiều vô tình trở thành kẻ giết chồng, giết ân
nhân, giết tri kỉ, giết lẽ phải trên đời. Và kết thúc truyện là sự đoàn viên
nhưng với Kiều đó vẫn là bi kịch.
Nguyễn Du đã xây dựng thành công nhân vật Thúy Kiều trong mối
tương quan với các nhân vật tài tử khác bằng nghệ thuật xây dựng tính
cách, nội tâm nhân vật. Qua đó nêu cao vẻ đẹp tài tử, khát vọng tình yêu,
tự do.