TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA
KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ
MÔN NGỮ VĂN
HUỲNH NGỌC PHỦY
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP” CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV PHAN THỊ MỸ HẰNG
Cầ n Thơ, năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Một công trình nghiên cứu ra đời là kết quả của cả một quá trình ấp ủ, tìm tòi
và khám phá nó đòi hỏi người viết phải có sự cần mẫn, nghiêm túc ở từng khía cạnh cụ thể. Vì
thế, từ lúc nhận đề tài người viết đã có thời gian tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu.
Trên cơ sở thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu và có giá trị mà các công trình đi trước đã gợi ra
hoặc khẳng định và cùng với sự nỗ lực của bản thân để đi đến hoàn thiện bài viết này.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi nêu trên thì một nhân tố quan trọng góp
phần tạo nên sự thành công chính là sự tiếp nhận nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn
bè và những người thân gần xa. Đặc biệt, người viết xin gửi lời tri ân sâu sắc, lời cảm ơn
chân thành đến cán bộ hướng dẫn Phan Thị Mỹ Hằng người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và
động viên chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Cuối lời người viết xin được gửi lời cảm ơn đến cha mẹ và anh chị những người
luôn mang lại hơi ấm của tình thương và là nguồn động lực lớn nhất để người viết có thể
hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ quan trọng của cuộc đời mình.
2
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
2.
Lịch sử vấn đề
3.
Mục đích – Yêu cầu
4.
Phạm vi nghiên cứu
5.
Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát truyện thơ
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
1.1.3. Phân loại truyện thơ
1.2. Khái quát truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
1.2.2. Tóm tắt cốt truyện
1.2.3. Ý nghĩa truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
CHƯƠNG 2.
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP”
2.1. Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời
2.1.1. Lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
2.1.2. Thái độ bất hợp tác đối với kẻ thù
2.2. Y đức của người thầy thuốc
2.2.1. Phổ biến những kiến thức về y học
3
2.2.2. Coi trọng việc cứu dân như cứu nước
2.3. Niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc
2.3.1. Tin tưởng vào sự thắng lợi của đạo lý
2.3.2. Tin tưởng vào sự thắng lợi của dân tộc
CHƯƠNG 3.
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP”
3.1. Kết cấu truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.1.1. Yếu tố thần kỳ
3.1.2. Hiện tượng Y – Văn kết hợp
3.1.3. Hiện tượng xen kẽ nhiều thể thơ
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn
đáp”
3.2.1. Nhân vật ước lệ tương trưng
3.2.2. Nhân vật mang tính tự truyện
3.3. Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.3.1. Ngôn ngữ văn tự Hán và Ngôn ngữ văn tự Nôm
3.3.3. Ngôn ngữ vấn đáp
3.4. Nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
3.4.1. Điển cố mượn những câu chuyện về nhân vật lịch sử và các triều đại
3.4.2. Điển cố mượn những dẫn chứng tích cũ, lời xưa trong thơ cổ Trung
Quốc
3.4.3. Điển cố mượn những địa danh trong văn chương Trung Quốc
3.4.4. Điển cố mượn từ Hán Việt kết hợp với từ Thuần Việt
PHẦN KẾT LUẬN
4
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước, một chiến sĩ của lý tưởng nhân
nghĩa. Ông có một lòng thương yêu sâu sắc đối với nước, với dân, ông có một thái độ dứt
khoát đối với kẻ thù, luôn nêu cao khí phách của một nhà nho chân chính trước uy vũ của
quân địch. Suốt đời ông đã mượn giấy bút chiến đấu không biết mệt mỏi để bảo vệ cho
chính nghĩa được toàn thắng, cho đạo lý được bảo toàn, cho nhân dân nhân được yên ổn.
Thơ văn của ông giúp ta thấy rõ thêm quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc trong
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó nung nấu chí căm thù giặc và tay
sai lên cao độ. Nó kích thích và động viên tinh thần chiến đấu tiêu diệt quân thù.
Dù cuộc đời riêng gặp nhiều bất hạnh nhưng không vì thế mà ông buông xuôi,
Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho mọi người phải khâm phục cả về tài năng và ý chí vươn
lên của bản thân ông. Với ba truyện thơ, hàng chục bài văn tế là một số lượng không nhỏ
nhưng đáng quý hơn nữa nếu biết rằng sự nghiệp văn học của nhà thơ chỉ bắt đầu khi ông
không còn nhìn thấy ánh sáng của cuộc đời. Đường đời và sự nghiệp văn chương của Đồ
Chiểu ngay từ lúc sinh thời đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài chú ý,
để tâm tìm hiểu. Trong chiến tranh ác liệt gian khổ, thỉnh thoảng người ta vẫn nghe ngâm
nga vài câu Lục Vân Tiên. Ngày nay, thơ Đồ Chiểu được đưa vào trương trình phổ thông,
chương trình đại học của ngành Ngữ Văn,… nói như vậy để thấy rằng Nguyễn Đình
Chiểu cùng với các tác phẩm của ông đã, đang và sẽ mãi là đề tài cho thế hệ nhân dân, các
tầng lớp trí thức tìm hiểu.
Trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, đáng kể đến là mảng truyện thơ với ba
tác phẩm: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp. Tác phẩm Lục
Vân Tiên có lẽ được mọi người biết đến nhiều nhất vì đã được chuyển thể thành nhiều loại
hình sân khấu và lĩnh vực điển ảnh từ lâu đã được quần chúng nhân dân ngâm vịnh trong
cuộc sống. Nhưng truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, tác phẩm cuối cùng của Đồ Chiểu
thì ít được phổ biến vì một số người cho rằng tác phẩm ấy chỉ thiên về y học mà không
mang một giá trị văn học nào.
5
Hiểu về vùng đất, con người và văn hóa của Nam Bộ, hơn ai hết những người nơi
đây phải là những con người tường tận nhất. Bản thân người viết là đứa con của vùng
đồng bằng sông Cửu Long nên cũng muốn góp phần tìm hiểu, giới thiệu một phần nào đó
những giá trị tinh thần ở mảnh đất thân yêu và cùng nhằm giới thiệu phần nào giá trị sâu
sắc của tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp đến với mọi người. Chính vì thế người viết đã
chọn truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử phát triển của văn hóa dân tộc, so với nhiều ngành nghệ thuật khác,
văn học là nhân tố có vị trí quan trọng. Theo dòng lịch sử văn học Việt Nam từ cổ điển
đến hiện đại, qua từng giai đoạn từng thời kỳ, hòa trong dòng chảy chung của quy luật
phát triển đã ghi đậm dấu ấn riêng của từng tác giả. Có thể nói, chính họ với những tài
năng thể hiện qua thực tiễn sáng tác của mình đã tạo cho nền văn học dân tộc một diện
mạo độc đáo, đa dạng về phong cách, phong phú về thể loại,… Khảo sát văn học trung
đại Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến những đỉnh cao như: Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…
Và đến với Nguyễn Đình Chiểu một tác giả tiêu biểu, một “ngôi sao sáng” làm khởi sắc
cho nền văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX. Ông là tấm gương
sáng trên cả hai phương diện đạo và đời. Nhà yêu nước, nhà thơ giữ đạo vẹn tròn, nhà văn
giàu dũng khí và tài năng, người đã giữ gìn và đưa văn chương lên vị trí cao quý.
Nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu không thể
không đề cập đến giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Bởi hình thức nghệ
thuật phải hòa quyện với nội dung và góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Trở lại với đề tài của bài viết ta thấy “Đặc điểm truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp” đã
được rất nhiều người quan tâm tìm hiểu. Ở mỗi tác giả với những công trình khác nhau lại
có góc độ và mức độ phản ánh cũng không giống nhau. Có thể điểm qua một số công
trình nghiên cứu:
Quyển Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm [19] là một sưu tập chọn lọc
những bài nghiên cứu, phê bình – tiểu luận, trích đoạn chương sách từ những công trình
6
nghiên cứu tiêu biểu do các tác giả trong và ngoài nước về Nguyễn Đình Chiểu. Đây là
một quyển sách có giá trị nhằm cung cấp một hệ thống tư liệu khoa học đáng tin cậy cho
học sinh phổ thông, sinh viên đại học, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, cũng như bạn đọc
rộng rãi. Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm có thể chia thành năm phần: phần
một “Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu”; phần hai “Về con người và sự nghiệp”; phần ba “Về
tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu”; phần bốn “ Ý kiến của người nước ngoài
về tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu”; phần năm “Phụ lục và thư mục”.
Đặc biệt ở phần thứ ba của quyển sách, tác giả đã đề cập đến các truyện thơ Lục
Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp. Nhưng về truyện thơ Ngư
tiều y thuật vấn đáp chỉ được đề cập đến qua hai bài viết là “Lệ ngôn” (cho Ngư tiều y
thuật vấn đáp) của Phan Văn Hùm [19; 488] - đi vào tìm hiểu và so sánh các bản dịch,
nêu lên những khó khăn trong việc tiếp nhận tác phẩm do tồn tại nhiều dị bản và những
vấn đề ngoài lề khác chứ chưa đi sâu khai thác nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và
một bài khác là “Qua Ngư tiều y thuật vấn đáp, tìm hiểu thế giới quan Nguyễn Đình
Chiểu” [19; 498] – với nhan đề nêu trên cũng phần nào đã giúp cho người đọc hiểu được
nội dung mà tác giả Bùi Thanh Ba muốn nói đến. Bài này đi tìm hiểu quan điểm của
Nguyễn Đình Chiểu về thuyết âm dương, ngũ hành, và tác dụng của thế giới quan tiến bộ
ấy đối với sáng tác của nhà thơ: “viết Ngư tiều y thuật vấn đáp Nguyễn Đình Chiểu đã để
lộ một thế giới quan tiến bộ mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác cùng thời
đại với ông” [19; 500]
Quyển Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và dư luận [20] đã tập hợp những bài viết của
một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phạm Xuân Chi, Lê Trần
Đức,… kể cả những cây bút mới nghiên cứu lần đầu. Nhưng nhìn chung họ đều có đóng
góp ý kiến và quan điểm của mình về hầu hết các sáng tác của Đồ Chiểu. Đáng quan tâm
hơn cả là bài “Hiện tượng văn y kết hợp và giá trị văn học của tác phẩm Ngư tiều y thuật
vấn đáp” – tác giả Phạm Xuân Chi [20; 382]. Bài viết này đã phản những đặc điểm nổi
bật trong nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp như hiện tượng văn y kết
hợp, sự xen kẽ nhiều thể thơ, ngôn ngữ, nhân vật,… nhưng vì dung lượng nhỏ nên mỗi
7
vấn đề chỉ điểm qua khá sơ lược: “Chúng ta thấy sự kết hợp giữa văn và y diễn ra trong
toàn bộ kết cấu cốt truyện và ngay trong từng phần một cách có dụng ý... Tất cả những
kiến thức về y học đều được trình bày dưới một hình thức văn học. Và chủ đề văn học của
tác phẩm thì lại ẩn kín dưới một câu chuyện có hình thức của y học [20; 383].
Và một bài khác là “Tìm hiểu Ngư tiều y thuật vấn đáp” của Lê Trần Đức bài viết
này đã khám phá tác phẩm ở góc độ phổ biến những kiến thức về y học, y đức của người
thầy thuốc: “... Ngư tiều y thuật vấn đáp đã cho chúng ta hiểu được tư tưởng nhân đạo cao
quý và bản lĩnh chân chĩnh của người thầy thuốc. Tập sách là một bài học lớn về tư tưởng
yêu nước, yêu dân, về tinh thần trách nhiệm, nhẫn nại và tận tụy trong nghề nghiệp. Tất cả
vì mục đích cao quý là phục vụ cho dân tộc” [20; 377].
Quyển Nguyễn Đình Chiểu tác giả trong nhà trường [29] có đề cập một số vấn đề
về nội dung, nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp: “nghệ thuật tượng trưng,
phiếm chỉ vốn là phương pháp phổ biến của sử thi dân gian. Các nhân vật của Ngư tiều y
thuật vấn đáp vẫn chỉ để minh họa cho lý tưởng “Đạo” của ông” [29; 82].
Qua những khảo sát sơ lược trên để đi đến kết luận về Nguyễn Đình Chiểu, nói
chung đã có rất nhiều công trình bài viết với đầy đủ các quy mô khác nhau, phản ánh
nhiều góc độ khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng của ông. Nhưng Ngư tiều y
thuật vấn đáp vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu toàn diện, đúng mức. Các bài viết thường
chỉ điểm qua một vài nét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật rất của tác phẩm này.
Nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu về “Đặc điểm truyện thơ Ngư tiều y
thuật vấn đáp” từ trước đến nay đều có những tìm tòi, khám phá đáng quý, đáng trân
trọng. Bởi tiếp thu, kế thừa và phát huy những thành quả của các công trình nghiên cứu đi
trước cũng là để góp phần nhận thức, khám phá thấu đáo hơn, toàn diện hơn vấn đề. Trên
cơ sở thừa hưởng nhiều ý kiến quý báu của các công trình đi trước, người viết có nhiều
điều kiện thuận lợi để đi sâu hơn, phát hiện thêm những đều mới mẻ khi đến với thế giới
văn chương của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp.
3. Mục đích – yêu cầu
8
Trong thế giới văn chương vốn dĩ là rất muôn màu muôn vẻ thì mỗi một tác giả tác phẩm trong thế giới đó là một đóa hoa mang hương sắc riêng. Đối với nhà thơ yêu
nước Nguyễn Đình Chiểu đã có biết bao công trình lớn, nhỏ khác nhau nghiên cứu về
ông. Nhưng việc khám phá văn chương Đồ Chiểu chắc chắn là chưa thể dừng lại ở đây,
bởi việc đi sâu khám phá vẻ đẹp riêng của văn chương Đồ Chiểu để giúp cho các thế hệ
ngày thêm yêu quý văn chương cụ Đồ hơn vẫn là một việc làm có cơ sở khách quan và rất
mực cần thiết.
Nguyễn Đình Chiểu – không chỉ là nhà thơ tiêu biểu cho nền văn học trung đại ở
chặng đường cuối mà công là tác giả quen thuộc luôn được giảng dạy ở các trường phổ
thông nên trong công trình nghiên cứu này chúng tôi xin được bỏ qua những phần liên
quan đến tác giả như: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật,… trên cơ sở
đề tài người viết cần làm rõ một số vấn đề về thể loại truyện thơ và tác phẩm Ngư tiều y
thuật vấn đáp. Nhưng phần quan trọng mà bài viết cần nghiên cứu sâu hơn là những đặc
điểm về nội dung như: Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời, y đức của
người thầy thuốc, niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai của dân tộc; và những đặc điểm
về nghệ thuật như: Kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, điển cố.
Qua đó người viết có được cơ hội tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về nhà thơ
Nguyễn Đình Chiểu cũng như các tác phẩm của ông. Đặc biệt là những đặc điểm về nội
dung và nghệ thuật của truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp, góp phần làm phong phú
nâng cao vốn kiến thức nghiên cứu chuyên sâu, nắm vững vận dụng tri thức đạt được giúp
ích cho việc giảng dạy, nghiên cứu về tác giả và tác phẩm sau này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, đối tượng khảo sát là tìm hiểu “Đặc điểm truyện thơ
Ngư tiều y thuật vấn đáp” ở hai phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm và một
số vấn đề về thể loại truyện thơ. Để mở rộng phạm nghiên cứu, luận văn còn tìm hiểu một
số tác phẩm truyện thơ khác có mối quan hệ với Ngư tiều y thuật vấn đáp
Vì phải lưu truyền khá lâu trong nhân dân trước khi được xuất bản nên Ngư tiều y
thuật vấn đáp tồn tại khá nhiều dị bản. Trong bài viết này chúng tôi đã chọn một trong số
9
những bản hiện nay được lưu hành để thuận lợi cho việc sử dụng dẫn chứng và nghiên
cứu là bản in trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (tập 2) [14]. Và một số tài liệu liên quan:
- Điển cố văn học [9]
- Lí luận văn học [13]
- Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm [19]
Luận văn gồm ba phần - Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung có 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Đặc điểm nội dung truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
Chương 3: Đặc điểm hình thức truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là phương thức, thao tác được người viết lựa chọn, sử
dụng để sáng tạo ra các tri thức mới về đối tượng. Và phương pháp nghiên cứu chủ yếu
được sử dụng trong luận văn này cụ thể là phương pháp nghiên cứu tác phẩm trên bình
diện cấu trúc văn bản nghệ thuật với những mối liên hệ biện chứng nội tại - tức là nghiên
cứu lý luận trên tài liệu, sách vở. Đồng thời người viết còn sử dụng phương pháp nghiên
cứu phân tích nhân vật trên cơ sở chức năng lịch sử nghệ thuật, kết hợp với các thao tác
phân tích, tổng hợp, chứng minh, liệt kê, trích dẫn để đi đến diễn giải khái quát vấn đề cần
nghiên cứu.
Bên cạnh đó người viết còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để tổng
hợp tri thức của nhiều lĩnh vực và nhiều ngành học. Đây là quá trình liên kết, thiết lập các
quan hệ qua lại, quy định ảnh hưởng bổ trợ lẫn nhau giữa các ngành khoa học. Không
những vậy người viết còn đưa vào phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với phương
pháp so sánh đối chiếu để giúp nâng cao nhận thức định hướng kết quả nâng dần đối
tượng nghiên cứu lên ngày một sâu và rộng hơn.
1
CHƯƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát truyện thơ
1.1.1. Khái niệm
Truyện thơ về tên gọi thể loại, hiện nay phổ biến gọi là truyện Nôm vì do điều kiện
lịch sử văn xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần
và biền ngẫu cho nên gọi truyện thơ hay truyện Nôm đều không sợ nhầm lẫn là truyện văn
xuôi Nôm. Đã có khá nhiều ý kiến, khái niệm khác nhau xung quanh thuật ngữ truyện thơ .
Theo Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Truyện Nôm là thể loại tự sự bằng thơ dài rất
tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, do
viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”.
1
Truyện Nôm có tác phẩm được viết bằng thơ Đường luật như Vương Tường, Tô
Công Phụng Sứ,... nhưng phổ biến nhất là loại viết bằng thể thơ lục bát. Có hai loại truyện
Nôm: Truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở truyện dân gian như Phạm Tải Ngọc Hoa,
Tống Trân Cúc Hoa, Thạch Sanh,... Truyện Nôm bác học có loại viết trên cơ sở cốt truyện
có sẵn của văn học Trung Quốc như Phan Trần, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai, Truyện Kiều,... có
loại xây dựng theo cốt truyện sáng tạo bằng hư cấu như Hoàng Trừu, Trê Cóc, Sơ Kính
Tân Trang, Lục Vân Tiên,...
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được lưu truyền trong dân
gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc. Truyện Nôm bác học có ngôn ngữ trau chuốt, điêu
luyện, dùng nhiều từ Hán Việt, điển tích tiêu biểu cho trình độ diễn đạt của văn học viết
của dân tộc, trong đó có những tác phẩm đạt tới mức độ cổ điển, mẫu mực, bất hủ như
Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.
Đây là một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh
từ nửa sau thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX. Số lượng tác phẩm còn tìm được khoảng trên
100 truyện, tạo thành một bộ phận khá lớn của sáng tác tự sự (cả chữ Hán và chữ Nôm) ở
thời trung đại Việt Nam.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ
Truyện thơ Nôm là một thể loại khá độc đáo của văn học Việt Nam. Song cho đến
nay chưa ai khẳng định được chính xác nó ra đời khi nào và hình thái đầu tiên của nó ra
sao chỉ có thể khái quát được đôi nét như sau:
Hình thức đầu tiên của truyện Nôm là những bài hát tự sự của các nghệ nhân hát
rong. Cũng không ai biết hiện tượng hát rong này xuất hiện từ lúc nào, chỉ biết nó phổ
biến ở thế kỉ XV. Các bài hát này phần lớn là do các nghệ nhân sáng tác. Nhà chùa cũng
sinh ra truyện Nôm. Một số nhà sư đã diễn ra những sự tích trong kinh phật để phổ biến
cho tín đồ. Hai hình thức này chưa ai khẳng định được cái nào ra đời trước cái nào ra đời
sau. Có thể truyện thơ Nôm đã hình thành từ thế kỷ XVI, nhưng căn cứ vào tác phẩm hiện
còn thì chỉ có thể cho rằng nó định hình ở thế kỷ XVII.
1
Truyện thơ Nôm phát triển trong xu hướng “diễn Nôm” – dùng tiếng Việt (chữ
Nôm) chủ yếu là trong thể lục bát, để diễn đạt những nội dung tự sự khác nhau; đây là
một trong những xu hướng ngày càng phát triển mạnh ở văn học trung đại Việt Nam. Kết
quả là nhiều nguồn tự sự có bản chất thẩm mỹ và văn hóa khác nhau đã hội tụ ở truyện
thơ Nôm. Nguồn tự sự lịch sử, gồm: Huyền sử, dã sử, truyền thuyết, lịch sử… được diễn
Nôm như Thiên Nam ngữ lục, Đông các Nguyễn đại vương bản truyện, Ông Ninh cổ
truyện, Chúa Thao cổ truyện, Chử Đồng Tử diễn ca,...
Nguồn tự sự tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, từ các “ chân kinh”, “bản hạnh”, vốn
thường được viết bằng thơ Nôm lục bát, đã được chuyển biên thành truyện Nôm, ví dụ:
Quan Âm tống tử bản hạnh (và dạng truyện Nôm sau này là Quan Âm tân truyện). Nguồn
tự sự xã hội của vốn truyện dân gian bản địa được diễn Nôm như: Bích Câu kỳ ngộ,
Chàng Chuối tân truyện, Phương Hoa… Nguồn tự sự xã hội mượn từ các tác phẩm văn
học Trung Hoa được diễn Nôm (như một loại phóng tác, dịch thuật, cải biên, thậm chí
sáng tác mới trên cơ sở một cốt truyện vay mượn): Phan Trần, Nhị độ mai, Hoa tiên,…
Cuối cùng là loại sáng tác mới cốt truyện được tạo ra như là kết quả sự hư cấu nghệ thuật
của chính tác giả (dựa trên kinh nghiệm sống riêng của mình) như: Mai Đình mộng ký của
Nguyễn Huy Hổ, Sơ kính tân trang của Phạm Thái…
Khi phong trào truyện Nôm được truyền khẩu rộng rãi, một số người đã sử dụng
loại hình này để sáng tác. Trên cơ sở của những thành tựu truyện Nôm, các nhà nho nâng
cao nghệ thuật viết truyện Nôm lên một mức. Họ xây dựng hình tượng, miêu tả tính cách
nhân vật, miêu tả hành động của nhân vật cho đến kết cấu, ngôn ngữ,... rõ nét, mượt mà
và kỹ xảo hơn so với hình thức ban đầu. Kho tàng truyện Nôm còn lại hiện nay có loại
viết bằng thể thơ lục bát, có loại viết bằng thể thơ Đường luật, có những truyện có tên tác
giả và có những truyện khuyết danh.
Ở thế kỉ XVI, Phùng Khắc Khoan có Lâm Tuyền Vãn, Đào Duy Từ có Tư Dung
Vãn, Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào, Sứ Trình Tân Truyện của Nguyễn Tống
Khuê,... yếu tố tự sự đã bắt đầu hình thành và phát triển. Sang thế kỉ XVII có Thiên Nam
1
Ngữ Lục. Đặc biệt ở thế kỉ XVIII kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du xuất hiện là một
bước đột phá về nội dung và hình thức truyện thơ Nôm Việt Nam.
Cũng cần nói thêm, phần lớn các truyện Nôm dựa vào cốt truyện của Trung Quốc
hoặc kể lại các truyện cổ tích Việt Nam bằng chữ Nôm. Dĩ nhiên là các tác phẩm có sự
sáng tạo nghệ thuật chứ không đơn thuần chỉ là ghi lại các cốt truyện.
Như vậy, có thể nói đến thế kỉ XVI truyện Nôm được hình thành. Từ thế kỉ XVII
bắt đầu phát triển và đạt đến mức thịnh nhất vào thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX. Sang
đầu thế kỉ XX việc sáng tác chữ Nôm dần dần chấm dứt. Truyện thơ Nôm là một thành
tựu lớn của nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt thời trung đại. Sự xuất hiện của bộ phận tác
phẩm này có ý nghĩa điều chỉnh lại diện mạo chung của văn học thành văn Việt Nam
trước đó, vốn là nền văn học phát triển theo mô hình văn học trung đại Trung Hoa.
1.1.3. Phân loại truyện thơ
Có nhiều cách phân loại truyện Nôm. Phân loại dựa theo nguồn gốc trực tiếp của
đề tài có ba loại: Loại dựa vào truyện cổ tích, loại dựa vào truyện thần hay sự tích thần
phật, loại dựa vào thực tế Việt Nam sáng tác. Phân loại dựa trên sự có tên hoặc không có
tên tác giả thì có hai loại: Truyện Nôm khuyết danh và truyện Nôm hữu danh. Truyện
Nôm hữu danh là loại truyện biết rõ tên tác giả; còn truyện Nôm khuyết danh là loại
truyện chưa biết tên tác giả là ai. Thực ra lối phân chia này thuần túy có tính chất hình
thức, mà không nói lên một đặc điểm nào về nội dung hay về thể loại. Bởi vì chỉ cần tìm
ra tên tác giả của một truyện Nôm khuyết danh nào đó thì ta có thể xếp truyện Nôm
khuyết danh ấy vào kho tàng những truyện Nôm hữu danh, mà không phải băn khoăn,
thắc mắc về một điều gì. Cách phân chia như thế không phải là việc phân loại khoa học,
và do ranh giới không có tính chất khoa học ấy, cho nên việc nghiên cứu truyện Nôm
khuyết danh như một thể loại hay một loại hình, không thể đem lại kết quả xác đáng
được.
Theo giáo sư Nguyễn Lộc thì thực tế kho tàng truyện Nôm của ta tồn tại song song
hai loại truyện cần được nghiên cứu như hai chủng loại của một thể thống nhất: Một loại
được gọi là truyện Nôm bình dân và một loại được gọi là truyện Nôm bác học. Loại
10
truyện Nôm bình dân như kiểu Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Phương Hoa,
Lý Công, Hoàng Trừu,... Loại truyện Nôm bác học như Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ Kính
Tân Trang, Phan Trần, Nhị độ mai, Truyện Tây sương,...
Các cách phân loại này xét theo mặt nội dung và hình thức. Từ đó có thể nhận ra
được rõ ràng do hai loại tác giả sáng tác khác nhau:
Truyện Nôm bình dân thường được viết dựa theo những câu chuyện cổ dân gian
của ta, chứ không phải dựa theo những cốt truyện của Trung Quốc. Nói cách khác, đó là
những truyện dân gian do các tác giả là trí thức bình dân, nho sĩ nghèo sáng tác. Về mặt
nội dung, nó có tính quần chúng, gần gũi với nhân dân lao động, phản ánh các vấn đề có
liên quan đến vận mệnh của quần chúng hơn. Về mặt nghệ thuật thì thô sơ, mộc mạc, đôi
khi vụng về. “Truyện Nôm bình dân” như Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải
Ngọc Hoa, Phương Hoa… đều là khuyết danh, thường là loại diễn ca truyện cổ tích,… lời
thơ mộc mạc nôm na, gần với lời kể vè; sự tích trong truyện thường được phiếm chỉ hóa
(làm mất tính xác định lịch sử của không gian, thời gian), nhân vật không phải là những
cá tính mà là những “loại tính” (tính cách chung nhất của một hạng người). Các câu
chuyện được kể ra đều như là nhằm khuyến khích điều thiện, cảnh báo việc ác; cốt truyện
được phát triển như là để minh chứng cho quan niệm mang tính ảo tưởng của dân gian “ở
hiền gặp lành”, các nhân vật chính đều là những người tốt, lương thiện, dù có gặp tai
ương chướng họa trên đời, cuối cùng cũng đều vượt qua, đều chiến thắng, được làm
vua… Giới nghiên cứu nêu lên sự liên hệ chặt chẽ về nguồn gốc và về loại hình của
“truyện Nôm bình dân” với sáng tác dân gian. Có những đề xuất theo đó nên xem “truyện
Nôm bình dân” là thuộc loại hình văn nghệ dân gian (tức là truyện kể dân gian bằng văn
vần).
Truyện Nôm bác học phần lớn có tên tác giả, chỉ một số ít là khuyết danh. Nói
chung, tác giả của truyện Nôm bác học là những người thuộc tầng lớp phong kiến quí tộc,
có trình độ học vấn uyên bác, có quá trình tu dưỡng nghệ thuật. Hầu hết loại truyện này
được viết dựa theo những cốt truyện trong văn học cổ Trung Quốc, cá biệt mới có truyện
được nhà thơ hư cấu, sáng tác. Về nội dung của nó có nhiều mặt phong phú, tiến bộ, đồng
11
thời cũng ghi lại dấu vết đậm nét những mâu thuẫn và hạn chế trong thế giới quan và nhân
sinh quan của tác giả, vốn là những người thuộc tầng lớp trên. Về nghệ thuật, một mặt thì
những tác phẩm này được gia công trau chuốt nhiều, nhà thơ tỏ ra có trình độ nghề nghiệp
khá điêu luyện. Mặt khác, ở những mức độ khác nhau trong từng tác phẩm, nó lại có tính
chất cầu kỳ, kiểu cách, như nhà thơ sử dụng nhiều chất liệu lấy trong thơ ca Trung Quốc,
nhiều từ ngữ Hán Việt, nhiều điển cố,… Truyện Nôm bác học được sáng tác theo phương
thức của văn học thành văn, là những tác phẩm chủ yếu để xem, để đọc, chứ không phải
để kể. Điều đó chi phối cách xây dựng cốt truyện, cách miêu tả nhân vật, miêu tả các biến
cố, các sự kiện của nó. Theo phân loại ước lệ nêu trên, thường có tên tác giả (trừ một vài
tác phẩm như Nhị độ mai…), những sáng tác trong đó có dấu hiệu của việc xây dựng cốt
truyện mới, rút từ một vài chi tiết, sự kiện và biến cố trong tiểu sử của chính tác giả (Sơ
kính tân trang), trên thực tế cũng đồng thời sử dụng nhiều mô típ cốt truyện có sẵn ở loại
phóng tác nêu trên. Đề tài phổ biến ở “truyện Nôm bác học” là tình yêu của các cặp tài tử
- giai nhân; loại tình yêu tự do, ít nhiều vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo này thường được
mô tả say sưa như một lĩnh vực thể hiện khát vọng tự do của con người. Truyện Nôm bác
học tuy có một số khác biệt so với truyện Nôm bình dân về chuẩn mực nghệ thuật (lời thơ
điêu luyện hơn, dùng nhiều từ Hán Việt, nhiều điển tích hơn, tuy có phần chú trọng ca
dao, dân ca và ngôn từ dân gian, chú ý nhiều hơn đến tính hoàn chỉnh của cốt truyện, đến
việc miêu tả tính cách và tâm lý nhân vật…), nhưng vẫn gần gũi với truyện Nôm bình dân
về mô hình cốt truyện.
1.2. Khái quát truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
1.2.1. Hoàn cảnh sáng tác
Nguyễn Đình Chiểu sinh trưởng giữa lúc thực dân Pháp đang tiến hành xâm lược nước
ta. Năm 1858, chúng đánh phá hải cảng Đà Nẵng. Năm 1859, quân Pháp sau khi đánh
chiếm Đà Nẵng, đã kéo quân vào Sài Gòn, tràn vào sông Bến Nghé, quan quân của triều
đình chống trả yếu ớt. Thành Gia Định bị giặc chiếm đóng, lúc bấy giờ Nguyễn Đình
Chiểu đang sống và dạy học ở Gia Định, cho đến khi thành Gia Định thất thủ
(17/02/1859) mới dọn về ở quê vợ tại làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc (gần Chợ Lớn)
12
lánh nạn và tiếp tục dạy học ở đấy. Về Cần Giuộc khoảng một năm thì xảy ra cuộc kịch
chiến giữa nghĩa binh và giặc Pháp (1861).
Sau hàng ước ngày 05-06-1862 do Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ký giao ba
tỉnh miền Đông cho giặc Pháp, Nguyễn Đình Chiểu không thể sống trong vùng giặc
chiếm đóng, ông đã phải dọn về ở Ba Tri Bến Tre. Từ thời gian này cho đến cuối đời ông
tiếp tục sáng tác để góp phần chống giặc, bên cạnh việc tham gia cố vấn cho nghĩa quân
Trương Định. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác tập truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp từ sau
khi ông về Ba Tri, có lẽ là vào năm 1867 khi cả một miền đất đai rộng lớn, màu mỡ của
Tổ quốc rơi vào tay giặc Pháp. Tác phẩm này được viết bằng thể lục bát: gồm 3642 câu
lục bát, 21 bài thơ Đường luật và một số bài thuốc Đông y. Bản in trong Nguyễn Đình
Chiểu toàn tập (tập II) của nhà xuất bản Văn Học xuất bản năm 1997.
Tác phẩm được lưu truyền trong hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho cho mãi đến năm 1952
mới được nhà xuất bản Tân Việt Sài Gòn xuất bản, tác phẩm còn có rất nhiều dị bản. Đây
là một tác phẩm hết sức độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.
1.2.2. Tóm tắt cốt truyện
Vào đời Hậu Tấn khoảng năm 936 đất U Yên ở Trung Quốc, Thạch Kính Đường vì
muốn chiếm ngôi báu của nhà Hậu Đường nên đã thông mưu với quân Khiết Đan (nước
Liêu), cắt đất nhượng cho Khiết Đan, để được Khiết Đan phong cho làm vua xứ này. Dân
trong chốn nhượng địa phải sống khổ sở lầm than, dưới ách đô hộ của nước ngoài và dưới
sự áp bức của bè lũ gian nịnh bù nhìn trong nước. Những người có tâm huyết không khuất
phục chế độ ấy. Một số xiêu bạt đi nơi khác để sinh sống, không ít kẻ phải lánh đi, kẻ lên
núi hái củi (tiều) hoặc kẻ xuống biển đánh cá (ngư) để kiếm sống.
Trong truyện, nhân vật Ngư tên là Bào Tử Phược, nhân vật Tiều tên là Mộng Thê Triền.
Họ vốn là hai người bạn, vì nạn “nước mất”, hoàn cảnh loạn ly mà xa cách nhau từ lâu, cả
hai cùng bỏ con đường khoa cử để sống ẩn dật. Hai nhân vật Ngư và Tiều đều có hoàn
cảnh gia đình khó khăn người thì vợ chết, vợ bệnh liên miên, kẻ thì con đông nhưng đau
không dứt. Sau khi kể cho nhau nghe hoàn cảnh gia đình, Ngư và Tiều rủ nhau đi tìm Kỳ
Nhân Sư là một vị thầy thuốc có “tài cao đức trọng” ở đất U Yên, lúc này cũng đang đi ở
13
ẩn, thương dân nên ra làm thuốc cứu dân độ thế. Dọc đường họ gặp được Châu Đạo Dẫn
(nghĩa là kẻ dẫn đường vào nhà Châu (Chu)) vốn là đồ đệ của Kỳ Nhân Sư, liền nhờ Châu
Đạo Dẫn dẫn lối cho.
Biết Kỳ Nhân Sư đi vắng, Châu Đạo Dẫn liền mời Ngư và Tiều vào am Bảo Dưỡng
nghỉ tạm vài ngày. Ba người từ đó kết thân với nhau và Châu Đạo Dẫn đã dạy cho Ngư và
Tiều những bài học vỡ lòng của nghề thuốc. Châu Đạo Dẫn có ý định giới thiệu họ với
Đường Nhập Môn (kẻ dẫn vào cửa chính đạo của đời Đường Nghiêu). là một môn đồ giỏi
của Kỳ Nhân Sư. Họ chưa kịp đến ra mắt Đường Nhập Môn thì tình cờ Đường Nhập Môn
đi qua am Bảo Dưỡng, nhân đó Châu Đạo Dẫn liền mời Đường Nhập Môn vào am Bảo
Dưỡng chơi. Tại đây, họ cùng nhau xướng họa để tỏ nỗi lòng mình trước cảnh non nước
bị ngoại bang xâm chiếm.
Sau đó, Châu Đạo Dẫn phải từ biệt bạn để về Đông Thanh học luyện đan, Ngư – Tiều ở
lại với Đường Nhập Môn để học về y thuật và chờ ngày gặp Kỳ Nhân Sư. Đường Nhập
Môn cho họ biết Kỳ Nhân Sư có hai người bạn là Hưởng Thanh Phong (tên này có nghĩa
là tiếng vang của làn gió mát) và Ảnh Minh Nguyệt ( nghĩa là bóng vầng trăng sáng), đều
là bậc tài cao đức trọng, không màng gì đến vòng danh lợi trần tục.
Bấy giờ, vua Liêu sai sứ đến rước Kỳ Nhân Sư về triều giữ chức thái y. Kỳ Nhân Sư
lấy cớ bị bệnh nên không ra nhận chức. Nghe tin, Đường Nhập Môn vội đưa Ngư – Tiều
đến xin học Kỳ Nhân Sư. Họ cùng nhau đến Đan Kỳ là nơi Kỳ Nhân Sư đang ở. Tới Đan
Kỳ, họ được Châu Đạo Dẫn ra đón và kể cho nghe truyện Kỳ Nhân Sư ở Thiên Thai, vì
không chịu ra làm thái y cho vua Liêu, lại muốn được yên thân nên đã tự xông cho mù cả
hai mắt. Nghe kể, Đường Nhập Môn lấy làm đau lòng và trách Hưởng Thanh Phong và
Ảnh Minh Nguyệt không biết can ngăn thầy. Châu Đạo Dẫn cho hay là họ đã can thầy,
nhưng thầy lại cho rằng, giữa lúc đất nước bị ngoại xâm giầy xéo thì thà đui mà giữ trọn
được thảo ngay, còn hơn là mắt sáng mà cam tâm làm ngơ trước mọi hành vi tàn ngược
của kẻ thù.
Nghe kể, ai cũng tỏ lòng kính phục Kỳ Nhân Sư. Ngư và Tiều ngỏ ý xin được học Kỳ
Nhân Sư và tiện thể hỏi Hưởng Thanh Phong và Ảnh Minh Nguyệt về tương lai của đất
14
nước. Nhưng Châu Đạo Dẫn khuyên họ hãy ở lại để chờ và Châu Đạo Dẫn đã giảng thêm
cho hai người về y thuật. Tuy không gặp được Kỳ Nhân Sư nhưng hai người đã học được
hai thiên dạy về cách làm thuốc do chính Kỳ Nhân Sư soạn thảo.
Sau còn vương vấn chuyện gia đình Ngư, Tiều lãnh hai bài đó rồi trở về. Sau khi từ
biệt Đạo Dẫn và nhập Môn, Ngư - Tiều dự định sẽ bỏ nghề cũ để đi làm nghề y. Đêm đi
lạc đường trong rừng, vào ngủ ở một cái miếu trong hang, nằm mê thấy mộng xử án các
thầy thuốc, thầy châm cứu chữa xằng, và thầy phép, thầy chùa gieo mê tín dị đoan. Tỉnh
ra, Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, nên khi về nhà, cả hai người đều ra công học
thuốc cho thật giỏi, thấu đáo, rồi chuyên mỗi người một khoa. Ngư chữa bệnh nhi khoa,
Tiều chữa bệnh phụ khoa. Họ đều trở nên những thầy thuốc lành nghề và chân chính. Họ
thường qua lại với nhau và thỉnh thoảng lại đến Đan Kỳ để học thêm những bí quyết trong
nghề thuốc của Kỳ Nhân Sư.
1.2.3. Ý nghĩa truyện thơ “Ngư tiều y thuật vấn đáp”
Đến khi cuộc chiến đấu bằng gươm súng đã buộc phải tạm ngưng, Nguyễn Đình Chiểu
cũng như nhân dân miền Nam lúc bấy giờ vô cùng căm phẫn. Ông rất đau xót về tình
cảnh đất nước bị chia cắt, nhân dân khổ cực nhiều bề, vì bị mù không có điều kiện cầm vũ
khí giết giặc, nên ông đã dùng bút thay gươm, viết văn làm thơ để nói lên lòng yêu nước thương dân, căm thù sâu sắc đối với quân cướp nước và bè lũ vua quan nhà Nguyễn bán
nước, hại dân.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tác phẩm tiêu biểu cuối cùng của Nguyễn Đình Chiểu.
Đây là một truyện thơ mang nhiều ý nghĩa, nhằm mục đích phổ biến Đông y tác giả đã
mượn bối cảnh đất nước U Yên ở Trung Quốc đời xưa bị giặc nước ngoài xâm chiếm,
dựng lên câu chuyện người dân xứ này đi lánh nạn , tìm thầy học thuốc cứu người, cứu
dân trong cảnh lầm than nheo nhóc. Dưới hình thức câu chuyện về y học để nói lên sự
quan tâm của mình đối với tính mạng của bệnh nhân trước tình cảnh các dung y vụ lợi,
nhằm bổ cứu tình hình y học đương thời vì nhiệm vụ của người thầy thuốc là bảo vệ sức
khỏe cho nhân dân. Song song với nhiệm vụ cứu người, tác giả còn nêu cao vấn đề cứu
15
nước nhằm động viên tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân, nói lên tấm lòng
yêu nước thiết tha sâu nặng của mình.
Tình thế không còn cho phép kêu gọi đánh Tây, tác giả lại chủ trương không cộng
tác với Tây, kiên trì thái độ chống đối, bất hợp tác với thực dân Pháp. Nhà thơ vẫn nêu
cao chí hướng của những người yêu nước, nuôi dưỡng lòng căm thù giặc. Qua đó ta thấy
được khí phách bản lĩnh của một nhà nho chân chính - Nguyễn Đình Chiểu.
Ngư Tiều y thuật vấn đáp là một truyện thơ độc đáo, sâu sắc mang nhiều ý nghĩa.
Chính vì thế Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa của quyển Ngư tiều y thuật vấn đáp
lần xuất bản năm 1982 “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc của hàng trăm bộ sách của mấy
mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu dân tộc hàng
trăm năm. Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một
con đường phù hợp cho những người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi
vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ý nghĩa
vừa giúp dân vừa giúp nước,...”.
16
CHƯƠNG 2.
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN THƠ “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP”
2.1. Tâm trạng yêu nước nhưng bất lực trước cuộc đời
2.1.1. Lòng yêu nước thiết tha sâu nặng
Trong lịch sử nước ta, thời nào cũng vậy hễ có ngoại xâm là tinh thần dân tộc, tinh
thần yêu nước chống ngoại xâm lại nảy nở và phát triển mạnh mẽ. Bởi Tổ quốc hai tiếng
thiêng liêng ấy vang lên trong lòng mỗi người gợi lên một niềm yêu thương bao hàm tất
cả những gì thân yêu và quý báu nhất. Tình yêu Tổ quốc là một tình cảm cao cả, nó cũng
vận động không ngừng cùng với lịch sử. Đi qua một thời kì tư tưởng yêu nước lại mang
những dấu ấn riêng biệt và trong văn học tư tưởng ấy đã làm nên những giá trị bất diệt.
Nền văn học thành văn của Việt Nam ra đời cùng với nền độc lập của dân tộc. Một trong
những tiếng nói đầu tiên của nó là tiếng nói khẳng định, tiếng nói quyết chiến, quyết
thắng kẻ thù.
Từ đây song song với nền văn học dân gian, văn học thành văn đánh dấu sự trưởng
thành của mình bằng sự trưởng thành của ý thức dân tộc, và những cuộc chiến đấu chống
ngoại xâm thắng lợi đã đem đến cho thơ văn những trang viết hết sức hào hùng, sôi nổi.
Thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, hịch của Trần Hưng Đạo, cáo của Nguyễn
Trãi, phú của Trương Hán Siêu,… là những tác phẩm mẫu mực của văn học yêu nước các
giai đoạn trước, đồng thời cũng là những tác phẩm mẫu mực của văn học dân tộc nói
chung. Văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã kế thừa một cách
tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và có những bước phát triển mới của nó.
17
Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX,
là nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nước chống Pháp. Tên tuổi của ông tượng
trưng cho lòng yêu nước Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là tượng trưng
cho lòng yêu nước của nhân dân miền Nam, và thơ văn của ông như cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã viết là: “những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân
ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta”(…).
Nói đến thầy Đồ Chiểu – cái tên trìu mến mà nhân dân miền Nam dùng để gọi cho
nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, người ta không thể không nhắc tới tình yêu đất
nước thiết tha trong tâm hồn ông và trong thơ văn của ông. Bản thân cuộc đời của Nguyễn
Đình Chiểu có những đặc điểm hết sức đặc biệt. Ông sống trong giai đoạn nước nhà đang
có những cơn nguy biến và gay go nhất của lịch sử. Nhân dân đã tiến hành một cuộc
chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù, nhưng giai cấp phong kiến mục nát nhà Nguyễn từng
bước đầu hàng thực dân Pháp. Tự Đức năm 1862 cắt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, và năm
1867 cắt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Bộ cho giặc Pháp, mở đầu cho một thời kì đen tối
của đất nước ta dưới ách đô hộ của quân xâm lược trong gần một thế kỉ. Nguyễn Đình
Chiể - người Gia Định, bị mù lòa, không có điều kiện cầm gươm, cầm súng giết giặc, ông
vẫn theo dõi rất sát phong trào chống giặc của nhân dân và ngay từ đầu đã dùng ngòi bút
của mình làm vũ khí chiến đấu:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Với ngòi bút chiến đấu nhà thơ đã trực tiếp đánh giặc suốt đời. Có thể nói bao
nhiêu đau khổ của con người đã dồn vào một con người trong một hoàn cảnh đau khổ của
đất nước.
Lúc bấy giờ ông tập trung sáng tác cuốn Ngư tiều y thuật vấn đáp, bày tỏ thái độ
chống đối Thạch Kính Đường đầu hàng bọn Khiết Đan dâng đất cho giặc mà gián tiếp tỏ
thái độ chống Tự Đức của mình. Tự Đức chỉ ích kỷ lo cho ngôi vua của mình, thậm chí
còn hoang phí tiền của nhân dân, khiến binh dân nổi lên chống lại. Vì tình nghĩa thiết tha
18
đối với dân, với đồng bào ruột thịt mà ông mạnh mẽ tố cáo nhà vua và đồng thời bày tỏ
tấm lòng yêu nước thiết tha đối với nhân dân, đất nước.
Ngư tiều y thuật vấn đáp, như tên gọi thì đây là một quyển sách dạy nghề thuốc
chữa bệnh. Nhưng chủ ý của Nguyễn Đình Chiểu là qua câu chuyện vấn đáp giữa hai
nhân vật Ngư và Tiều, mượn những lời của nhân vật trong truyện để nói lên lòng yêu
nước, căm thù giặc, khinh ghét bọn người cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược. Và
ông cũng mượn câu chuyện này để phản ánh những vấn đề thời sự mà ông hằng quan tâm
và đau lòng vì nó. Thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu là phần thành
công nhất, phần có giá trị nhất trong toàn bộ sáng của ông, nó không chỉ chở đạo mà còn
mang tính chiến đấu. Bởi yêu nước là tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của tác giả, đồng
thời nó cũng là nội dung quan trọng trong truyện thơ Ngư tiều y thuật vấn đáp.
Hãy giở lại những trang lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của đất nước ta hồi ấy:
Trời Đông mà gió Tây qua
Hai hơi ấm mát chẳng hòa đau dân.
(1117 - 1118)
Mở đầu những vần thơ hào hùng của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu đã lớn tiếng lên
án nhà vua đã đầu hàng cắt đất cho giặc, đẩy non sông vào cảnh non nước phân li, người
người, nhà nhà phải chia biệt
Kể từ Thạch Tấn lên ngôi,
U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan.
(5-6)
Một phần đất nước bị cắt cho giặc, nhân dân khôn xiết lầm than “Sinh dân nào xiết
bùn than”. Có thể thấy dưới lớp vỏ đàm đạo y thuật, tác phẩm này là một ẩn dụ lớn, gói
trọn tấm lòng yêu nước thiết tha mà sâu nặng, kín đáo. Mượn câu chuyện là Thạch Kính
Đường vì muốn chiếm ngôi báu nên đã cam lòng cắt đất U Yên cho giặc. Dân trong chốn
nhượng địa phải sống khổ sở, chật vật, đói kém “sinh dân đồ thán”, trước cơn nguy biến
của Tổ quốc “cuộc cờ thúc quý đua bơi” một cuộc đời loạn lạc, đua nhau giành dật, thắng
bại, loại trừ lẫn nhau:
Đời vương đời đế xa rồi
Nay Di mai Hạ biết hồi nào an.
19
(17-18)
Với lòng yêu nước thiết tha sâu nặng đau buồn về thời cuộc, về lòng người với đạo
trời, hai nhân vật Ngư - Tiều gặp nhau, sau câu hàn huyên rồi cùng nhau hoài cổ về một
thời đã qua, từ thời Tam hoàng Ngũ đế. Họ bàn luận, khen chê, họ thương xót thở than
cho những gì đã qua từ thuở “Đông Chu, Hạ Thương, Thất hùng, Ngũ bá”:
Uống thêm vài chén rượu giao,
Ngâm thi hoài cổ để rao tiếng đời.
(55-56)
Tất cả toàn là những câu chuyện xa xưa, chuyện của một thời đã qua nay lúa đã
“trổ đầy, bò lấp” những dấu rêu xanh. Thế nhưng qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Đình
Chiểu những tình cảm dạt dào, những xót thương, thở than ấy chẳng khác chi chuyện thực
trước mắt khiến cho lòng người xao xuyến, bồi hồi. “Thấy người đau giống mình đau”,
mượn chuyện xưa để giãi bày tâm sự của mình, mượn lời hàn huyên giữa hai nhân vật
Ngư và Tiều cụ Đồ Chiểu đã bày tỏ tấm lòng yêu nước thiết tha, sâu nặng, ông luyến tiếc
xót thương cho cảnh vua sáng tôi hiền “vững bốn phương” đã chẳng còn dấu vết gì ở cái
triều đình đương thời. Không những vậy nhà thơ còn mượn chuyện Ngũ bá xem nhẹ nhân
nghĩa “nhân nghĩa mọn” coi trọng quyền lợi của bản thân, mà giả dối, kéo bè nước này
đánh nước kia, chiến tranh liên miên, dân phải chịu trăm bề điêu đứng. Việc Thất hùng vì
“lợi danh bay” mà giành xé lẫn nhau gây đau khổ, tang tóc cho nhân dân, để phê phán
bọn xâm lược, bè lũ bán nước và tay sai vì quyền lợi nhỏ nhen, tục tằn của bản thân mà
cam tâm bán rẻ đất nước quê hương. Ông đau buồn trước hoàn cảnh nhưng không sao
ngăn nỗi lũ cướp nước “tôi con loạn”, không sao dẹp nỗi bọn gian tà, bọn bất lương vô
đạo “mọi rợ con”. Vì giờ đây cuộc đời trước mắt chỉ là:
Mấy dòng biển nghiệt chia nguồn nước,
Trăm khóm rừng hoang bít cội cây. Hơi
chính ngàn năm về cụm núi,
Thói tà bốn biển động vầng mây.
(III)
Bởi đó không chỉ là hai châu U, Yên quê hương của hai nhà yêu nước Ngư Tiều mà
đó còn là cuộc đời đen tối của đồng bào, thương dân Lục tỉnh bị giặc Pháp cướp đất, phá
nhà, sát hại dưới thời Tự Đức mà nhà thơ ngầm nói đến thông qua tác phẩm Ngư tiều y
20
thuật vấn đáp. Mảnh đất bị cắt lìa khỏi Tổ quốc, quê hương đang quằn quại dưới gót giặc
ngoại xâm, những người yêu nước đương thời như Ngư và Tiều là tiêu biểu cho tất cả
những người yêu nước. Họ đau xót trước cảnh quê hương, đất nước bị chia cắt. Trong quá
khứ dễ thường chẳng có mấy ai đau sâu, đau nhiều như cụ Đồ Chiểu. Văn thơ yêu nước
đã có những xót xa, nhiều cảnh “bờ cõi qua phân”. Nhưng không đâu nỗi đau tập trung
bằng ở tác phẩm này, chen vào giữa những đoạn thuần túy chuyên môn, những câu những
chữ nói lên tinh thần bất khuất, tâm tư đau xót của nhà thơ, có một sức xúc cảm lạ
thường. Cho nên cây cỏ cũng điêu đứng vì Tây trên con đường Ngư – Tiều đi tìm thầy
học thuốc:
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
Cỏ cây đưa nhánh đón đường
(239-241)
Mắt nhìn “đất cũ cảnh tình trêu ngươi”, tất cả nỗi kinh ngạc, đau thương, căm thù
như hòa vào chim muông, cây cỏ, đá núi, nước khe, cảnh vật thiên nhiên vô tri vô giác mà
cũng buồn đau da diết, u uất như người vì đất nước bị chia cắt, vì linh hồn đất nước đang
quằn quại rên xiết dưới gót sắt của giặc ngoại xâm. Ngòi bút của nhà thơ lại được lôi
cuốn trong một dòng trữ tình mãnh liệt như một cơn nước lũ giữa:
Ngày xuân mà cảnh chẳng xuân
Mây sâu gió thảm biết chừng nào thanh.
(253-254)
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khi thì hùng hồn, cảm khái, khi thì tha
thiết lâm ly, nhiều đoạn uyển chuyển du dương, có lúc lại sôi nổi mạnh mẽ. Trong thơ văn
yêu nước của ông còn có những đóa hoa, những hòn ngọc rất đẹp như bài Xúc cảnh một
bài thơ do nhân vật Đường Nhập Môn ngâm. Đây là một bài thơ tiêu biểu cho nỗi đau xót
của chính các nhân vật hay cũng chính là của tác giả. Trong chiều sâu tư tưởng của tác giả
đó là một nỗi đau buồn trước cảnh đất nước bị chia cắt, quê hương trở thành đất giặc:
Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Nắng sương nay há đội trời chung.
(VI)
Câu thơ của các nhân vật trong truyện mà nghe như chính là tâm trạng là tiếng
lòng, tiếng khóc nức nở của tác giả, một nỗi đau quằn quại một nỗi chịu đựng đứt ruột nát
21