BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ CHI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO TẠI TỈNH HÀ NAM
HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Lý luận nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư đã nhiệt
tình giảng dạy tôi trong thời gian theo học lớp cao học Luật khóa XV của
trường Đại học Luật Hà Nội. Đặc biệt là PGS. TS. Nguyễn Minh Đoan đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và viết luận văn.
Mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết sức mình, song chắc chắn luận văn này
vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp
của các thầy cô để có thể mở rộng và hoàn thiện đề tài luận văn trong các
nghiên cứu sau.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 2010
Học viên
Phạm Thị Chi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tôn giáo và quản lý nhà nước đối với
5
tôn giáo
1.1. Tôn giáo
5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tôn giáo
5
1.1.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
16
1.2. Quản lý nhà nước đối với tôn giáo
22
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với tôn giáo
22
1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của quản lý nhà nước đối với tôn giáo
31
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
34
đối với tôn giáo tại tỉnh Hà Nam
2.1. Thực trạng quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại tỉnh Hà Nam
34
2.1.1. Đặc điểm của tôn giáo và tình hình tôn giáo tại Hà Nam hiện nay
34
2.1.2. Những kết quả, thành tựu của quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại Hà
41
Nam
2.1.3. Những tồn tại, hạn chế của quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại Hà Nam
45
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại
50
tỉnh Hà Nam hiện nay
2.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý nhà nước đối
50
với tôn giáo
2.2.2. Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tôn giáo và quản
56
lý nhà nước đối với tôn giáo
2.2.3. Củng cố và kiện toàn bộ máy làm công tác quản lý nhà nước đối với tôn
62
giáo
2.2.4. Tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với tôn
68
giáo
2.2.5. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý nhà nước đối với
73
tôn giáo và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật về tôn giáo
Kết luận
77
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội loài người.
Xuất hiện rất sớm từ buổi bình minh của nhân loại, tôn giáo đã tồn tại, phát
triển đồng hành và gắn bó mật thiết với đời sống của con người tới tận ngày
nay. Quá trình biến đổi thăng trầm của lịch sử cho thấy một tôn giáo có thể
phát triển hưng thịnh hay suy vong nhưng tôn giáo thì không thể mất đi,nó
vẫn đang và sẽ tồn tại lâu dài trong xã hội loài người.
Phạm vi tồn tại và phát triển của tôn giáo không bị hạn chế trong một
quốc gia, lãnh thổ hay một dân tộc nhất định. Chính vì vậy cùng với ảnh
hưởng lớn lao của mình tới đời sống tâm linh và xã hội của con người, tôn
giáo đã trở thành mối quan tâm của không phải riêng một quốc gia, dân tộc
nào. Đối với Việt Nam, do những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hóa
và đời sống tâm linh của nhân dân rất phong phú nên nước ta là một quốc
gia có nhiều loại hình tôn giáo. Sự đa dạng đó góp phần làm cho nền văn
hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc hơn. Tuy nhiên, nó cũng đặt Đảng và
Nhà nước ta trước một đòi hỏi phải có những chủ trương, chính sách đối với
tôn giáo nói chung và từng tôn giáo cụ thể như thế nào cho hợp lý.
Mặt khác, nhìn lại lịch sử những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang
xảy ra trên thế giới về thực chất vẫn là xuất phát từ những lợi ích vật chất
của những lực lượng xã hội khác nhau. Vì thế, mặc dù đông đảo các tín đồ
theo các tôn giáo là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tinh thần của mình song
thực tế tôn giáo bị các lực lượng chính trị - xã hội phản động sử dụng cho
mục đích ngoài tôn giáo là điều đã và đang xảy ra rất khó kiểm soát. Do đó,
vấn đề quản lý hoạt động của các tôn giáo càng trở thành một nội dung quan
trọng trong quản lý nhà nước (QLNN) của mỗi quốc gia. Chính vì vậy từ
khi ra đời Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Đường
lối, chính sách về tôn giáo của nhà nước luôn được chú trọng và kịp thời
sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới. Bởi vậy, QLNN đối với tôn giáo
2
thời gian qua đã đạt được những thành tựu thiết thực. Mối quan hệ giữa Nhà
nước và tôn giáo đã tìm được sự đồng thuận, các tôn giáo hoạt động bình
thường, tín đồ chức sắc tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đó, thực tế QLNN đối với tôn giáo còn nhiều bất cập, hiệu
quả chưa cao. Những mặc cảm, định kiến tôn giáo chưa được xóa bỏ. Hiện
tượng buông lỏng quản lý ở một số nơi dẫn tới tình trạng một số các cá
nhân, tổ chức tôn giáo lợi dụng tình hình để luồn lách, thực hiện các hành vi
vượt ra ngoài khuôn khổ cho phép làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự quốc
gia. Ngược lại, ở một số nơi, việc QLNN lại quá cứng nhắc, khắt khe dẫn
đến sự căng thẳng giữa chính quyền với các tổ chức tôn giáo, là điều kiện
cho các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta, kích động các tín đồ chống đối nhằm chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Trong khi đó, tình hình
tôn giáo luôn chuyển biến phức tạp với nhiều hiện tượng tôn giáo mới và
trước xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay cùng với yêu cầu mới đặt ra
của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta,
vấn đề tăng cường QLNN đối với tôn giáo càng trở nên cấp thiết. Đó cũng
chính là lý do tác giả chọn đề tài : “Quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại
tỉnh Hà Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài cho
luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, tôn giáo luôn thu hút được sự
quan tâm của các nhà khoa học. Rất nhiều các công trình khoa học, các bài
viết về tôn giáo đã ra đời có thể kể tới như: “Một số bài viết về tôn giáo
học” của Nguyễn Duy Hinh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2007 đã
nêu các vấn đề lý luận về tôn giáo và giới thiệu cụ thể về Phật giáo cùng
một số tín ngưỡng tôn giáo khác; “Một số vấn đề về tôn giáo và nhu cầu tôn
giáo hiện nay” của tác giả Lê Tuấn Đạt, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2,
năm 2008. Bài viết đã khái quát tình hình tôn giáo thế giới từ cuối thế kỷ
XIX đến nay, khẳng định tôn giáo là một nhu cầu của nhân loại và nhận xét
3
chung về chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; “ Một số tôn giáo ở Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Xuân, NXB Tôn giáo, năm 2005 đã giới
thiệu lịch sử hình thành, phát triển, giáo lý, luật lệ, nghi lễ và cơ cấu tổ
chức, hoạt động của 6 tôn giáo lớn ở nước ta; Luận văn thạc sỹ: “Vài nét về
thiền Phật giáo ở Việt Nam và vai trò của nó trong xã hội hiện đại” của
Nguyễn Vũ Thư, năm 2004 đã giới thiệu nguồn gốc các dòng thiền, sự phát
triển của thiền ở Việt Nam và vai trò của thiền đối với đời sống tâm hồn và
xã hội con người…
Các công trình nghiên cứu khoa học và các bài viết từ trước đến nay
đã tiếp cận tôn giáo từ nhiều góc độ, phản ánh nhiều phương diện, nội dung
khác nhau của tôn giáo từ khái quát đến cụ thể. Tuy nhiên, vấn đề QLNN
đối với tôn giáo vẫn ít được nghiên cứu tới. Mặc dù đã có những công trình
như luận văn thạc sỹ của Nguyễn Minh Thư “Đổi mới quản lý nhà nước
bằng pháp luật đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam” có đề cập
tới nội dung QLNN bằng pháp luật đối với tôn giáo song chưa có một công
trình nào tập trung nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện về QLNN đối
với tôn giáo (nhất là tôn giáo tại một địa phương cụ thể như Hà Nam).
Chính vì vậy việc nghiên cứu vấn đề trên để có giải pháp nâng cao hơn nữa
hiệu quả QLNN đối tôn giáo vẫn là rất cần thiết.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về tôn giáo, QLNN đối
với tôn giáo và tập trung vào thực tiễn hoạt động QLNN đối với tôn giáo tại
tỉnh Hà Nam – Một địa phương có nhiều loại hình tôn giáo đang tồn tại để
phân tích.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về tôn giáo và QLNN
đối với tôn giáo.
Trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
4
yếu đó là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so
sánh và phương pháp thống kê.
5. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng QLNN đối với tôn giáo tại
tỉnh Hà Nam, luận văn đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quản lý nhà nước đối với tôn giáo tại Hà Nam.
Để đạt được mục đích đã đề ra, luận văn xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu cơ bản sau :
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tôn giáo, QLNN đối với tôn giáo.
- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với tôn giáo tại Hà Nam
và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với tôn
giáo tại Hà Nam.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu trực tiếp và tương đối toàn diện về
tôn giáo và QLNN đối với tôn giáo tại tỉnh Hà Nam.
Luận văn làm rõ về mặt lý luận khái niệm tôn giáo và QLNNđối với
tôn giáo. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với tôn
giáo tại Hà Nam luận văn đưa ra được một số giải pháp góp phần nâng cao
hiệu quả QLNN đối với tôn giáo tại tỉnh Hà Nam.
7. Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.
5
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
1.1. Tôn giáo
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tôn giáo
a. Khái niệm
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt, ra đời từ rất sớm trong
lịch sử loài người và tồn tại phổ biến ở khắp các quốc gia, dân tộc và các
vùng lãnh thổ. Do gắn liền với yếu tố tâm linh nên tôn giáo là vấn đề hết
sức nhạy cảm, phong phú và cũng rất phức tạp. Chính vì vậy, từ xưa đến
nay đã có rất nhiều những quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của
nhiều học giả ở nhiều quốc gia, dân tộc.
Tôn giáo là một thuật ngữ không thuần Việt có nguồn gốc từ phương
Tây. Nó bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” của tiếng Anh và “Legere” của
tiếng La tinh nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Lúc đầu, thuật
ngữ này được sử dụng để chỉ một tôn giáo đó là Công giáo, sau đó phát
triển lên thành thuật ngữ chỉ chung cho tất cả các hình thức tôn giáo khác
nhau. Thuật ngữ “Religion” được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX
và được dịch là “Tông giáo” nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được
gọi là “Tôn giáo”. Ở Việt Nam, ngoài tôn giáo người ta còn hay sử dụng
một số thuật ngữ có nghĩa tương đồng như thuật ngữ “Đạo” (khi được đặt
trước tên của một tôn giáo như đạo Phật, đạo Kitô...) hay thuật ngữ “Giáo”
(khi được đặt sau tên của một tôn giáo như Phật giáo, Công giáo…). Đặc
biệt, thuật ngữ gắn liền với tôn giáo đó là tín ngưỡng. Tín ngưỡng là niềm
tin của con người vào cái huyền bí, cái thiêng liêng không thể kiểm chứng
được bằng thực tiễn. Tín ngưỡng và tôn giáo là hai phạm trù khác nhau
nhưng gắn bó mật thiết với nhau vì tôn giáo bắt nguồn từ tín ngưỡng. Trong
mối quan hệ với tín ngưỡng, tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng
chung một tổ chức có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi.
Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1995
6
thì tôn giáo được định nghĩa: “là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ
vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [45, tr.239 ]. Định nghĩa trên
đã làm rõ được những nét chính của tôn giáo xong vẫn chưa phản ánh được
một cách đầy đủ các khía cạnh của tôn giáo. Với tính chất phức tạp, đa
chiều của tôn giáo đến nay cũng chưa thực sự có một định nghĩa nào được
công nhận là chuẩn nhất về tôn giáo. Dựa vào dấu hiệu đặc trưng của tôn
giáo có khái niệm “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”. Dựa vào yếu tố
tâm lý, tôn giáo được định nghĩa “Là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi
cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn”. Các nhà thần học theo chủ nghĩa
duy tâm thì cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
người”. Còn các nhà duy vật biện chứng theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì
cho rằng tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực
thể xã hội vì nó tồn tại thực tế có cơ cấu tổ chức, hệ thống giáo lý, lễ nghi
và cách thức, địa điểm thực hành nghi lễ của mình. Với tư cách là một hình
thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cách hoang đường và hư ảo hiện
thực khách quan. Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định trong tác phẩm
“Chống Đuyrinh” như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo – vào đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức lực lượng siêu trần thế” [13, tr.437].
Đây là khái niệm phản ánh nguồn gốc của tôn giáo. Ngoài ra khi phân tích
bản chất xã hội của tôn giáo, chủ nghĩa Mác còn định nghĩa: “Tôn giáo là
tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái
tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” [13, 450]. Hiện nay, theo
pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì thuật ngữ “tôn giáo” được giải thích là
tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi
và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.
Như vậy, qua rất nhiều các cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo ta
có thể nhận thức được một số nét khái quát về tôn giáo đó là: Tôn giáo là
niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính
7
thiêng liêng. Nó không chỉ lý giải các vấn đề trần thế, phản ánh sự sợ hãi
bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội mà còn
phản ánh niềm tin, sự khát vọng về một thế giới “bên kia” tươi đẹp, thánh
thiện, nhân ái và con người ở đó sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng. Niềm
tin ấy được biểu hiện đa dạng tùy theo từng tôn giáo, từng thời kỳ lịch sử xã
hội, từng quốc gia, dân tộc và thông qua hệ thống các giáo lý, giáo luật, các nghi
lễ tôn giáo khác nhau.
b. Đặc điểm của tôn giáo
Mặc dù tồn tại nhiều hình thức tôn giáo trên thế giới song các tôn
giáo đều có chung một số đặc điểm mà nhờ đó có thể phân biệt được tôn
giáo với các hiện tượng xã hội khác. Về mặt nguồn gốc, mọi tôn giáo đều ra
đời từ sự sợ hãi, bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và
xã hội. Những tôn giáo sơ khai thể hiện sự sợ hãi của con người trước các
hiện tượng khắc nghiệt, kỳ lạ của tự nhiên mà bản thân con người lúc bấy
giờ không lý giải và không chế ngự được. Khi xã hội phân hóa giai cấp, sự
bất bình đẳng xã hội và bóc lột tồn tại, những tầng lớp bị áp bức bất lực
phải tìm tới sự giải thoát ở tôn giáo. Xã hội phát triển cùng với những tiến
bộ của khoa học kỹ thuật con người con người hiểu biết hơn và dần làm chủ
tự nhiên. Tuy nhiên, thế giới tự nhiên là vô cùng vô tận, do đó vẫn còn có
nhiều vấn đề, hiện tượng tự nhiên xã hội phức tạp và huyền bí mà khoa học
chưa lý giải được hoặc lý giải chưa thuyết phục. Bởi vậy, con người vẫn tìm
đến tôn giáo. Ngày nay, xã hội phát triển văn minh, hiện đại, xong vẫn tồn
tại nhiều vấn đề nhức nhối như chiến tranh, xung đột dân tộc, sắc tộc, khủng
bố, thất nghiệp, tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó thiên nhiên vẫn đe dọa đời sống
con người do hậu quả tiêu cực của công nghiệp hóa như ô nhiễm môi
trường, hạn hán, lũ lụt. Con người vẫn luôn mang tâm lý bất an, hoảng sợ
nhất là nỗi lo sợ về một ngày tận thế của loài người như lời tiên đoán của
một số tôn giáo. Do đó, tôn giáo vẫn không bị mất đi trong xã hội hiện đại
và sẽ còn tồn tại lâu dài. Với tư cách là một thực thể xã hội, mọi tôn giáo
đều có một hoặc một số người khởi xướng gọi là giáo chủ; một hệ thống
8
quan niệm, tín điều gọi là giáo lý; một hệ thống những điều răn cấm gọi là
giáo luật; một hệ thống nghi thức thờ cúng gọi là giáo lễ và tổ chức truyền
đạo gọi là giáo hội. Về chức năng, mọi tôn giáo đều phản ánh hiện thực
khách quan dù là hư ảo và luôn hướng con người tới một thế giới khác với
thế giới hiện thực, thế giới phàm trần. Thế giới ấy được gọi với những cái
tên khác nhau như thiên đàng theo Công giáo, cõi Niết bàn hay miền Cực
lạc theo Phật giáo…nhưng đều giống nhau ở sự tốt đẹp, tự do, bình đẳng,
nhân ái và hạnh phúc vĩnh hằng. Mọi tôn giáo đều hướng các tín đồ của
mình tin vào sự cứu độ, che chở, ban ơn của các lực lượng siêu nhiên như
thượng đế, chúa trời, thần thánh…và răn dạy con người phải tu dưỡng đạo
đức, sống lương thiện, nhân từ…để tới được thế giới tốt đẹp ấy. Như vậy,
tôn giáo là một nhu cầu tình thần của con người. Không những thế tôn giáo
còn là một trong các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của đa số quần
chúng nhân dân lao động. Chính vì vậy, tôn giáo có tính quần chúng rộng
rãi và có một số lượng tín đồ chiếm tỷ lệ cao trong dân số thế giới. Mặc dù
tôn giáo ra đời và tồn tại là nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người
song từ khi xã hội phân chia giai cấp, các tôn giáo đều mang ít nhiều màu
sắc chính trị. Các cuộc đấu tranh tôn giáo trên thế giới từ trước tới nay thực
chất đều bắt nguồn từ những xung đột về lợi ích vật chất của các lực lượng
xã hội khác nhau. Tôn giáo luôn có nguy cơ bị các lực lượng chính trị sử
dụng như một công cụ để bảo vệ và củng cố lợi ích của mình. Điều đó làm
nên tính chính trị hết sức nhạy cảm và phức tạp của tôn giáo. Những đặc
điểm trên cho thấy tôn giáo mặc dù là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân nhưng lại có liên quan và tác động đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội như: văn hóa, đạo đức, kinh tế, xã hội, và an ninh, quốc phòng.
Chính vì vậy, tôn giáo đã trở thành vấn đề thu hút được nhiều người quan
tâm, nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, địa hình
phong phú, đa dạng. Điều kiện tự nhiên đó vừa ưu đãi cho nước ta có giới
động thực vật phát triển, giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng nó cũng có
9
những đe dọa nhất định tới đời sống của con người vì có nhiều thiên tai...
Do đó tâm lý sợ hãi và trông cậy vào sự che chở của các lực lượng tự nhiên
vẫn luôn tồn tại trong người dân Việt. Nằm giữa ngã ba của Đông Nam Á
nên nước ta có điều kiện tiếp nhận và giao lưu với nhiều luồng văn hóa, tử
tưởng khác nhau trên thế giới. Việt Nam lại có lịch sử lâu đời, có nền văn
minh hình thành sớm và chịu ảnh hưởng sâu đậm của hai nền văn minh lớn
của nhân loại đó là Trung Hoa và Ấn Độ. Nước ta có bề dày truyền thống
chống giặc ngoại xâm, để tỏ lòng biết ơn các anh hùng dân tộc đã đánh giặc
cứu nước nhân dân ta tôn họ thành các vị thần, vị thánh và thờ phụng họ.
Ngoài ra những người có công giúp nhân dân trong lao động, sản xuất, mở
mang bờ cõi cũng được nhân dân rất tôn sùng.
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa trên đã ảnh
hưởng lớn tôn giáo Việt Nam, làm cho tôn giáo nước ta không chỉ mang
những đặc điểm của tôn giáo nói chung mà còn có những đặc điểm riêng,
rất đặc trưng của tôn giáo Việt Nam.
- Tôn giáo Việt Nam rất đa dạng về loại hình. Vị trí địa lý của Việt
Nam rất thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa với các quốc gia, khu vực trên
thế giới. Việt Nam cũng là đất nước có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Do
đó, nước ta có nền văn hóa đa dạng, phong phú với nhiều nét sinh hoạt,
phong tục, tập quán khác nhau. Mặt khác, người Việt vốn sống thân thiện,
cởi mở không kỳ thị khép kín nên dễ chấp nhận, tiếp thu nhiều loại hình tôn
giáo. Bên cạnh đó, sự phong phú của tín ngưỡng bản địa cũng góp phần làm
nên sự đa dạng về loại hình tôn giáo ở nước ta.
Hiện nay Việt Nam có 06 tôn giáo lớn đó là: Phật giáo, Công giáo,
đạo Tin lành, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Như vậy, hầu
hết những tôn giáo lớn trên thế giới đều có ở nước ta. Ngoài 06 tôn giáo trên
còn có một số tôn giáo hoặc mới được thành lập trong nước có liên quan
đến Phật giáo như Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Bửu Sơn Kỳ Hương,
Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc du nhập ở bên ngoài vào như Bà la môn, Baha’i và
các tổ chức, hệ phái tôn giáo khác đang cùng tồn tại. Ở Việt Nam có cả
10
những tôn giáo sơ khai thờ đa thần, có cả những tôn giáo hiện đại với đầy
đủ hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội. Có những tôn
giáo xuất hiện ở nước ta từ những thế kỷ đầu công nguyên lại có cả những
tôn giáo vừa xuất hiện vào những thập niên đầu của thế kỷ này. Có những
tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi
giáo và cũng có những tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như: Cao Đài,
Phật giáo Hòa Hảo. Ở nước ta tồn tại những tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Đông như Phật giáo và tồn tại cả các tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Tây như: Công giáo, Hồi giáo, Tin lành. Một số tôn giáo đã phát
triển và hoạt động ổn định với số lượng tín đồ lên tới hàng triệu người và
cũng có những tôn giáo mới phát triển còn chưa hoạt động ổn định và đang
tìm đường hướng đi phù hợp cho mình.
Sự đa dạng của tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam
thêm phong phú, đặc sắc. Tuy nhiên, điều đó đặt Đảng và Nhà nước ta trước
một đòi hỏi phải có những chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung
và từng tôn giáo cụ thể như thế nào cho hợp lý.
- Tôn giáo Việt Nam có tính đan xen hòa đồng với nhau và với tín ngưỡng bản
địa. Bản tính của người Việt là cởi mở, hiếu hòa, bao dung, không kỳ thị,
hẹp hòi, khép kín nên các tôn giáo dù từ đâu tới cũng được nhân dân sẵn
sàng tiếp nhận miễn sao tôn giáo đó không làm ảnh hưởng tới lợi ích quốc
gia, không đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc, biết tôn trọng các tôn
giáo truyền thống và hòa đồng được với tín ngưỡng bản địa. Bởi vậy, các
tôn giáo phương Đông từ Trung Quốc và Ấn Độ du nhập vào Việt Nam từ
rất sớm nhưng vẫn tồn tại song hành và hòa bình cùng các tín ngưỡng, tôn
giáo bản địa. Sau này, có một số tôn giáo phương Tây du nhập vào nước ta
tuy có chút xa lạ với văn hóa của dân tộc nhưng cũng vẫn được tiếp nhận.
Do đó, Việt Nam có rất nhiều các tôn giáo cùng các tổ chức và các hệ phái
tôn giáo khác nhau song chúng vẫn cùng tồn tại hòa bình và đều được tôn
trọng. Nếu trong một giai đoạn lịch sử nào có tồn tại sự định kiến, mặc cảm
với một tôn giáo nào đó thì cũng là do tôn giáo đó đang bị các thế lực lượng
11
phản động sử dụng như một công cụ để chống lại lợi ích của quốc gia và
dân tộc. Khi tôn giáo đó đã thoát được sự lợi dụng trên thì lại vẫn được
đồng bào ta tin tưởng và tôn trọng. Cùng tồn tại song hành nên các tôn giáo
ở nước ta có sự kế thừa, ảnh hưởng, tác động đến nhau. Chính điều đó đã
tạo nên sự đan xen, hòa đồng giữa các tôn giáo. Tính đan xen, hòa đồng đó
được thể hiện ở một số điểm sau:
+ Do ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa thờ đa thần nên việc thấy
bóng dáng của một tôn giáo trong một hoặc một số tôn giáo khác ở Việt
Nam là điều không hiếm có. Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện
diện của thần, thánh, tiên, phật của nhiều tôn giáo khác. Ví dụ như đạo Cao
Đài vừa thờ Thiên Nhãn (Mắt trời) biểu tượng của Đức Thượng đế thiêng
liêng có danh xưng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát đồng thời
thờ cả Đức Phật Mẫu và các vị giáo chủ của các tôn giáo khác như Phật
Thích ca Mâu ni của Phật giáo, chúa Giê su của Ki tô giáo.
+ Tín đồ theo đạo ở Việt Nam thường không chỉ có một tín ngưỡng.
Người Việt Nam có thể thờ cả thần, thánh, tiên, Phật và thờ cả thổ công, hà
bá…Việc hành lễ không chỉ được diễn ra ở đình chùa, am miếu còn khấn
vái “tứ phương”, cầu cúng ở cả gốc cây, tảng đá, khe núi hay khúc sông...
Các tôn giáo ngoại lai du nhập vào Việt Nam dù có giáo lý sâu sắc, có tổ
chức chặt chẽ tới đâu cũng không thể làm lu mờ đi tín ngưỡng truyền thống
bản địa. Điều đó được thể hiện qua phong tục thờ cúng tổ tiên và tôn thờ
những người có công với làng, nước. Người Việt thờ cúng tổ tiên để thể
hiện lòng biết ơn, sự kính trọng đối với những người có công sinh thành,
dưỡng dục mình. Với họ tổ tiên đã mất rất linh thiêng có thể chở che, phù
hộ cho con cháu được mạnh khỏe, hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Ở Việt Nam
còn có tập tục thờ cúng thần địa phương từ lâu đời và phổ biến ở nhiều tộc
người. Những vị thần ấy có những tên gọi khác nhau như là thành hoàng
làng, thần bản, thần mường... Họ thường là những người có công với dân
với nước nhưng có thể chỉ là những người được dân thừa nhận, suy tôn lên
làm vị thần hộ mệnh cho cả cộng đồng làng xã của mình như thần ăn xin,
12
thần ăn trộm, thần chết nghẹn… Tập tục thờ cúng các thần địa phương mà
đặc biệt là thành hoàng làng đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt do đó
các tín đồ bên cạnh việc tôn sùng các giáo chủ, tích cực tham gia các nghi lễ
của tôn giáo mình vẫn rất mực tôn kính và chăm chỉ thờ cúng tổ tiên, các vị
thần có công với dân với nước theo tín ngưỡng dân gian của dân tộc mình.
Ta thấy không hiếm những ngôi chùa ngoài những ban thờ Phật còn có ban
thờ các vị anh hùng dân tộc đã được suy tôn thành các vị thánh như Hồ Chí
Minh hay Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn… đó là nét độc đáo của tôn giáo
ở Việt Nam.
+ Về phía các giáo sĩ: Ở Việt Nam có nhiều tăng, ni, phật tử vừa
thông thạo giáo lý Phật giáo nhưng cũng rất am hiểu Nho giáo, Đạo giáo.
Các nhà Nho thì thường nương thân chốn cửa Phật để chiêm nghiệm thế sự.
Các tăng ni, phật tử và các thầy pháp của Đạo giáo (phù thủy, chiêm tinh,
bói toán) cũng không bài bác lẫn nhau. Cá biệt cũng có một vài hiện tượng
mâu thuẫn nguyên nhân một phần do giáo lý có nhiều điểm khác biệt nhưng
chủ yếu vẫn là bởi lý do chính trị, tuy nhiên chưa tới mức xung đột mạnh mẽ
và dẫn tới chiến tranh tôn giáo.
Như vậy, các tôn giáo ở Việt Nam dù là nội sinh hay ngoại sinh đều
có tính đan xen, hòa đồng, dung hợp với nhau và với tín ngưỡng bản địa.
Điều đó làm cho một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo như Việt Nam vẫn
giữ được truyền thống đoàn kết toàn dân, không phân biệt, kỳ thị tôn giáo.
- Ở Việt Nam không chỉ có người Kinh mà còn có một bộ phận đồng
bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo. Hiện nay nước ta có 54 dân tộc, trong đó
người Kinh chiếm đa số với tỷ lệ chiếm 87% dân số cả nước, 53 dân tộc
thiểu số còn lại chỉ chiếm 13% dân số. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
sống tập trung chủ yếu ở ba khu vực đó là: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam bộ. Tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số là thờ
đa thần với tập quán thờ cúng truyền thống độc đáo riêng của từng dân tộc.
Tuy nhiên, theo thời gian các tôn giáo dần dần xâm nhập vào vùng dân tộc
thiểu số. Do đó, xảy ra hiện tượng tín ngưỡng truyền thống tồn tại đan xen
13
cùng với tín ngưỡng tôn giáo hoặc có một số dân tộc thiểu số đã từ bỏ tín
ngưỡng truyền thống của mình để theo tôn giáo. Các cộng đồng dân tộc
thiểu số theo tôn giáo đã hình thành. Ví dụ như dân tộc Khơ – me theo Phật
giáo Nam tông, dân tộc Chăm theo Hồi giáo, đồng bào dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên, Tây Bắc thì theo Công giáo hoặc đạo Tin Lành. Vấn đề dân
tộc và vấn đề tôn giáo là đều là hai vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Do đó
hiện tượng các tôn giáo xuất hiện và ngày càng phát triển trong vùng các
đồng bào dân tộc thiểu số đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải cùng một
lúc thực hiện tốt cả chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo.
- Đa số các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam là người lao động, trong đó
chủ yếu là nông dân. Hiện nay, theo ước tính của Ban Tôn giáo Chính phủ,
tín đồ là nông dân của Phật giáo, Công giáo chiếm 80-85%, của đạo Cao
Đài, Hòa Hảo chiếm 95%, của đạo Tin lành là 65% [1, tr.16]. Các tín đồ là
nông dân, người lao động luôn cần cù, chịu khó, yêu lao động sản xuất và
giàu lòng yêu nước. Họ đã cùng với các tầng lớp nhân dân chiến đấu chống
giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc và góp phần làm nên thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Hiện tại, đồng bào theo tôn giáo vẫn tích cực lao động sản
xuất, góp phần làm giàu cho đất nước. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có
tình cảm và niềm tin tôn giáo sâu sắc. Tuy nhiên, do trình độ dân trí còn
thấp, một bộ phận còn mang nặng tư tưởng lạc hậu, mê tín thậm chí là
cuồng tín nên đồng bào theo đạo nước ta rất dễ bị các thế lực chính trị phản
động núp bóng tôn giáo lợi dụng. Vì vậy, cần phải phát huy tinh thần yêu
nước, yêu lao động sản xuất của các tín đồ tôn giáo đồng thời nâng cao trình
độ dân trí và chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất cũng như nhu cầu tinh
thần đặc biệt là nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào theo
đạo để tạo mối quan hệ đồng thuận giữa Nhà nước ta với các tôn giáo hiện
nay.
- Số lượng các chức sắc, nhà tu hành – những người hoạt động tôn
giáo chuyên nghiệp ở nước ta tương đối lớn. Theo Ban Tôn giáo chính phủ
thì số lượng các chức sắc của từng tôn giáo năm 2007 như sau: Phật giáo có
14
35.711 người, Công giáo có 15.108 người, đạo Cao Đài có 9.327 người,
Phật giáo Hòa Hảo có 1.567 người, đạo Tin lành có 469 người, Hồi giáo có
695 người. Ngoài ra, nước ta còn có đội ngũ các chức việc rất đông đảo,
khoảng trên dưới 250 người, được các tín đồ bầu ra ở các cơ sở và là những
người hoạt động tôn giáo bán chuyên nghiệp, giúp việc cho các chức sắc,
nhà tu hành trong việc quản lý và hướng dẫn tín đồ [1, tr.38 ].
Các chức sắc, nhà tu hành và các chức việc là những người có ảnh
hưởng lớn tới các tín đồ tôn giáo . Họ là lực lượng quan trọng góp phần chủ
yếu vào việc quyết định mối quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo với Nhà
nước. Vì vậy, trong công tác tôn giáo việc tranh thủ các chức sắc và các nhà
tu hành là rất quan trọng và cần thiết.
- Các tôn giáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Việt
Nam có bốn tôn giáo ngoại sinh là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo.
Những tôn giáo trên đều là những tôn giáo lớn và có mặt ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Bởi vậy, tôn giáo Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi.
Mối quan hệ ấy được biểu hiện khác nhau ở từng tôn giáo. Đối với Phật
giáo: Phật giáo có số lượng tín đồ khá lớn (350 triệu người) nhưng không
hình thành một giáo hội chung cho toàn thế giới mà hình thành các sơn
môn, tông phái khác nhau và thông thường theo từng quốc gia. Phật giáo
Việt Nam có mối quan hệ quốc tế chủ yếu với Phật giáo trong khu vực như
Phật giáo Campuchia, Phật giáo Lào, Phật giáo Thái Lan, Phật giáo Trung
Quốc… ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn có mối quan hệ với một số tổ
chức tôn giáo thế giới như tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa bình – ABCP,
tổ chức thân hữu Phật tử thế giới – WFB. Đối với Công giáo: Do Công giáo
có mặt ở 190 nước và vùng lãnh thổ, hình thành một giáo hội duy nhất bởi
vậy mối quan hệ quốc tế của Giáo hội Công giáo Việt Nam chủ yếu là mối
quan hệ với giáo triều Vatican. Đây là mối quan hệ trên dưới có tính truyền
thống. Tuy nhiên, khác với một số nước, mối quan hệ về mặt tổ chức của
Giáo hội Công giáo Việt Nam với giáo triều Vatican được tiến hành trong
điều kiện Chính phủ Việt Nam chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhà
15
nước Vatican. Đối với đạo Tin lành: Mối quan hệ quốc tế của đạo Tin lành
Việt Nam gồm có: mối quan hệ với các hệ phái Tin lành gốc; mối quan hệ
với các hệ phái có cùng xu hướng giáo lý, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành
đạo; mối quan hệ thông qua các tổ chức từ thiện xã hội của đạo Tin lành.
Do đó, Tin lành Việt Nam cũng là một tôn giáo có mối quan hệ quốc tế
rộng rãi. Đối với Hồi giáo: Hồi giáo là một tôn giáo có số lượng tín đồ cao
nhất thế giới với 1,3 tỷ người ở hơn 50 quốc gia. Nước ta nằm trong khu
vực Đông Nam Á là một trong những khu vực Hồi giáo lớn nhất thế giới.
Bởi vậy, Hồi giáo Việt Nam có mối quan hệ khăng khít với các tổ chức Hồi
giáo trong khu vực đặc biệt là Hồi giáo Malaixia vì Hồi giáo Malaixia là cội
nguồn du nhập và hỗ trợ cho hoạt động Hồi giáo ở Việt Nam. Ngoài ra, đạo
Baha’i ở nước ta cũng có mối quan hệ sâu sắc với quốc tế. Mặc dù là tôn
giáo mới được du nhập vào nước ta, số lượng tín đồ cũng không nhiều (trên
thế giới hiện chỉ có khoảng 6 triệu tín đồ) nhưng đạo Baha’i có mặt ở hơn
100 quốc gia và vùng lãnh thổ, lại có cơ quan lãnh đạo tối cao là Hội đồng
tinh thần quốc tế, hơn nữa đây là tôn giáo tích cực tham gia vào các hoạt
động xã hội với tư cách là Cố vấn Hội đồng kinh tế xã hội Liên hiệp quốc
(ECOSOC), quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEP) nên đạo Baha’i nói
chung và đạo Baha’i ở Việt Nam nói riêng có mối quan hệ quốc tế rất rộng
rãi.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 3 triệu người đang ở nước ngoài mà
đa số là các tín đồ tôn giáo, trong đó có một số ít là chức sắc các tôn giáo.
Đó là điều kiện cho các tôn giáo nội sinh có được truyền bá ở nước ngoài và
các tôn giáo ngoại sinh với những hệ phái mới được du nhập thêm vào Việt
Nam qua việc các Việt Kiều về thăm quê, du lịch hay hồi hương. Trong
điều kiện Nhà nước ta đang thực hiện chính sách ngoại giao mở cửa, thân
thiện với bạn bè thế giới thì các tôn giáo Việt Nam càng có điều kiện phát
triển mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, điều đó cũng đặt Đảng và Nhà nước
ta trước một yêu cầu cần phải kết hợp thực hiện cả hai chính sách tôn giáo
và ngoại giao sao cho phù hợp, vừa đảm bảo được hoạt động bình thường
16
của các tôn giáo vừa không để cho các thế lực thù địch bên ngoài có cơ hội
lợi dụng tôn giáo, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
- Tôn giáo Việt Nam dễ bị các thế lực phản động trong và ngoài nước
lợi dụng vì mục đích chính trị. Tôn giáo là công cụ hữu hiệu mà các giai cấp
thống trị sử dụng để quy phục và cai trị giai cấp bị trị. Lịch sử đã chứng
minh, dù mức độ khác nhau, song việc sử dụng tôn giáo vào mục đích chính
trị thì giai cấp thống trị nào cũng đã thực hiện. Việt Nam đã trải qua những
thời kỳ chống giặc ngoại xâm triền miên, liên tục và kéo dài. Ngày nay, sự
nghiệp cách mạng của Việt Nam vẫn luôn là đối tượng để các thế lực phản
động trong và ngoài nước chống phá. Âm mưu của chúng là thực hiện chiến
lược diễn biến hòa bình kết hợp với những thủ đoạn: lợi dụng những sai sót
trong thực hiện chính sách tôn giáo để xuyên tạc tình hình tôn giáo ở nước
ta, mượn ngọn cờ nhân quyền gắn với tôn giáo để vu khống ta là vi phạm
nhân quyền, hạn chế tôn giáo, không đảm bảo tự do tôn giáo; lôi kéo, mua
chuộc, nuôi dưỡng các phần tử cực đoan, ly khai trong các tôn giáo trong và
ngoài nước để kích động, chống đối chế độ; tìm cách chính trị hóa vấn đề
tôn giáo, nhất là tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gắn vấn đề tôn
giáo với vấn đề dân tộc; thao túng và lợi dụng các diễn đàn quốc tế để thông
tin sai lệch, bôi nhọ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy,
một mặt, cần phải đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của
nhân dân, mặt khác, phải luôn cảnh giác để ngăn chặn và chống lại âm mưu
lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị của các thế lực phản động.
1.1.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
a. Những biến động của tình hình tôn giáo thế giới tác động đến Việt
Nam
Tôn giáo Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi. Bởi vậy, sự biến
đổi của tôn giáo thế giới cũng ít nhiều ảnh hưởng tới tình hình tôn giáo
trong nước. Hiện nay, về tình hình tôn giáo thế giới có nhiều quan điểm
khác nhau thậm chí trái chiều. Một số người cho rằng tôn giáo đang bị suy
thoái. Theo họ, với sự phát triển của kinh tế xã hội và khoa học công nghệ,
17
đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được cải thiện. Con
người đang dần vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình.
Do đó những lý giải hoang đường về thế giới của tôn giáo sẽ bị lu mờ dần.
Một số người lại cho rằng tôn giáo là tàn dư của hình thái xã hội cũ nên nó
sẽ bị lụi tàn khi chúng ta xây dựng xã hội mới. Thực tế, tôn giáo trên thế
giới đã có những biểu hiện suy giảm nhất định dù ở những hình thức và
mức độ khác nhau (suy giảm từ việc thực hành các lễ nghi tôn giáo đến việc
giảm dần số lượng các tín đồ, suy thoái phẩm hạnh của hàng ngũ giáo sĩ,
nhà tu hành và kéo theo niềm tin tôn giáo bị lung lay). Chính vì vậy, người
ta cho rằng tôn giáo không có tương lai.Tuy nhiên, lại có quan điểm cho
rằng chỉ có tôn giáo ở Tây Âu và Trung Âu là suy tàn, ở các nước, các châu
lục còn lại tôn giáo đang khởi sắc thậm chí phát triển mạnh mẽ. Những tôn
giáo cũ được hồi sinh, chấn hưng bằng sự đổi mới, cách tân hoặc cho ra đời
những hệ phái mới. Bên cạnh đó là sự ra đời của các tôn giáo mới mang
đậm tính dân tộc và tính thế tục.
Như vậy, về tương lai của tôn giáo còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng
thực tế cho thấy bên cạnh một số tôn giáo có biểu hiện suy giảm thì một số
tôn giáo khác lại đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Đối với mỗi tôn
giáo thì có thể suy giảm ở quốc gia, khu vực này nhưng lại đang phát triển
hưng thịnh ở một quốc gia, dân tộc khác. Như vậy, có thể khẳng định rằng,
trong xã hội ngày nay, tôn giáo vẫn còn tồn tại và đang biến đổi với nhiều
hình thức phức tạp và khó lường.
Tôn giáo ngày nay đang dần khẳng định được vị trí và vai trò của
mình trong xã hội. Cùng với sự biến động của kinh tế - xã hội, tôn giáo
cũng có nhiều biến đổi, tạo nên một bức tranh về tình hình tôn giáo thế giới
với nhiều màu sắc mới mẻ và đa dạng. Biểu hiện của sự đa dạng và mới mẻ
ấy là việc xuất hiện nhiều xu hướng tôn giáo trong xã hội ngày nay. Một là,
xu hướng đa dạng hóa với việc cùng tồn tại sự bảo thủ và đổi mới, sự suy
thoái và phục hưng, xung đột và hòa giải, liên hợp và phân ly, cạnh tranh và
hợp tác trong đời sống tôn giáo. Hai là, xu hướng “thế tục hóa” được biểu
18
hiện ở sự phi thần thánh khi giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội của
tôn giáo (các giải thích mang tính huyền bí, hoang đường đã được thay bằng
những giải thích lý tính, gần với hiện thực hơn), ở sự thâm nhập của tôn
giáo vào đời sống con người. Tôn giáo từ chỗ chỉ chủ yếu hướng về thế giới
“bên kia” nay càng tỏ ra trực tiếp quan tâm phục vụ cho chính bản thân con
người nơi trần thế, tham gia cải tạo xã hội hiện thực. Tuy nhiên, mặt trái của
“thế tục hóa” là những biểu hiện dung tục hóa (kích thích những dục vọng
thấp hèn, bản năng của con người như ham muốn vật chất, bạo lực, tình
dục). Một số kẻ lợi dụng xu hướng trên để khai thác tôn giáo vào mục đích
kinh tế để kiếm lời, nguy hiểm nhất là lợi dụng tôn giáo để phục vụ mục
đích chính trị phản động. Ba là, xu hướng dân tộc hóa được hình thành bởi
sự cố gắng của các quốc gia nhằm biến đổi tôn giáo cho phù hợp với đặc
điểm, phong tục truyền thống của mình để bảo vệ bản sắc riêng trước tác
động của toàn cầu hóa và tham vọng xâm lăng văn hóa trên thế giới. Điều
đó tạo nên sự đa dạng và đặc sắc cho tôn giáo thế giới xong cũng gây nên
sự hụt hẫng trong tư tưởng, sự đứt đoạn của tôn giáo truyền thống và đó là
cơ hội cho sự xuất hiện những tôn giáo mới.
Theo sự biến động phức tạp của thế giới, tôn giáo cũng đang biến đổi,
vận động đa chiều. Có nhiều tôn giáo mới xuất hiện với những quan điểm
tiến bộ, mới mẻ xong cũng xuất hiện nhiều giáo phái có tham vọng quyền
lực, thể hiện sự phi nhân tính, phản văn hóa, thậm chí mang tư tưởng điên
khùng, rồ dại với những biểu hiện: kích động bạo lực, tự sát, loạn
luân…Những biến đổi nên trên của tình hình tôn giáo thế giới hiện nay đã
có ảnh hưởng nhất định tới tình hình tôn giáo ở Việt Nam.
b. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và các loại hình tín ngưỡng. Hiện
nay, nước ta có khoảng trên 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo,
trong đó có khoảng 21 triệu tín đồ của 06 tôn giáo lớn được Nhà nước công
nhận cụ thể là: Phật giáo: 10 triệu, Công giáo: 6,1 triệu, Hồi giáo: 72 000,
Tin lành: 1 triệu, Cao Đài: 2,3 triệu và Phật giáo Hòa Hảo 1,3 triệu
19
người.[4, tr.84-90 ]
Tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển. Số lượng tín đồ của các tôn
giáo tăng nhanh. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2001 thì số
tín đồ tôn giáo ở nước ta là khoảng 18 triệu người. Tới năm 2008, số tín đồ
của 06 tôn giáo lớn ở nước ta đã là gần 21 triệu người, cùng với khoảng 1,5
triệu tín đồ của 06 tôn giáo mới được Nhà nước công nhận (Tịnh độ Cư sỹ
Phật hội, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Giáo hội Phật đường
Nam tông Minh sư đạo, Minh lý đạo Nam tông Miếu và đạo Baha’i) thì số
tín đồ của cả nước đã lên tới hơn 22 triệu người. Số lượng chức sắc, nhà tu
hành không ngường tăng. Tổng số chức sắc, nhà tu hành ở nước ta hiện nay
là 62.468 người, trong đó phật giáo: 38.365 người, Công giáo: 15.058
người, Cao Đài: 7.350 người, Phật giáo Hòa Hảo: 523 người, Hồi giáo: 669
người. Trong khi số lượng các chức sắc, nhà tù hành của các tôn giáo năm
2001 là 44.621 người. Số lượng các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng tăng
lên. Tính đến nay, cả nước đã có 31 tổ chức tôn giáo được Nhà nước cấp
đăng ký hoạt động và công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức của 12 tôn
giáo (Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa
Hảo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Giáo
hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Minh lý đạo Nam tông Miếu và đạo
Baha’i). Số cơ sở thờ tự, nhà thờ, đền chùa, thánh thất cũng không ngừng
tăng. Tổng số cơ sở thờ tự trong cả nước hiện nay là 22.354, trong đó Phật
giáo: 14.401, Công giáo: 6.164, Tin lành: 274, Cao Đài: 1.315, Phật giáo
Hòa Hảo: 123, Hồi giáo: 77. Cơ sở thờ tự của các tôn giáo thường xuyên
được nâng cấp, được Nhà nước giao đất để mở rộng hoặc xây dựng mới. Ví
dụ: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao đất cho Tòa Tổng Giám mục xây dựng
Trung tâm mục vụ, thành phố Đà Nẵng giao hơn 9000m2 đất cho Tòa Giám
mục Đà Nẵng, tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang để
mở rộng cơ sở tôn giáo…Sự phát triển của tôn giáo gắn liền với tinh thần
yêu nước, ý thức tôn trọng pháp luật của phần lớn các chức sắc, tín đồ. Do
đó, tôn giáo ở Việt Nam nhìn chung hoạt động bình thường, ổn định trong
20
khuôn khổ pháp luật.
Các sinh hoạt tôn giáo như các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được diễn ra
bình thường, đặc biệt các ngày lễ trọng của các tôn giáo như lễ Phật đản của
Phật giáo, lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của đạo Công giáo và đạo Tin lành, lễ
khai đạo của đạo Cao đài và Phật giáo Hòa Hảo, tháng chay Ramadan của
Hồi giáo…Những ngày lễ trọng của các tôn giáo được tổ chức trang nghiêm
với quy mô ngày càng lớn, theo đúng nghi thức và thu hút được nhiều tín đồ
tham dự với tinh thần phấn khởi, yên tâm, đồng thời đảm bảo trật tự an toàn
xã hội.
Việc củng cố tổ chức, phong chức, phong phẩm, thuyên chuyển và bổ
nhiệm các vị chức sắc và nhà tu hành để chăm lo việc đạo vừa đảm bảo
theo đúng Hiến chương, Điều lệ của các tổ chức tôn giáo vừa tuân thủ
nghiêm túc các quy định của pháp luật. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức
sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo được duy trì và không ngừng mở rộng.
Các trường Trung cấp Phật học, Cao đẳng Phật học, Học viện Phật giáo
thường xuyên chiêu sinh với số lượng lớn, không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo các tăng ni. Các Đại chủng viện của Giáo hội Công giáo luôn
tăng số lượng và số lần chiêu sinh mỗi khóa đồng thời mở thêm các cơ sở
mới tại nhiều nơi như giáo xứ Cổ Nhuế (Hà Nội), Giáo phận Bùi Chu (Nam
Định). Đối với đạo Tin Lành, Viện Thánh kinh Thần học của Tổng Liên hội
Hội Thánh Tin lành Việt Nam đã được giao đất để xây dựng cơ sở đào tạo.
Ban Trị sự Tổng Liên hội còn mở lớp bồi dưỡng giáo lý cho các mục sư,
mực sư nhiệm chức, những người truyền đạo là người dân tộc thiểu số chưa
qua đào tạo. Đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo cũng đã mở các lớp bồi
dưỡng giáo lý thu hút đông đảo người tham dự. Ngoài ra còn có hàng trăm
người được các tôn giáo cử theo học các trường tôn giáo ở nước ngoài có
trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ.
Việc in ấn kinh sách, xuất bản ấn phẩm tôn giáo được đảm bảo duy
trì thường xuyên, đáp ứng yêu cầu hoạt động tôn giáo. Trong 3 năm gần đây
(2006, 2007, 2008) Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản 1.777 đầu
21
sách tôn giáo với 4.511.900 bản in, 518.200 đĩa VCD-CD-MP3 và hoàn
thành việc in 30.000 cuốn Kinh thánh bằng các tiếng Ba-na, Ê-đê, Gia-rai
nhằm tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ ở vùng dân tộc
thiểu số Tây Nguyên. Kinh sách của Phật giáo cũng được in bằng tiếng
Khmer để phục vụ sinh hoạt tôn giáo của đồng bào theo Phật giáo Nam tông
Khmer [4, tr.65].
Trong xu hướng “thế tục hóa”, các tôn giáo Việt Nam đã quay về với
cuộc sống hiện thực, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, các Hội thánh Cao đài và Giáo hội Phật giáo Hòa
Hảo cũng như các tổ chức tôn giáo khác đã mở hàng trăm phòng khám,
chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho người nghèo. Nhiều chức sắc, nhà
tu hành và các tổ chức tôn giáo đã có thành tích xuất sắc trong việc phát
động và thực hiện các hoạt động từ thiện như nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết
tật, chăm sóc sức khỏe cho người già, người tàn tật, bệnh nhân phong, bệnh
nhân HIV giai đoạn cuối, tổ chức quyên góp cứu trợ đồng bào gặp khó khăn
do thiên tai… Ngoài ra các tôn giáo còn tham gia các hoạt động xã hội khác
như giúp đỡ, tạo điều kiện cho đồng bào lao động sản xuất (như hỗ trợ vốn
cho người nghèo, giúp đỡ khôi phục các làng nghề truyền thống nhằm giải
quyết việc làm tại chỗ cho người dân), xây dựng cầu đường giảm bớt khó
khăn cho những người dân nghèo, những người ở vùng sâu, vùng xa.
Đời sống vật chất và tinh thần của các tín đồ tôn giáo ngày càng nâng
cao. Các chức sắc, tín đồ tôn giáo nhìn chung đều mang tinh thần phấn
khởi, yên tâm, sống tốt đời, đẹp đạo. Trong phong trào “Xây dựng đời sống
văn hóa ở khu dân cư” các tín đồ đã tham gia tích cực, các tổ chức tôn giáo
nhiệt tình hưởng ứng bằng việc phát động các phong trào xây dựng “Chùa
cảnh tinh tiến”, “Chùa cảnh văn hóa” trong Phật giáo và xây dựng “Xứ họ
đạo tiên tiến”, “Gia đình công giáo gương mẫu” trong đồng bào Công
giáo… Kết quả đạt được là nhiều khu dân cư có tín đồ theo tôn giáo đã trở
thành những điểm sáng về phong trào phòng chống tội phạm và các tệ nạn
xã hội, giữ gìn tốt trật tự, an toàn xã hội.
22
Bên cạnh những mặt tích trên, tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay
vẫn còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn
định. Một số cá nhân tôn giáo còn chưa tuân thủ pháp luật khi tham gia các
hoạt động tôn giáo. Hiện tượng truyền giáo trái phép, hành nghề mê tín dị
đoan vẫn còn tồn tại. Trong những năm gần đây, việc khiếu kiện, tranh chấp
đất đai liên quan đến tôn giáo ở một số nơi tăng lên và trở thành vấn đề rất
phức tạp. Bên cạnh đó, việc kích động, lôi kéo các tín đồ là người dân tộc,
miền núi của các lực lượng phản động nhằm chống đối, lật đổ chính quyền
cũng được đẩy mạnh. Ngoài ra, các đạo lạ cũng xuất hiện ngày càng nhiều
như Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Long Hoa Di Lặc, Thanh Hải Vô Thượng Sư,
Đạo Thánh Mẫu, Kinh Hoa Đào, Đạo Chân Không…Các đạo lạ trên phần
lớn không có đường hướng hành đạo rõ ràng, hoạt động lén lút với các nghi
lễ phản văn hóa, phi nhân tính, trái với truyền thống đạo đức của dân tộc
như hỏa lễ, tự thương, tự tử, đập bàn thờ tổ tiên, sinh hoạt tình dục bừa
bãi…Hơn nữa, các đạo lạ ở Việt Nam phần lớn xuất hiện vì mục đích cá
nhân nhằm thu lợi bất chính về kinh tế, lợi dụng niềm tin mù quáng của một
bộ phận dân chúng để tồn tại, một số có thái độ mặc cảm với xã hội, tuyên
tuyền mê tín dị đoan, kích động, chống đối chế độ. Mặt khác, đứng sau
nhiều đạo lạ là các thế lực chính trị phản động luôn muốn lợi dụng tôn giáo
vào mục đích ngoài tôn giáo. Điều đó làm cho tình hình tôn giáo càng thêm
nhạy cảm, phức tạp hơn. Bởi vậy, một yêu cầu lớn đặt ra cho Đảng và Nhà
nước ta là phải có đường lối chính sách đối với tôn giáo sao cho phù hợp để
có thể vừa đảm bảo ổn định chính trị, xã hội vừa đáp ứng được nhu cầu tinh
thần của nhân dân và chống lại các âm mưa chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, chống phá chế độ, làm phương hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.
1.2. Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với tôn giáo
a. Khái niệm quản lý nhà nước đối với tôn giáo
Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ rất lâu xong về thuật ngữ “Quản
lý” thì đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất. Do mỗi ngành khoa