Tải bản đầy đủ (.pdf) (74 trang)

Hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu quốc hội ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (497.58 KB, 74 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ YẾN

HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Ngân

HÀ NỘI - 2010


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu
quốc hội

5



1.1. Vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân

5

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội

12

1.3. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà nước,
tổ chức Chính trị - xã hội và nhân dân

19

Chương 2: Thực trạng, phương hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay

31

2.1. Thực trạng địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội

31

2.2. Phương hướng nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội ở nước ta hiện nay

44

2.3. Giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc
hội


47

KẾT LUẬN

68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

71


1

M U
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước đang thực hiện đường lối
xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại điện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khoá X) và Luật
tổ chức Quốc hội đã chỉ rõ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; cơ quan duy nhất có quyền lập
hiến và lập pháp; cơ quan quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và
đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ
xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước. Như vậy, Quốc hội là nơi thể hiện cao nhất quyền

lực của nhân dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước nói
riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam.
Chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử nói chung, Quốc hội nói
riêng được đảm bảo bằng hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, hoạt động
của đại biểu Quốc hội. Trong đó hoạt động của đại biểu Quốc hội đóng vai trò
rất quan trọng, bởi lẽ các cơ quan của Quốc hội cũng được cấu thành bởi các
đại biểu Quốc hội.
Thực tế những năm qua cho thấy, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến
việc kiện toàn tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của Quốc hội nói chung, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội nói
riêng. Tuy nhiên, hiện nay đứng trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa vai trò của
người đại biểu dân cử. Điều này liên quan đến việc hoàn thiện địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội. Vì vậy việc tác giả chọn đề tài Hoàn thiện địa vị pháp


2

lý của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay làm luận văn thạc sỹ vừa có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vị trí quan trọng của đại biểu Quốc hội, trong nhiều năm
qua có khá nhiều công trình khoa học dành sự quan tâm nghiên cứu về vị trí,
vai trò của đại biểu của Quốc hội với mục đích nghiên cứu, góc độ và phạm vi
tiếp cận khác nhau, trong đó ít nhiều đề cập một số vấn đề liên quan đến địa vị
pháp lý của đại biểu Quốc hội.
Đó là: "Một số vấn đề về đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động lập
pháp của Quốc hội" của Tiến sĩ Phan Trung Lý, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật 3/1997; Đề tài "Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay"

do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ
trì; Đề tài "Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía
cạnh pháp lý theo hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội" PGS,TS Nguyễn Đăng
Dung chủ trì; Đề tài "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta
hiện nay" do Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh chủ trì. Luận án tiến sĩ của Lê Thanh Vân về Cơ sở lý luận của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Luận án tiến sĩ của Trần Hồng
Nguyên về: Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay...
Các công trình khoa học nêu trên không nghiên cứu địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội một cách có hệ thống mà chỉ đề cập đến một số vấn đề liên
quan như đổi mới phương pháp lựa chọn đại biểu Quốc hội, nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội.. Vì vậy, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề hoàn thiện địa

vị pháp lý của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên các công trình khoa học nói trên
đã có những đóng góp quý báu trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của đại biểu Quốc hội; đồng thời cũng là tài liệu tham khảo có
giá trị giúp học viên hoàn thành tốt luận văn của mình.


3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội có đối tượng và phạm
vi nghiên cứu rất rộng, khó có thể thực hiện đầy đủ trong điều kiện nghiên cứu
đối với một luận văn cao học. Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở
lý luận, phân tích thực trạng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách

nhiệm của đại biểu Quốc hội để qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả kỳ họp Quốc hội trong thời gian tới.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về đại vị pháp lý của đại
biểu Quốc hội, luận văn sẽ kiến nghị, luận chứng những giải pháp nhằm hoàn
thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nhằm góp phần nghiên cứu đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời gian
tới. Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Khái quát và phân tích cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của đại biểu Quốc
hội.
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội.
- Nêu phương hướng và kiến giải một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị
pháp lý của Quốc hội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và những nhiệm vụ được đặt ra, luận văn được
nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, về khoa học chính trị; các quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài của luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp
luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp
cụ thể khác: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp khái quát hóa;
phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp của lý thuyết hệ thống;


4

phương pháp phân tích quy phạm cụ thể, phương pháp của luật so sánh và
tham khảo kinh nghiệm nước ngoài ...

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về lý luận và thực tiễn về
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội; làm rõ và phân tích nội hàm của địa vị
pháp lý của đại biểu Quốc hội; phân tích thực trạng để chỉ ra những nguyên
nhân cơ bản của thành công cũng như những hạn chế của địa vị pháp lý của
đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay. Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm
hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện
cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội. Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến Quốc hội, hoạt động của đại biểu
Quốc hội.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương.


5

CHNG 1
MT S VN Lí LUN V A V PHP Lí
CA I BIU QUC HI
1.1. Vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân
Trong lịch sử phát triển của xã hội dân chủ văn minh, đại biểu Quốc hội
(nghị sỹ) luôn được coi là một nhân vật có uy tín, được Nhà nước, xã hội và
công dân tôn trọng giao cho trọng trách thay mặt nhân dân, nói tiếng nói của
dân.
nước ta địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội được xác định trên cơ sở
vị trí của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước với tính chất là cơ quan đại biểu

cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội bao gồm những quy định của Hiến
pháp và pháp luật (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu
Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc...) về vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của đại
biểu Quốc hội. Trong quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội nước ta,
địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội không ngừng được hoàn thiện, củng cố và
phát triển.

1.1.1.Một số quan điểm về vị trí, vai trò của người đại biểu nhân dân
Tính chất đại diện của cơ quan đại biểu nhân dân đã được các nhà triết
học, chính trị trên thế giới đề cập từ lâu. Nhưng phải đến nửa đầu thế kỷ thứ
XVIII, khi tư tưởng về chế độ đại nghị được hình thành thì cơ quan đại biểu
nhân dân mới trở thành cơ quan lập pháp như hiện nay. Một trong những nội
dung cơ bản của chế độ đại nghị là tư tưởng đại diện nhân dân. Mô hình người
đại biểu được xây dựng dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cơ quan đại diện nhân dân được thiết lập trên cơ sở Hiến
pháp. Với tư cách là văn bản pháp lý cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực
Nhà nước, Hiến pháp ra đời sau khi giai cấp tư sản giành chính quyền trong
cuộc đấu tranh chống lại Nhà nước phong kiến chuyên chế. Mục đích của việc


6

ban hành Hiến pháp là hạn chế quyền lực vô định của giai cấp phong kiến mà
đại diện là nhà vua, xây dựng một chế độ chính trị mới theo đó phân định ba
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tạo nên sự cân bằng quyền lực và bằng
cách đó, các quyền công dân được bảo đảm. Là Luật cơ bản của Nhà nước, có
hiệu lực pháp lý cao nhất, Hiến pháp bảo đảm cho sự tồn tại và vận hành ổn
định của các thiết chế Nhà nước, trong đó có Nghị viện.


Thứ hai, nhân dân là người mang chủ quyền (quyền lực tối cao và duy
nhất), uỷ quyền cho Nghị viện thay mặt mình thực hiện quyền lập pháp. Theo
Montesquieu, nhân dân chỉ uỷ quyền cho Nghị viện thực hiện quyền lập pháp
mà thôi. Khi bàn về quyền lập pháp trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, ông
viết: "Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do,
thì phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp.
Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp.
Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực
hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc
mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được"[1] . Việc uỷ quyền này
được thực hiện thông qua cuộc bầu cử thành lập Nghị viện. Theo quan điểm
của các học giả ủng hộ chế độ đại nghị, thành viên của Nghị viện không đại
diện cho cử tri bầu ra họ, mà đại diện cho toàn thể dân tộc, bởi vậy họ không
phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi nhiệm.
ng hộ quan điểm nói trên, nhà hiến pháp học người Pháp L.Diughi
cho rằng, mặc dù từng thành viên của Nghị viện do cử tri bầu ra nhưng mối
quan hệ tổng thể ở đây là mối quan hệ giữa toàn bộ các thành viên của Nghị
viện với toàn thể nhân dân, bởi vậy "Nghị viện là cơ quan đại diện được nhân
dân uỷ quyền"[2] .
Khi đặt vấn đề giải thích ý nghĩa của các thuật ngữ "uỷ quyền" và "đại
diện" dùng cho Nghị viện Học giả người Pháp, M. Prelot đã nhấn mạnh: "Khi
cử tri lựa chọn cá nhân này hay cá nhân kia để bầu làm đại biểu, thì ý chí của
[1]
[2]

Montesquieu - Tinh thần pháp luật- NXB Giáo dục Hà Nội 1996, Trg.103-104
L. Duguit - luật Hiến pháp (Tiếng Nga), Matxcơva, 1998, Tr. 416



7

cử tri đã bị hạn chế, bởi vậy cử tri không thể gây ảnh hưởng tới người trúng
cử. Vị thế này được xác định bởi Hiến pháp và luật. Thuật ngữ "uỷ quyền"
trong Tuyên ngôn 1789 nên hiểu khác nghĩa so với thuật ngữ "uỷ quyền" được
sử dụng trong Luật dân sự. Tương tự vậy, thuật ngữ "đại diện" nên được hiểu
đối nghĩa trong tương quan với cách cắt nghĩa dưới góc độ ngôn ngữ học.
Những đại biểu được bầu trong cuộc bầu cử trực tiếp, tự do, hoàn toàn độc lập
không phụ thuộc vào cử tri"[3] . Trong ngôn ngữ pháp lý phương tây, sự uỷ
quyền này được gọi là "uỷ quyền tự do" (free mandate). Theo nguyên tắc uỷ
quyền tự do, Nghị viện nói chung và các thành viên của Nghị viện nói riêng là
người đại diện cho toàn thể nhân dân, bởi vậy không một ai có thể trao cho đại
biểu uỷ nhiệm thư, các đại biểu hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, luật và
theo nhận thức của mình để quyết định các vấn đề phù hợp với nguyện vọng
của nhân dân. Nhà hiến pháp học người Pháp M. Prelot đưa ra nội dung của
nguyên tắc uỷ quyền tự do như sau: Sự uỷ quyền là chung cho toàn thể (mặc
dù đại biểu do cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra, nhưng đại biểu đại diện cho toàn
thể nhân dân); sự uỷ quyền là không bắt buộc (đại biểu thực hiện sự uỷ quyền
một cách tự do, không buộc phải tính đến ý kiến của cử tri nơi bầu ra mình);
sự uỷ quyền không bị triệu hoàn (các đại biểu không bị cử tri bãi nhiệm vì bất
cứ lý do gì); sự uỷ quyền được thực hiện mà không cần sự đồng ý của người
uỷ quyền (các đại biểu biết rằng cần phải làm gì để cho ý chí của đại biểu với
ý chí của nhân dân là điều hiển nhiên không phải bàn cãi)[4] .
Nguyên tắc uỷ quyền tự do được áp dụng cho tổ chức và hoạt động của
nghị viện ở nhiều nước trên thế giới. Thí dụ, khoản 1 Điều 104 Hiến pháp Ba
Lan 1997 quy định: "Các đại biểu là người đại diện của dân tộc. Đại biểu
không bị ràng buộc bởi ý kiến của cử tri"; Điều 67 Hiến pháp Italy 1947 quy
định: "mỗi thành viên của Nghị viện là người đại diện của dân tộc. Khi thực
hiện nhiệm vụ, đại biểu không phải chịu trách nhiệm chính trị trước cử tri".


[3]

M. Prelot - Luật Hiến pháp Cộng hoà Pháp (Tiếng Nga), Matxcơva, NXB Văn học nước
ngoài. M 1957. Tr. 436.
[4]
M. Prelot - SĐD - Tr. 438 - 440


8

Đối lập với quan điểm trên là quan điểm của J.J. Rousseau về tư cách
của đại biểu là thành viên Nghị viện. Theo quan điểm của J.J. Rousseau, chủ
quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện thay, đồng thời
nó cũng không thể bị xoá bỏ; nó nằm ngay trong ý chí của toàn dân, là ý chí
chung không ai nói thay được... Các đại diện nhân dân không phải và không
thể là người thay mặt nhân dân được; họ chỉ có thể là những uỷ viên chấp
hành[5]. Nhân dân uỷ quyền cho các đại biểu thực hiện quyền lập pháp, đồng
thời yêu cầu các đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chí của nhân
dân.
Khi nghiên cứu kinh nghiệm của phong trào công xã Pari, C.Mác cho
rằng "Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành
động, vừa lập pháp, vừa hành pháp"

[6]

. Phân tích quan điểm này của Mác,

VI.Lênin đã chỉ ra rằng: "Công xã thay chế độ đại nghị... vì các nghị sĩ phải tự
mình công tác, tự mình thực hiện những pháp luật của mình, tự mình kiểm tra
lấy tác dụng của những pháp luật ấy, tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri

của mình. Những cơ quan đại diện vẫn còn, nhưng chế độ đại nghị, với tính
cách là một hệ thống đặc biệt, một sự phân chia giữa công tác lập pháp và
công tác hành pháp... thì không còn nữa"[7]. Những quan điểm này đã tạo cơ sở
lý luận cho việc xác định địa vị pháp lý của Nghị viện nói chung, các thành
viên của nghị viện nói riêng ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù trong tổ chức của bộ máy nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa
có sự phân công rành mạch giữa lập pháp và hành pháp. Chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ được Hiến pháp, luật quy định rõ ràng.
Nhưng quan điểm của Mác - Lênin về trách nhiệm của cơ quan đại diện nói
chung, các thành viên của cơ quan nói riêng trước cử tri đã hình thành một
nguyên tắc về tư cách đại biểu Quốc hội - nguyên tắc uỷ quyền mệnh lệnh
(imperative mandate). Theo nguyên tắc này, cử tri, thông qua bầu cử, trao cho
các đại biểu uỷ nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu
[5]

J. J Rousseau- Bàn về khế ước xã hội, NXB TP HCM, 1992. Tr. 140
C. Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội. 1994, Tr. 17, Tr. 455
[7]
V. I- Lenin - Toàn tập, Tiếng Nga, NXB Tiến bộ, M. 1976, Tr. 33, Tr. 59
[6]


9

không thực hiện hoặc thực hiện không tốt uỷ nhiệm thư. VI.Lê nin còn chỉ ra
rằng, bằng hình thức đó chế độ dân chủ đại diện mới thực sự dân chủ và cơ
quan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân.

1.1.2. Quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò
của người đại biểu nhân dân.

Các vấn đề chung về tổ chức bộ máy Nhà nước ta, trong đó có địa vị
pháp lý của người đại biểu dân cử được xác định trên cơ sở học thuyết Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước.
Tiếp thu một cách sáng tạo học thuyết Mác-Lênin ngay từ khi còn bôn
ba ở nước ngoài, Bác Hồ đã khẳng định nhân dân phải có cơ quan đại diện và
Hiến pháp của mình. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bên cạnh
việc đối phó với thù trong giặc ngoài, Hồ Chủ Tịch và Chính phủ lâm thời của
nước Việt Nam Dân chủ công hoà đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc
dân đại hội và soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được tiếp tục thể hiện trong các bản Hiến pháp
của Việt Nam, trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng và trong thực tế cuộc
sống.
Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta chủ trương củng cố và phát huy
vai trò của Quốc hội, tạo điều kiện để các đại biểu dân cử thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước.
Địa vị pháp lý của Quốc hội, đại biểu Quốc hội ta được xác định trên cơ
sở các nguyên tắc sau đây:
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân.
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.


10

- Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở nơi bầu ra mình mà còn đại diện cho
nhân dân cả nước.
- Đại biểu Quốc hội là người có đủ tiêu chuẩn đức, tài thay mặt nhân

dân thực hiện quyền lực Nhà nước.
Thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, việc củng cố và tăng
cường địa vị pháp lý nhằm nâng cao vị trí, vai trò của đại biểu dân cử ngày
càng được coi trọng. Yêu cầu đó được tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X.
Theo đó, vị trí và vai trò của đại biểu Quốc hội được khẳng định như
sau:
Đại biểu Quốc hội có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội. Đại biểu
là thành viên của Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

- Vị trí của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với
nhân dân, duy trì mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân và ngược lại.
Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước, là người phản ánh ý kiến, nguyện vọng
của nhân dân, biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy định pháp
luật của Nhà nước. Đại biểu Quốc hội còn là người phổ biến, động viên nhân
dân thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước.

- Vai trò của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của đất nước. Vai trò đó của đại biểu Quốc hội được thể hiện cụ thể
qua việc:

+ Đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân


11


Để thực hiện được trách nhiệm của mình, đại biểu Quốc hội phải thể
hiện vai trò là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Điều đó
có nghĩa là, đại biểu Quốc hội cần:
* Đi sâu, đi sát cử tri, liên hệ chặt chẽ với cử tri, lắng nghe ý kiến của
cử tri;
* Thu thập, phản ánh đầy đủ ý kiến nguyện vọng của cử tri với các cơ
quan nhà nước;
* Đề nghị với các cơ quan nhà nước hữu quan nghiên cứu ý kiến, giải
quyết kiến nghị của cử tri;
* Biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành các quy định của Nhà
nước mang tính bắt buộc chung trong Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc
hội.

+ Gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước
Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của
Nhà nước. Đây là một trong những tiêu chuẩn mà đại biểu Quốc hội cần có. Vai
trò gương mẫu của đại biểu được thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc.
Đại biểu phải quán triệt và thực hiện đúng các quy định của pháp luật
trong công tác của mình tại cơ quan nơi đại biểu công tác, tại nơi cư trú và
trong gia đình. Ngoài việc tự mình chấp hành tốt các quy định của pháp luật,
đại biểu còn có trách nhiệm vận động để vợ, con, gia đình mình cũng gương
mẫu chấp hành pháp luật.

+ Tuyên truyền, vận động nhân dân dân thực hiện chính sách, pháp luật
và tham gia vào việc quản lý Nhà nước
Việc tuyên truyền, vận động bao gồm: việc phổ biến những quy định
mới của pháp luật; giải thích những ý kiến thắc mắc, băn khoăn của nhân dân;
làm cho nhân dân thông suốt về tư tưởng, tin tưởng vào đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tích cực thực hiện các quy định của pháp
luật, tham gia vào việc quản lý nhà nước.



12

Mặt khác, qua hoạt động này, đại biểu cũng nắm được những vướng
mắc trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, kịp thời phản ánh với
các cơ quan có trách nhiệm để có biện pháp giải quyết.

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến
pháp và được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội (sửa đổi), Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi) và
các văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo đó, đại biểu Quốc hội có những
nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:

1.2.1. Tham gia quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn
của Quốc hội.
Là người đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất, là thành viên của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia
quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: lập hiến,
lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu
về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động
của công dân; quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

1.2.2. Liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri và tiếp dân:
Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, phải liên hệ chặt chẽ
với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm
hiều tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến,
kiến nghị của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan.

Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri nơi bầu ra mình. Quy
chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định đại
biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp xúc cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri
của Đoàn đại biểu Quốc hội. Mỗi năm một lần, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri
trong thời gian cuối năm, đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về việc thực
hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Cử tri có quyền yêu cầu đại biểu Quốc hội


13

báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại
biểu Quốc hội. Ngoài ra, đại biểu Quốc hội có thể tiếp xúc cử tri nơi cư trú,
nơi làm việc.
Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể về các hình thức, trách nhiệm
của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức ... trong
việc tạo điều kiện, tổ chức cho đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri.
Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân, nghiên cứu và chuyển
các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân đến người có thẩm quyền giải
quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tố cáo đó.

1.2.3. Tham dự các kỳ họp, phiên họp Quốc hội
Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội. Do đó,
việc tham gia đầy đủ của Đại biểu Quốc hội vào các kỳ họp, phiên họp Quốc
hội có một ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
Quốc hội nói chung và của đại biểu Quốc hội nói riêng.
Theo quy định của pháp luật, Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia
các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội,
của Đoàn đại biểu Quốc hội.Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng
dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo
luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ,

quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên.
Trong trường hợp không thể tham gia kỳ họp Quốc hội, các phiên họp, các
cuộc họp, thì đại biểu Quốc hội báo cáo theo quy định của Nội quy kỳ họp
Quốc hội.

- Nhiệm vụ nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị cho kỳ họp Quốc hội
Theo quy định tại Điều 7 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và
Đoàn đại biểu Quốc hội, khi nhận được thông báo, dự kiến chương trình kỳ
họp và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu,
tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội chuẩn bị cho kỳ họp
Quốc hội.


14

- Quyền và nghĩa vụ thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp và các
vấn đề thuộc nhiệm vụ của Quốc hội
Đại biểu Quốc hội tham gia thảo luận, quyết định chương trình kỳ họp
tại phiên họp trù bị, thảo luận, quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền
hạn của Quốc hội tại các phiên họp toàn thể. Việc tham gia thảo luận của đại
biểu Quốc hội có thể được tiến hành ở phiên họp toàn thể, phiên họp tổ, đoàn
đại biểu Quốc hội. Đại biểu tham gia quyết định chương trình kỳ họp, các vấn
đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại phiên họp toàn thể theo hình
thức biểu quyết.

- quyền chất vấn
Chất vấn là một trong những hình thức thực hiện quyền giám sát tối cao
của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước. Theo quy định của pháp luật,
đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án toà án nhân

dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn có
trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu chất vấn. Trong trường hợp đại
biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất chấn thì có quyền đề
nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể hoặc phiên họp
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- quyền kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình
Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ này khi có
kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội.

- quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh
ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Theo Hiến pháp Đại biểu Quốc hội là một trong những chủ thể có
quyền sáng kiến pháp luật. Đại biểu Quốc hội gửi đề nghị xây dựng luật,
pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đồng thời gửi đến Chính phủ,


15

trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, xác định đối tượng và
phạm vi điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết cho việc soạn thảo văn
bản; kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội cũng được gửi đến Uỷ
ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.
Sau khi thẩm tra, nếu dự án luật, dự án pháp lệnh do đại biểu Quốc hội
trình được đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh, đại biểu Quốc hội
chỉ đạo Ban soạn thảo và thường xuyên cho ý kiến về việc soạn thảo dự án;

yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, thông tin liên
quan đến dự án; xem xét, quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội, trình
dự án pháp lệnh ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Văn phòng Quốc hội bảo
đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do đại
biểu Quốc hội trình.

1.2.4. Yêu cầu thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật.
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội, tổ chức
kinh tế, đơn vị vũ trang, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật đó.
Người nào cản trở đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ thì tuỳ theo
tính chất, mức độ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.2.5. Tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân
Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự và được mời tham dự kỳ họp Hội
đồng nhân dân nơi mình được bầu để nắm tình hình và tìm hiểu ý kiến,
nguyện vọng của nhân dân; tham gia ý kiến vào các vấn đề mà đại biểu quan
tâm; kiến nghị những biện pháp nhằm bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp
luật và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên; giới thiệu và phổ biến pháp
luật. Trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân


16

thông báo cho đại biểu Quốc hội biết thời gian, nội dung, chương trình và
cung cấp tài liêu về kỳ họp cho đại biểu Quốc hội.

Ngoài việc quy định đại biểu Quốc hội được mời và có quyền tham dự
kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu được bầu, đại biểu Quốc hội còn có
quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu Quốc hội cư trú hoặc
nơi làm việc khi Hội đồng nhân dân bàn những vẫn đề mà đại biểu Quốc hội
quan tâm.

1.2.6. Bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, nơi làm việc
Xuất phát từ địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội là người đại diện cho
nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực trong cơ quan Quốc hội.
Pháp luật nước ta luôn quy định đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, chỗ ở và nơi làm việc.
Trong thời gian Quốc hội họp, nếu không có sự đồng ý của Quốc hội,
trong thời gian Quốc hội không họp nếu không được sự đồng ý của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và
không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Việc đề
nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội
thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan
tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét quyết định.
Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách
chức, buộc thôi việc, nếu không được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý.

1.2.7. Được tạo điều kiện trong khi làm nhiệm vụ đại biểu
Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, đại biểu Quốc hội có quyền liên hệ với
các tổ chức, cơ quan, đơn vị để được cung cấp thông tin về những vấn đề mà
đại biểu Quốc hội quan tâm, đề nghị xem xét giải quyết những vấn đề có liên
quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ
của nhân



17

dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân
dân địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền quan của mình có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu của đại biểu
Quốc hội.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận giúp
đỡ đại biểu Quốc hội cùng cấp làm nhiệm vụ đại biểu, tạo điều kiện cho đại
biểu tiếp xúc với cư tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân
dân với Quốc hội.
Đối với các quyền yêu cầu giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của
công dân; yêu cầu áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp
luật; đáp ứng các thông tin, điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu,
nếu không được giải quyết thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người
đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại, yêu cầu người
đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải
quyết. Nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị đó không giải quyết hoặc
giải quyết không thoả đáng thì đại biểu Quốc hội báo cáo Uỷ ban thường vụ
Quốc hội xem xét, quyết định. Trong các trường hợp thực hiện quyền yêu cầu
áp dụng biện pháp chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Nếu không được giải
quyết, đại biểu Quốc hội có thể báo cáo ngay với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét quyết định.

1.2.8. Được hưởng các chế độ quy định
Đại biểu Quốc hội đương nhiệm được hưởng các chế độ sau:
- Được cung cấp tài liệu kỳ họp, các báo Nhân dân, báo địa phương, báo
Người đại biểu nhân dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu, văn bản
khác liên quan đến hoạt động của Quốc hội; được cung cấp dịch vụ thông tin,
nghiên cứu, thư viện và internet. Đại biểu là thành viên của Hội đồng dân tộc

hoặc Uỷ ban của Quốc hội còn được cung cấp thông tin về hoạt động của Hội
đồng dân tộc hoặc Uỷ ban mà đại biểu là thành viên. Đại biểu Quốc hội được
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đại biểu được bầu,


18

hoặc chuyển đến sinh hoạt cung cấp các nghị quyết và văn bản pháp luật ở địa
phương, các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương.
- Mỗi tháng đại biểu Quốc hội được cấp một khoản sinh hoạt phí bằng
1.0 của mức lương tối thiểu. Đại biểu Quốc hội tham gia kỳ họp Quốc hội
hoặc tham gia làm nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội, nhiệm vụ của Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, được bảo đảm các điều kiện ăn ở và
đi lại theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Đại biểu Quốc hội còn
được thanh toán tiền công tác phí khi làm nhiệm vụ theo sự phân công của
Đoàn đại biểu Quốc hội, tham gia các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các
Uỷ ban của Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội được tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ.
- Được hưởng các chế độ khám, chữa bệnh theo quy định của Nhà nước.
Đối với đại biểu Quốc hội không thuộc diện cán bộ trung, cao cấp, được khám
và điều trị theo tiêu chuẩn đối với cán bộ trung cấp. đại biểu Quốc hội không
có chế độ lương và phụ cấp được cấp bảo hiểm y tế, khi qua đời được hưởng
chế độ mai táng như cán bộ, công chức nhà nước.
- Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất
một phần ba thời gian làm việc trong năm để làm nhiệm vụ đại biểu. Thời gian
này được tính vào thời gian làm việc và được bảo đảm lương, phụ cấp và các
chế độ khác do cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc đài thọ. Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu làm việc có trách nhiệm sắp
xếp công việc, tạo điều kiện cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ;
không được cách chức, buộc thôi việc nếu không được Uỷ ban thường vụ

Quốc hội đồng ý.

1.2.9. Một số nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội chuyên trách
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội,
ở các Đoàn đại biểu Quốc hội, ngoài việc thực hiện các quyền hạn và nhiệm
vụ của đại biểu Quốc hội nói chung, còn có một số nhiệm vụ quyền hạn sau:


19

Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan của Quốc hội mà mình là thành viên theo sự
phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của
Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, đồng thời thực hiện một số nhiệm
vụ và quyền hạn:
- Được Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội uỷ nhiệm thực hiện một số
nhiệm vụ quy định tại Điều 26 của Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội;
- Tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội;
- Được mời dự các Hội nghị, các lớp học, tập huấn theo chức danh lãnh
đạo địa phương;
- Được mời dự các cuộc họp thường kỳ của Thường trực Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương; Được mời dự các cuộc tiếp dân định kỳ của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Có thể thấy rằng, với những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu

quả hoạt động của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội qua các giai đoạn, các
quyền hạn và nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được quy định ngày càng cụ thể
hơn trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan.

1.3. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân
Các mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu
quan đóng vai trò quan trọng, góp phần quyết định hiệu quả hoạt động của các
đại biểu Quốc hội nói riêng và của Quốc hội nói chung. Trong quá trình thực


20

hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đại biểu Quốc hội tham gia vào các mối
quan hệ với các cơ quan tổ chức hữu quan như sau:

1.3.1. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Quốc hội và các cơ quan
của Quốc hội
1.3.1.1. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Chủ tịch Quốc hội và Uỷ
ban thường vụ Quốc hội
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội thì Chủ tịch
Quốc hội giữ mối quan hệ với đại biểu Quốc hội; bảo đảm thi hành quy chế
đại biểu Quốc hội. Để thực hiện quy định đó, Chủ tịch Quốc hội sẽ quy định
cách thức trực tiếp hoặc thông qua bộ máy của mình. Và ngược lại, các đại
biểu Quốc hội có thể liên hệ trực tiếp với Chủ tịch Quốc hội hoặc thông qua
bộ máy của Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do
Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội. Uỷ ban thường vụ
Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật,
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Mối quan hệ của đại biểu

Quốc hội với Uỷ ban thường vụ Quốc hội thể hiện qua một số việc cụ thể sau đây:
- Khi đại biểu Quốc hội nhận được thông báo về dự kiến chương trình
làm việc và các tài liệu của kỳ họp Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội
gửi đến, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu và đóng góp ý kiến gửi
về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đảm bảo nội dung và thời gian theo quyết định
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo về tình hình hoạt động
của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội. Khi cần thiết, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội cử Đoàn công tác về địa phương xem xét các vấn đề mà
đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị.
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước
Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Căn cứu vào
dự kiến chương trình của Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án


21

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định. Khi dự án
luật, pháp lệnh do đại biểu Quốc hội trình được đưa vào chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có
trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo theo đề nghị của đại biểu Quốc hội trình
dự án.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án
Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong
thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội gửi ý kiến chất vấn của
mình đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển
đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Uỷ
ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét các trả lời chất vấn đối với các chất
vấn trong kỳ họp Quốc hội nhưng do cần điều tra, chưa thể trả lời trong kỳ

họp Quốc hội đó. Trong trường hợp chưa thoả mãn với nội dung trả lời chất
vấn, đại biểu Quốc hội có thể đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định
việc trả lời chất vấn trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc đưa ra thảo luận
tại kỳ họp Quốc hội. Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội
ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn.
- Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội
xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức
vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét
trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần
trăm tổng số đại biểu Quốc hội.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét, quyết định các
vụ việc được đại biểu Quốc hội báo cáo trong một số trường hợp cụ thể.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm hướng dẫn và bảo đảm các
điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này
cần hướng dẫn cụ thể cho đại biểu Quốc hội về phương pháp, cách thức hoạt
động của đại biểu Quốc hội giữa hai kỳ họp và tại kỳ họp Quốc hội, trình tự
tiến hành kiến nghị về luật, pháp lệnh, trình dự án luật, pháp lệnh và tổ chức


22

các phiên họp định kỳ với các trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, để rút kinh
nghiệm về hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định các vấn đề liên quan
đến quyền bất khả xâm phạm của đại biểu như xem xét đề nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở, nơi làm
việc của đại biểu; việc tạm giữ đại biểu trong trường hợp đại biểu phạm tội quả
tang; về việc tạm đình chỉ đại biểu trong trường hợp đại biểu bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; việc bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi
việc. Những việc nêu trên sẽ không được thực hiện nếu sẽ không được thực hiện

nếu không được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1.3.1.2. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Hội đồng dân tộc và các
Uỷ ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội là những cơ quan của
Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh
và các dự án khác, thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban
thường vụ Quốc hội giao, trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và thực hiện quyền giám sát, kiến nghị
những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của
Quốc hội có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các
vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội mà mình là thành viên. Đại biểu Quốc hội
hoạt động chuyên trách ở địa phương có trách nhiệm tham gia các đoàn công
tác, đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban của Quốc hội.
Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội hướng dẫn cụ thể và tạo
điều kiện để đại biểu Quốc hội là thành viên của mình thực hiện quyền trình
các dự án luật, pháp lệnh tra trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1.3.1.3. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với Văn phòng Quốc hội


23

Văn phòng Quốc hội là cơ quan giúp việc của Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trong việc nghiên cứu, tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động
của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội, theo sự chỉ đạo của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội gửi đến các đại biểu Quốc

hội các bản báo cáo, các dự án luật, các văn bản có liên quan đến nội dung kỳ
họp Quốc hội và các nghị quyết, luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thông qua.
Khi nhận được các dự án luật, dự kiến xây dựng chương trình pháp luật
và nội dung của kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham
gia đóng góp ý kiến và gửi về Văn phòng Quốc hội.
Văn phòng Quốc hội giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội đảm bảo các
điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội như : Cung cấp tài liệu, thông tin
cần thiết, bố trí phương tiện, điều kiện vật chất, phân bổ kinh phí hoạt động
của đại biểu Quốc hội theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Văn phòng Quốc hội tổ chức phục vụ các hoạt động của đại biểu Quốc
hội, giữ mối quan hệ chặt chẽ với đại biểu Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội có
quyền và trách nhiệm tham gia góp ý xây dựng với Văn phòng Quốc hội và
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội về công tác phục vụ hoạt động của đại
biểu Quốc hội.

1.3.2. Mối quan hệ của đại biểu Quốc hội với các cơ quan hữu quan
khác ở trung ương
Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của
Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của
Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở;
bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm


×