BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯƠNG CHÍ CÔNG
LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN MỘT SỐ NƯỚC
NHỮNG KINH NGHIỆM KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN,
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp
Mã số: 60 38 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Thái Vĩnh Thắng
HÀ NỘI 2011
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 3
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.
7. Cơ cấu của luận văn.
CHƯƠNG 1. NỘI DUNG CƠ BẢN, ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ÁP
DỤNG VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN TRONG LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN
CỦA HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN.
1.1.
Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện trong Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc
1.2.
Trang 11
Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện trong Luật Tiếp cận thông tin của Trung Quốc
1.3.
Trang 11
Trang 18
Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện trong Luật Tiếp cận thông tin của Nhật Bản
Trang 25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM VÀ
NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA
Trang 32
2.1. Văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến việc bảo
đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
2.2. Thực trạng tiếp cận thông tin ở Việt Nam
2.2.1. Tiếp cận thông tin chính sách, pháp luật
Trang 32
Trang 37
2
2.2.2. Tiếp cận thông tin hoạt động của cơ quan công quyền
2.2.3. Tiếp cận thông tin giải quyết yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của
công dân
2.2.4. Tiếp cận thông tin qua báo chí
2.2.5. Tiếp cận thông tin về hoạt động tư pháp
2.3. Những yêu cầu đặt ra trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở
Việt Nam
Trang 48
CHƯƠNG 3. KINH NGHIỆM TỪ HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, NHẬT
BẢN VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
Trang 51
3.1. Kinh nghiệm rút ra từ pháp luật tiếp cận thông tin của Hàn Quốc,
Trung Quốc, Nhật Bản.
Trang 51
3.1.1. Kinh nghiệm lựa chọn đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện của Hàn Quốc.
3.1.2. Kinh nghiệm lựa chọn đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện của Trung Quốc.
3.1.3. Kinh nghiệm lựa chọn đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế thực
hiện của Nhật Bản
3.2. Những đề xuất cho việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện pháp luật tiếp
cận thông tin ở Việt Nam.
KẾT LUẬN
Trang 53
3
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trên bước đường xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam, “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là một chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước ta. Chủ trương này đã và đang được thể hiện rõ nét trong nhiều
văn kiện chính trị cũng như cụ thể hóa trong nhiều Bộ luật, luật và văn bản
dưới luật.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội năm 1991 đã xác định: “…Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do
sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông
tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích…” (1)
Tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 có quy định, Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân. Theo đó, một trong những nguyên tắc quan trọng
và mục tiêu hoạt động của Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước bảo
đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân; tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền hiến định của công dân; cơ quan nhà nước
phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
Trong số các quyền hiến định của công dân, cũng trong Hiến pháp năm
1992, Điều 69 đã quy định quyền được thông tin của công dân cùng với các
quyền khác như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền khiếu nại, tố cáo
Còn Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII năm 1995 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính đã nhấn
mạnh trách nhiệm công khai thông tin của các cơ quan nhà nước nhằm bảo
đảm quyền được thông tin của người dân: “…Hoàn thiện quy chế ban hành,
4
công bố, phổ biến luật và các văn bản pháp quy khác; quy định trách nhiệm
của các công sở trong việc niêm yết và cung cấp thông tin cho nhân dân về
các văn bản pháp quy…” (2)
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996, Văn kiện Đại hội chỉ ra biện
pháp cụ thể: “Cải tiến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật…; xây dựng
quy chế thông tin đối với dân về các quyết định và công việc của nhà nước…”
(3)
Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, văn kiện Đại hội nêu: “Công khai hóa các nội
dung, cơ chế, phương thức giám sát của các cơ quan chức năng, các đoàn thể
quần chúng và nhân dân về thực hiện pháp luật, chính sách, pháp luật của
nhà nước. Minh bạch và công khai các thông tin, các quy định của nhà
nước…” (4)
Còn trong Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 ban hành Chiến lược
phòng chống tham nhũng đến năm 2020 thì chỉ rất rõ: “Xây dựng và thực hiện
cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân về hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị; hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế
người phát ngôn của cơ quan nhà nước; xây dựng và ban hành luật về tiếp
cận thông tin; có chế tài đối với người vi phạm quyền được thông tin của công
dân.” (5)
Điểm qua một vài văn kiện như vậy có thể thấy, chủ trương của Đảng và
Nhà nước ta là rất rõ ràng, cụ thể trong việc bảo đảm và tăng cường quyền
được thông tin của công dân. Cụ thể hoá những quy định trong Hiến pháp, chủ
trương của Đảng cũng như nội luật hoá một số quy định trong các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đến nay đã có rất nhiều văn bản được ban
hành có quy định liên quan đến quyền được thông tin và trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước đang
5
nắm giữ (chẳng hạn như các thông tin về đất đai, quy hoạch xây dựng, môi
trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, thu - chi ngân sách...). Có thể kể ra các đạo
luật như Luật Đất đai; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Đầu tư; Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của HĐND, UBND; Luật Ngân sách; Luật Xây dựng; Pháp lệnh Thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn... và các văn bản quy định chi tiết thi hành các
luật trên.
Tuy vậy, cũng cần thấy một thực tế là việc thể chế, chi tiết hoá quyền được
thông tin thành các quy định của luật và các văn bản pháp quy còn chậm và
chưa hệ thống; chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một
cơ chế pháp lý cụ thể để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệu quả,
nên việc thực hiện quyền được thông tin của công dân còn hạn chế. Nhìn lại,
trong đa số các văn bản hiện hành mới chỉ xác định trách nhiệm cung cấp
thông tin của các cơ quan nhà nước, ghi nhận quyền được thông tin mang tính
nguyên tắc hơn là tính thực tiễn. Bởi vì quyền tự quyết định việc cung cấp
thông tin được giao cho cơ quan quản lý thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan
đó phụ trách nên đã dẫn đến tình trạng mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực đặt ra những
quy định khác nhau về cách thức, quy trình cung cấp thông tin. Đặc biệt cần
phải nhấn mạnh là, trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành vẫn chưa có
quy định về những loại thông tin nào phải công bố công khai rộng rãi; những
loại thông tin nào phải đăng trên trang thông tin điện tử; những loại thông tin
nào chỉ được cung cấp theo yêu cầu; nếu từ chối cung cấp thông tin thì cần
những lý do gì… Bên cạnh đó, trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ
quan nhà nước cũng chưa cụ thể, rõ ràng nên trở thành “chỗ tựa” cho một số
cán bộ, công chức muốn giữ bí mật thông tin –hoặc là bảo đảm an toàn cho
6
chính bản thân, hoặc dùng thông tin để trục lợi - hay không biết mình có trách
nhiệm cung cấp thông tin hay không.
Thực trạng ấy đưa đến một thực tế là người dân quá khó khăn khi muốn
tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ; thông tin được cung cấp
thường không đầy đủ, thiếu chính xác và kịp thời; thậm chí, việc cung cấp
thông tin còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cán bộ, công chức. Đặc biệt,
đã có tình trạng những người có điều kiện, vị trí công tác dễ dàng tiếp cận
thông tin lợi dụng đặc quyền để trục lợi, gây nên sự bất bình đẳng, thiếu công
bằng trong xã hội nhưtrong lĩnh vực đất đai, đền bù giải toả, dự án ưu đãi, các
khoản tín dụng, cứu trợ thiên tai...
Việc thiếu minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý nhà nước đã phần
nào làm hạn chế sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào hoạt động quản lý nhà
nước với tính chất là người giám sát, phản biện và chưa có cơ chế để người
dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong việc thi hành pháp
luật, do thiếu công khai thông tin nên đã làm hạn chế khả năng nhận thức, tư
duy của những người thi hành pháp luật dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật
không thống nhất, thiếu bình đẳng. Việc thiếu công khai thông tin cũng là
nguy cơ dẫn đến tình trạng tham nhũng, tuỳ tiện của cán bộ, công chức.
Điều ấy cũng đồng nghĩa với việc sức mạnh của bộ máy công quyền không
được phát huy tối đa, càng không huy động được sự đóng góp trí tuệ từ người
dân – nhất là trong việc góp ý, xây dựng, hoàn thiện pháp luật – vào công việc
nhà nước, hoàn toàn không tương thích với bản chất của một Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Gần đây, quá trình soạn thảo và hoàn thiện dự thảo Luật Tiếp cận thông
tin đang được tiến hành rất khẩn trương, chuẩn bị trình Quốc hội xem xét
7
thông qua trong một tương lai gần. Đây là công việc hoàn toàn mới, Việt Nam
chúng ta dường như còn rất ít kinh nghiệm cả lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, nhìn ra thế giới, nhiều nước phát triển và đang phát triển rất gần
Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc lại đã có luật hiện hành quy
định về quyền tiếp cận thông tin rất cụ thể, rõ ràng và được thực thi rất nghiêm
túc, ổn định. Bởi vậy, tác giả lựa chọn Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản –
những nước thuộc châu Á có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam – để
nghiên cứu xem họ đã xây dựng cơ chế pháp lý như thế nào để đảm bảo quyền
được thông tin của công dân? Thực trạng của việc tiếp cận thông tin ở Việt
Nam ra sao? Những kinh nghiệm, bài học gì của thế giới có thể giúp Việt Nam
sớm có được một đạo luật về tiếp cận thông tin vừa đảm bảo minh bạch, cụ
thể hóa quyền cơ bản của công dân vừa hiện đại và tương thích với trình độ
chung của thế giới?
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
2.1. Đề tài dành một thời lượng quan trọng để nghiên cứu hệ thống các
văn kiện quốc tế về quyền tiếp cận thông tin của người dân; đặc biệt tập
trung vào các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
2.2. Luật Tiếp cận thông tin của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật
Bản được lấy làm trọng tâm xem xét, nghiên cứu trong đề tài này nhằm
làm rõ những nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ
chế thực hiện; từ đó, rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho việc xây dựng,
hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin của Việt Nam.
2.3. Tác giả dành một phần đáng kể trong luận văn để khảo sát, đánh
giá thực trạng, đề xuất hướng hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin ở Việt
Nam.
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
8
3. 1. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ
những đặc điểm cơ bản trong Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc, Trung
Quốc, Nhật Bản.
3. 2. Luận văn dùng phương pháp so sánh để rút ra những kinh nghiệm,
bài học cần thiết từ Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc, Trung Quốc,
Nhật Bản.
3. 3. Luận văn cũng dùng phương pháp phân tích và chứng minh nhằm
làm rõ những yêu cầu cần có trong một đạo luật về tiếp cận thông tin ở
Việt Nam.
Do tác giả không có điều kiện thực tế tiếp xúc với bản gốc bằng tiếng
Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản nên các văn bản Luật Tiếp cận thông
tin của 3 nước được nghiên cứu trong luận văn này là dựa trên bản dịch
tiếng Việt được in trong cuốn “Các văn kiện quốc tế và Luật của một số
nước về tiếp cận thông tin” của Viện Nghiên cứu Quyền con người, do
NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2007.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
4.1. Đề tài nghiên cứu này nhằm khẳng định yêu cầu đúng đắn, cấp thiết
của việc sớm ban hành Luật Tiếp cận thông tin ở nước ta. Đây không chỉ là
một nguyên tắc hiến định mà hơn thế, còn là bước hội nhập quan trọng của
đời sống pháp lý Việt Nam vào đời sống pháp luật quốc tế.
4.2. Qua những kết quả nghiên cứu độc lập cùng kinh nghiệm một số
năm công tác trong ngành báo chí - truyền thông, tác giả mong muốn được
cùng nêu lên các kiến giải, đề xuất từ góc độ riêng nhằm góp phần bổ sung,
hoàn thiện cơ chế pháp luật thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong bối
cảnh đặc thù của Việt Nam
5. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
9
5.1. Luật Tiếp cận thông tin là một đạo luật cần cho Nhà nước, các cơ
quan công quyền khi nó giúp các cơ quan, công chức hành chính tự tin, chủ
động hơn khi tiết lộ thông tin cho người dân; tăng cường sự ổn định, làm
trong sạch và giúp bảo vệ chính quyền.
5.2. Luật Tiếp cận thông tin là một đạo luật cần cho người dân, giúp
người dân có thể biết, có thể bàn, có thể làm và có thể kiểm tra về bất cứ
vấn đề gì trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương mình.
Nhờ đó, có thể tăng cường dân chủ, huy động được sức mạnh của trí tuệ
nhân dân vào việc xây dựng, tăng cường và hoàn thiện hiệu lực, hiệu quả
của bộ máy nhà nước.
5.3. Luật Tiếp cận thông tin còn là một đạo luật đặc biệt cần cho các cơ
quan báo chí. Trên cơ sở Luật này, báo chí sẽ có lợi ích, động cơ, tính
chuyên nghiệp, bộ máy và năng lực để truy tìm, khám phá những sự thật
mà cơ quan Nhà nước có thể chưa muốn công bố cho công chúng (trừ
những thông tin cần bảo mật vì lợi ích quốc gia) chứ không chỉ thụ động,
phát ngôn cho các cơ quan của Đảng và các cơ quan hành chính.
6. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần Lời nói đầu và kết luận, luận văn này được chia thành 3
Chương:
- Chương 1. Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ
chế thực hiện trong Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc, Trung Quốc và
Nhật Bản;
- Chương 2. Thực trạng tiếp cận thông tin ở Việt Nam và những yêu cầu
đặt ra;
- Chương 3. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và đề xuất
cho việc xây dựng, hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin ở Việt Nam
10
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường ĐH Luật Hà Nội,
Khoa Sau Đại học – trường ĐH Luật Hà Nội; GS.TS Trần Ngọc Đường;
PGS.TS Phan Trung Lý, TS. Tô Văn Hòa và đặc biệt là PGS. TS Thái Vĩnh
Thắng đã tận tình nhận xét, gợi ý, hướng dẫn, góp ý kiến để luận văn được
hoàn thành với chất lượng khoa học cao nhất.
11
CHƯƠNG 1
NỘI DUNG CƠ BẢN, ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ÁP
DỤNG VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN TRONG LUẬT TIẾP CẬN
THÔNG TIN CỦA HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, NHẬT BẢN.
1.1 Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế
thực hiện trong Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc.
1.1.1. Nội dung cơ bản của Luật Tiếp cận thông tin của Hàn Quốc.
Hàn Quốc là nước thuộc Đông Bắc Á, có nền kinh tế phát triển thuộc
hàng đầu trong khu vực. Trong tổ chức bộ máy nhà nước và hoạt động công
quyền, nước này đặc biệt coi trọng tính minh bạch và trách nhiệm; còn trong
luật pháp, Hàn Quốc cũng có rất nhiều kinh nghiệm.
Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền được thông
qua và ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1996 (còn được gọi là đạo luật số
5242), bao gồm 5 Chương và 24 Điều, được xem là cơ sở pháp lý cơ bản của
việc tiếp cận thông tin ở nước này ít ra là trong lĩnh vực công quyền.
Ngoài 5 Điều thuộc về các quy định chung, chương 2 của Luật này quy định
“Những người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin và những thông tin không
thể công khai”; chương 3 quy định về thủ tục công khai thông tin; chương 4
dành quy định về thủ tục kháng cáo và chương 5 là các điều khoản bổ sung.
Ngay tại Điều 1 của Luật này, Hàn Quốc xác định mục đích hướng đến
là “đảm bảo quyền của mọi người được biết và tham gia vào công việc quốc
gia, và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của nhà nước” (6). Theo giải
thích trong chính đạo luật này, các cơ quan chính quyền nghĩa là các cơ quan
nhà nước, chính quyền địa phương, các cơ quan do chính phủ đầu tư theo quy
định…Và trên cơ sở các quy định của luật này, “ các cơ quan chính quyền
12
phải cung cấp cho công chúng các thông tin thuộc quyền sở hữu và quản lý
của cơ quan chính quyền”.
Theo quy định của Luật này, các tin tức được soạn thảo, sở hữu và quản
lý bởi các cơ quan chính quyền trong khi họ thi hành nhiệm vụ…đều được coi
là thông tin. Những thông tin này có thể được sao chép vào các tài liêu, bản
vẽ, hình ảnh, phim, băng, các bản slide và các phương tiện trung chuyển được
xử lý bằng máy tính. Việc công khai thông tin được hiểu là cho phép việc xem
xét các thông tin hoặc phân phối bản sao chụp hoặc tái sản xuất tài liệu của
các cơ quan chính quyền Hàn Quốc.
Nhìn chung, Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền
Hàn Quốc đươc soạn thảo rất ngắn gọn, rõ ràng, tập trung vào những điểm cốt
lõi nhất về tiếp cận thông tin và có độ tương thích rất cao với các công ước
quốc tế về cùng vấn đề.
1. 1.2. Đặc điểm đối tượng áp dụng.
Nghiên cứu toàn văn Luật về công khai thông tin cúa các cơ quan chính
quyền Hàn Quốc, người ta dễ nhận thấy đối tượng áp dụng của nó rất rõ ràng
và cụ thể.
Nhóm đối tượng đầu tiên, như một phần tên gọi của luật, chính là các
cơ quan chính quyền của Hàn Quốc.
Nhóm đối tượng còn lại chính là công dân Hàn Quốc, đều có quyền yêu
cầu và cơ quan chính quyền Hàn Quốc có nghĩa vụ cung cấp mọi thông tin
theo yêu cầu. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6, “những vấn đề liên quan đến
yêu cầu cung cấp thông tin đối với người nước ngoài được quy định ở một Sắc
lệnh của Tổng thống”. (7)
1.1.3. Phạm vi áp dụng Luật về công khai thông tin của các cơ quan
chính quyền Hàn Quốc.
13
Về cơ bản, Luật này được áp dụng đối việc công khai thông tin nói
chung, “trừ khi được quy định bởi Luật khác”.
Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 4 có chỉ rõ phạm vi không áp dụng Luật
này cho việc công bố công khai thông tin: “ Luật này sẽ không áp dụng đối với
các thông tin được tạo ra và thu thập vì mục đích phân tích thông tin liên
quan đến an ninh quốc gia của các cơ quan phụ trách thông tin và các tổ chức
bí mật liên quan đến an ninh quốc gia và các vấn đề về an ninh”.
Đặc biệt, ngoài những thông tin bị loại trừ việc công khai, Hàn Quốc
cũng xác định một nhóm những thông tin mà các cơ quan chính quyền có thể
quyết định không công khai. Đó là:
- Thông tin chứa bí mật hoặc được Luật khác quy định không thể công khai,
hoặc được quy định bởi đạo luật hay sắc lệnh ban hành dưới các luật đó;
- Những thông tin mà nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại lớn đến quyền lợi quốc gia
ví dụ như an ninh quốc gia, quốc phòng, sự thống nhất hoặc quan hệ ngoại
giao;
- Những thông tin mà nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại lớn đến tính mạng, cuộc
sống hoặc tài sản của người hoặc an toàn và lợi ích khác của cộng đồng;
- Những thông tin liên quan đến việc phòng, chống và điều tra tội phạm, các tổ
chức và duy trì việc khởi tố, việc thi hành án, sửa chữa, các biện pháp an ninh
và việc kiện tụng đang dở dang mà những thông tin này nếu bị tiết lộ sẽ gây
hại nghiêm trọng đến việc thi hành nhiệm vụ hoặc vi phạm quyền của bị cáo
trong vụ án hình sự liên quan đến quyền được xét xử công bằng;
- Các thông tin liên quan đến kiểm toán, giám sát, điều tra, xem xét, quy định,
hợp đồng đấu thầu, sự phát triển của khoa học, quản lý nhân sự, quá trình ra
quyết định hoặc quá trình xem xét nội bộ mà những thông tin này nếu bị tiết lộ
14
sẽ gây hại nghiêm trọng đến việc thực thi công bằng các nghĩa vụ, nghiên cứu
và phát triển.;
- Các thông tin cá nhân có thể nhận dạng một cá nhân cụ thể nào đó bằng việc
dùng tên, số đăng ký cư trú, v.v…có trong thông tin đó, ngoại trừ những thông
tin được dùng cho mục đích điều tra công chúng theo các quy định của pháp
luật; các thông tin do các cơ quan chính quyền soạn thảo hoặc nhận được và
những thông tin đó bắt buộc phải công bố cho công chúng; những thông tin do
cơ quan chính quyền soạn thảo và nắm giữ cần thiết cho việc bảo vệ quyền lợi
của cộng đồng và quyền cá nhân;
- Các thông tin liên quan đến bí mật thương mại của các công ty, hội đoàn
hoặc cá nhân mà nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại lớn đối với lợi ích tài sản của
họ, ngoại trừ những thông tin khi cần thiết có thể phải tiết lộ để bảo vệ cuộc
sống, tính mạng hoặc sức khỏa của cá nhân từ những nguy hiểm phát sinh từ
hoạt động kinh doanh; những thông tin cần phải được công khai để bảo vệ tài
sản hoặc hoạt động hàng ngày của cá nhân khỏi các hoạt động kinh doanh trái
phép hoặc không đúng;
- Các thông tin mà nếu bị tiết lộ sẽ làm lợi hoặc nguy hại đến một cá nhân cụ
thể do đầu cơ địa ốc hoặc các hoạt động đầu cơ và tích trữ v.v…
1.1. 4. Cơ chế thực hiện tiếp cận thông tin.
Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc
dành một chương – Chương 3 – để quy định về thủ tục, cơ chế công khai
thông tin. Theo đó, bất cứ công dân nào có yêu cầu được cung cấp thông tin (
sau đây gọi tắt là người yêu cầu) đều phải nộp đơn yêu cầu cung cấp thông tin
trong đó nêu rõ tên, số đăng ký thường trú và địa chỉ; nội dung và mục đích sử
dụng các thông tin yêu cầu cung cấp.
15
Tuy nhiên, quy định như vậy không có nghĩa là người yêu cầu có quyền
đòi hỏi gì cũng được. Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính
quyền Hàn Quốc cho phép hạn chế trong trường hợp bản sao hoặc tái sản xuất
của thông tin được yêu cầu với số lượng quá lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến việc thực thi nhiệm vụ của cơ quan chính quyền hay thông tin được yêu
cầu đã được biết đến nhiều.
Sau khi nhận được yêu cầu của công dân, trong vòng 15 ngày, cơ quan
được yêu cầu sẽ quyết định có cung cấp thông tin hay không; nếu không thể ra
quyết định trong khoảng thời gian trên vì một lý do nào đó không tránh khỏi,
cơ quan được yêu cầu có thể gia hạn thêm thời nhưng không vượt quá 15 ngày
kể từ ngày tiếp theo của thời hạn kết thúc trước song phải thông báo bằng văn
bản về lý do gia hạn cho người yêu cầu biết.
Theo quy định, mỗi cơ quan chính quyền sẽ phải thiết lập và tổ chức một
ủy ban thảo luận về công khai thông tin (Điều 10) với nhiệm vụ cân nhắc xem
có cho phép công khai thông tin hay chưa, thực hiện thông báo cho bên thứ 3
về thực tế yêu cầu cung cấp thông tin nêu như một phần hoặc toàn bộ thông
tin được cung cấp có liên quan đến bên thứ ba.
Trong trường hợp thông tin đã được Ủy ban quyết định là có thể đáp ứng
đòi hỏi của người yêu cầu, cơ quan chính quyền sẽ thông báo cho người yêu
cầu về thời gian, địa điểm tiếp cận thông tin. Tại đây, người yêu cầu có thể
được cung cấp bản sao của thông tin nếu như bản chính của thông tin có thể bị
hỏng, hư hại hoặc có lý do chính đáng.
Trong trường hợp không quyết định về việc cung cấp thông tin trong vòng
30 ngày kể từ lúc có yêu cầu thì sẽ được hiểu là đã có quyết định không công
khai thông tin. Nhiệm vụ lúc này của cơ quan chính quyền là “phải thông báo
với người yêu cầu về nội dung của quyết định bằng văn bản” và “lý do của
16
việc không công khai thông tin, phương pháp và thủ tục kháng cáo sẽ được
nêu ra trog thông báo”. (khoản 3 Điều 11)
Sau khi được cung cấp thông tin, người yêu cầu phải sử dụng đúng
đắn các thông tin có được; tuy nhiên, phải chịu các chi phí liên quan
đến việc cung cấp thông tin như việc chuyển phát chẳng hạn. Đáng kể
là, chi phí này sẽ được giảm và miễn nếu như việc sử dụng thông tin
yêu cầu công khai là cần thiết đối với việc bảo tồn và phát triển lợi ích
công cộng. (khoản 2, Điều 15).
Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc
dành riêng chương 4 quy định về thủ tục kháng cáo khi có vướng mắc
trong việc thực hiện cơ chế tiếp cận thông tin.
Nếu xét thấy lợi ích pháp lý của mình bị xâm hại do sai sót của cơ
quan chính quyền trong việc cung cấp thông tin, người yêu cầu có thể
đệ trình kháng cáo bằng văn bản trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định về việc cung cấp thông tin hoặc kể từ ngày có quyết
định về việc không cung cấp thông tin. Đơn kháng cáo sẽ được xem xét
trong vòng 7 ngày sau đó và cơ quan chính quyền phải thông báo với
người yêu cầu biết quyết định về đơn kháng cáo đó bằng văn bản. (Điều
16).
Hàn Quốc xác định một cơ chế riêng biệt nhau dành cho người yêu
cầu tiếp cận thông tin trong trường hợp đơn kháng cáo của người này bị
cơ quan chính quyền từ chối.
Theo đó: (i) người yêu cầu có thể yêu cầu phán xét theo thủ tục hành
chính (khoản 1, Điều 17) theo quy định của Luật Kháng cáo hành chính
nếu thấy lợi ích pháp lý của mình bị xâm phạm do sự thiếu sót trong
việc công khai thông tin hoặc (ii) có thể đệ đơn kiện hành chính theo
17
quy định của Luật Tố tụng hành chính. Trong trường hợp (ii), vị chủ tọa
phiên tòa có thể cho tiến hành xem xét, điều tra kín, không có sự tham
gia của các bên liên quan đối với thông tin được yêu cầu công khai.
Chủ tọa phiên tòa có thể phán quyết miễn tố nếu có căn cứ cho rằng đối
tượng của kiện tụng liên quan đến quyết định không công khai thông tin
liên quan đến an ninh quốc gia, quốc phòng và ngoại giao…hoặc cơ
quan chính quyền chứng minh được thủ tục cho việc lựa chọn được liệt
vào hàng bí mật, có tính chất bí mật, có nguyên nhân thực tế cho việc
coi thông tin đó là bí mật và là nguyên nhân của việc không công khai
thông tin.
Tuy là một đạo luật chỉ có 24 điều, nhưng Luật về công khai thông
tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc lại dành đến 2 Điều riêng
cho việc quy định trách nhiệm của cơ quan chính quyền trong việc
thông tin, chuẩn bị danh mục các tài liệu chính cần công khai. Tại Điều
21 có ghi rõ: “ Cơ quan chính quyền sẽ nỗ lực một cách chủ động trong
việc công khai thông tin tuy không được yêu cầu nhưng cần thiết phải
công khai cho công luận.” Còn Điều 22 thì định rõ rằng, cơ quan chính
quyền “sẽ phải chuẩn bị và đưa ra danh sách các tài liệu chính để công
chúng có thể tiếp cận thông tin đễàng” và “phải đảm bảo các trang web
công khai thông tin, chuẩn bị cơ sở vật chất để công khai thông tin
nhằm đưa ra những hoạt động liên quan đến việc công khai thông tin
một cách nhanh chóng và hiệu quả.”
18
1.2. Nội dung cơ bản, đặc điểm đối tượng, phạm vi áp dụng và cơ chế
thực hiện trong Pháp lệnh về công khai thông tin của chính quyền Trung
Quốc
1.2. 1. Nội dung cơ bản
Tại phiên họp lần thứ 165 của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ngày
17/1/2007, Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai
thông tin được chính thức thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2008.
Văn bản này gồm có 3 Chương với 26 Điều.
Ngay tại Điều 1, Pháp lệnh này nêu rõ mục đích ban hành của nó: “
Nhằm bảo đảm rằng mọi công dân, pháp nhân và tổ chức có thể có được thông
tin của chính quyền phù hợp với pháp luật, từ đó nâng cao tính minh bạch
trong hoạt động của chính quyền, thúc đẩy sự quản lý bằng pháp luật và thực
thi triệt để chức năng dịch vụ thông tin của chính quyền vì lợi ích và đời sống
của đại bộ phận nhân dân và nhằm tác động tích cực đến tình hình kinh tế, xã
hội”.
Theo Pháp lệnh này, thông tin có nghĩa là bất cứ thông tin nào được tạo
ra hoặc thu được trong qúa trình thực thi chức năng, nhiệm vụ chính thức của
cơ quan công quyền mà được ghi chép hoặc lưu giữ dưới bất kỳ hình thức nào.
Các cơ quan thuộc chính quyền nhân dân ở tất cả các cấp của Trung Quốc có
trách nhiệm tăng cường việc lãnh đạo và tổ chức hoạt động công khai thông
tin của chính quyền; thiết lập những cơ chế toàn diện trong việc công khai
thông tin. Với tinh thần ấy, trong Điều 4 của Pháp lệnh về công khai thông tin
xác định rõ 5 trách nhiệm cụ thể đối với cơ quan chịu trách nhiệm công khai
thông tin của chính quyền, đó là:
- Tiến hành tất các các biện pháp cụ thể để thực hiện việc công khai hóa thông
tin của các cơ quan nhà nước;
19
- Bảo vệ và cập nhật tất cả các thông tin của các cơ quan nhà nước đã được
đưa ra công khai;
- Xây dựng những hướng dẫn, danh bạ và báo cáo thường niên liên quan đến
việc công khai thông tin của chính quyền để cung cấp cho các cơ quan nhà
nước;
- Kiểm tra tính bí mật của tất cả các thông tin của chính quyền;
- Những trách nhiệm khác liên quan đến việc công khai thông tin của chính
quyền do các cơ quan nhà nước cấp trên giao phó.
1.2. 2. Đặc điểm đối tượng
Xét về đặc điểm đối tượng công khai và tiếp cận thông tin theo quy định
của pháp luật Trung Quốc, có thể thấy được xác định rất bao trùm, với việc
“mọi công dân, pháp nhân và tổ chức có thể có được thông tin của chính
quyền”. Chính quyền nhân dân ở tất cả các cấp “phải tăng cường việc lãnh đạo
và tổ chức hoạt động công khai thông tin của chính quyền”; “phải tuân thủ các
nguyên tắc khách quan, bình đẳng và thuận tiện khi đối xử với công dân khi
giải quyết các vấn đề liên quan đến công khai thông tin của chính quyền.
Trung Quốc đặt ra một cơ quan chuyên trách được thành lập với nhiệm vụ
điều phối hoạt động công khai thông tin của chính quyền trong phạm vi mình
quản lý.
Với những quy định bao trùm như vậy, pháp luật Trung Quốc tạo một
cơ chế tương đối rộng thoáng về đối tượng. Từ một công dân bình thường cho
đến các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức…một khi thấy cần thiết đều có quyền
yêu cầu chính quyền cung cấp thông tin.
1.2. 3. Phạm vi áp dụng
Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông
tin, trước khi dành cả một Chương 2 để chỉ rõ phạm vi công bố thông tin, đã
20
có riêng một Điều 8 quy định loại trừ đối với cơ quan nhà nước “ khi công bố
thông tin không được gây tổn hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an
ninh kinh tế và sự ổn định xã hội”.
Về cơ bản, Nhà nước Trung Quốc yêu cầu các cấp chính quyền, các cơ
quan của mình thực hiện công bố thông tin nếu có liên quan đến 1 trong 4 vấn
đề là: Lợi ích cốt yếu của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác; những yêu
cầu mở rộng kiến thức hoặc sự tham gia của công chúng; việc thành lập, nghĩa
vụ hoặc các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước; các thông tin khác
phải được công bố theo quy định của các luật, văn bản pháp quy khác.
Nghiên cứu phạm vi áp dụng Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa về công khai thông tin, có thể nhận thấy Trung Quốc phân chia ra
3 cấp chính quyền, cơ quan nhà nước phải thực hiện công bố thông tin, tương
ứng với 3 cấp độ “chú ý”, “ưu tiên” và “chú trọng” các dạng thông tin cần
công bố.
Ở cấp xã, phường, thị trấn, căn cứ theo phạm vi thẩm quyền của
mình -theo Điều 12 Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
về công khai thông tin - chính quyền phải chú trọng đến những dạng
thông tin cụ thể là:
- Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các chính sách quốc gia về việc
làm ở khu vực nông thôn;
- Thông tin liên quan đến tình hình quản lý và sử dụng ngân sách, các khoản
chi tiêu và các quỹ đặc biệt;
- Thông tin về kế hoạch tổng thể về sử dụng đất ở địa phương và tình hình
kiểm tra việc sử dụng;
- Thông tin liên quan đến việc trưng dụng, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và
việc đền bù, phân phối tiền trợ cấp và việc áp dụng;
21
- Thông tin liên quan đến tình hình thu nợ;
- Thông tin liên quan đến quản lý, sử dụng và bối cảnh cần phân phát cứu trợ
khẩn cấp, công tác cứu trợ thảm họa, trợ cấp cho cựu chiến binh, trợ cấp xã
hội, những đóng góp từ thiện và các quỹ khác;
- Thông tin liên quan đến việc ký kết hợp đồng, cho thuê hoặc đấu thầu của
các doanh nghiệp tập thể hoặc các chủ thể kinh tế khác ở cấp xã, phường, thị
trấn;
- Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các chính sách sinh sản.
Ở cấp huyện và cao hơn, tùy theo chức trách, nhiệm vụ của mình,
các cơ quan phải chú ý công bố các thông tin sau:
- Các văn bản pháp quy, các quy tắc do cơ quan nhà nước lập ra;
- Các kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia, các dự án đặc biệt ở
cấp quốc gia và khu vực cùng các chính sách có liên quan;
- Dữ liệu thống kê về sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia;
- Các báo cáo về chi tiêu tài chính và kiểm toán;
- Thông tin về các chương trình, cơ sở và các tiêu chuẩn liên quan đến các
khoản lệ phí và chi phí cho hoạt động hành chính;
- Thông tin về các dự án, hồ sơ, tiêu chuẩn và việc thực hiện chính sách chi trả
tập trung của chính quyền;
- Thông tin về các vấn đề liên quan đến các phê duyệt hành chính, bao gồm cơ
sở của những quyết định phê duyệt đó, tình trạng, số lượng, thủ tục, giai đoạn
và các hồ sơ gồm tất cả các tài liệu được cung cấp để xin phê duyệt phù hợp
với các yêu cầu hành chính;
- Thông tin liên quan đến việc phê duyệt các dự án xây dựng lớn và bối cảnh
thực hiện;
22
- Thông tin về các chính sách và biện pháp liên quan đến việc xóa đói nghèo,
giáo dục, y tế, trợ cấp xã hội và việc làm cũng như việc thực hiện…;
- Thông tin về các kế hoạch hành động trong trường hợp xảy ra tình huống
khẩn cấp và các trật tự công cộng, thông tin về việc cảnh báo sớm và các biện
pháp đối phó;
- Thông tin về thanh tra và giám sát việc bảo vệ môi trường, sức khỏe công
cộng, an toàn lao động, an toàn thực phẩm, dược phẩm và chất lượng hàng
hóa.
Ở cấp tỉnh/ thành phố, có những thông tin được ưu tiên công bố mà
chính quyền phải đưa ra, bao gồm:
- Thông tin liên quan đến các dự án lớn về xây dựng, quản lý đô thị và nông
thôn;
- Thông tin liên quan đến tình hình thực hiện các dự án công ích;
- Thông tin liên quan đến việc trưng dụng, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và
việc đền bù, phân phối tiền trợ cấp và việc áp dụng;
- Thông tin liên quan đến quản lý, sử dụng và bối cảnh cần phân phát cứu trợ
khẩn cấp, công tác cứu trợ thảm họa, trợ cấp cho cựu chiến binh, trợ cấp xã
hội, những đóng góp thiện nguyện và các quỹ khác.
Trong các quy định về phạm vi công bố thông tin, Trung Quốc cũng xác
định tại Điều 14 những yêu cầu riêng nhằm bảo vệ bí mật thông tin của chính
quyền theo hai hướng:
- Trước hết, phải kiểm tra nhằm tránh việc công bố công khai cả những
thông tin của chính quyền cần được giữ bí mật. Căn cứ đối chiếu là Luật của
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Bảo vệ bí mật Nhà nước và các luật,
quy định khác có liên quan. Nếu qua kiểm tra cũng không xác định được việc
công bố một thông tin nào đó là có hay không lộ bí mật quốc gia thì phải báo
23
cáo, xin ý kiến của cơ quan có liên quan đến vấn đề bí mật có liên quan cùng
cấp.
- Theo quy định chung của pháp luật Trung Quốc, không được công bố
thông tin của chính quyền có chứa đựng bí mật quốc gia, bí mật thương mại
và bí mật cá nhân. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa về công khai thông tin, nếu được sự đồng ý chính thức của bên có
liên quan hoặc khi cơ quan hành chính nhận thấy “việc không công bố thông
tin của chính quyền nhất định chứa đựng bí mật thương mại hoặc bí mật cá
nhân có thể làm tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích công cộng thì vẫn có thể
công bố các thông tin đó.”
1.2. 4. Phương pháp, thủ tục công bố thông tin
Về phương pháp, Nhà nước Trung Quốc nhấn mạnh “công bố thông tin
bằng những cách thức thuận lợi nhất cho sự tiếp cận của công chúng”. Dựa
trên cơ sở này, cơ quan nhà nước hay chính quyền nhân dân có thể tùy nghi
lựa chọn cách thức công bố thông tin cho công chúng nhanh nhất, chính xác
và đầy đủ nhất theo điều kiện thực tế phù hợp của mình: qua các thông báo,
trang web, họp báo, phương tiện phát thanh truyền hình, thư viện công cộng,
phòng đọc cộng đồng, cơ quan lưu trữ…
Về thủ tục công bố thông tin, theo Điều 19 của Pháp lệnh của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về công khai thông tin, cơ quan nhà nước phải
chuẩn bị và công bố những hướng dẫn về công bố thông tin của chính quyền
cùng danh mục các loại thông tin mà cơ quan đang lưu giữ được thường xuyên
cập nhật. Các hướng dẫn này bao gồm: dạng thông tin, cơ chế chuẩn bị,
phương pháp thu thập, tên cơ quan công bố thông tin, địa chỉ, số liên lạc, số
fax, địa chỉ email của văn phòng cơ quan và của người có trách nhiệm trong
việc cung cấp thông tin ở cơ quan…
24
Công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác muốn đề nghị cơ quan nhà
nước cung cấp thông tin phải gửi đơn bằng văn bản ( hoặc có thể gửi qua
email); nếu có khó khăn trong việc viết đơn thì có thể yêu cầu miệng hay nhờ
người khác viết đơn.
Theo quy định của Điều 21, việc đáp ứng các yêu cầu cung cấp thông
tin được tuân thủ theo những cách thức, tình huống dưới đây:
- Nếu thông tin yêu cầu cung cấp thuộc vào dạng thông tin cần được
công bố thì thông báo cho người yêu cầu cách thức và các kênh thông tin mà
qua đó họ có thể thu thập được thông tin theo yêu cầu;
- Nếu thông tin yêu cầu cung cấp không thuộc vào dạng thông tin cần
được công bố thì phải thông báo một cách rõ ràng cho người yêu cầu về lý do
không thể cung cấp thông tin đó;
- Nếu theo quy định của pháp luật, thông tin yêu cầu cung cấp không
thuộc quản lý của cơ quan nhà nước mà yêu cầu được gửi đến hoặc thông tin
đó không có thì phải thông báo cho người yêu cầu; trong trường hợp có thể
xác định được cơ quan quản lý thông tin thì cơ quan được yêu cầu phải cung
cấp cho người yêu cầu địa chỉ liên hệ của cơ quan đó;
- Nếu nội dung yêu cầu không rõ ràng, cơ quan nhận được yêu cầu phải
thông báo cho người gửi đơn để đề nghị họ sửa đổi hoặc bổ sung đơn yêu cầu.
Nhìn chung, Pháp lệnh của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về
công khai thông tin tương đối ngắn gọn, đơn giản nhưng bao quát khá đầy đủ
những vấn đề cơ bản trong cơ chế tiếp cận thông tin. Đặc biệt, cơ chế tiếp cận
thông tin của Trung Quốc đặt lên trên hết sự thuận lợi khi người dân tiếp cận,
qua đó có thể giúp cho thông tin được truyền tải nhanh nhất đến công chúng.