Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Chức năng văn hoá giáo dục của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (608.71 KB, 87 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VINH HƯNG

CHỨC NĂNG VĂN HÓA – GIÁO DỤC CỦA NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG

Hà Nội, 2011


Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
thống kê, trích dẫn được chú thích rõ
ràng.


LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin được phép gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS.
Nguyễn Văn Động cùng toàn thể quý thầy cô giáo và bạn bè đã giúp đỡ để hoàn
thành đề tài.




Các chữ viết tắc trong luận văn

BMNN

Bộ máy nhà nước

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CHXHCN Việt Nam

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

DCCH

Dân chủ cộng hòa

HĐND

Hội đồng nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

QPPL


Quy phạm pháp luật

TAND

Tòa án nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


Mục lục

Phần mở đầu

.................................................................................................1

Phần nội dung ....................................................................................................... 6
Chương 1. Cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay ....................... 6
1.1. Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam: khái niệm, đặc điểm và nội dung...................................................... 6
1.1.1. Khái niệm chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ......................................................................... 6
1.1.2. Những đặc điểm cơ bản của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .............................................. 9
1.1.3. Nội dung chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ............................................................................ 16
1.1.3.1. Nội dung quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa ..... 16
1.1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục .... 19
1.2. Các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ..................................................... 22
1.2.1. Các cơ quan dân cử trực tiếp ......................................................... 22
1.2.2. Các cơ quan hành chính nhà nước ............................................... 23
1.2.3. Các cơ quan tư pháp ....................................................................... 25
1.3. Nguyên tắc, hình thức và phương pháp chung thực hiện chức năng văn
hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ............. 25
1.3.1. Các nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chức năng văn hóa - giáo
dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ...................... 25
1.3.2. Những hình thức chủ yếu thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ............................. 27


1.3.3. Các phương pháp chung thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ............................. 30
Chương 2. Thực trạng thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục của

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay ............. 34
2.1. Những ưu điểm, thành tựu và nguyên nhân của ưu điểm, thành tựu của
việc thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục ................................................... 34
2.1.1. Ưu điểm, thành tựu và nguyên nhân của ưu điểm, thành tựu trong

quản lý văn hóa ......................................................................................... 34
2.1.1.1. Ưu điểm và thành tựu trong quản lý văn hóa .................. 34
2.1.1.2. Nguyên nhân của ưu điểm và thành tựu trong quản lý văn
hóa ................................................................................................... 38
2.1.2. Ưu điểm, thành tựu và nguyên nhân của ưu điểm, thành tựu trong
quản lý giáo dục ........................................................................................ 39
2.1.2.1. Ưu điểm và thành tựu trong quản lý giáo dục ................. 39
2.1.2.2. Nguyên nhân của ưu điểm và thành tựu trong quản lý giáo
dục ................................................................................................... 44
2.2. Những nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong việc thực hiện
chức năng văn hóa - giáo dục ............................................................................ 45
2.2.1. Nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý văn hóa
.................................................................................................................... 45
2.2.1.1. Nhược điểm trong quản lý văn hóa .................................. 45
2.2.1.2. Nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý văn hóa .... 48
2.2.2. Nhược điểm và nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý giáo
dục .............................................................................................................. 49
2.2.2.1. Nhược điểm trong quản lý giáo dục ................................. 49
2.2.2.2. Nguyên nhân của nhược điểm trong quản lý giáo dục ... 52


Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng văn hóa

- giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay ........................................................................................................ 55
3.1. Giải pháp về nhận thức tư tưởng............................................................... 55
3.2. Giải pháp về tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ ..................................... 60
3.3. Giải pháp về cách thức tổ chức thực hiện ................................................. 64
3.4. Giải pháp pháp lý ........................................................................................ 67
Phần kết luận ...................................................................................................... 74

Danh mục tài liệu tham khảo


1

MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỂ TÀI
Bắt nguồn từ quan điểm coi văn hóa vừa là mục tiêu và vừa là động lực của
phát triển kinh tế - xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển, là nền
tảng tinh thần của xã hội [29, tr.14-15]; coi việc phát triển giáo dục là nền tảng và
là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước[1, tr.94-95]; phát
triển giáo dục là một trong những quốc sách hàng đầu (Điều 36 Hiến pháp năm
1992), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã yêu
cầu phải tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, giáo dục và
thường xuyên đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với hai lĩnh vực này: “Tăng cường quản lý Nhà nước về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định,
phù hợp yêu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Tích cực mở rộng giao lưu
và hợp tác quốc tế về văn hóa, chống sự xâm nhập của các loại văn hóa phẩm
độc hại, lai căng”[2, tr.108]; “Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. Phân cấp, tạo
động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục”.[3, tr.98]
Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội đại biểu lần thứ X, trong nghị
quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam
(tháng 1 năm 2011) đã đặt ra nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm phát triển đất nước
2011-2015: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng
nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức”[30] và “Tiếp
tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại”[31].
Trong dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng
cộng sản Việt Nam (tháng 1 - 2011) có những định hướng quan trọng về phát
triển kinh tế xã hội có liên quan đến vấn đề phát triển văn hóa - giáo dục: “Phát

triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp
của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại”[17, tr.25-26],”Chú
trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối


2
sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp
luật…”[18, tr.25-26], “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục,
phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.[19, tr.28]
Trong việc thực hiện chủ trương, đường lối trên của Đảng, Nhà nước đã có
nhiều cố gắng trong việc tăng quản lý văn hóa, giáo dục và đổi mới cơ chế quản
lý. Nhìn bước đầu thì những thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục đã
góp phần quan trọng vào việc phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên thì
vẫn còn có nhiều tồn tại, bất cập liên quan đến vấn đề quản lý văn hóa - giáo dục.
Báo cáo của Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng khóa IX đã chỉ rõ những
tồn tại, hạn chế: “Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu
kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn
nhiều khuyết điểm, bất cập”; “Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới
và còn nhiều bất cập. Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tượng
tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục,
trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn
lan kéo dài, chậm được khắc phục” [4, tr.173].
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài Chức năng văn hóa giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một việc làm cần
thiết và rất có ý nghĩa, bởi lẽ việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc cung
cấp những luận cứ khoa học để Đảng tiếp tục hoàn thiện chủ trương, đường lối,
chính sách về văn hóa, giáo dục và Nhà nước tiếp tục đổi mới, hoàn thiện pháp
luật về quản lý văn hóa, giáo dục cho phù hợp hơn với bối cảnh đất nước hiện

nay.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay, hầu như có rất ít các công trình khoa học nghiên cứu về đề tài
chức năng quản lý văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
(CHXHCN) Việt Nam. Trong các giáo trình giảng dạy chuyên ngành luật tại các


3
cơ sở đào tạo Việt Nam hiện nay, chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong số đó một
khối lượng thông tin rất ít về vấn đề quản lý văn hóa - giáo dục. Trong giáo trình
Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật năm 2004 (do TS.Nguyễn Cửu Việt chủ
biên) của Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội có đề cập vấn đề văn hóa
và giáo dục nằm trong hệ thống chức năng xã hội[22, tr.136] của Nhà nước nói
chung. Trong Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật
Hà Nội năm 2010 (tập thể tác giả, do GS.TS.Lê Minh Tâm chủ biên) có viết cụ
thể chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục khoa học và công nghệ thành
một mục lớn nằm trong hệ thống các chức năng đối nội của Nhà nước [23, tr.239242]. Ngoài ra, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa luật,
Đại học quốc gia Hà Nội năm 2005 đã dành một chương riêng - Chương VIII trình bày các chức năng (và hình thức) của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong
đó có chức năng quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ (tác giả
PGS.TS.Nguyễn Văn Động) [24, tr.192-213].
Ngoài các giáo trình nghiên cứu về luật học nói trên, cũng đã có một số
cuốn sách, bài viết đề cập tới vấn đề văn hóa, giáo dục và quản lý văn hóa, giáo
dục, nhưng chủ yếu cấc tác giả xuất phát từ các góc độ văn hóa học, giáo dục hay
khoa học quản lý để xem xét vấn đề quản lý chứ không xuất phát từ góc độ khoa
học pháp lý để nghiên cứu. Có thể liệt kê tên của các tác giá như: GS.TSKH.Vũ
Ngọc Hải: Đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm đầu của thế
kỷ XXI, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 4 - 2003; Lê Đức Ngọc: Một số giải pháp
đột phá nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 1,
tháng 1 - 2003,...
Gần đây, có một công trình khoa học lớn nghiên cứu về vấn đề chức năng

văn hóa - giáo dục là đề tài khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008
“Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” do PGS.TS.Nguyễn Văn Động
chủ biên.
Các công trình khoa học trên có là cơ sở để Nhà nước hoàn thiện hơn nữa
hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa - giáo dục. Ngoài ra, đó còn là


4
nguồn tư liệu quý giá phục vụ cho những thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh hay
những nhà khoa học khác sử dụng, tham khảo, học tập.
3. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để đạt được những mục đích đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
dựa vào phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là về Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế hiện nay. Luận văn cũng sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, xã
hội học,...
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu đề tài là chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt
Nam. Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả chỉ đề cập chức năng văn hóa - giáo
dục của Nhà nước CHXNCN Việt Nam hiện nay.
Việc nghiên cứu chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam nhằm khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của chức năng này trong hệ
thống các chức năng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,
phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên, tác giả luận văn có
nhiệm vụ sau đây:

Một là, phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo
dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà
nước CHXHCN Việt Nam và nêu rõ những nguyên nhân của thực trạng đó.


5
Ba là, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng văn
hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát
triển bền vững và hội nhập quốc tế.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN
CỨU ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung những tri thức mới vào hệ thống các
tri thức khoa học về chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt
Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đề tài còn là những luận cứ khoa học quan
trọng để Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
mới nhằm bảo đảm thực hiện chức năng này ngày càng có hiệu quả hơn.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng văn hóa - giáo
dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay


6


NỘI DUNG
Chương 1

Cơ sở lý luận của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
1.1. Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: khái niệm, đặc điểm và nội dung
1.1.1. Khái niệm chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những hoạt động cơ bản của
Nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của
Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội [25, tr.229]. Chức năng của
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là do cơ sở kinh tế - xã hội, bản chất, nhiệm vụ
chiến lược và mục tiêu lâu dài của Nhà nước CHXHCN Việt Nam quyết định.
Trong hệ thống các chức năng của Nhà nước thì chức năng quản lý văn hóa - giáo
dục là một trong những chức năng quan trọng nhất. Chức năng quản lý văn hoá giáo dục là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối, trực tiếp
thể hiện bản chất, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu lâu dài của Nhà nước trong lĩnh
vực văn hoá, giáo dục, vì một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc và một nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng [32, tr.54].
Bắt nguồn từ bản chất của Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, nên mục tiêu phấn đấu cao nhất của Nhà nước đó là
đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, an toàn cho người dân, tạo điều kiện
cho con người phát triển toàn diện và hài hoà cả về thể chất, tinh thần và phẩm
chất đạo đức. Vì vậy, mục tiêu thực hiện chức năng quản lý văn hóa - giáo dục
của Nhà nước cũng chính vì con người, cho con người.


7

Đối với lĩnh vực văn hóa thì Nhà nước chủ trương xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, đạo đức, sức khỏe, có tri thức,
có lòng khoan dung, nhân ái, lối sống lành mạnh, tình nghĩa,…
Còn đối với lĩnh vực giáo dục thì Nhà nước mong muốn đào tạo ra những
con người giàu lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, gia đình và có lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, tôn trọng pháp luật, hiếu học,…
Hiện nay, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý văn hoá - giáo dục dưới
rất nhiều hình thức khác nhau. Trong số các hình thức thì các hình thức pháp lý là
quan trọng nhất. Các hình thức pháp lý này bao gồm: xây dựng, tổ chức thực
hiện, bảo vệ và tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về văn hoá, giáo dục. Đối
với việc thực hiện chức năng này cũng thông qua nhiều phương pháp, trong đó có
hai phương pháp chung, cơ bản là giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, còn các
phương pháp riêng, cụ thể được áp dụng trong quản lý từng mặt, từng lĩnh vực cụ
thể của văn hoá, giáo dục phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm và nội dung của
chúng.
Chức năng quản lý văn hoá - giáo dục có quan hệ tương tác với các chức
năng đối nội và đối ngoại khác của Nhà nước. Điều này xuất phát từ mối quan hệ
giữa các chức năng trong hệ thống các chức năng của Nhà nước [25, tr.229]. Mặc
dù mỗi chức năng của Nhà nước đều có đối tượng tác động khác nhau, nhưng các
chức năng đều có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau,
không thể tách rời nhau. Tất cả các chức năng của Nhà nước hợp thành một hệ
thống thống nhất thể hiện bản chất và những nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất
của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa - giáo
dục,…Về đối nội, ngoài chức năng quản lý văn hoá - giáo dục, Nhà nước còn
thực hiện các chức năng như tổ chức và quản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN; quản lý khoa học công nghệ; bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; bảo đảm cho
pháp luật luôn luôn được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống
nhất; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong lĩnh vực đối ngoại,
có các chức năng như: bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN); thiết



8
lập, củng cố, phát triển các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước trên thế
giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở cùng tồn tại
hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tham gia
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Mục đích của việc thực hiện chức năng văn hóa - giáo dục là cung cấp
nguồn nhân lực có lập trường chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và trình
độ, năng lực, văn hóa ngày càng cao để thực hiện có hiệu quả các chức năng đối
nội, đối ngoại khác. Ngược lại, các chức năng đối nội, đối ngoại khác sẽ tạo điều
kiện thuận lợi về các mặt kinh tế, tài chính, phương tiện khoa học - kỹ thuật, tâm
lý và tinh thần xã hội, an ninh chính trị và an toàn xã hội, môi trường tự nhiên và
môi trường quốc tế để chức năng văn hoá - giáo dục được thực hiện ngày có chất
lượng và hiệu quả cao hơn. Đây là mối quan hệ tác động, hỗ trợ lẫn nhau giữa các
chức năng trong hệ thống các chức năng của Nhà nước.
Ngoài ra, cũng cần phân biệt chức năng quản lý văn hóa - giáo dục với
nhiệm vụ chiến lược phát triển văn hóa - giáo dục của Nhà nước. Chức năng văn
hóa - giáo dục, như đã nói ở trên, là hoạt động chủ yếu, thường xuyên của Nhà
nước nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của Nhà nước trong lĩnh
vực văn hóa - giáo dục. Còn nhiệm vụ chiến lược phát triển văn hóa - giáo dục
của Nhà nước là những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất có tính chất lâu dài
về văn hóa - giáo dục được đặt ra trước Nhà nước mà Nhà nước cần phải giải
quyết để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong mối quan hệ giữa nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục với
chức năng quản lý văn hoá - giáo dục thì nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo
dục là cơ sở quyết định nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện chức năng
văn hoá - giáo dục, còn chức năng văn hoá - giáo dục là phương thức để thực hiện
nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục. Như vậy, chức năng văn hoá - giáo

dục chỉ được hình thành khi có nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục, xuất
phát từ nhiệm vụ chiến lược về văn hoá - giáo dục; và ngược lại, nhiệm vụ chiến


9
lược về văn hoá - giáo dục cũng chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng
văn hoá - giáo dục. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ bền vững tác động
qua lại, hỗ trợ lẫn nhau.
1.1.2. Những đặc điểm cơ bản của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Mỗi loại hình chức năng nhà nước đều có những đặc điểm riêng biệt của
nó. Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam có những
đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
do cả bộ máy nhà nước thực hiện trên cơ sở phân công và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương. Quá trình xây dựng các
chính sách về quản lý văn hóa giáo dục được tiến hành từ việc Quốc hội ban
hành Hiến pháp, luật và các nghị quyết liên quan đến văn hoá - giáo dục; quyết
định những vấn đề quan trọng nhất về văn hoá - giáo dục và cũng chính Quốc
hội sẽ thực hành quyền giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước, các tổ
chức kinh tế, các tổ chức xã hội và mọi công dân liên quan đến văn hoá - giáo
dục. Ở cấp độ địa phương thì Hội đồng nhân dân(HĐND) các cấp ban hành các
nghị quyết về văn hoá - giáo dục ở địa phương và HĐND cũng giám sát việc
thực hiện của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi
công dân liên quan đến văn hoá - giáo dục ở địa phương. Bên cạnh đó, Chính
phủ, Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch, Bộ Giáo dục và đào tạo, các bộ và cơ
quan ngang bộ khác, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp là những cơ quan quản
lý hành chính đối với văn hoá - giáo dục. Theo Điều 2 Nghị định số
166/2004/NĐ-CP ngày 16 - 9 - 2004 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản
lý nhà nước về giáo dục, có ba nguyên tắc quy định trách nhiệm quản lý hành

chính nhà nước đối với giáo dục là: bảo đảm tính thống nhất và nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục; phân cấp quản lý nhà nước đối với
giáo dục phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm,
nguồn lực tài chính, nhân sự và các điều kiện cần thiết để thực hiện được các
công việc được phân cấp; xác định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm


10
của các bộ, ngành, của UBND các cấp đối với sự nghiệp giáo dục, đồng thời
bảo đảm tính chủ động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ
quan quản lý giáo dục các cấp trong việc quyết định và thực hiện các nhiệm vụ
được phân công, phân cấp. Ngoài ra, các cơ quan tư pháp trong quá trình hoạt
động bảo vệ pháp luật cũng góp phần quan trọng vào việc thực hiện chức năng
quản lý văn hoá - giáo dục.
Thứ hai, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
có nội dung do pháp luật quy định. Chức năng quản lý văn hóa - giáo dục thực
chất cũng chỉ là một chức năng quản lý nhà nước nằm trong hệ thống các chức
năng quản lý nhà nước. Chức năng quản lý văn hoá - giáo dục là những hoạt động
của Nhà nước liên quan đến việc tổ chức và quản lý văn hoá - giáo dục. Như vậy,
nội dung của chức năng quản lý văn hóa - giáo dục phải do pháp luật quy định và
điều chỉnh. Nội dung của pháp luật về tổ chức và quản lý văn hoá - giáo dục gồm
hai bộ phận là pháp luật nội dung và pháp luật hình thức, trong đó pháp luật nội
dung quy định quyền, nghĩa vụ của các loại chủ thể hoạt động văn hoá - giáo dục,
gồm Nhà nước nói chung, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân; pháp
luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của
các loại chủ thể trong lĩnh vực văn hoá - giáo dục, kể cả lĩnh vực tố tụng liên
quan đến văn hoá - giáo dục. Nhìn chung, hệ thống pháp luật liên quan đến quản
lý văn hóa - giáo dục luôn được Nhà nước hoàn thiện để không ngừng nâng cao
hiệu quả quản lý văn hóa - giáo dục.
Thứ ba, chức năng quản lý văn hoá - giáo dục có mục tiêu cụ thể là điều

tiết mọi hoạt động văn hoá, giáo dục theo pháp luật nhằm đạt được những mục
tiêu tổng quát của văn hoá, giáo dục mà pháp luật đã quy định. Về mục tiêu
của quản lý nhà nước đối với văn hoá - giáo dục thì được Nhà nước phân chia
thành mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Mục tiêu tổng quát của quản lý
nhà nước về văn hoá - giáo dục được xác định căn cứ vào những tiêu chí chung
của nền văn hoá - giáo dục Việt Nam; mục tiêu cụ thể của quản lý nhà nước
đối với văn hoá - giáo dục được xác định căn cứ vào mục tiêu chung của quản
lý nhà nước đối với văn hóa - giáo dục là xây dựng và phát huy nền văn hóa


11
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng và phát huy nền giáo dục tiên tiến,
có tính chất nhân văn và hiện đại. Chẳng hạn, có mục tiêu cụ thể của quản lý
nhà nước đối với văn học, nghệ thuật, điện ảnh,…; đối với giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học.
Thứ tư, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
được tiến hành theo những nguyên tắc do pháp luật quy định. Các nguyên tắc quản
lý nhà nước đối với văn hoá - giáo dục là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở
khoa học quản lý nhà nước, từ bản chất của chế độ chính trị - xã hội XHCN, được
quy định trong Hiến pháp và pháp luật, làm nền tảng cho việc tổ chức và hoạt động
quản lý nhà nước đối với văn hoá - giáo dục. Hoạt động quản lý nhà nước về văn
hoá - giáo dục được tiến hành bởi tất cả các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống
địa phương dựa trên các nguyên tắc chính trị - xã hội và các nguyên tắc tổ chức - kỹ
thuật. Theo Hiến pháp năm 1992, các nguyên tắc chính trị gồm: Bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng trong quản lý văn hoá và giáo dục (Điều 4), bảo đảm sự bình đẳng
giữa các dân tộc trong quản lý văn hoá và giáo dục (Điều 5), tập trung dân chủ (Điều
6), pháp chế XHCN (Điều 12), bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào quản lý văn
hoá - giáo dục (Điều 53). Các nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật gồm: kết hợp quản lý
theo ngành, chức năng với quản lý theo địa phương; quản lý theo ngành kết hợp với
quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành.

Thứ năm, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
tiếp nối chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Kể từ khi ra đời (năm 1945), Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đảm
nhiệm chức năng văn hoá - giáo dục và kéo dài cho tới năm 1976 khi Quốc hội
chung của cả nước họp quyết định đổi tên nước thành nước CHXHCN Việt Nam,
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đổi tên thành Nhà nước CHXHCN
Việt Nam và chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa được chuyển thành chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam. Sự nối tiếp chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước được thể hiện
trước hết trong bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.


12
Ngày 3 - 9 - 1945, một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại phiên họp của Chính phủ lâm thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ diệt giặc dốt. Người phát động phong trào
bình dân học vụ cho mọi người dân mù chữ đi học chữ quốc ngữ. Sau đó, Quốc
hội còn ban hành Luật về chế độ báo chí ngày 25 - 1- 1957.
Hiến pháp ngày 9 - 11 - 1946 tuyên bố mọi công dân Việt Nam đều ngang
quyền về mọi phương diện trong đó có phương diện văn hoá (Điều 6); thực hiện
chế độ tiểu học bắt buộc và không học phí, Chính phủ giúp đỡ học trò nghèo, cho
phép mở trường tư tự do nhưng phải dạy theo chương trình của Nhà nước (Điều
15); Nhà nước bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân, trong đó có quyền
lợi của trí thức (Điều 10, Điều 13). Hiến pháp năm 1946 là cơ sở pháp lý đầu tiên
để Nhà nước quản lý văn hoá - giáo dục sau này.
Ngày 31 - 12 - 1959, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp thứ hai (Hiến
pháp 1959). Đây là Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, trong đó đã mở
rộng thêm nhiều quyền cho công dân, trong đó có quyền văn hoá (Điều 34),

quyền học tập (Điều 33) và quy định nghĩa vụ của Nhà nước bảo đảm các quyền
đó; lần đầu tiên quy định rõ nghĩa vụ của Hội đồng Chính phủ quản lý văn hoá
(điểm 8 Điều 74), của HĐND các cấp đề ra và thực hiện kế hoạch phát triển văn
hoá ở địa phương (Điều 82).
Hiến pháp ngày 18 - 12 - 1980 (Hiến pháp 1980) - Hiến pháp xây dựng
CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN trên phạm vi cả nước. Hiến pháp năm 1980 tiếp
tục mở rộng các quyền văn hoá (Điều 72), quyền học tập (Điều 60) cho công dân
và bảo đảm của Nhà nước cho các quyền đó. Đây cũng là Hiến pháp đầu tiên
dành hẳn một chương riêng - Chương III (Văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật)
quy định rõ tính chất, nội dung, nguyên tắc của nền văn hoá, giáo dục ở Việt Nam
và nghĩa vụ của Nhà nước, xã hội trong việc xây dựng và phát triển văn hoá, giáo
dục. Hiến pháp đầu tiên quy định nhiệm vụ của Quốc hội quyết định chính sách
phát triển văn hoá (Điều 82), mở rộng quyền và nghĩa vụ của Hội đồng Bộ trưởng


13
"Thống nhất quản lý việc xây dựng và phát triển văn hoá, giáo dục" (điểm 4 Điều
107).
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Quốc hội đã ban hành Luật báo chí ngày
28 - 12 - 1989, Luật phổ cập giáo dục tiểu học ngày 12 - 8 - 1991, Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 12 - 8 - 1991.
Hiến pháp thứ tư (Hiến pháp năm 1992) - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới,
phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục mở
rộng quyền văn hoá (Điều 60), quyền học tập (Điều 59) của công dân và bảo đảm
của Nhà nước cho các quyền ấy; tiếp tục dành Chương III (Văn hoá, giáo dục,
khoa học, công nghệ) quy định đầy đủ và rõ ràng hơn so với Hiến pháp năm 1980
tính chất, nội dung, nguyên tắc nền văn hoá, giáo dục Việt Nam đương đại và
nghĩa vụ của Nhà nước, xã hội trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá,
giáo dục ấy nhằm phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.

Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành các luật như
Luật xuất bản ngày 7 - 7 - 1993, Bộ luật dân sự ngày 28 - 10 - 1995, Luật giáo
dục ngày 2 - 12 - 1998, Luật khoa học và công nghệ ngày 9 - 6 - 2000, Luật
phòng, chống ma tuý ngày 9 - 12 - 2000, Luật di sản văn hoá ngày 29 - 6 - 2001,
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15 - 6 - 2004, Luật xuất bản ngày
3 - 12 - 2004, Luật giáo dục ngày 14 - 6 - 2005, Bộ luật dân sự ngày 14 - 6 2005, Luật du lịch ngày 14 - 6 - 2005, Luật sở hữu trí tuệ ngày 29 - 11 - 2005 và
Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Qua những bước tiếp nối và phát triển của quá trình quản lý nhà nước đối
với văn hóa - giáo dục, chúng ta có thể thấy rằng đây là một quá trình rất dài,
được kế thừa và phát triển từ những nền tảng ban đầu (Hiến pháp 1946) cho đến
ngày nay. Hiện nay, Nhà nước có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về quản lý
văn hóa - giáo dục và không ngừng hoàn thiện, bổ sung nó bằng những quy định
mới để phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam và của tình hình quốc tế.
Thứ sáu, chức năng văn hoá - giáo dục có đối tượng tác động là các quan
hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất liên quan tới văn hoá - giáo dục. Hiện


14
nay, những lĩnh vực quan hệ xã hội chủ yếu mà Nhà nước tác động thông qua
việc thực hiện chức năng văn hoá - giáo dục rất đa dạng và phức tạp. Hệ thống
này được phân chia thành các nhóm trong hệ thống văn hoá từ trung ương đến
địa phương và hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện cụ thể trong các cấp
học và trình độ đào tạo như: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông(có tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp có trung cấp
chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học.
Thứ bảy, chức năng quản lý văn hoá - giáo dục được thực hiện dưới
những hình thức và bằng các phương pháp nhất định. Hình thức thực hiện
chức năng văn hoá - giáo dục là biểu hiện bên ngoài hoạt động của Nhà nước
trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục. Nhà nước thực hiện chức năng văn hóa - giáo
dục dưới các hình thức pháp lý và các hình thức không mang tính pháp lý. Các

hình thức pháp lý được pháp luật quy định cụ thể về nội dung, thủ tục, trình tự
tiến hành (ví dụ: các hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
(VBQPPL) về văn hoá và giáo dục, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp
luật về văn hoá và giáo dục, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các VBQPPL
về văn hoá và giáo dục, văn bản áp dụng quy phạm pháp luật về văn hoá và
giáo dục). Còn các hình thức không mang tính pháp lý thì pháp luật chỉ quy
định thủ tục, trình tự chung để tiến hành như thủ tục, trình tự tiến hành hội
nghị tổng kết công tác quản lý văn hoá và giáo dục, hội nghị khoa học (hay hội
thảo khoa học) về quản lý nhà nước đối với văn hoá và giáo dục, hội nghị phổ
biến kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với văn hoá và giáo dục.
Phương pháp quản lý nhà nước đối với văn hoá và giáo dục được hiểu là
cách thức tác động của chủ thể quản lý văn hoá và giáo dục tới đối tượng quản
lý văn hoá và giáo dục nhằm đạt được mục tiêu quản lý văn hoá và giáo dục. Ở
cấp độ chung, có các phương pháp thuyết phục, cưỡng chế, hành chính, kinh
tế. Ở cấp độ cụ thể, phương pháp quản lý nhà nước đối với văn hoá và giáo dục
là cách thức mà các cơ quan quản lý nhà nước đối với văn hoá và giáo dục sử
dụng trong khi thực hiện những nhiệm vụ, chức năng cụ thể của mình, đặc biệt
trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý văn


15
hoá và giáo dục. Theo nghĩa này, có các phương pháp cụ thể mang tính tổ
chức, kỹ thuật, nghiệp vụ như phối kết hợp hoạt động giữa các cán bộ quản lý
ở những vị trí khác nhau, đảm nhận các công việc khác nhau nhưng đều hướng
tới thực hiện nhiệm vụ chung và nhằm đạt mục tiêu chung.
Thứ tám, chức năng văn hoá - giáo dục thường xuyên biến đổi về nội dung,
hình thức và phương pháp thực hiện. Hiện nay, hòa cùng xu hướng phát triển
chung của thời đại và toàn cầu, xã hội Việt Nam cũng luôn luôn thay đổi theo
chiều hướng tích cực và nhu cầu, đòi hỏi của xã hội Việt Nam và của thời đại đối
với văn hoá và giáo dục ngày càng lớn. Vì thế, hoạt động quản lý văn hoá - giáo

dục của Nhà nước cũng cần thường xuyên đổi mới, cải tiến về nội dung, hình
thức, phương pháp cho phù hợp. Thực tế cho thấy, Nhà nước đã và đang có nhiều
biện pháp đổi mới, cải cách giáo dục - đào tạo như đưa tin học vào giảng dạy
trong nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở và cả
ở bậc học tiểu học; xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm rèn luyện thể chất cho sinh viên,
học sinh; tiến hành phổ cập tiểu học rộng rãi, phát triển đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ và tay nghề cao để họ tự làm chủ máy móc, công nghệ hiện đại…
Thứ chín, chức năng văn hoá - giáo dục của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
được thực hiện trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về văn hoá, giáo dục và phát triển văn hoá, giáo dục trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Căn cứ theo Điều 4 Hiến pháp năm 1992 thì Đảng "là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", vì vậy, các quan điểm của Đảng về
văn hoá - giáo dục là cơ sở để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật, tức là
thành những quy tắc xử sự chung, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà
nước. Khi đã có pháp luật rồi thì Nhà nước phải quản lý văn hoá - giáo dục
theo pháp luật thì mới đạt được các mục tiêu của văn hoá và giáo dục. Thực
tiễn đã chứng minh Đảng luôn lãnh đạo tài tình, sáng suốt, quyết định những
vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh của cả đất nước. Tư tưởng của Đảng
luôn là kim chỉ nam, là nguồn cội để cho Nhà nước tiến hành các công việc,
hoạt động quan trọng.


16
1.1.3. Nội dung chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
Hiện nay, nội dung của chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước bao
gồm hai mặt là tổ chức nền văn hoá - giáo dục và quản lý nền văn hoá - giáo dục.
Công tác tổ chức được triển khai nhằm mục đích xây dựng, bố trí, sắp xếp hệ
thống văn hoá và hệ thống giáo dục quốc dân một cách hợp lý, khoa học từ cấp
trung ương xuống tới địa phương, sao cho các hệ thống này phát huy được tối đa

hiệu lực, hiệu quả của mình. Còn hoạt động quản lý được thực hiện nhằm luôn
bảo đảm được sự vận hành của hệ thống văn hoá và hệ thống giáo dục theo đúng
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về văn hoá và giáo
dục. Đối với từng lĩnh vực cụ thể đều có những nhiệm vụ riêng nhưng tựu trung
lại chúng đều có sự liên quan và tác động lẫn nhau vì cùng thực hiện mục tiêu
chung.
1.1.3.1. Nội dung quản lý nhà nước đối với văn hóa
Quản lý nhà nước đối với văn hoá là sự tác động của Nhà nước có định
hướng, mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, nguyên tắc nhất định trên cơ sở
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hoá, đến các quan
hệ xã hội liên quan tới văn hoá nhằm đạt được mục tiêu xây dựng và phát triển văn
hoá. Nội dung của quản lý nhà nước đối với văn hóa bao gồm:
- Quản lý di sản văn hoá. Di sản văn hoá (gồm di sản văn hoá phi vật thể
và di sản văn hoá vật thể) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước ta. Luật di
sản văn hóa đã được ban hành năm 2004 nhằm mục đích bảo vệ, bảo tồn những
di sản văn hóa quý giá này. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật di sản văn
hóa 2004 thì "Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền
bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ
văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về


17
nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm
thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác", còn
tại khoản 2 Điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2004"Di sản văn hoá vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia". Điều 54 của
Luật di sản văn hóa năm 2004 còn quy định những nội dung chủ yếu của hoạt

động quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá, gồm: xây dựng và chỉ đạo thực
hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hoá; ban hành các VBQPPL về di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến,
giải thích và giáo dục pháp luật về di sản văn hoá; tổ chức và chỉ đạo các hoạt
động bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá; tổ chức, quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học về di sản văn hoá; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về di
sản văn hoá; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hoá; tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hoá; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về di sản
văn hoá; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn
hoá; tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hoá.
- Chống thông tin truyền bá tư tưởng và "văn hoá" phản động, độc hại, đồi
trụy, bài trừ mê tín, hủ tục lạc hậu tác động tới tư tưởng, tình cảm; những hoạt
động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức
và lối sống tốt đẹp của con người Việt Nam.
- Tiếp tục bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến lâu đời của các
dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
- Truyền bá, học tập tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh vào cuộc sống xã hội.
- Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời phát huy mọi tài năng sáng
tạo trong nhân dân.


18
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý
thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; giữ gìn thuần
phong mỹ tục; xây dựng gia đình có văn hoá, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước,
yêu chế độ XHCN, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các

dân tộc trên thế giới.
- Đầu tư phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện để nhân dân
được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát
triển các tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật; phát triển các hình thức đa dạng
của hoạt động văn học, nghệ thuật; khuyến khích các hoạt động văn học, nghệ
thuật quần chúng; tạo điều kiện cho nhân dân nâng cao trình độ thẩm mỹ và
thưởng thức nghệ thuật; bảo đảm tự do, dân chủ cho sáng tạo văn hóa, văn học,
nghệ thuật, tạo điều kiện để phát huy hiệu qủa của lao động nghệ thuật; phát huy
vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận của phê bình văn học, nghệ thuật.
- Phát triển mạnh mẽ công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình,
điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác.
- Chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác
dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ
thuật, các danh lam thắng cảnh, chống xâm phạm các di tích lịch sử, cách mạng,
các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
- Khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền, quản lý hệ thống bảo tàng lịch
sử, bảo tàng cách mạng, thư viện, nhà văn hóa, nhà thông tin, câu lạc bộ, khu vui
chơi giải trí.
- Thực hiện đãi ngộ tốt đối với những người có đóng góp trong việc phát
huy, phát triển bảo tồn những giá trị tốt đẹp về văn học nghệ thuật, chú trọng
công tác bảo vệ quyền tác giả, bằng sáng chế, phát minh…
1.1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với giáo dục
Quản lý nhà nước đối với giáo dục là sự tác động của Nhà nước có định
hướng, mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, nguyên tắc nhất định trên cơ sở


×