Tải bản đầy đủ (.pdf) (58 trang)

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân những vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (379.72 KB, 58 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ HẢI ANH

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN – NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn: GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI - 2012


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo đang giảng dạy và
nghiên cứu tại trường Đại học Luật Hà Nội và các thầy cô giáo đã trực tiếp
giảng dạy ở chương trình sau đại học đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt khóa học và quá trình thực hiện luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo GS. TS. Nguyễn Ngọc
Hòa – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.



MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Những vấn đề chung về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

6

1.1. Các quan điểm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

6

1.2. Cơ sở của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân

15

1.3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân

19

Chương 2: Luật Hình sự Việt Nam và vấn đề trách nhiệm hình sự của

30

pháp nhân
2.1. Sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong


30

Luật Hình sự Việt Nam
2.2. Kiến nghị xây dựng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong

36

pháp luật hình sự Việt Nam
KẾT LUẬN

49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

52


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Nền kinh tế của Việt Nam trong thời gian vừa qua tuy có những bước
phát triển mạnh mẽ nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường đã khiến cho các
chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật, xâm
phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức và công dân. Hiện tượng nhiều doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp
luật nghiêm trọng ngày càng tăng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc áp dụng
các biện pháp xử phạt hành chính hoặc dân sự đối với các vụ vi phạm này đã
bộc lộ những bất cập, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt tiền để duy trì
hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến công tác

quản lý Nhà nước mà còn gây xôn xao trong dư luận. Một trong những
nguyên nhân của hiện tượng này là chúng ta thiếu cơ sở pháp lý cho việc truy
cứu trách nhiệm hình sự các pháp nhân vì chủ thể của tội phạm hiện nay chỉ
có thể là thể nhân.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội đã có không ít quốc gia
ghi nhận pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm trong pháp luật của quốc
gia mình. Không chỉ vậy, ngày càng nhiều các công ước quốc tế quy định
nghĩa vụ của quốc gia thành viên phải ghi nhận trách nhiệm hình sự của pháp
nhân trong pháp luật quốc gia như Công ước Liên hiệp quốc về chống tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước Liên hiệp quốc về chống tham
nhũng…


2

Kể từ khi giành được độc lập, pháp luật Việt Nam luôn luôn nhất quán
chỉ quy định thể nhân là chủ thể của tội phạm. Trong những năm gần đây,
việc chúng ta phải đối mặt với hiện tượng nhiều hành vi nguy hiểm đáng kể
cho xã hội được thực hiện bởi các pháp nhân đã đặt ra các câu hỏi cần được
giải đáp là: Có thể và có cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp
nhân không? Nếu có thì chúng ta cần quy định như thế nào?
Như vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân là một hướng nghiên cứu cần thiết hiện nay. Do
đó, tôi chọn vấn đề “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân - những vấn đề lý
luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân
được nói đến khá nhiều trong giới học thuật. Cho đến nay đã có không ít các
công trình khoa học, các bài viết đề cập và nghiên cứu những vấn đề liên quan
đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

- Đã có nhiều bài viết giới thiệu các quy định về trách nhiệm hình sự
của pháp nhân ở một số nước trên thế giới như: “Chủ thể của tội phạm qua so
sánh pháp luật hình sự nước ta với pháp luật hình sự của một số nước thuộc
hệ thống pháp luật châu Âu lục địa” của tác giả Hồ Sỹ Sơn trên Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 2 năm 2001; “Phạm vi và điều kiện áp dụng trách nhiệm
hình sự đối với pháp nhân trong luật hình sự của Anh” của tác giả Trịnh Quốc
Toản trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật, Tập
XIX năm 2003; “Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự


3

một số nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa” của tác giả Trịnh Quốc
Toản trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2005 hay bài “Trách
nhiệm hình sự của pháp nhân theo Luật Hình sự Cộng hòa Pháp” của hai tác
giả Phạm Bích Học và Mai Thanh Hiếu trên Tạp chí luật học số 8 năm
2007…
- Cũng đã có nhiều bài viết phân tích cơ sở của việc quy định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhiều tác giả
này thì trong giai đoạn hiện nay việc ghi nhận chế định trách nhiệm hình sự
của pháp nhân trong pháp luật hình sự là chưa thật cấp bách như tác giả Lê
Văn Cảm trong Sách chuyên khảo Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật
hình sự (Phần chung) hoặc trong bài “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 năm 2000);
tác giả Lê Đăng Doanh trong Luận văn thạc sỹ luật học “Chủ thể của tội
phạm theo luật hình sự Việt Nam”. Trái lại cũng có tác giả ủng hộ việc thiết
lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân tại Việt Nam như tác giả
Phạm Hồng Hải trong bài “Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay
không?” (Tạp chí luật học số 6 năm 1999).
- Gần đây, trong công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu
so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối

với tổ chức” (Viện Khoa học pháp lý năm 2011) các tác giả đã phân tích, so
sánh các quy định về trách nhiệm hình sự của tổ chức trong pháp luật hình sự
một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới.


4

Các công trình nghiên cứu kể trên đã làm rõ nhiều nội dung liên quan
đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ tập
trung vào một số khía cạnh nhất định và có thể phân tích tương đối sâu nhưng
thiếu tính khái quát tổng thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn nhằm đưa ra đề xuất xây dựng những
quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay, góp phần đáp ứng yêu cầu của công tác phòng ngừa và đấu tranh
chống tội phạm.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên,
luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
+ Phân tích các quan điểm hiện nay về vấn đề trách nhiệm hình sự của
pháp nhân.
+ Phân tích quy định của một số quốc gia trên thế giới về chế định trách
hiệm hình sự của pháp nhân.
+ Đánh giá sự cần thiết phải xây dựng chế định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
+ Xây dựng khái quát mô hình trách nhiệm hình sự của pháp nhân
trong Luật hình sự Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp, thống kê hình sự, v.v.. để thực hiện các nhiệm vụ của luận văn.



5

5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm hai chương, cụ thể là:
- Chương 1: Những vấn đề chung về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân.
- Chương 2: Luật hình sự Việt Nam và vấn đề trách nhiệm hình sự của
pháp nhân.


6

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN
1.1. Các quan điểm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Cũng giống như trách nhiệm hình sự của cá nhân, trách nhiệm hình sự
của pháp nhân cũng là nội dung của mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp nhân
phạm tội phát sinh từ thời điểm tội phạm được thực hiện. Có thể hiểu trách
nhiệm hình sự của pháp nhân là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
mà pháp nhân phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước về hành vi phạm tội
của mình.
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân ngày càng được thừa nhận chung
trong khoa học luật hình sự và đã được đề cập đến trong pháp luật hình sự của
một số quốc gia trên thế giới như một chế định cần thiết để tăng cường hơn
nữa mức độ bảo vệ bằng pháp luật hình sự các quan hệ xã hội trong một số
lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, vẫn có những quan điểm rất khác nhau xung

quanh vấn đề này mà tựu chung lại là hai luồng quan điểm cơ bản. Đó là quan
điểm ủng hộ việc thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và
quan điểm phản đối việc thiết lập chế định này. Tất cả đều đưa ra những lập
luận và lý lẽ riêng để chứng minh và bảo vệ cho quan điểm của mình.
Đã một thời gian dài, quan điểm cho rằng chủ thể của tội phạm chỉ có
thể là thể nhân. Hay nói cách khác, trách nhiệm hình sự chỉ có thể đặt ra đối
với một con người cụ thể đã chiếm ưu thế trong khoa học luật hình sự ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới. Và đa số những nhà hình sự học theo học thuyết


7

truyền thống này đều có quan điểm phản đối việc thiết lập chế định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân. Theo họ, việc truy cứu trách nhiệm hình sự của
pháp nhân đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự là nguyên tắc
lỗi. Từ trước tới nay, lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội và
thái độ tâm lý này chỉ có thể có ở một con người cụ thể. Theo tác giả Lê Đăng
Doanh thì “không thể có lỗi của tập thể con người mặc dù có thể tập thể con
người đó có những quan điểm chung về một số vấn đề như trường hợp đồng
phạm hay đồng phạm có tổ chức” [6,26]. Thậm chí, ngay trong trường hợp
phạm tội dưới hình thức đồng phạm thì những người tham gia tuy phạm cùng
một tội nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau, tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội trong hành vi của mỗi người cũng khác
nhau, do đó mức độ lỗi cũng rất khác nhau. Bởi lẽ, mỗi người tham gia với
vai trò không giống nhau trong vụ đồng phạm: họ có thể là người tổ chức, là
người thực hành, là người xúi giục hay là người giúp sức. Đồng thời, ảnh
hưởng thực tế của từng người đối với những người đồng phạm khác trong
suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện tội phạm, cũng như đóng góp thực tế của
họ trong việc gây ra tội phạm và hậu quả của tội phạm cũng không giống
nhau. Vì vậy trách nhiệm hình sự đặt ra đối với cá nhân từng con người trong

vụ đồng phạm, chứ hoàn toàn không thể áp dụng một hình phạt chung cho
nhóm đồng phạm đó. Pháp nhân chỉ là một thực thể giả tưởng của pháp luật.
“Pháp nhân không có thể xác và cũng chẳng có linh hồn, nó chỉ là những cấu
trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành
viên của pháp nhân. Các nghị quyết, các quyết định của pháp nhân chỉ là kết


8

quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên chứ không phải từ
sự mong muốn của chính pháp nhân” [19,52]. Do đó, không thể có một loại
lỗi nào có thể quy kết cho một thực thể trừu tượng không có nhận thức và
cũng không có ý chí như pháp nhân. Tác giả Lê Văn Cảm cho rằng: “Theo
logic của sự việc và phép biện chứng của triết học - không có lỗi hình sự, thì
cũng không có trách nhiệm hình sự” [3,650]. Những người ủng hộ việc thiết
lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã đưa ra lập luận phản bác
lại lý lẽ cho rằng chỉ duy nhất các thể nhân mới có điều kiện để có lỗi khi thực
hiện hành vi phạm tội và vì vậy, chỉ có thể nhân mới phải chịu trách nhiệm
hình sự, còn các pháp nhân chỉ là những trừu tượng pháp lý. Theo những
người này, pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần túy mà nó
có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, nó có sự tồn tại thực tế
trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân. Và trên thực tế, pháp
luật đã ghi nhận và tổ chức nó trên phương diện pháp lý. Ý chí của pháp nhân
hoàn toàn độc lập với ý chí của các thành viên trong pháp nhân. Trong điều lệ
cũng như trong các văn bản về pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, về
hoạt động của pháp nhân và pháp nhân hoàn toàn có thể tự do tìm kiếm lợi ích
của riêng bản thân mình, độc lập với lợi ích của các cá nhân tạo nên nó
[19,54]. “Pháp nhân không phải là một thể nhân, mà là một tổ chức - tập hợp
của nhiều người - được pháp luật trao cho tư cách của một cá nhân trong các
quan hệ pháp luật. Hoạt động của một người (thể nhân) có thể bị chi phối bởi

lý do tình cảm, lý trí nhưng một hoạt động của pháp nhân thì không. Pháp
nhân chỉ theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập tổ chức đó”


9

[19,55]. Hay nói cách khác, các pháp nhân mặc dù bao gồm các cá nhân
nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua
các cấu trúc pháp lý xác định. Trong pháp nhân, những định hướng chủ đạo
thể hiện những mục tiêu của tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn
bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên pháp nhân. Pháp nhân có thể,
với nhiều danh nghĩa, được so sánh với con người. “Nó có bộ não, có hệ thần
kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm. Nó cũng có tay để cầm công cụ và
hành động theo các mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương” [12,15]. Như
vậy, pháp nhân rõ ràng là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của
mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể và vì vậy, nó cũng
có điều kiện để có lỗi khi thực hiện tội phạm. Nếu lỗi trong luật hình sự được
hiểu là sự thể hiện tự do ý chí của chủ thể, chủ thể có thể tự do lựa chọn hành
vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và khả
năng lựa chọn hành vi hợp pháp thì pháp nhân cũng hoàn toàn có tự do khi
lựa chọn hành vi của mình. Do đó, việc quy kết trách nhiệm hình sự cho pháp
nhân là trên cơ sở lỗi chứ không phải là quy tội khách quan.
Không chỉ cho rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp
nhân là vi phạm nguyên tắc lỗi - một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự mà
những người theo quan điểm phản đối việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với pháp nhân còn cho rằng, hành vi khách quan của tội phạm phải do chính
người phạm tội trực tiếp thực hiện mà pháp nhân lại là một thực thể pháp lý
trừu tượng nên pháp nhân không thể tự mình trực tiếp thực hiện hành vi phạm
tội. Nếu truy cứu trách nhiệm hình sự cho pháp nhân thì hành vi phạm tội



10

được quy kết cho pháp nhân chỉ là những hành vi do các cá nhân thực hiện.
Mặc dù những cá nhân này có thể phạm tội trong khi thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình nhưng không thể nói hành vi đó là hành vi của pháp nhân.
Lập luận này ngay lập tức đã gặp phải sự phản đối của các nhà hình sự học
ủng hộ việc thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân bởi lẽ, theo
quy định của pháp luật, quy chế, điều lệ của pháp nhân thì người đại diện,
người lãnh đạo được thay mặt cho pháp nhân đưa ra các quyết định, thực hiện
các hành vi thuộc phần quyền của pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Mọi
hậu quả có lợi cũng như bất lợi phát sinh từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ
sở tự do ý chí của người đại diện, người lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng
hoặc gánh chịu. Vì vậy, khi người đại diện, người lãnh đạo thực hiện nghĩa vụ
hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ được đồng nhất hóa
với pháp nhân, tức là được coi như là ý chí và hành vi của pháp nhân. Do đó,
lập luận cho rằng hành vi phạm tội phải do chính người phạm tội trực tiếp
thực hiện còn pháp nhân là một người vô hình nên không thể tự mình trực tiếp
thực hiện hành vi phạm tội và vì lý do đó mà không thể quy kết trách nhiệm
hình sự cho pháp nhân là thiếu tính thuyết phục.
Một nguyên nhân khác được những người theo học thuyết truyền thống
đưa ra để chống lại việc thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
là các chế tài hình sự nói chung không thể áp dụng được đối với pháp nhân và
nếu có hình phạt nào áp dụng được thì cũng không cần thiết hoặc cũng không
có hiệu quả [19,52]. Các hình phạt được coi là đặc trưng, truyền thống và có
hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù… không thể áp dụng được đối


11


với pháp nhân. “Người ta có thể bắt giam như thế nào đối với một thực thể mà
bản chất của nó là vô hình? Làm thế nào có thể tước mạng sống của một chủ
thể giả tưởng mà bản chất của nó là thiếu sự tồn tại của thực thể hữu hình”
[12,13]. Hay đối với hình phạt tiền được coi là có thể áp dụng đối với pháp
nhân thì cũng bị phản đối bởi lập luận việc áp dụng hình phạt tiền đối với
pháp nhân đã tác động cả vào những người không có lỗi, những người không
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và làm giảm sút thu nhập của họ.
Thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản của pháp nhân làm ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của họ. Như vậy hình phạt không những không đạt được mục
đích giáo dục mà có thể còn gây ra tâm lý bất bình đối với pháp luật. Nếu sự
vi phạm nghiêm trọng đến mức tòa án tuyên phạt giải thể pháp nhân thì hình
phạt còn mang lại hậu quả xã hội rất lớn [6,27]. Do đó, việc không thể áp
dụng các hình phạt đặc trưng đối với pháp nhân làm cho việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với pháp nhân không còn có nhiều ý nghĩa, không đạt được
mục đích giáo dục, phòng ngừa. Mặt khác, trong hệ thống pháp luật đã có các
chế tài pháp lý phi hình sự được quy định bởi từng ngành luật tương ứng cũng
có thể áp dụng được đối với pháp nhân chứ không nhất thiết phải ghi nhận các
chế tài ấy trong Bộ luật hình sự. Ví như chế tài phạt tiền, cấm những hoạt
động nhất định hoặc giải thể pháp nhân trong luật hành chính… Để bác bỏ lý
lẽ này, các nhà hình sự học ủng hộ trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho
rằng một pháp nhân đúng là không thể bị tử hình bằng hình thức xử bắn,
không thể bị phạt tù bằng hình thức đưa vào trại cải tạo, nhưng những loại
hình phạt khác có thể hoàn toàn phù hợp với pháp nhân phạm tội với mục


12

đích làm cho nó phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi phạm tội mà nó
đã gây ra cho xã hội. Pháp nhân có các quyền cũng như lợi ích và do vậy hoàn
toàn có thể có các hình phạt tước bỏ hoặc hạn chế các quyền cũng như lợi ích

đó. Theo tác giả Lê Văn Cảm thì những chế tài áp dụng đối với pháp nhân đã
có trong những ngành luật khác mà điển hình là luật hành chính nên không
nhất thiết phải ghi nhận các chế tài ấy trong pháp luật hình sự [3,649]. Đúng
là trên thực tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có các chế tài pháp lý phi
hình sự nhưng do tính chất phi hình sự mà những chế tài này có thể không đạt
được hiệu quả cao khi áp dụng. Thực tế đã chứng minh điều đó khi các vụ
việc do pháp nhân thực hiện gây thiệt hại cho xã hội ngày càng tăng cả về số
lượng lẫn mức độ nghiêm trọng.
Những người theo học thuyết truyền thống chống lại trách nhiệm hình
sự của pháp nhân còn đưa ra một lý do khác để bảo vệ cho quan điểm của
mình khi cho rằng việc trừng trị pháp nhân về mặt hình sự sẽ vi phạm nguyên
tắc cá thể hóa hình phạt. Donnedieu De Vabres đã viết: “Nằm trong sự tất yếu
của sự việc là bắt một pháp nhân phải chịu một mình hình phạt có những hậu
quả bất lợi đối với những người thứ ba vô tội. Khi người chủ của gia đình bị
trừng phạt, vợ của người đó, con của người đó phải chịu những hậu quả về vật
chất và tinh thần của nó” [19,54]. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi tòa
án khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp
phải căn cứ vào hành vi và sự tham gia cụ thể của họ vào tội phạm bị truy
cứu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc biệt là các
yếu tố nhân thân người phạm tội. Trong khi đó việc xét xử hình sự pháp nhân


13

lại trừng trị một tập thể bao gồm cả những thành viên hoàn toàn không biết
đến, không có lỗi đối với hành vi phạm tội của pháp nhân. Chỉ vì lý do họ
thuộc về một tập thể hoặc là họ phụ thuộc vào nó mà những người này bị ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo Thomas Hobbes, cái giá
thực sự khi áp dụng trách nhiệm hình sự, xét đến cùng, chính các pháp nhân
không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân như: người góp

cổ phần, cổ đông, người lao động… phải chịu. Như vậy, “chế định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân không thể chấp nhận được về phương diện pháp
lý cũng như về đạo lý” [19,53]. Với quan điểm của hình sự học hiện đại,
những người ủng hộ việc thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp
nhân đã lý giải rằng: Chế tài hình sự buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối
với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực
tiếp vào những pháp nhân khi các thực thể này phạm tội. Công bằng không có
nghĩa là phải trừng trị cá nhân này hay cá nhân khác mà công bằng chính là
buộc chủ thể đã thực hiện tội phạm phải chịu hình phạt. “Không có lý lẽ công
bằng nào lại buộc cá nhân những người cấp dưới vốn chẳng có quyền hành gì
và các nhà quản lý có trách nhiệm thành những người phải hứng chịu hậu quả
thay cho pháp nhân phạm tội” [12,18]. Cũng không có sự công bằng nào mà
về cùng một hành vi phạm tội lại có những cách đối xử khác nhau, đối với
pháp nhân phạm tội cùng loại thì xử lý bằng các biện pháp trách nhiệm dân sự
hoặc trách nhiệm hành chính, còn đối với cá nhân những người lãnh đạo,
người đại diện của pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt
động của pháp nhân lại bị trừng trị bằng biện pháp trách nhiệm hình sự


14

nghiêm khắc hơn nhiều. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi hình phạt áp
dụng đối với pháp nhân phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội, tương xứng với các đặc điểm của pháp nhân bị
truy cứu trách nhiệm hình sự. Có như vậy, hình phạt được áp dụng mới đạt
được tính hiệu quả trong trừng trị cũng như phòng ngừa. Thực tế cho thấy, tất
cả các bản án đều có thể gây ra những hậu quả cho người thứ ba. Bắt giam
một người hoặc phạt họ với một hình phạt tiền nghiêm khắc cũng có thể làm
mất đi của gia đình họ một khoản thu nhập nhưng nó không trái với nguyên
tắc cá thể hóa hình phạt, bởi bản án không trực tiếp chống lại các thành viên

của gia đình người bị kết án mà là đối với người phạm tội [12,19]. Tương tự
như vậy, bản án kết tội đối với pháp nhân khác với bản án có thể xảy ra của
các thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân thành viên của pháp
nhân mà nhằm vào chính pháp nhân phạm tội. Do đó, quan điểm cho rằng
việc quy kết trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với pháp nhân sẽ
không công bằng và không phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đã
không còn được chấp nhận nữa.
Tóm lại, mỗi quan điểm đều đưa ra những lập luận để bảo vệ cho quan
điểm của mình. Tác giả ủng hộ quan điểm đồng ý việc thiết lập chế định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân bởi lẽ, việc quy định trách nhiệm hình sự cho
pháp nhân không vi phạm bất kỳ nguyên tắc cơ bản nào của luật hình sự.
Đồng thời, việc thiết lập chế định này còn góp phần không nhỏ vào việc
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.


15

1.2. Cơ sở của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
1.2.1. Cở sở lý luận
Nói một cách khái quát, cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm
hình sự của pháp nhân chính là những lý lẽ để trả lời cho câu hỏi: “Có thể quy
định được trách nhiệm hình sự của pháp nhân hay không?”. Vấn đề này hiện
vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi không chỉ ở những nước chưa quy định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân mà ở cả những nước pháp luật đã quy định vấn
đề này. Như chúng ta đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có
lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Khái niệm tội phạm này
hoàn toàn có thể lý giải đối với chủ thể là pháp nhân.
Cũng như thể nhân, pháp nhân cũng có hành vi của mình. Trong các
điều lệ, văn bản về pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, hoạt động của
pháp nhân và hoạt động đó chính là hành vi của pháp nhân. Tuy nhiên, do bản

chất khác nhau nên khác với thể nhân, hành vi của pháp nhân mang những nét
đặc trưng riêng, đó là hành vi của pháp nhân được thực hiện thông qua người
đại diện, người lãnh đạo của pháp nhân. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật,
quy chế, điều lệ của pháp nhân thì những người này được thay mặt cho pháp
nhân ra các quyết định, thực hiện các hành vi thuộc phần quyền của pháp
nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Mọi hậu quả có lợi cũng như bất lợi phát sinh
từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ sở tự do ý chí của người đại diện, người
lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng hoặc gánh chịu. Những hoạt động của
pháp nhân thường là những hành vi có lợi cho pháp nhân, vì lợi ích của pháp
nhân, lợi ích của xã hội nhưng cá biệt cũng có những hoạt động vì lợi ích của


16

mình mà pháp nhân có thể gây thiệt hại cho xã hội ở những mức độ khác nhau
và việc gây thiệt hại ở mức đáng kể là rất có thể xảy ra. Vì vậy, pháp nhân có
thể có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
Không chỉ vậy, vì hoạt động của pháp nhân là do tập thể, thông qua
hoạt động của con người cụ thể nên cũng có thể xác định có trường hợp có lỗi
và có trường hợp không có lỗi, có thể có lỗi cố ý và cũng có thể có lỗi vô ý.
Do đó, đứng ở một góc độ nào đó, chúng ta cũng có thể chứng minh được
pháp nhân có thể có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho
xã hội. Những hoạt động của pháp nhân có thể không trái hoặc cũng có thể
trái pháp luật hình sự. Như vậy, hành vi của pháp nhân hoàn toàn có thể đáp
ứng các đặc điểm của tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
hiện hành.
Mặt khác, việc áp dụng hình phạt cho pháp nhân là có khả năng thực
thi. Hình phạt là biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người
phạm tội và pháp nhân cũng có những quyền và lợi ích nhất định, nên về lý
thuyết, việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp nhân phạm tội là

điều có thể. Và khi chúng ta tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp
nhân tức là chúng ta đã đạt được mục đích trừng trị, răn đe cũng như phòng
ngừa của hình phạt. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoàn toàn có thể quy kết
trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc thiết lập chế định trách nhiệm
hình sự của pháp nhân không vi phạm bất kỳ dấu hiệu nào của tội phạm cũng


17

như các nguyên tắc của luật hình sự. Vì vậy, chúng ta có thể quy định được
trách nhiệm hình sự cho pháp nhân.
1.2.2. Cở sở thực tiễn
Nếu như trong phần cơ sở lý luận, tác giả đưa ra các lập luận để trả lời
cho câu hỏi có thể quy định được trách nhiệm hình sự của pháp nhân hay
không thì trong phần cơ sở thực tiễn này, tác giả muốn làm rõ trong điều kiện
xã hội hiện nay đã cần thiết đến mức phải quy định trách nhiệm hình sự cho
pháp nhân hay không để góp phần phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội
phạm.
Xét về bản chất, nội dung chính trị xã hội và nội dung pháp lý thì tội
phạm là một hiện tượng xã hội có tính giai cấp và tính lịch sử. “Tội phạm
không phải là hiện tượng xã hội sinh ra từ khi có loài người mà là sản phẩm
của xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định” [24,69]. “Chính trong cuộc đấu
tranh để duy trì điều kiện tồn tại và địa vị thống trị của mình, giai cấp thống
trị cần phải lấy danh nghĩa Nhà nước tuyên bố những hành vi nguy hại cho lợi
ích của giai cấp mình là tội phạm và dùng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
là hình phạt để đối phó với những hành vi đó” [24,70]. Tuy nhiên, những quy
định này không phải là bất biến mà nó luôn thay đổi tùy thuộc vào tiến trình
phát triển của xã hội. Đã một thời gian dài, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều chỉ thừa nhận cá nhân là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, cùng với sự

phát triển kinh tế xã hội, các doanh nghiệp được hình thành và phát triển
mạnh mẽ cả về số lượng lẫn quy mô. Hoạt động của các doanh nghiệp này
không chỉ mang lại lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp mà còn mang lại


18

những lợi ích to lớn cho sự phát triển của toàn xã hội. Tuy nhiên, để đạt được
lợi nhuận cao, nhiều doanh nghiệp đã bất chấp mọi thủ đoạn, trong đó có
những hoạt động gây thiệt hại đáng kể cho xã hội.
Không chỉ vậy, sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường đã tạo
ra môi trường kinh doanh mới với nhiều đổi thay to lớn. Pháp luật liên quan
đến đầu tư, kinh doanh thương mại ngày càng thông thoáng tạo điều kiện cho
các tập đoàn kinh tế có cơ hội đầu tư ra nước ngoài để mở rộng quy mô. Tuy
nhiên, lợi nhuận càng nhiều thì khao khát nâng cao vị thế càng lớn. Sự cạnh
tranh khốc liệt trong môi trường mới khiến nhiều doanh nghiệp để đảm bảo sự
tồn tại của mình đã có những hành vi gây nguy hại cho xã hội như các hành vi
vi phạm quy định về độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, buôn lậu, xâm
phạm sở hữu trí tuệ, gian lận thương mại… gây nên hậu quả rất nghiêm trọng
cho xã hội. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp để giảm chi phí đầu tư đã cố ý khai
báo gian dối, thậm chí móc nối với một số tổ chức kiểm định, giám định để có
kết luận hàng hóa đạt tiêu chuẩn về môi trường nhằm được thông qua, qua đó
đã đưa vào môi trường sống một lượng lớn chất thải độc hại gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
Những vụ gây thiệt hại đáng kể do pháp nhân gây ra không còn là cá
biệt mà đã trở thành tương đối phổ biến. Để phòng ngừa và chống lại tình
trạng này, pháp luật các nước không thể chỉ quy định trách nhiệm dân sự,
trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, pháp nhân và trách nhiệm hình sự đối
với cá nhân những người lãnh đạo, đại diện cho pháp nhân vì thực tiễn đã cho
thấy, việc áp dụng trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hành chính đối với



19

pháp nhân, tổ chức tỏ ra không hiệu quả trong việc ngăn chặn pháp nhân, tổ
chức tiếp tục có những hành vi gây thiệt hại, hậu quả pháp lý mà pháp nhân
phải gánh chịu không đủ nghiêm khắc để phòng ngừa tái phạm.
Thêm vào đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân những
người lãnh đạo, đại diện cho pháp nhân trong những trường hợp này là không
hợp lý và thiếu công bằng. Các cá nhân được giao chỉ sử dụng các biện pháp
điều hành cụ thể để thực hiện mà không được làm trái các quyết định đó, khi
được lợi thì tất cả các thành viên pháp nhân hưởng, còn trách nhiệm thì chỉ
mình những người đó gánh chịu. Mặt khác, việc truy cứu trách nhiệm hình sự
cá nhân trong trường hợp này cũng không thể ngăn chặn được pháp nhân, tổ
chức tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật. Pháp nhân không bị xử phạt thì
cá nhân này bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ có cá nhân khác thay thế để
thực hiện các hành vi tương tự vì mục đích của pháp nhân, tổ chức.
Từ đó đòi hỏi phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Chỉ có
trách nhiệm hình sự với tính nghiêm khắc của các chế tài mới đủ sức răn đe
và có khả năng ngăn ngừa hành vi tiếp tục phạm tội của pháp nhân đồng thời,
việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân mới tương xứng và phù
hợp với mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại do
pháp nhân đã thực hiện. Với thực tế nêu trên, có thể khẳng định rằng trong
điều kiện của xã hội hiện nay cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự đối
với pháp nhân.
1.3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của một số nước
trên thế giới


20


Trên thế giới, số lượng các quốc gia quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân ngày càng tăng và đây được coi là điều tất yếu trong sự phát triển
của luật hình sự thế giới. Ở các nước theo hệ thống Common law, trách nhiệm
hình sự của pháp nhân đã được quy định tương đối lâu (bắt đầu từ thế kỷ
XIX) còn các quốc gia theo hệ thống luật châu Âu lục địa, mặc dù muộn hơn
nhưng cũng đã chấp nhận quan điểm trách nhiệm hình sự của pháp nhân
nhằm đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm trong xã hội hiện đại. Ở
châu Á, một số nước đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong
pháp luật của nước mình.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu vấn đề trách nhiệm
hình sự của pháp nhân theo quy định của bốn nước là: Trung quốc, Pháp, Mỹ
và Canada.
1.3.1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Trung
Quốc
Trung Quốc đã thừa nhận chủ thể của tội phạm không chỉ là cá nhân
mà có thể là tổ chức. Tuy nhiên, Trung Quốc không gọi là pháp nhân phạm
tội mà gọi là tổ chức phạm tội. Sở dĩ như vậy là do chế định pháp nhân của
Trung Quốc được xây dựng tương đối muộn nên trong số những tổ chức
phạm tội lúc đó, có tổ chức đã là pháp nhân nhưng phần lớn thì chưa có tư
cách pháp nhân.
Điều 30 Bộ luật hình sự Trung Quốc quy định: “Công ty, doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,
pháp luật coi là tổ chức phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự” [7,5].


21

Như vậy, tổ chức phạm tội ở Trung Quốc bao gồm công ty, doanh
nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể. Trong đó, các chủ thể cụ thể này

được hiểu:
- Công ty là các tổ chức kinh tế tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh
doanh vì mục đích lợi nhuận bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần (trừ công ty một thành viên).
- Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế xã hội mang tính doanh lợi với
nội dung hoạt động là sản xuất, lưu thông, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ
thuật nhằm mục đích thu lợi, tăng thêm tích lũy, làm giàu cho xã hội. Công ty
cũng là một loại hình doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp nói ở đây chỉ là
những xí nghiệp ngoài công ty đã nêu.
- Đơn vị sự nghiệp là các tổ chức hoạt động công ích xã hội được thành
lập theo luật định, bao gồm đơn vị sự nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp
tập thể.
- Cơ quan là các tổ chức thực hiện chức năng quản lý, lãnh đạo nhà
nước và bảo vệ an toàn quốc gia, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành
pháp, cơ quan tư pháp và cơ quan quân sự.
- Đoàn thể là các tổ chức mang tính chất quần chúng như tổ chức công
đoàn, đoàn thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ, hội khoa học…
Như vậy, luật hình sự Trung Quốc áp dụng hình thức liệt kê đối với các
loại tổ chức phạm tội. Tuy nhiên, một vấn đề đã gây tranh luận rất nhiều trong
giới lý luận về luật hình sự ở Trung Quốc đó là cơ quan nhà nước có trở thành
chủ thể của tội phạm hay không. Cơ quan nhà nước được quy định là chủ thể


22

của tội phạm lần đầu tiên trong Luật Hải quan của nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa (năm 1987). Lúc đó, hoạt động buôn lậu của các tổ chức, trong đó
có cả các cơ quan nhà nước rất trắng trợn. Để ngăn chặn hiện tượng này, Điều
47 Luật Hải quan quy định: “ (Nếu) Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ
quan nhà nước, các đoàn thể xã hội phạm tội buôn lậu, cơ quan tư pháp có thể

truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định đối với người quản lý và nhân
viên chịu trách nhiệm trực tiếp; phạt tiền đối với các đơn vị này…” [7,11]. Từ
quy định này mà Bộ luật hình sự hiện hành đưa ra quy định về tổ chức phạm
tội.
Trong Bộ luật hình sự Trung Quốc quy định trách nhiệm hình sự của tổ
chức phạm tội liên quan đến 125 tội danh. Trong đó có 7 nội dung quy định
liên quan đến các tội gây nguy hại cho an toàn công cộng, 78 nội dung quy
định liên quan đến các tội phá hoại trật tự nền kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa, 1 nội dung liên quan đến các tội xâm hại quyền dân chủ, quyền nhân
thân, 31 nội dung liên quan đến các tội xâm hại trật tự quản lý xã hội, 3 nội
dung quy định liên quan đến các tội xâm phạm an ninh quốc phòng và 5 nội
dung quy định liên quan đến các tội tham ô, hối lộ [7,6].
Trung Quốc áp dụng chế độ song phạt. Điều 31 Bộ luật hình sự quy
định: “Tổ chức phạm tội thì xử phạt tiền đối với tổ chức và xử lý hình sự đối
với người trực tiếp quản lý và những người chịu trách nhiệm trực tiếp. Nếu
Bộ luật hình sự hoặc những luật khác có quy định khác thì căn cứ vào những
quy định đó” [7,5]. Như vậy, thông thường, khi tổ chức phạm tội thì áp dụng
chế độ hình phạt kép tức là phạt tiền tổ chức đồng thời phạt người quản lý,


×