Tải bản đầy đủ (.pdf) (69 trang)

Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp những vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (662.12 KB, 69 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHAN THỊ THU THỦY

HỖ TRỢ PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 603850

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Thế Liên

HÀ NỘI - 2012


LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của
quý thầy, cô Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là thầy
hướng dẫn PGS.TS Hoàng Thế Liên. Tác giải xin chân thành
gửi đến quý thầy, cô lời biết ơn sâu sắc.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phan Thị Thu Thủy



MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

1

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỖ TRỢ PHÁP

5

LÝ DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp

5

1.2. Vai trò của hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp trong nền kinh tế thị

8

trường
1.3. Yêu cầu mới đặt ra đối với hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

10

1.4. Sự khác biệt giữa hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp với một số hoạt

`12

động khác có liên quan tới các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp

1.5. Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp

15

Chương 2. THỰC TRẠNG HỖ TRỢ PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP CỦA

21

NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp

21

2.2. Những kết quả đạt được của hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp trong

30

thời gian qua
2.3. Những khó khăn, vướng mắc của hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp

36

trong thời gian qua
2.4. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện

41

hoạt động hỗ trợ pháp lý
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HỖ TRỢ


48

PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI
3.1. Sự cần thiết phải tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp

48

lý doanh nghiệp
3.2. Định hướng tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp lý

49

doanh nghiệp
3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp

52

lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN

61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

63


1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế hiện đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao uy tín và
vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, thể chế trong điều kiện phát triển
nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế rất phức tạp, đặt ra yêu cầu
cao, nghiêm ngặt đối với các doanh nghiệp trong việc chấp hành thể chế. Vì vậy,
để các doanh nghiệp hoạt động đúng hướng, có hiệu quả cao, bên cạnh việc cần
đổi mới tăng cường công tác quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô, cũng rất cần phải
thực hiện sự hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp 2005 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đã
xóa bỏ mọi rào cản ngăn cách và đối xử phân biệt giữa các thành phần kinh tế,
tạo môi trường pháp lý thuận lợi để mọi doanh nghiệp hoạt động bình đẳng trước
pháp luật. Theo lộ trình, từ năm 2005 đến nay, Chính phủ và các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng
nhằm hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp có định hướng kinh doanh phù hợp,
bảo đảm tính thống nhất và thực hiện pháp luật. Trong đó, ngày 28/05/2008,
Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp. Đây là văn bản pháp lý quan trọng quy định trách nhiệm của Nhà nước
đúng hơn là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hỗ trợ về pháp lý
cho doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp hoạt động theo đúng các quy định của
luật pháp, tránh những rủi ro đáng tiếc khi tham gia hoạt động kinh doanh. Mặc
dù vậy, vẫn còn tình trạng doanh nghiệp không chú ý khai thác lợi thế này nhằm
nắm vững quy định của pháp luật, làm đúng pháp luật để tránh những rủi ro pháp
lý có thể xảy ra, đây là một thực tế còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp chưa
có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật để tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật
nhằm phòng và chống rủi ro pháp lý trong kinh doanh. Có những doanh nghiệp
còn lợi dụng sơ hở của pháp luật và sự yếu kém trong quản lý Nhà nước để thực
hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư trục lợi, trốn thuế bất hợp pháp. Nguyên nhân



2

chính của tình trạng này là ý thức chấp hành pháp luật, văn hoá pháp lý của chủ
doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp còn có khó khăn về nguồn lực để
tiếp cận với thông tin pháp lý và tư vấn pháp luật, hoạt động hỗ trợ của các hiệp
hội doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Thêm vào đó, hiện nay các quy định pháp
luật về vấn đề này còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa thật tương xứng với sự đòi
hỏi của các doanh nghiệp và định chế quốc tế khi doanh nghiệp nước ta tham gia
vào “sân chơi” của nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các
giải pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là hết sức
cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Xuất phát từ những đòi hỏi của lý luận và
thực tiễn, tác giả chọn vấn đề “Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp – Những vấn đề lý
luận và thực tiễn” làm đề tài của Luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc
sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên
cứu, tìm hiểu cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động hỗ trợ doanh
nghiệp như đề tài: “Hỗ trợ doanh nghiệp thực thi pháp luật ở Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp” (Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2007) của tác giả Trương
Thị Thu Hà, “Hoạt động pháp chế doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam” (Khóa luận tốt nghiệp năm 2010) của tác giả Nguyễn Thị Minh Hải,
“Pháp luật về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – Những vấn đề lý luận
và thực tiễn” (Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2011) của tác giả Khương Ngọc
Ánh, “Thực trạng hoạt động và biện pháp hỗ trợ pháp lý nhằm tăng cường cạnh
tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật 2009) của
tác giả Phạm Thị Lệ Hằng, “Đẩy mạnh công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
để tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ pháp chế doanh nghiệp” (Tài liệu
hội thảo 2012) của tác giả Ngô Ngọc Thành… và một số bài viết, báo cáo có liên
quan đến hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của một số tỉnh như: Quảng Ngãi,

Thừa Thiên Huế, Lào Cai, Hà Nội, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh… Các công trình
khoa học nêu trên đã phân tích làm rõ khá nhiều khía cạnh của vấn đề hỗ trợ pháp lý doanh
nghiệp, chủ yếu là phân tích các khía cạnh thực tiễn. Vì trong lĩnh vực hỗ trợ pháp lý


3

doanh nghiệp qua thảo luận ở các cuộc hội thảo cũng như sự tìm hiểu của bản thân, tôi
thấy: còn nhiều vấn đề lý luận chưa được nghiên cứu, lý giải một cách thấu đáo, nhất là
trong điều kiện nhà nước ta đang đẩy mạnh việc xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong điều kiện như vậy,
tôi thấy cần thiết chọn “Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
làm đề tài của Luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học, chuyên ngành
Luật Kinh tế của mình. Với đề tài này, tôi muốn hệ thống hóa một cách đầy đủ các kết quả
nghiên cứu của những công trình khoa học đã có, tiếp tục làm sâu sắc thêm một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó có một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và cơ
chế thực thi việc hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu lý giải rõ, sâu sắc
hơn một số vấn đề lý luận đặt ra, hệ thống hóa và phân tích, đánh giá các quy
định hiện hành của pháp luật về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhằm làm rõ những
thành công cũng như các bất cập của hoạt động này trong thời gian vừa qua. Từ
đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể góp phần làm cho hoạt động này có hiệu quả
hơn trên thực tế.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp
luật hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.
- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp,

so sánh, thống kê. Đồng thời tác giả cũng sử dụng nguồn thông tin dữ liệu từ
nhiều nguồn như: từ các khảo sát, nghiên cứu khoa học về hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa của các nhà nghiên cứu, các dữ liệu từ Ủy ban nhân dân các
tỉnh, Bộ Tư pháp, các bài báo, tạp chí, báo điện tử, tài liệu hội thảo liên quan đến
vấn đề hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.
5. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ của luận văn:


4

- Làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp Việt Nam.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp ở
Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hoạt
động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp trong tình hình mới.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Việc nghiên cứu các quy định về
hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học pháp lý mà
còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đem lại sự thuận lợi không chỉ cho các cơ
quan quản lý nhà nước mà còn giúp các doanh nghiệp hạn chế tình trạng vi phạm
pháp luật cũng như rủi ro pháp lý trong kinh doanh, góp phần tăng cường sức
cạnh tranh của mình trong môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nghiên cứu những
vấn đề lý luận về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá sự phù hợp của pháp luật với hoạt động này trên thực tế, đề
xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả
của hoạt động này trong thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có phần mở đầu, phần kết luận và ba chương sau:

Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
Chương 2. Thực trạng hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp của nước ta hiện nay
Chương 3. Một số giải pháp nhằm tăng cường hỗ trợ pháp lý doanh
nghiệp Việt Nam trong tình hình mới.


5

Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
Hiện nay, hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là một hoạt động không thể thiếu
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi đây là một trong
những biện pháp bảo đảm tính minh bạch trong việc ban hành, thực hiện các cơ
chế chính sách của nhà nước, đồng thời tạo cơ hội của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế trong việc tiếp cận với hệ thống pháp luật và tư pháp. Tuy
nhiên, nội hàm của khái niệm hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp vẫn được tiếp tục lý
giải một cách sâu sắc và toàn diện hơn nhằm giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá
nhân và thậm chí cả doanh nghiệp tránh sự nhầm lẫn giữa hoạt động này với một
số hoạt động hành chính hay dịch vụ pháp lý khác, dẫn đến hiểu sai bản chất hoạt
động này và không đánh giá đúng vai trò của nó.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “hỗ trợ là sự giúp đỡ lẫn nhau, giúp thêm
vào” [28, tr. 775]. Còn theo cách giải nghĩa thông thường nhất thì “hỗ trợ” được
hiểu là sự đóng góp thêm của một người này đối với một người khác về vật chất
hoặc tinh thần nhằm giúp đỡ để giảm bớt hoặc vượt qua những khó khăn, hoạn
nạn, thử thách hoặc những vấn đề nan giải mà bản thân người cần giúp đỡ không
thể một mình giải quyết được.
Còn “pháp lý là một thuật ngữ khoa học dùng để chỉ những khía cạnh,
phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia” [30, tr.606].

Nói một cách cụ thể hơn thì “pháp lý” có thể được hiểu là những lý lẽ, lẽ phải
theo pháp luật. Và pháp luật chính là cơ sở, là lý lẽ để con người dựa vào đó thực
hiện các hoạt động của mình, pháp luật chính là điểm tựa của công bằng xã hội,
là chuẩn mực giá trị xã hội để đánh giá mức độ phải – trái, đúng – sai của mỗi
con người. Pháp luật ở đây có thể hiểu là việc xây dựng, ban hành và thực thi
pháp luật, là sự vận hành của hệ thống pháp luật của quốc gia, nó cũng có thể là
các cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để
điều chỉnh, tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội.


6

Như vậy, hỗ trợ pháp lý có thể được hiểu là việc thực hiện những nội
dung, biện pháp nhằm giúp cho một đối tượng, chủ thể nắm bắt, tiếp cận được
các quy định pháp luật của nhà nước để những đối tượng này có thể căn cứ vào
đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đòi hỏi sự công bằng xã hội.
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 thì: “Doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” và kinh doanh
“là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi” (khoản 1, 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005).
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp chính là chủ thể của
hoạt động kinh doanh, một thành phần không thể thiếu và giữ vai trò quyết định
của nền kinh tế quốc dân. Luật Doanh nghiệp không có sự phân biệt doanh
nghiệp theo hình thức sở hữu hay quy mô và lĩnh vực hoạt động mà khi đã là
doanh nghiệp thì các chủ thể này đều phải hoạt động theo quy định của pháp luật
và đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Điều này có nghĩa là, khi tham gia
vào hoạt động kinh doanh, các doanh nhiệp đều cùng tồn tại trong một môi
trường pháp lý, pháp luật không có bất cứ sự phân biệt đối xử giữa các loại hình

doanh nghiệp. Mặc dù vậy, môi trường pháp lý đôi lúc cũng có sự thay đổi, đôi
khi là sự thay đổi đột ngột do yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với
nền kinh tế. Những thay đổi này chắc chắn sẽ tác động và ảnh hưởng đến hoạt
động của các doanh nghiệp, điều này cũng giống như sự tác động của biến đổi
thời tiết đối với con người. Doanh nghiệp nào càng có sự nhạy cảm đối với môi
trường pháp lý thì càng dễ bị ảnh hưởng khi môi trường pháp lý có sự biến động.
Khi sự biến động càng lớn thì mức độ ảnh hưởng càng nhiều (ví dụ: sự thay đổi
về chính sách tiền tệ, lãi suất ngân hàng, chính sách thuế…). Nhưng cũng cần
phải nói thêm rằng, sự biến động ở đây là biến động chung và tác động sẽ là tác
động riêng lẻ, do vậy trong hoạt động kinh doanh, biến động môi trường pháp lý
vừa mang lại rủi ro nhưng cũng mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp. Điều quan
trọng ở đây là doanh nghiệp nào biết tránh rủi ro và nắm bắt lấy cơ hội để phát


7

triển. Tuy nhiên, chủ thể tạo ra môi trường pháp lý hoặc làm biến đổi môi trường
này lại là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật và các cơ chế,
chính sách cho hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp mặc dù là chủ thể của
hoạt động kinh doanh nhưng lại là đối tượng bị tác động của pháp luật và các cơ
chế chính sách, do vậy trong quan hệ với môi trường pháp lý, họ luôn ở trong
tình trạng bị động và là đối tượng yếu thế. Một điều hết sức quan trọng đối với
doanh nghiệp là làm sao giúp họ tồn tại, phát triển được trong môi trường pháp lý
hiện nay và có thể đối phó, thích nghi được mọi sự biến đổi của môi trường này.
Đây chính là câu hỏi mà vấn đề hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp cần giải đáp.
Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài này và thực tiễn hoạt động trợ giúp
pháp lý doanh nghiệp trong thời gian qua, theo tác giả khái niệm về hoạt động hỗ
trợ pháp lý doanh nghiệp được hiểu như sau: Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là
tổng thể các biện pháp nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận, nắm bắt được các quy
định của pháp luật, các cơ chế, chính sách của nhà nước về hoạt động kinh

doanh, qua đó giúp doanh nghiệp phòng tránh được rủi ro, nắm bắt những cơ
hội và bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tạo được
một môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh cho tất cả các doanh nghiệp.
Như vậy, nếu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được hiểu theo khái niệm
trên thì đây không phải là hoạt động trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp như
nhiều người đã lầm tưởng trước đây. Vì theo quy định Điều 3 của Luật Trợ giúp
pháp lý năm 2006 thì: trợ giúp pháp lý là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn
phí cho các đối tượng chính sách xã hội, qua đó giúp những đối tượng này bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các dịch vụ pháp lý được cung cấp
miễn phí ở đây gồm: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và
các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Đối tượng được hưởng chính
sách trợ giúp pháp lý chỉ bao gồm những người thuộc diện chính sách như người
nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số… tất cả đều là
cá nhân, do vậy các tổ chức, trong đó có doanh nghiệp không thuộc đối tượng
được trợ giúp pháp lý.


8

1.2. Vai trò của hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường
Từ khi Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh doanh và chủ thể kinh
doanh đã có nhiều thay đổi. Nếu như trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, mọi hoạt động kinh doanh đều do nhà nước thực hiện, tất cả các doanh
nghiệp đều là của nhà nước, nhà nước vừa là người quản lý vừa là người thực
hiện kinh doanh, thì nay, trong nền kinh tế thị trường, sự tách biệt giữa chủ thể
quản lý và chủ thể thực hiện việc kinh doanh là hết sức rõ ràng. Hoạt động kinh
doanh – một trong những hoạt động chính của nền kinh tế quốc dân đều do doanh
nghiệp thực hiện, và trong nền kinh tế thị trường thì số lượng doanh nghiệp là rất

lớn và rất đa dạng, cả về loại hình lẫn quy mô, lĩnh vực kinh doanh. Doanh
nghiệp tổ chức thực hiện việc kinh doanh dựa trên các quy luật của kinh tế thị
trường và sự quản lý tác động của nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách và
quy định của pháp luật. Nhà nước chỉ thực hiện việc điều hành, quản lý hoạt
động kinh doanh ở tầm vĩ mô, thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chính sách và
văn bản pháp luật. Có thể nói, nhà nước là chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh,
còn doanh nghiệp là một trong những chủ thể chính của hoạt động kinh doanh.
Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý để doanh nghiệp hoạt động và doanh nghiệp
là đối tượng chịu sự điều chỉnh tác động của nhà nước. Trong mối quan hệ này,
giữa nhà nước và doanh nghiệp có một sự liên hệ, ràng buộc chặt chẽ với nhau,
sự phát triển của doanh nghiệp sẽ thể hiện trình độ, năng lực và hiệu quả của hoạt
động quản lý nhà nước và ngược lại, sự quản lý và năng lực quản lý nhà nước về
kinh tế sẽ tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thế nhưng, trong mối
quan hệ này cũng thể hiện sự bất bình đẳng rõ rệt giữa chủ thể quản lý với đối
tượng bị quản lý. Với tư cách là chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh, nhà nước
luôn chủ động trong việc đưa ra các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật để
điều chỉnh doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh. Mặc dù theo Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật thì trước khi Nhà nước ban hành văn bản đã tổ chức
lấy ý kiến của đối tượng bị tác động, nhưng trên thực tế quy định chưa được thực


9

hiện tốt. Do đó, nhiều doanh nghiệp mặc dù được chủ động trong hoạt động kinh
doanh nhưng vẫn còn bị động trong các chính sách quản lý hoạt động kinh
doanh, điều này khiến cho doanh nghiệp đôi lúc lúng túng, bị động thậm chí trở
thành nạn nhân của các chính sách quản lý của nhà nước.
Để khắc phục tình trạng này đỏi hỏi giữa nhà nước và doanh nghiệp phải
có sự gắn kết, thông hiểu nhất định, qua đó có sự tương hỗ lẫn nhau để hoạt động
kinh doanh được phát triển một cách thuận lợi, góp phần thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế và tạo sức mạnh cho nền kinh tế quốc dân. Chính vì lẽ đó, việc giúp cho
doanh nghiệp kịp thời nắm bắt được các cơ chế, chính sách và pháp luật của nhà
nước là một điều hết sức cần thiết, đặc biệt là khi những chính sách, cơ chế và
pháp luật ấy luôn có sự thay đổi, biến động. Và thực tế hiện nay thì hỗ trợ pháp
lý doanh nghiệp chính là cầu nối quan trọng để doanh nghiệp và nhà nước có thể
tiến gần được với nhau, qua đó doanh nghiệp có thể chủ động hơn khi ứng phó
với sự biến đổi của môi trường pháp lý và có thể biến những rủi ro pháp lý trong
kinh doanh thành những cơ hội kinh doanh mới.
Ngược lại, hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp cũng có tác động to lớn
đối với quá trình xây dựng chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ
sự phát triển của nền kinh tế. Qua hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp, các cơ
quan nhà nước, nhất là Bộ Tư pháp có được nhiều thông tin phản hồi từ thực tiễn
rất có ý nghĩa cho việc tham mưu chính sách và xây dựng pháp luật. Đó là các
thông tin về sự chấp nhận hay không chấp nhận của thực tiễn hoạt động doanh
nghiệp đối với các chính sách, quy định pháp luật, về những yêu cầu thực sự của
xã hội, của doanh nghiệp, đối với chính sách, pháp luật. Có được những thông tin
phản hồi quan trọng này thì đây là cơ sở thực tế quan trọng nhất cho việc hoạch
định chính sách, ban hành pháp luật, làm cho chính sách pháp luật sát với thực tế,
phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của doanh nghiệp và vì vậy sẽ được đón nhận
và thi hành đạt hiệu quả cao hơn.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay, hoạt động hỗ trợ pháp lý giữ vai trò hết sức quan trọng đối với cả
nhà nước và doanh nghiệp. Đối với nhà nước thì đây là một cách thức, biện pháp


10

hết sức quan trọng để nhanh chóng đưa những chủ trương, chính sách, pháp luật
của mình vào đời sống xã hội trong đó có hoạt động kinh doanh, còn đối với
doanh nghiệp thì đây là một sự giúp đỡ hết sức cần thiết để họ có thể kịp thời

nắm bắt, tiếp cận được những chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước,
đặc biệt khi những chủ trương, chính sách và pháp luật này có sự thay đổi.
1.3. Yêu cầu mới đặt ra đối với hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp
Hiện nay, mô hình kinh tế thị trường (tự do và định hướng) là mô hình kinh
tế mang tính toàn cầu và tồn tại hầu hết ở các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên,
so với các nước trên thế giới, thì nền kinh tế thị trường của Việt Nam còn khá
non trẻ. Nếu tính chính thức theo Hiến pháp năm 1992, thì đến nay, Việt Nam
mới có nền kinh tế thị trường khoảng gần 20 năm và chúng ta vẫn đang tích cực
đàm phán để một số nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường. Sự non
trẻ của nền kinh tế thị trường dẫn đến một điều tất yếu là các doanh nghiệp ở Việt
Nam hầu hết đều mới được thành lập. Chúng ta khó có thể tìm thấy một doanh
nghiệp ngoài quốc doanh nào ở Việt Nam có thời gian tồn tại trên 30 năm. Điều
này có nghĩa là kinh nghiệm xây dựng, tồn tại và phát triển doanh nghiệp cũng
như thương hiệu của các doanh nghiệp ở Việt Nam là rất hạn chế, hầu hết những
doanh nghiệp mới thành lập hoặc có thời gian tồn tại chưa lâu đều gặp vấn đề
trong việc tổ chức hoạt động kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp và kinh
doanh ở những môi trường đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao (như lĩnh vực thương
mại quốc tế, hoạt động đầu tư đa quốc gia, đầu tư ra nước ngoài hay tham gia các
thị trường thế giới). Một điểm khác biệt đáng lưu ý của nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam đó là sự định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, nền kinh tế Việt Nam
ngoài việc bị chi phối bởi các yếu tố, quy luật của kinh tế thị trường còn chịu sự
tác động điều chỉnh của nhà nước với tư cách là người định hướng nền kinh tế.
Một trong những công cụ chính để Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa đó là hệ thống pháp luật và những cơ chế,
chính sách, kế hoạch, chiến lược kinh tế ở tầm vĩ mô. Chính vì lẽ đó, khi xây
dựng nền kinh tế thị trường thì đi đôi với nó là việc xây dựng hệ thống pháp luật,


11


cơ chế, chính sách cho phù hợp, nếu như nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phát
triển được gần 20 năm thì hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường ở Việt Nam
được xây dựng cũng khoảng từng đó thời gian, có khi còn muộn hơn (ví dụ như
pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư, về thương mại…), đặc biệt là khi Việt Nam
bắt đầu tham gia vào các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại quốc tế
(WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)… thì việc
ban hành các văn bản pháp luật ngày một tăng để tạo lập một môi trường pháp lý
đáp ứng những đòi hỏi khi gia nhập các tổ chức này. Việc ban hành một cách ồ ạt
các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế đặc biệt là hoạt
động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn đã khiến cho nhiều đối tượng
được điều chỉnh trong đó không khỏi choáng ngợp, đặc biệt là các doanh nghiệp.
Sự gia tăng nhanh chóng của các cơ chế, chính sách và văn bản pháp luật đã dẫn
đến tình trạng là có nhiều doanh nghiệp bị mất phương hướng trong việc thực
hiện pháp luật, cụ thể như: không xác định được mình là đối tượng của loại văn
bản nào, được hưởng những quyền, lợi ích gì, lĩnh vực kinh doanh mà mình hoạt
động thuộc sự quản lý của những cơ quan nào, có bao nhiêu văn bản quản lý,
điều chỉnh, hướng dẫn… Điều này giống như việc bị lạc vào một “rừng luật” mà
không thấy lối ra. Ý này đã được nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình
Lộc nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các Hội nghị tổng kết công tác tư pháp trong
những năm ông còn là Bộ trưởng. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra
cho hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp hiện nay là phải tạo sự định hướng
cho doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật và áp dụng các cơ chế, chính
sách của nhà nước. Điều này có nghĩa là khi thực hiện nội dung giới thiệu, phổ
biến các văn bản quy phạm pháp luật cho doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước
không chỉ giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành mà còn phải
giới thiệu cả những văn bản có liên quan, đồng thời phải hệ thống lại theo một
trật tự nhất định, loại bỏ những văn bản hết hiệu lực, văn bản không còn phù hợp.
Trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, giữa
doanh nghiệp và nhà nước có mối tương quan với nhau về quyền và nghĩa vụ.

Nhà nước ngoài quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ đối với


12

mình như tuân thủ pháp luật, đóng thuế… còn phải thực hiện các nghĩa vụ đối
với doanh nghiệp như: bảo đảm các quyền hợp pháp của doanh nghiệp, tạo cho
doanh nghiệp một môi trường kinh doanh lành mạnh, phải tham khảo ý kiến của
các doanh nghiệp khi ban hành các chủ trương, chính sách, pháp luật trực tiếp
liên quan đến doanh nghiệp … Ngoài ra, một trong những nội dung quan trọng
của nhà nước pháp quyền là sự bình đẳng trước pháp luật của cá nhân và tổ chức.
Điều này có nghĩa là, trong nhà nước pháp quyền, các doanh nghiệp đều bình
đẳng trước pháp luật, sự bình đẳng sẽ là nhân tố chống lại mọi sự phân biệt đối
xử giữa các doanh nghiệp dưới bất cứ hình thức nào. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối
với hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong việc xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phải bảo đảm cho doanh nghiệp được hưởng các
quyền hợp pháp của mình, phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp,
phải tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng đối với doanh nghiệp trong việc tiếp cận
với pháp luật và tư pháp. Các doanh nghiệp có quyền yêu cầu nhà nước phải thực
hiện những nghĩa vụ với mình, có quyền tham gia vào việc xây dựng hệ thống
pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh với ý nghĩa là tham gia vào việc hình
thành nên một “sân chơi” chung và một “luật chơi” chung. Và khi đó thì tất cả
doanh nghiệp phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách đầy đủ và đây là
những “luật chơi” do chính họ tạo ra.
1.4. Sự khác biệt giữa hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp với một
số hoạt động khác có liên quan tới các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp
- Dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp: Là dịch vụ mà người thực hiện chủ
yếu là luật sư hay các tổ chức hành nghề luật sư với mục đích hưởng thù lao
thông qua việc ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với doanh nghiệp [16, tr. 10].
Đây là hoạt động dễ bị nhầm lẫn với hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.

Hiện nay vẫn còn nhiều người thậm chí cả doanh nghiệp và một số cơ quan, cán
bộ nhà nước vẫn còn nhầm tưởng hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là việc hỗ trợ cho
doanh nghiệp các dịch vụ pháp lý. Nhưng thực tế, hoạt động dịch vụ pháp lý
doanh nghiệp và hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là hai hoạt động hoàn toàn các


13

nhau cả về hình thức, nội dung và cách thức thực hiện. Sự khác nhau này có thể
thấy ở một số điểm như sau:
Thứ nhất, về mặt hình thức: Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp là việc các cơ
quan nhà nước trong phạm vi trách nhiệm của mình thực hiện các hoạt động
nhằm giúp cho doanh nghiệp nắm bắt, tiếp cận được với các hệ thống các văn
bản pháp luật, các cơ chế, chính sách của nhà nước để doanh nhiệp có thể vận
dụng, thực hiện trong hoạt động kinh doanh. Khi được hỗ trợ pháp lý, doanh
nghiệp không phải trả bất cứ khoản chi phí nào cho hoạt động hỗ trợ. Còn dịch
vụ pháp lý doanh nghiệp là một loại dịch vụ do luật sư hoặc các công ty luật cung
cấp cho doanh nghiệp, các dịch vụ pháp lý được cung cấp thông qua các hình
thức như: tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền,
lợi ích cho doanh nghiệp hoặc đại diện cho doanh nghiệp trong một số hoạt động
khác nhau. Khi được cung cấp các dịch vụ pháp lý, doanh nghiệp sẽ trở thành
khách hàng của người cung cấp dịch vụ, có các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
cung ứng dịch vụ và phải trả chi phí cho các dịch vụ mà mình đã sử dụng.
Thứ hai, về mặt nội dung: Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp không cung cấp
hay giúp doanh nghiệp giải quyết các vụ việc pháp lý cụ thể liên quan trực tiếp
đến các vấn đề của doanh nghiệp, mà hoạt động này chỉ cung cấp các biện pháp,
phương tiện để giúp cho doanh nhiệp nắm bắt, tiếp cận và vận dụng một cách
hiệu quả các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách của nhà nước để
phục vụ hoạt động kinh doanh, đồng thời có thể yêu cầu và phản ánh với cơ quan
nhà nước về những khó khăn, vướng mắc mà doanh nghiệp gặp phải bắt nguồn

từ hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước để kiến nghị cơ quan có thẩm
quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp. Và điều đặc biệt là, việc hỗ trợ
pháp lý doanh nghiệp không phải chỉ thực hiện đối với một doanh nghiệp mà cho
tất cả các doanh nghiệp có nhu cầu.
Thứ ba, về cách thức thực hiện: Nếu như việc cung cấp dịch vụ pháp lý
doanh nghiệp được thực hiện một cách cụ thể trực tiếp đối với từng doanh nghiệp
và từng vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải thông qua các hình thức dịch vụ như:
tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện cho doanh nghiệp hoặc các hình thức


14

khác theo sự thỏa thuận của hai bên thì việc hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp được
thực hiện theo các cơ chế do nhà nước quy định và thực hiện dưới dạng những
chính sách chung, và các vấn đề được hỗ trợ chỉ liên quan đến hệ thống các quy
định của pháp luật, các cơ chế chính sách đối với việc kinh doanh của doanh
nghiệp, và theo đó thì tất cả các doanh nghiệp có nhu cầu đều có thể được hỗ trợ.
- Pháp chế doanh nghiệp: Mặc dù hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
có liên quan đến công tác pháp chế doanh nghiệp nhưng hoạt động này lại khác
xa so với hoạt động pháp chế của doanh nghiệp. Pháp chế doanh nghiệp là một
nội dung công việc của doanh nghiệp do một bộ phận hay một nhân viên pháp
chế của doanh nghiệp thực hiện với mục đích là đảm bảo tính hợp pháp cho các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời sử dụng các quy định của
pháp luật để giúp doanh nghiệp bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và hạn chế,
loại trừ những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình kinh doanh. Hiện nay,
trong một số doanh nghiệp lớn, hoặc doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước
thường có một chuyên viên hay một bộ phận đảm nhận công tác pháp chế của
doanh nghiệp. Theo đó, bộ phận pháp chế có nhiệm vụ giúp doanh nghiệp nắm
bắt các quy định của pháp luật, căn cứ vào các cơ chế, chính sách của nhà nước
để xây dựng các chiến lược kinh doanh cho phù hợp, đảm bảo tính hợp pháp cho

các hoạt động kinh doanh như ký kết hợp đồng, tham gia giải quyết tranh chấp…
Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp không tồn tại bộ phận pháp chế hay cán
bộ pháp chế, các doanh nghiệp này sử dụng trực tiếp các dịch vụ pháp lý doanh
nghiệp để thay thế, trong quá trình hoạt động nếu có vấn đề phát sinh liên quan
đến pháp luật, doanh nghiệp sẽ tìm đến các luật sư hay công ty luật để được cung
cấp dịch vụ pháp lý cho trường hợp mà mình gặp phải, đặc biệt hơn, có những
doanh nghiệp thực hiện ký hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên với một luật
sư hay công ty luật và luật sư hay công ty luật có trách nhiệm bảo đảm các vấn đề
pháp lý liên quan đến hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh. Mặc dù vậy, trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp hiện nay, vấn đề pháp chế doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng,
không chỉ trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà cả trong việc


15

tiếp nhận sự hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp. Bởi vì, khi các hoạt động hỗ trợ pháp
lý doanh nghiệp được các cơ quan có trách nhiệm triển khai thực hiện, thì về phía
doanh nghiệp cũng phải có một bộ phận đủ khả năng trình độ để tiếp nhận sự hỗ
trợ đó, và bộ phận phù hợp nhất chính là pháp chế doanh nghiệp.
1.5. Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
Trên thế giới, cho dù không có mô hình của thiết chế hỗ trợ pháp lý cho
doanh nghiệp một cách rõ ràng, nhưng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp vẫn được tiến hành xét trên một phương diện nào đó.
1.5.1. Singapore
Singapore là một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Đông Nam Á, nằm giữa
Malaysia và Indonesia. Tổng diện tích tự nhiên là 682,7 km2, dân số 4,6 triệu
người; mật độ dân số cao, nguồn tài nguyên khoáng sản không có, nông nghiệp
không phát triển. Nhìn chung, nếu so sánh với các quốc gia khác trong khu vực,
Singapore gặp nhiều khó khăn, khó có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, những

năm gần đây Singapore có những bước tiến thần kỳ: tốc độ tăng trưởng cao, GDP
bình quân đầu người thuộc nhóm đứng hàng đầu thế giới, cơ sở hạ tầng phục vụ
sản xuất và đời sống được đầu tư phát triển hiện đại, môi trường sống sạch sẽ
đứng thứ nhất châu Á…
Các ngành sản xuất, kinh doanh phát triển mạnh ở đây là cảng biển, đóng
và sửa chữa tàu biển, lọc dầu, lắp ráp máy móc tinh vi, sản xuất hàng điện tử,
hàng bán dẫn… Ngành thương mại và dịch vụ có nhiều ưu thế, chiếm đến 40%
thu nhập quốc dân. Thời gian vừa qua Singapore cũng đi đầu trong việc chuyển
đổi sang nền kinh tế tri thức, hoạt động đào tạo đem lại cho họ một nguồn thu
không nhỏ, số lượng sinh viên, học sinh từ nhiều nước trên thế giới đến du học ở
đây mỗi năm một tăng. Nhiều cơ sở đào tạo đạt chất lượng rất cao, có trường đại
học của Singapore đã lọt vào tốp 50 trường đại học hàng đầu trên thế giới.
Để có được những thành tựu nêu trên Chính phủ Singapore đã có nhiều
chính sách đổi mới, trong đó phải kể đến những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế này phát triển: hỗ trợ vốn cho sản
xuất, kinh doanh; hỗ trợ kinh phí hình thành quỹ đào tạo nhằm nâng cao năng lực


16

cho các giám đốc, nhà quản lý để họ có kiến thức sâu rộng khi tham gia kinh
doanh tại các thị trường trọng điểm như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nga…
Cung cấp thông tin cho doanh nghiệp cũng là một kênh hỗ trợ quan trọng
của Chính phủ. Tổ chức Phát triển doanh nghiệp (IE) trực thuộc Bộ Công
Thương Singapore có trên ba mươi văn phòng ở nhiều nước trên thế giới; riêng ở
Việt Nam có 2 văn phòng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các văn phòng
này có trách nhiệm tập hợp và cung cấp các thông tin thị trường; Phối hợp tổ
chức cho các đoàn doanh nghiệp trong nước đi các nước khảo sát, tìm kiếm đối
tác; Hỗ trợ tổ chức các hội nghị, hội thảo ở nước ngoài; Tăng cường hợp tác,
quan hệ với các nước để họ hiểu hơn về Singapore… Thông qua các văn phòng

này các doanh nghiệp trong nước có được những thông tin cần thiết về môi
trường kinh doanh ở các nước trước khi đi đến lựa chọn quyết định đầu tư. Đồng
thời, các doanh nghiệp nước ngoài cũng dễ dàng nắm được các thủ tục, biết rõ
các yêu cầu, những thuận lợi khó khăn khi xin phép đầu tư vào Singapore. Ngay
từ giữa năm 2007, Bộ Công Thương Singapore cũng đã có cổng thông tin điện tử
giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp; Các giám đốc có thể hỏi đáp trực
tuyến với các chuyên gia kinh tế hàng đầu về kinh nghiệm và thông lệ kinh
doanh quốc tế. Đây cũng là nơi tập hợp, lưu giữ hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ
cho các doanh nghiệp nghiên cứu phát triển thị trường.
Các cơ quan quản lý Nhà nước còn xuất bản một số tờ tạp chí dành riêng
cho giới doanh nghiệp để phổ biến những chủ trương, chính sách mới của Chính
phủ có liên quan đến doanh nghiệp; thông tin về những biến động của thị trường
trong nước và quốc tế; hướng dẫn các doanh nhân xây dựng chiến lược kinh
doanh, xây dựng thương hiệu… Đây cũng là diễn đàn để các doanh nghiệp trao
đổi quan điểm của mình về những thuận lợi hoặc lực cản từ cơ chế quản lý của
Nhà nước, chia sẻ kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, thông tin về đổi mới công
nghệ, kỹ thuật sản xuất… Ngoài ra các tổ chức này còn in các tờ gấp giới thiệu
chi tiết về địa chỉ các văn phòng, các dịch vụ thông tin, các chương trình đào tạo,
hỗ trợ… để các doanh nghiệp trong và ngoài nước lựa chọn.


17

Vấn đề đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp cũng được Chính phủ quan
tâm nhiều. Cơ quan quản lý các cấp hàng năm đều thực hiện rà soát các văn bản
pháp quy xem còn phù hợp với tình hình thực tế không; kiến nghị kịp thời cấp có
thẩm quyền thay thế, sửa đổi các văn bản lạc hậu, không có tác dụng khuyến
khích các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. Cuối mỗi năm Chính
phủ đều mời các doanh nghiệp đến gặp gỡ và lắng nghe ý kiến đóng góp của họ;
đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp chấm điểm cho các cơ quan thuộc Chính

phủ để đánh giá chất lượng phục vụ doanh nghiệp của các cơ quan này. Những
cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp có điểm đánh giá thấp đều phải rà soát lại cung cách
làm việc, cải tiến lề lối tránh gây phiền hà. Các cơ quan có điểm đánh giá cao
được Chính phủ biểu dương, khen thưởng kịp thời [13, tr. 46-47].
1.5.2. Pháp
Theo Chuyên gia tư vấn thông tin pháp luật Xavier Machielon, ở phần lớn
các nước Châu Âu, người ta đã tạo nhiều kênh để Chính phủ tuyên truyền thông
tin pháp luật đến công chúng và doanh nghiệp – một hình thức hỗ trợ pháp lý cho
doanh nghiệp. Có thể kể đến một số kênh như: internet, các ấn bản phẩm, luật sư,
các hiệp hội và các cơ quan chính phủ. Ông đưa ra ví dụ cụ thể: ở Pháp, cũng như
các nước phát triển khác, internet là cách phổ biến để người dân cũng như các
doanh nghiệp tiếp cận thông tin. Trang thông tin pháp luật toàn cầu ở Pháp –
www.legifrance.fr đề cập đến tất cả các vấn đề pháp lý, bao gồm cả hệ thống
văn bản pháp luật đang còn hiệu lực ở Pháp. Nó được chia theo nội dung và cung
cấp công cụ tìm kiếm cho phép người sử dụng tìm kiếm theo loại văn bản, theo
thời gian ban hành, từ khóa hay kí hiệu văn bản.
Cũng theo Xavier Machielon, ở Pháp, các cơ quan chính phủ có trách
nhiệm giải đáp cho công chúng về những quyền lợi và trách nhiệm của công dân.
Các cơ quan này được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương.
Ví dụ, Bộ Tài chính Pháp đã thành lập nhiều bộ phận khác nhau chịu trách nhiệm
đối thoại với công chúng, bao gồm cả cộng đồng doanh nghiệp về hệ thống pháp
luật hiện hành và quyền lợi của đối tượng liên quan. Ở cấp địa phương, mỗi Sở
Tài chính đều có bộ phận thông tin là nơi thực hiện hỗ trợ các đối tượng nộp thuế


18

và đó là trách nhiệm của các cơ quan thuế. Ví dụ: dành thời gian ít nhất 6
tiếng/ngày và 5 ngày/tuần. Bộ phận này hoạt động theo hai cơ chế: cơ chế trả lời
ngay nơi đối tượng nộp thuế được cung cấp thông tin về các vấn đề chung và cơ

chế cuộc hẹn dành cho các câu hỏi phức tạp cần có thời gian nghiên cứu, giải
quyết. Cán bộ tại bộ phận này là công chức và câu trả lời của họ được coi là ý
kiến chính thức của cơ quan quản lý. Cơ sở pháp lý cho hoạt động này là Luật số
78 – 753 được ban hành ngày 17/7/1978. Đạo luật này có khoản quy định việc cơ
quan nhà nước có trách nhiệm trả lời chính xác mọi câu hỏi nhận được, và vai trò
của Chính phủ là xây dựng những quy định pháp lý như vậy và cho phép từng
bộ, ngành tự xây dựng những nguyên tắc/quy trình riêng để thực hiện. Những
nguyên tắc/quy trình trên được xây dựng bởi bộ, ngành để giúp họ dễ dàng hơn
trong việc xử lý yêu cầu của công chúng. Để tránh nhận được nhiều câu hỏi, các
bộ, ngành phải chủ động cung cấp thông tin cho người dân. Các bộ, ngành cũng
áp dụng cơ chế phân cấp (kể cả đào tạo) từ trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, trên khắp nước Pháp đã thành lập những văn phòng “một
cửa” để cung cấp cho doanh nghiệp mọi thông tin cần thiết liên quan đến hoạt
động của họ. Các công chức thực hiện dịch vụ hỗ trợ pháp lý được giao quyền tự
chủ trong việc xử lý yêu cầu/câu hỏi nhận được. Chính phủ Pháp rất chú ý đến
hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ công chức lành nghề để thực hiện dịch vụ hỗ
trợ pháp lý này.
Như vậy, ở Pháp, Chính phủ đã rất coi trọng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho
doanh nghiệp. Hoạt động hỗ trợ được thể hiện thông qua hình thức cung cấp
thông tin pháp lý toàn diện trên internet, qua việc quy định trách nhiệm trả lời tất
cả các câu hỏi mà người dân cũng như cộng đồng doanh nghiệp gửi đến các cơ
quan chính phủ, cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, Chính phủ khuyến khích hoạt
động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp từ phía luật sư cũng như các hiệp hội. Hiệp
hội được coi là cầu nối giữa Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp [14, tr. 3134].
1.5.3. Trung Quốc


19

Trung Quốc là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, một

số loại có trữ lượng lớn như: than đá, dầu mỏ, quặng sắt, dầu mỏ, khí gas tự
nhiên, thủy ngân, nhôm, chì, kẽm… Nguồn nguyên liệu dầu mỏ của Trung Quốc
đứng hàng giàu có nhất của thế giới nhưng chỉ phát triển được một phần, có thể
do Trung Quốc chưa tập trung khai thác thế mạnh này của mình mà chỉ tập trung
sản xuất hàng công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng.
Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều
thành tựu trong lĩnh vực kinh tế. Vào ngày 16/8/2010, Trung Quốc chính thức trở
thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của Nhật Bản trong quý II/2010 đạt 1286 tỷ USD, trong khi đó GDP của
Trung Quốc cao hơn với 1335 tỷ USD. Theo nhiều chuyên gia dự báo, Trung
Quốc có khả năng sớm vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào
năm 2027.
Nói về bài học kinh nghiệm từ phát triển DN nói chung và DN nhỏ và vừa
nói riêng (chiếm 99% tổng DN hiện có) của Trung Quốc thì có khá nhiều điểm
mà chúng ta có thể học hỏi, cả về mặt thiết lập chính sách và thực thi chính sách
hỗ trợ: Chính phủ tiến hành xúc tiến pháp luật, đặt nền tảng cho việc hỗ trợ đối
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ tài chính… Trong số các chính sách hỗ
trợ thì hỗ trợ về pháp lý cho doanh nghiệp là một trong những chính sách được
Chính phủ đặc biệt quan tâm. Việc hỗ trợ này được thực hiện thông qua hình
thức hỗ trợ thông tin qua Cổng thông tin điện tử Trung Quốc (CSMEO) nhằm
mang thông tin đến với DNNVV một cách nhanh chóng và kịp thời nhất… Cổng
thông tin Trung Quốc có một thành viên đặc biệt tham gia vào trang web, đó
chính là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia
giao lưu trực tuyến, giới thiệu và quảng bá sản phẩm của mình. Đồng thời, thông
qua cổng thông tin này, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Trung Quốc được cập nhật
những chính sách, quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa sớm nhất. Ngoài ra,
Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp
cận thị trường bằng cách giúp họ nâng cao kỹ năng, chẳng hạn như việc cho phép
họ truy cập hay tận dụng các dịch vụ quan trọng liên quan đến các tiện ích công



20

cộng, cơ sở hạ tầng, dịch vụ tài chính, khoa học quốc phòng và các ngành công
nghiệp.
Có thể nói việc ban hành những chính sách hỗ trợ kịp thời, thông thoáng
và đầy đủ, trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm) Chính phủ Trung Quốc đã tạo
ra bước nhảy vượt bậc trong quá trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội, đưa Trung Quốc từ một nước đang phát triển lên
hàng những nước tăng trưởng kinh tế hàng đầu trong khu vực và thế giới. Việt
Nam cần phải nghiên cứu bài học kinh nghiệm về phát triển doanh nghiệp của
Trung Quốc để xây dựng, sửa đổi những quy định về hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nói chung và hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nói riêng. Từ đó, tạo cơ sở
vững chắc giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững [31, tr. 45-46].


21

Chương 2.
THỰC TRẠNG HỖ TRỢ PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP CỦA NƯỚC TA
HIỆN NAY
2.1. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về hỗ trợ pháp lý doanh
nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay, văn bản chủ yếu điều chỉnh trực tiếp hoạt động hỗ
trợ pháp lý cho doanh nghiệp là Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 5
năm 2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị
định 66). Những nội dung chủ yếu của Nghị định này bao gồm:
2.1.1. Nguyên tắc trong hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
Về nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Theo quy định tại Điều 3
Nghị định 66 quy định theo hướng hoạt động hỗ trợ pháp lý do Bộ, Ủy ban nhân

dân cấp tỉnh thực hiện phải đảm bảo sự bình đẳng (không phân biệt hình thức sở
hữu, hình thức tổ chức, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động), được thực
hiện bằng các hình thức đa dạng và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước, của từng vùng, ngành, lĩnh vực và nhu cầu của từng đối tượng được hỗ trợ.
Bên cạnh đó, tại Điều 4, 5, 6 Nghị định 66 còn xác định trách nhiệm của
các cơ quan quản lý nhà nước trong phạm vi hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp; quy định nghĩa vụ của doanh nghiệp và các tổ chức đại diện của doanh
nghiệp trong hoạt động hỗ trợ, trong đó có quy định về khuyến khích doanh
nghiệp sử dụng pháp chế doanh nghiệp và việc chủ động tổ chức thực hiện các
hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của các tổ chức đại diện của doanh
nghiệp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình nhằm nâng cao
nhận thức, ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp trong
thực thi pháp luật.
Để đảm bảo triển khai các hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp đạt hiệu
quả, Nghị định quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp như sau:
+ Chủ động tìm hiểu pháp luật, bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế
doanh nghiệp hoặc thuê luật sư tư vấn để giúp doanh nghiệp thực thi pháp luật.


22

+ Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức đại diện của
doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý theo quy định tại
Nghị định này.
2.1.2. Chủ thể của hoạt động hỗ trợ
Trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, chủ thể thực hiện việc
hỗ trợ là các cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân được giao nhiệm vụ thực
hiện việc hỗ trợ, hay cung cấp các biện pháp hỗ trợ. Theo quy định tại Nghị định
66 thì trách nhiệm hỗ trợ cho doanh nghiệp thực hiện pháp luật được giao cho

các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương.
Ở trung ương, trách nhiệm được giao cho các Bộ và cơ quan thuộc Chính
phủ (Điều 4 Nghị định 66), đây đều là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quản lý những ngành, lĩnh vực nhất định. Các cơ quan này đều có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoặc hướng dẫn việc áp
dụng văn bản pháp luật đối với những lĩnh vực thuộc thẩm quyền mình quản lý.
Trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, vai trò của các Bộ là hết sức
quan trọng, bởi các cơ quan này trực tiếp liên quan đến việc xây dựng, ban hành
và triển khai thực hiện các chế độ, chính sách và pháp luật của nhà nước, hoạt
động quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực luôn có sự ảnh hưởng, tác động trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy nhiệm vụ hỗ trợ
pháp lý doanh nghiệp được giao cho các Bộ là hoàn toàn phù hợp và mang tính
khoa học. Bên cạnh trách nhiệm của các Bộ, một số cơ quan tổ chức khác cũng
được giao trách nhiệm phối hợp tham gia hoạt động hỗ trợ như Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức
đại diện cho doanh nghiệp (Điều 5 Nghị định 66). Các cơ quan tổ chức này cũng
là chủ thể thực hiện việc hỗ trợ ở cấp trung ương.
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 4 Nghị định 66) là chủ thể
thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho những doanh nghiệp đang hoạt động tại
địa phương. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện
thẩm quyền theo địa giới hành chính, sự hỗ trợ pháp lý của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh là hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn và tác động trực tiếp đến từng


×