Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Bảo hiểm xã hội tự nguyện thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (657.98 KB, 77 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG QUỐC ĐẠT

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG

HÀ NỘI - 2012


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, khảo
sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Nguyễn Thị
Kim Phụng.
Các số liệu kết quả tính toán trong bài hoàn toàn có cơ sở, dựa trên số
liệu thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Tổng cục thống kê, Viện khoa học
xã hội Việt Nam, các tài liệu và báo cáo cụ thể, uy tín. Bản luận văn thạc sĩ này


chưa từng được công bố.
Một lần nữa, em xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.


LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Phụng đã tận tình
hướng dẫn và quý thầy cô khoa sau đại học trường Đại học Luật đã truyền dạy
những kiến thức quý báu trong chương trình cao học và giúp đỡ kinh nghiệm
cho em hoàn thành bản luận văn này.


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN ........... 4
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của BHXH tự nguyện ................................... 4
1.1.1.Khái niệm BHXH tự nguyện ................................................................. 4
1.1.2. Các nguyên tắc BHXH tự nguyện ........................................................ 6
1.1.2.1 Các nguyên tắc chung của BHXH ................................................. 6
1.1.2.2 Các nguyên tắc riêng của BHXH tự nguyện .................................. 7
1.1.3. Vai trò của BHXH tự nguyện............................................................... 8
1.2 Nội dung của BHXH tự nguyện ...................................................................11
1.2.1 Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ................................................12
1.2.2 Mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện .............................14
1.2.2.1 Mức đóng .....................................................................................14
1.2.2.2 Phương thức đóng ........................................................................15
1.2.3 Các chế độ BHXH tự nguyện ..............................................................15
1.2.4 Quỹ BHXH tự nguyện.........................................................................16
1.2.5 Quản lý BHXH tự nguyện...................................................................18
1.2.5.1 Quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện .........................................18
1.2.5.2 Quản lý sự nghiệp về BHXH tự nguyện ........................................18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BHXH TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM ..................20
2.1 Thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện Việt Nam.......................................20
2.1.1 Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện .................................................20
2.1.2 Mức đóng và phương thức đóng phí BHXH tự nguyện ........................21
2.1.2.1 Mức đóng ....................................................................................21
2.1.2.2 Phương thức đóng .......................................................................23
2.1.3 Các chế độ BHXH tự nguyện...............................................................24
2.1.3.1 Chế độ hưu trí ..............................................................................25


2.1.3.2 Chế độ tử tuất...............................................................................30
2.1.4. Quy định về sổ BHXH tự nguyện ........................................................34
2.1.4.1. Sổ BHXH tự nguyện ....................................................................34
2.1.4.2. Thủ tục cấp sổ .............................................................................34
2.1.4.3 Chốt sổ và cấp lại sổ BHXH .........................................................35
2.1.5. Quỹ BHXH tự nguyện.........................................................................35
2.1.5.1 Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện .......................35
2.1.5.2 Sử dụng quỹ BHXH tự nguyện ......................................................36
2.1.6. Quản lý BHXH tự nguyện...................................................................37
2.1.6.1 Quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện .........................................37
2.1.6.2 Quản lý sự nghiệp về BHXH tự nguyện ........................................38
2.2. Tình hình thực hiện BHXH tự nguyện ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay..39
2.2.1. Số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ............................................39
2.2.2. Số thu BHXH tự nguyện .....................................................................41
2.2.3. Số chi BHXH tự nguyện ....................................................................42
2.3. Đánh giá chung về thực trạng BHXH tự nguyện Việt Nam........................43
2.3.1. Thuận lợi và khó khăn........................................................................43
2.3.1.1 Thuận lợi ......................................................................................43
2.3.1.2 Khó khăn ......................................................................................44
2.3.2. Kết quả đạt được trong triển khai BHXH tự nguyện nước ta ..............45

2.3.3. Những tồn tại và nguyên nhân ...........................................................46
2.3.3.1 Tồn tại ..........................................................................................46
2.3.3.2 Nguyên nhân ................................................................................47
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
BHXH TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM ..................................................................51
3.1. Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật ..................................51
3.1.1. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ...................................51


3.1.2. Tăng cường tính linh hoạt cho việc lựa chọn phương thức đóng
BHXH tự nguyện ..........................................................................................53
3.1.3. Tiếp tục thực hiện các phương án liên thông giữa BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện. .........................................................................................54
3.1.4. Sửa đổi và mở rộng chế độ quy định trong BHXH tự nguyện .............55
3.1.4.1 Sửa đổi chế độ quy định trong BHXH tự nguyện ........................55
3.1.4.2 Mở rộng chế độ quy định trong BHXH tự nguyện .......................56
3.2. Một số giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện ................57
3.2.1. Giải pháp về thủ tục hành chính .........................................................57
3.2.2. Giải pháp về trình độ nhân lực và tổ chức quản lý BHXH ..................58
3.2.2.1 Về trình độ nhân lực .....................................................................58
3.2.2.2 Về tổ chức quản lý ........................................................................60
3.2.3. Hỗ trợ từ nhà nước với BHXH tự nguyện ...........................................61
3.2.4. Những giải pháp khác ........................................................................62
KẾT LUẬN .........................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................66


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ BẢNG BIỂU

-


Chữ viết tắt: Bảo hiểm xã hội (BHXH)

-

Bảng biểu

Bảng 2.1 : Số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện (tr 39)
Bảng 2.2: Số thu BHXH tự nguyện qua các năm (tr 41)
Bảng 2.3: Số sự toán chi BHXH tự nguyện qua các năm (tr 42)


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời từ giữa thế kỷ XIX tại Đức, dần dần
được hoàn thiện và phổ biến trên toàn thế giới, thể hiện nhu cầu tất yếu khách
quan của mọi người dân lao động. Nhu cầu đó đã xuất hiện khá sớm và ngày
càng gia tăng theo quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội. Đến nay, BHXH
đã trở thành một trong những quyền của con người được xã hội thừa nhận. Với
vai trò to lớn của mình, chính sách BHXH luôn được coi trọng trong các
chương trình chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, BHXH đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu thành
lập nước. Từ đó đến nay chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước. Chính sách BHXH là
công cụ hữu hiệu giúp chính phủ thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo ổn định
đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Với xu thế chung của thế giới và chiến lược phát triển an sinh xã hội,
Đảng và nhà nước ta đã ban hành chính sách BHXH tự nguyện được quy định
trong luật BHXH từ năm 2006 và bắt đầu triển khai thực hiện từ đầu năm 2008,

dựa trên nguyên tắc tự nguyện tham gia đóng góp của người lao động, với mục
tiêu đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp
những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống. Chính sách này cũng nhằm bổ sung
diện bảo vệ của BHXH Việt Nam, hướng tới thực hiện chiến lược BHXH toàn
dân trong giai đoạn 2011-2020.
Triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện mang nhiều ý nghĩa
chính trị, kinh tế, xã hội to lớn. Chính sách này thực hiện có hiệu quả sẽ góp
phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cho hàng triệu người dân lao động,
ổn định xã hội, là một bước tiến mới trong việc thực hiện xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Chính sách BHXH tự nguyện còn là giải pháp cần thiết để quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế được vững chắc, hạn chế phân hoá xã hội trong
nền kinh tế thị trường.


2
Đến nay, BHXH tự nguyện Việt Nam đã thực hiện được 4 năm, tuy bước
đầu có những thành công nhưng cũng có không ít khó khăn, vướng mắc còn tồn
tại. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề pháp luật BHXH tự nguyện ở nước ta hiện nay
cũng như thực trạng trong 4 năm thực hiện, em lựa chọn đề tài: “Bảo hiểm xã
hội tự nguyện – Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BHXH tự nguyện đang ngày càng được quan tâm không chỉ trong thực
tiễn mà còn với những nhà nghiên cứu khoa học. Trong số đó có thể kể đến như
đề tài nghiên cứu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam “Cơ sở lý luận cho việc thực
hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam thời gian tới” do Tiến sĩ Nguyễn Tiến
Phú làm chủ nhiệm; các bài viết “Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
“ của ThS. Nguyễn Xuân Thu - Tạp chí Luật học số 9/2006; “Bàn về bảo hiểm
xã hội tự nguyện ở Việt Nam” của TS. Lê Thị Hoài Thu - tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 7/2007; Luận văn thạc sĩ luật học:“Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở

Việt Nam” của Lê Thị Thu Hằng năm 2007.
Do đó, luận văn này trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu
trước đó cùng với thực tiễn thực hiện pháp luật để đưa ra những vấn đề trọng
tâm nhất nhằm hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chỉ nghiên cứu về BHXH tự nguyện Việt Nam mà không tìm
hiểu về BHXH nói chung hay BHXH bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện.
Việc nghiên cứu BHXH tự nguyện tập trung vào phần lí luận chung về
BHXH tự nguyện, tình hình thực hiện BHXH tự nguyện từ khi BHXH tự
nguyện có hiệu lực (năm 2008) đến nay; đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách này trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được viết trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, đường lối chính sách của Đảng, của


3
nhà nước ta về xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về
BHXH tự nguyện nói riêng.
Luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp, kế thừa đối với các công trình nghiên cứu trước
đó, cũng như các bài viết về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống, đánh giá khoa học đối với
các quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện và các số liệu thu thập được từ
các báo cáo, phân tích của cơ quan BHXH, Viện khoa học thống kê, …
- Phương pháp lịch sử, so sánh khi xem xét sự phát triển của BHXH tự
nguyện Việt Nam qua các năm khi thực thi pháp luật BHXH tự nguyện.
Từ đó luận văn đánh giá một cách khách quan, có cái nhìn toàn diện và
đưa ra một số giải pháp hoàn thiện về BHXH tự nguyện qua 4 năm thực hiện.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài này là xem xét một cách có hệ thống chính
sách BHXH tự nguyện từ khi được thực thi; đánh giá thực trạng những ưu
nhược điểm về pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật BHXH tự nguyện nhằm
đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện BHXH tự nguyện ở Việt Nam
hiện nay.
Với mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn bao gồm:
- Trước hết, nghiên cứu một số vấn đề lí luận chung về BHXH tự nguyện
- Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật và tình hình thực tiễn pháp luật
BHXH tự nguyện.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện BHXH tự nguyện
ở Việt Nam.
6. Kết cấu luận văn: Luận văn gồm 3 phần chính:
Chương I : Cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện
Chương II : Thực trạng BHXH tự nguyện ở Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện BHXH tự
nguyện ở Việt Nam


4
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của BHXH tự nguyện
1.1.1.Khái niệm BHXH tự nguyện
Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã
thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về an sinh xã hội (tiêu chuẩn
tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về an sinh xã hội đã có trên toàn thế giới
thành 9 chế độ trợ cấp, cụ thể là: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất
nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thai
sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất, trợ cấp gia đình. Hiện nay, ILO đã gộp

những chế độ trên thành ba cơ chế chính: BHXH, trợ giúp xã hội (cứu trợ xã
hội) và cơ chế tùy nghi. Trong đó BHXH được coi là bộ phận cấu thành quan
trọng nhất, có ý nghĩa là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội của đa số các
quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam) bao gồm: các khoản trợ cấp dài
hạn, trợ cấp ngắn hạn, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế. Từ đó có thể thấy
BHXH có vai trò hết sức to lớn: góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà
nước, cải thiện đời sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội bền vững.
Trên thực tế, BHXH phát triển ngày càng rộng rãi nhằm bảo đảm cho mọi
người lao động đều có thể tham gia.
Khi mới triển khai BHXH, hầu hết các nước mới chỉ áp dụng cho đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc và có nhu cầu, khả năng tham gia BHXH bắt
buộc (chỉ áp dụng cho những người tham gia quan hệ lao động). Tuy nhiên, với
nhu cầu ngày càng cao của con người về an sinh xã hội, đặc biệt là nhu cầu
được tham gia BHXH của người lao động ngày càng tăng thì hình thức BHXH
tự nguyện đã ra đời để đáp ứng những nhu cầu tất yếu về BHXH cho người lao
động.
Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình BHXH tự nguyện :


5
+ BHXH tự nguyện áp dụng như một hình thức bảo hiểm bổ sung cho
BHXH bắt buộc.
+ BHXH tự nguyện áp dụng cho bất cứ người lao động nào tự nguyện
tham gia.
Tính chất tự nguyện của loại hình bảo hiểm này được thể hiện đặc trưng là
người lao động được quyền lựa chọn tham gia hoặc không tham gia, lựa chọn
mức đóng và phương thức đóng. Bên cạnh đó thì BHXH tự nguyện vẫn có sự
điều chỉnh quản lý của nhà nước. Ở nước ta, nhà nước quy định khung mức
đóng góp để hình thành quỹ BHXH tự nguyện, đồng thời nhà nước cũng quy
định các chế độ của BHXH tự nguyện, đưa ra các quy định về điều kiện hưởng

và mức hưởng để đảm bảo bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện.
Như vậy, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH được xây dựng trên cơ sở
tự nguyện của người lao động với tư cách là người tham gia cũng là người
hưởng BHXH. So sánh giữa loại hình BHXH tự nguyện và loại hình BHXH bắt
buộc thì hai loại hình BHXH này có sự giống nhau về bản chất, mục tiêu, mục
đích hoạt động và cơ bản giống nhau về sự hình thành và sử dụng quỹ. Nhưng
điểm khác nhau cơ bản giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện xuất phát từ
quan hệ lao động của những người tham gia BHXH ở hai loại hình này. Có thể
hiểu một cách khái quát về BHXH tự nguyện như sau:
BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do nhà nước ban hành để đảm
bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao
động khi họ gặp phải những biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao
động trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự
nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động và sự hỗ trợ của nhà
nước nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp
phần đảm bảo an sinh xã hội.
Từ khái niệm trên, ta thấy BHXH tự nguyện phải được hình thành và thực
hiện dựa trên các cơ sở:


6
- Có nhiều người lao động tự nguyện tham gia với điều kiện: có nhu cầu
thực sự về BHXH, có khả năng tài chính để đóng phí BHXH tự nguyện, có
những quy định cụ thể về mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương
pháp quản lý và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện…
- Có tổ chức, cơ quan thực hiện chế độ, chính sách BHXH tự nguyện: thu
phí BHXH tự nguyện, quản lý quỹ BHXH tự nguyện, thực hiện chi trả trợ cấp
BHXH tự nguyện cho các đối tượng thụ hưởng…
- Được nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết: bảo hộ quỹ BHXH tự
nguyện, có chính sách ưu đãi cho hoạt động đầu tư quỹ BHXH tự nguyện.

1.1.2 Các nguyên tắc của BHXH tự nguyện
Việc thực hiện BHXH tự nguyện cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc
nhất định, bao gồm những nguyên tắc chung của BHXH và những nguyên tắc
riêng của BHXH tự nguyện, các nguyên tắc này được tổng hợp từ trong các văn
bản của ILO về vấn đề BHXH cũng như từ các quốc gia có nền an sinh tiên tiến
trên thế giới, cụ thể:
1.1.2.1 Các nguyên tắc chung BHXH
Thứ nhất, mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Nguyên tắc này
được thể hiện đối với BHXH tự nguyện trên các mặt: có đóng BHXH tự nguyện
thì được hưởng chế độ; thời gian tham gia đóng BHXH nhiều, mức đóng góp
cao thì mức trợ cấp lương hưu, trợ cấp tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động – bệnh nghề nghiệp được hưởng với mức cao và ngược lại, quan hệ tỷ lệ
này phải là tỷ lệ do xã hội điều tiết trong từng giai đoạn nhất định, nó chịu sự
tác động của một loạt các yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan khác như: mức độ
phát triển kinh tế quốc dân, thu nhập quốc dân hàng năm, dân số, mức sống xã
hội và tuổi thọ bình quân. Bên cạnh đó, với đặc tính của bảo hiểm nói chung thì
tính chất chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia là không thể thiếu. Nguyên
tắc chia sẻ của BHXH được thể hiện ở tất cả các chế độ, nhưng rõ nét nhất là ở
các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp và trợ cấp


7
thất nghiệp (số đông người đóng góp để chi trả cho một số người tham gia
không may rủi ro) qua đó thể hiện sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân
tương ái của cộng đồng.
Thứ hai, quỹ BHXH được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, được
sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Nguyên tắc này
quy định quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành

phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo
cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán,
đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm
bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị
mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH nói
chung và BHXH tự nguyện nói riêng.
Thứ ba, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, thuận tiện, bảo đảm kịp thời
và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH. Với nguyên tắc này, việc thực
hiện BHXH đối với người lao động phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về
hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho người lao động, người sử dụng lao động khi tham gia BHXH và khi
giải quyết hưởng các chế độ BHXH. Có như vậy, BHXH mà ở đây là BHXH tự
nguyện mới có một cơ chế hợp lý đảm bảo cho việc vận hành và thu hút đông
đảo người tham gia.
1.1.2.2 Các nguyên tắc riêng của BHXH tự nguyện
Thứ nhất, BHXH tự nguyện thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người
tham gia. Nguyên tắc này thể hiện: người lao động có quyền tự do lựa chọn
tham gia hoặc không tham gia BHXH tự nguyện, được lựa chọn mức đóng và
phương thức đóng BHXH tự nguyện phù hợp với thu nhập của mình. Đây là
nguyên tắc đặc trưng của BHXH tự nguyện xuất phát từ đối tượng của loại
hình BHXH này, do rất khó để quản lý với những lao động tại khu vực phi


8
chính thức, cũng như các đối tượng này thường có thu nhập không ổn định cần
tạo điều kiện phù hợp với nhu cầu tham gia BHXH của họ.
Thứ hai, các quy định BHXH tự nguyện phải linh hoạt trong giới hạn hợp
lý của toàn hệ thống. Tính linh hoạt được thể hiện rõ nét nhất ở quy định về
mức đóng, phương thức đóng. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở
mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này phải nằm

trong khoảng quy định (ở Việt Nam là mức thấp nhất bằng mức lương tối thiểu
chung và cao nhất không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung), đây là khoảng
giới hạn điều tiết của BHXH, không đến hoặc vượt qua giới hạn này sẽ không
thuộc sự điều chỉnh của BHXH tự nguyện. Phương thức đóng cũng có thể được
điều chỉnh về thời gian đóng hoặc cách thức đóng tùy từng giai đoạn, tạo sự
thuận tiện cho những người tham gia.
Thứ ba, đảm bảo liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
Xuất phát từ mục đích chung của cả hai loại hình BHXH là đảm bảo an sinh xã
hội cho người tham gia, sự liên thông giữa hai loại hình BHXH này nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia khi người họ vừa có thời
gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện; theo đó
người lao động có thể tham gia đồng thời hay không đồng thời BHXH bắt buộc
và BHXH xã hội tự nguyện mà quyền lợi của họ vẫn được bảo đảm. Theo quy
định của Luật BHXH Việt Nam thì trong cùng một thời điểm, người lao động
chỉ được tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện, tuy nhiên
nước ta cũng đã có quy định khá chi tiết về việc chuyển đổi giữa hai loại hình
BHXH này.
1.1.3. Vai trò của BHXH tự nguyện
Xuất phát từ những quan điểm của ILO về bản chất an sinh xã hội: là biểu
hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận, thể hiện chủ
nghĩa nhân đạo cao đẹp và truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân
tương ái của cộng đồng. BHXH, với vị trí trụ cột của mình trong hệ thống an


9
sinh xã hội, kế thừa bản chất và thể hiện vai trò không thể thiếu trong đời sống
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Qua đó, BHXH tự nguyện với tư cách là một
bộ phận cấu thành BHXH cũng có những ý nghĩa to lớn, được biểu hiện qua các
mặt:
Thứ nhất, BHXH tự nguyện góp phần ổn định cuộc sống người lao động

tham gia BHXH.
Người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
một cách kịp thời khi họ gặp phải các biến cố làm suy giảm khả năng lao động,
mất việc làm dẫn đến giảm, mất thu nhập hoặc chết… Nhờ có sự đảm bảo thay
thế hoặc bù đắp phần thu nhập kịp thời mà người lao động tham gia BHXH tự
nguyện nhanh chóng khắc phục những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe,
ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động.
Đa số người tham gia BHXH tự nguyện là những lao động trong khu vực
phi chính thức. Đặc biệt với vai trò to lớn của lao động trong khu vực phi chính
thức đối với nền kinh tế thì việc ra đời và áp dụng BHXH tự nguyện có ý nghĩa
thiết thực.
Tính đến năm 2011, “việc làm trong khu vực không chính thức tại Việt
Nam có gần 10,9 triệu người, chiếm 23,5% tổng việc làm. Trong đó lao động tự
làm là 15%, lao động làm thuê là 5,7%, lao động gia đình không hưởng lương
1,9% và người sử dụng lao động là 0,9%. Thu nhập từ khu vực việc làm phi
chính thức chiếm khoảng 30- 60% tổng thu nhập quốc gia, đóng góp 20% GDP
cho cả nước.
Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khu vực phi chính thức vẫn là
nguồn cung cấp việc làm lớn nhất (hơn 1 triệu ở Hà Nội và hơn 1,3 triệu ở
thành phố Hồ Chí Minh), chiếm tương ứng 32% và 34% tổng số việc làm ở mỗi
thành phố. Giá trị tăng thêm tạo ra bởi khu vực này là 34.000 tỷ đồng ở Hà Nội
và 40.000 tỷ đồng ở thành phố Hồ Chí Minh”.[25]
Về lâu dài, khu vực kinh tế phi chính thức sẽ tiếp tục là một cấu phần quan
trọng trong nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt


10
Nam. Bởi vậy, Nhà nước cần có những chính sách tích cực hơn nữa để tiếp tục
bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tập trung vào những nội
dung an sinh xã hội, học nghề, an toàn vệ sinh lao động, tiếp cận thị trường...

cho lao động làm việc ở khu vực phi chính thức.
Thứ hai, BHXH tự nguyện góp phần nâng cao chất lượng lao động cá
nhân, nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Khác với trước đây, khi chỉ những lao động trong các doanh nghiệp, cơ
quan hành chính sự nghiệp (hay gọi là lao động làm việc trong khu vực chính
thức) mới được tham gia BHXH thì giờ đây việc mở rộng loại hình BHXH tự
nguyện giúp các đối tượng lao động ở các lĩnh vực khác (phi chính thức) đều có
thể tham gia BHXH. Điều này đã tạo ra cho người lao động sự phấn khởi, tâm
lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện.
Sự an tâm của người lao động cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ
đặc biệt là được BHXH, sẽ thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo
đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ ba, BHXH tự nguyện góp phần bảo đảm công bằng xã hội, tạo ra sự
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trên thị trường lao động.
BHXH bắt buộc cùng với BHXH tự nguyện đã tạo điều kiện cho người lao
động ở tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề đều được BHXH bảo trợ những lúc
gặp rủi ro trong cuộc sống. Tạo sự bình đẳng cho người lao động, không phân
biệt lao động thuộc khu vực chính thức hay không chính thức. Điều này tạo ra
sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các công dân, giữa các thành phần kinh
tế trong xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, khi cơ hội và rủi ro
đều có thể đến đối với tất cả mọi người lao động.
Như vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và
người nghèo những người đang cống hiến và những người đã cống hiến.
Thứ tư, BHXH tự nguyện góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân một
cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân
sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững.


11
Thông qua chính sách BHXH trong đó có BHXH tự nguyện, người có

năng lực hơn và có thu nhập cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn vào quỹ BHXH,
khi đó họ cũng đã góp một phần thu nhập để trợ giúp những người “yếu thế”
hơn trong xã hội. Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống
như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình... nên có thu nhập và điều
kiện sống thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống.
Thứ năm, BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là tiền đề của quá trình sản xuất kinh
doanh, nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về vốn càng lớn.
Quỹ BHXH tự nguyện được hình thành từ sự đóng góp của người lao
động và sự hỗ trợ của nhà nước để chi trả các chế độ cho người tham gia. Việc
sử dụng quỹ không thực hiện cùng một lúc nên quỹ BHXH tự nguyện có một
lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn trong khoảng thời gian dài. Lượng nhàn rỗi
tương đối đó sẽ được đem đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế nhằm bảo
toàn và tăng trưởng quỹ. Quỹ BHXH tự nguyện phát triển sẽ là một trong những
nguồn lực tài chính lớn, là nguồn cung ứng vốn ồn định, lâu dài cho việc đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, quỹ BHXH tự nguyện sẽ góp phần ồn định
tài chính tiền tệ quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
1.2 Nội dung của BHXH tự nguyện
Nội dung BHXH tự nguyện phải được thiết kế sao cho thuận tiện cho
người lao động và phù hợp với đặc điểm của đối tượng tham gia, đảm bảo được
quyền lợi và khả năng tham gia của người lao động, đáp ứng được nhu cầu của
đông đảo người lao động thuộc diện bảo vệ của chính sách.
Có thể thấy các quy định của ILO về an sinh xã hội nói chung đều mang
tính cơ bản (công ước 102 còn được gọi là công ước quy phạm tối thiểu về an
toàn xã hội), mỗi quốc gia khi áp dụng đều phải căn cứ vào những đặc trưng về
kinh tế chính trị, xã hội của quốc gia mình mà đặt ra những tiêu chuẩn khác


12

nhau về an sinh xã hội nói chung, BHXH tự nguyện mà chúng ta đang xét đến ở
đây nói riêng. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách BHXH phải
đề cập tới là:
- Trình độ nhận thức.
- Yếu tố pháp lý, cơ chế, chính sách.
- Trình độ phát triển của nền kinh tế, khả năng tài chính.
Cũng trên cơ sở kết quả “Khảo sát tại 15 nước từ rất nghèo tới rất giàu”
của Robert Holzmann giám đốc Cục bảo vệ xã hội (The Social Protection
Department), mạng lưới phát triển con người (Human Development Network)
của Ngân hàng thế giới (World Bank) năm 2002 [36, tr 13] đã đưa ra một số lý
do chung về phạm vi tham gia BHXH thấp:
- Trình độ phát triển kinh tế thấp, các nhóm thu nhập thấp không đủ nguồn
tài chính để đóng góp.
- Có những người lao động nằm trong phạm vi không chịu tham gia hoặc
trốn tránh việc đóng góp.
- Không có điều kiện để điều tra, phát hiện và thu phí đối với người lao
động khu vực phi chính thức.
- Thiếu điều kiện về hạ tầng cơ sở và thể chế.
- Những khó khăn khi mở rộng phạm vi đến các vùng nông thôn do phạm
vi rộng lớn và phân tán.
Xét từ những yếu tố trên, khi thiết kế, xây dựng, điều chỉnh pháp luật với
BHXH tự nguyện, tất cả các quốc gia đều phải xác định các nội dung chủ yếu
sau:
1.2.1 Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện về nguyên tắc là mọi người lao
động có nhu cầu tham gia. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện của một nước
về cơ bản là mọi đối tượng lao động là công dân của quốc gia đó, đang trong độ
tuổi lao động, có thể không hoạt động kinh tế (như người làm công việc nội trợ



13
trong gia đình) hoặc đang tham gia hoạt động kinh tế trong mọi lĩnh vực, ngành
nghề của nền kinh tế (lao động nông thôn, lao động tự do, lao động tự tạo việc
làm…) có nhu cầu và có khả năng tham gia BHXH tự nguyện.
Do đối tượng tham gia BHXH tự nguyện khá rộng nên các nước đều thực
hiện cách tiếp cận dần dần từng bước mở rộng đối tượng tham gia trong hệ
thống BHXH tự nguyện để đảm bảo tính khả thi, trên cơ sở nhu cầu, khả năng
của người dân, phù hợp với trình độ quản lý của nhà nước.
Dựa trên tính chất loại trừ, hiện nay đa số các nước có triển khai loại hình
BHXH tự nguyện đều quy định đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là các đối
tượng lao động không thuộc diện tham gia của BHXH bắt buộc (như ở các nước
Pháp, Trung Quốc, Singapore, ..). Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện chủ
yếu là người lao động nông thôn, lao động tự do, lao động tự tạo việc làm, lao
động làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ … gọi chung là lao động trong
khu vực phi chính thức. Có một số ít nước áp dụng BHXH tự nguyện cho phép
người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có thể vừa tham gia
BHXH bắt buộc, vừa tham gia BHXH tự nguyện (điển hình như hệ thống
BHXH tự nguyện của Hoa Kỳ), nhằm gia tăng thêm sự bảo vệ cho người lao
động, khi về hưu đối tượng này có thể được nhận cả hai khoản trợ cấp hưu trí.
Để xác định đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, cần xác định phạm vi,
đối tượng tham gia và những đối tượng không được tham gia. Việc xác định
phạm vi này cần dựa trên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, chính sách
BHXH của mỗi nước, trình độ quản lý của cơ quan BHXH và các điều kiện
khác như truyền thống, văn hóa, đất đai, mùa vụ, thiên tai…
Ở Việt Nam, Luật BHXH Việt Nam quy định đối tượng tham gia của
BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc
đối tượng quy định tham gia BHXH bắt buộc (Theo điều 2 Nghị định số
190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện
và phần I Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP). Với quy định như trên, hầu hết lực



14
lượng lao động là đối tượng tham gia BHXH (gồm cả BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện). Nếu chính sách BHXH tự nguyện được thực hiện tốt thì
cùng với BHXH bắt buộc sẽ có trên 50% số dân Việt Nam được thụ hưởng
BHXH (xét trên dân số trong độ tuổi lao động của Tổng cục thống kê [32]),
trong đó đa phần là những người trước đây chưa từng được tham gia BHXH
(những nông dân, thợ thủ công nghiệp, lao động độc lập…). Điều này đã giảm
bớt sự bất bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của các công dân, giữa các thành
phần kinh tế trong xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, khi cơ hội
và rủi ro đều có thể đến đối với tất cả mọi người lao động và nhà nước có bảo
trợ cho BHXH ở mức độ nhất định.
1.2.2 Mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện
1.2.2.2 Mức đóng
Mức đóng được dựa trên các yếu tố về khả năng đóng góp của người lao
động, khả năng quản lý và tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện, xác định và dự
liệu mức chi trả để xác định mức đóng BHXH phù hợp với đặc điểm của đối
tượng tham gia, đảm bảo sự cân đối và phát triển được quỹ BHXH tự nguyện.
Mức đóng và hình thức đóng phí BHXH tự nguyện đều có tính linh hoạt,
mềm dẻo để đáp ứng được sự đa dạng của đối tượng tham gia. Đa số các nước
trên thế giới không quy định mức phí đóng tối đa.
Mức đóng BHXH tự nguyện xác định trên cơ sở thu nhập của đối tượng
tham gia tiềm năng của BHXH tự nguyện. Đây là điểm khác biệt giữa BHXH tự
nguyện và BHXH bắt buộc (mức đóng BHXH bắt buộc xác định trên cơ sở tiền
lương). Các chuyên gia BHXH cho rằng việc thiết kế khung mức đóng góp hợp
lý là trong phần tiết kiệm từ thu nhập sau khi đã chi cho tiêu dùng các nhu cầu
tối thiểu của người lao động. Tất nhiên, mức đóng BHXH tự nguyện không thể
chiếm phần lớn trong phần tiết kiệm đó bởi họ còn phải chi cho nhiều nhu cầu
khác, đặc biệt là chi cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.



15
Ngoài ra, để xác định mức phí đóng BHXH tự nguyện phải dựa vào nhiều
yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về người lao động mà chính sách BHXH tự
nguyện hướng đến như: cơ cấu nguồn lao động theo độ tuổi, giới tính, thu nhập,
mức sống của người lao động ...và các yếu tố biến động chung khác như: tuổi
thọ bình quân, lạm phát…
Mức đóng góp phải được thiết kế sao cho đảm bảo chi các chế độ BHXH
tự nguyện (phải xác định được mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng các
chế độ có tính kèm các yếu tố lạm phát, lãi suất…). Đồng thời mức đóng góp
phải đáp ứng được nhu cầu của người tham gia. Vì phí đóng BHXH là một
trong những điều kiện tiên quyết để người lao động quyết định việc tham gia
BHXH tự nguyện.
Ở Việt Nam, xác định mức đóng được dựa trên mức lương tối thiểu chung
theo quy định của nhà nước. Theo đó, mức tối thiểu để đóng BHXH tự nguyện
sẽ bằng mức lương tối thiểu chung còn tối đa không quá 20 tháng lương tối
thiểu chung.
1.2.2.2 Phương thức đóng
ILO cũng không có quy định cụ thể về phương thức đóng BHXH tự
nguyện. Các phương thức đóng BHXH tự nguyện trên thế giới cũng hết sức đa
dạng: việc đóng phí có thể theo tuần, theo tháng, quý, năm hoặc nhiều năm một.
Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mức thu nhập và nhu
cầu của người tham gia BHXH tự nguyện mà mỗi quốc gia có quy định khác
nhau về vấn đề này.
Ngoài ra, với sự phát triển của xã hội thông tin hiện nay, việc đóng BHXH
có thể được thông qua dịch vụ ngân hàng, thẻ điện tử, nộp tại các cơ quan
BHXH cơ sở hay có thể được nhân viên đến thu tại địa chỉ đăng ký.
1.2.3 Các chế độ BHXH tự nguyện
Theo ILO, không giới hạn các chế độ BHXH tự nguyện, tuy nhiên, các

chế độ của BHXH tự nguyện được khuyến nghị nên bao gồm các chế độ dài hạn


16
như hưu trí và tử tuất, đặc biệt là chế độ hưu trí. Ngoài ra có thể thực hiện hiện
thêm các chế độ ngắn hạn khác như tai nạn lao động, thai sản, ốm đau… tùy
theo điều kiện và khả năng thực hiện của mỗi nước. Thực tế, đa số các nước
trên thế giới cũng không thực hiện hết 9 chế độ của BHXH như ILO quy định
(chủ yếu chỉ áp dụng các chế độ dài hạn như chế độ hưu trí, tử tuất, mất sức lao
động). Trong đó chế độ trợ cấp hưu trí là chế độ được áp dụng nhiều nhất.
Việc tổ chức thực hiện BHXH bao gồm bao nhiêu chế độ và chế độ nào
được lựa chọn áp dụng với BHXH tự nguyện phụ thuộc nhiều vào điều kiện và
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn của mỗi quốc gia, trình độ
quản lý và nguồn nhân lực của ngành BHXH của quốc gia đó, ngoài ra còn phụ
thuộc vào đặc điểm lao động, văn hóa, truyền thống… của mỗi dân tộc.
Các nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau và có chiến lược phát
triển hệ thống an sinh xã hội ở mỗi giai đoạn khác nhau thì việc thực hiện các
chế độ BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng để bảo vệ người lao
động cũng sẽ có sự khác nhau.
Ở Việt Nam, với nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ, nhà nước đang
từng bước cải thiện chương trình an sinh xã hội quốc gia, điều kiện kinh tế chưa
cao, BHXH tự nguyện mới được nghiên cứu triển khai gần đây nên chế độ
BHXH tự nguyện áp dụng chưa nhiều. BHXH tự nguyện Việt Nam mới chỉ
thực hiện hai chế độ dài hạn đó là: chế độ hưu trí và chế độ tử tuất, và đang tiếp
tục từng bước hoàn thiện cũng như nghiên cứu thực hiện các chế độ khác.
1.2.4 Quỹ BHXH tự nguyện:
Quỹ BHXH tự nguyện là một quỹ tiền tệ tập trung, nằm ngoài ngân sách
nhà nước hình thành từ sự đóng góp của người lao động tham gia BHXH tự
nguyện, sự hỗ trợ của nhà nước và các nguồn khác để chi trả các khoản trợ cấp
cho người lao động khi người lao động tham gia BHXH tự nguyện gặp những

rủi ro, biến cố hay khi sự kiện bảo hiểm xảy ra nhằm góp phần ổn định cuộc
sống và phục hồi sức khỏe cho người lao động.


17
Việc xây dựng và phát triển quỹ BHXH tự nguyện phải dựa trên những
nguyên tắc chung của BHXH. Đảm bảo việc thực hiện dựa trên những tiền đề lý
luận mang tính chất cơ sở. Quỹ BHXH thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc lấy
số đông bù số ít, hạch toán theo nguyên tắc cân bằng thu chi.
Nguồn hình thành: khác với BHXH bắt buộc, nguồn hình thành quỹ
BHXH tự nguyện không có sự đóng góp của người sử dụng lao động. Thông
thường nguồn hình thành quỹ bao gồm: người lao động đóng góp (đây là nguồn
hình thành chính của BHXH tự nguyện); tiền sinh lời hoạt động đầu tư quỹ
BHXH tự nguyện; hỗ trợ của nhà nước và các nguồn hợp pháp khác như: nguồn
tài trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Sử dụng quỹ: quỹ được sử dụng nhằm mục đích:
- Chi trả các chế độ BHXH tự nguyện cho người lao động theo quy định.
- Chi quản lý.
- Chi đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
Trong đó, chi trả các chế độ BHXH tự nguyện là khoản chi quan trọng
nhất, chiếm tỷ lệ lớn trong chi BHXH tự nguyện lấy ra chủ yếu từ phần đóng
góp của người tham gia.
Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện rất quan trọng. Hầu
hết các lĩnh vực để đầu tư tăng trưởng quỹ đều được chợn lọc và có quy định
các lĩnh vực được đầu tư, thường là các lĩnh vực có độ rủi ro thấp.
Chi quản lý và chi đầu tư có thể lấy ra một phần từ phí đóng góp BHXH
tự nguyện hoặc có thể lấy từ nguồn đầu tư tăng trưởng quỹ.
Nguyên tắc hoạt động của quỹ:.Quỹ BHXH tự nguyện hoạt động theo
nguyên tắc tồn tích tập trung, cân bằng thu chi và nguyên tắc lấy số đông bù số
ít. Do đó, phải tạo được sự rằng buộc mối quan hệ lâu dài vững chắc giữa đóng

và hưởng BHXH tự nguyện.
Quản lý quỹ: Quỹ được hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước. Quỹ
BHXH tự nguyện có thể được hạch toán như quỹ một thành phần của quỹ
BHXH chung (quỹ BHXH bao gồm 2 thành phần quỹ BHXH bắt buộc và quỹ


18
BHXH tự nguyện), do cùng một cơ quan quản lý BHXH quản lý (Việt Nam
theo mô hình này, do BHXH Việt Nam thống nhất quản lý). Quỹ BHXH tự
nguyện cũng có thể tổ chức thành một hệ thống riêng biệt với quỹ BHXH bắt
buộc, cơ quan BHXH không quản lý quỹ BHXH tự nguyện.
1.2.5 Quản lý BHXH tự nguyện
1.2.5.1 Quản lý Nhà nước với BHXH tự nguyện
Sự quản lý và điều tiết của nhà nước cũng đóng vai trò không thể thiếu
trong mỗi hệ thống BHXH của mỗi quốc gia. Theo đó, chính phủ mỗi quốc gia
đều có cơ quan quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện. Cơ quan này có thể
quản lý riêng BHXH tự nguyện (như Tổ chức tương tế xã hội của BHXH nông
dân Pháp), cũng có thể quản lý cả BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc (như
Bộ Lao động của BHXH tự nguyện Hoa Kỳ). Tổ chức quản lý hệ thống BHXH
tự nguyện có thể tổ chức thành một hệ thống riêng biệt, thiết lập một cơ quan
quản lý riêng độc lập với hệ thống BHXH , hoặc có thể do cơ quan BHXH quản
lý.
Ở Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BHXH quy định
cơ quan quản lý nhà nước về BHXH là Bộ Lao động – thương binh và xã hội
(theo điều 8 Luật BHXH 2006). Như vậy, Bộ Lao động – thương binh và xã hội
quản lý cả BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc nói chung.
1.2.5.2 Quản lý sự nghiệp với BHXH tự nguyện
Tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH tự nguyện có thể tổ chức thành một hệ
thống riêng biệt, thiết lập một cơ quan quản lý riêng độc lập với hệ thống
BHXH, hoặc có thể do cơ quan BHXH quản lý. Đây là các cơ quan chuyên môn

có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH tự nguyện và quản lý quỹ
BHXH này theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, BHXH Việt Nam trực
thuộc Chính phủ là cơ quan quản lý sự nghiệp BHXH, quản lý toàn bộ hệ thống
BHXH.


×