LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, dù theo chế độ chính trị nào, Chính ph ủ v ẫn
phải quan tâm đến tình trạng của ngân sách Nhà nước và đ ặc bi ệt là chi
tiêu công. Trong những năm qua, khủng hoảng kinh t ế không ch ỉ di ễn ra ở
Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới. Để giải nguy cho n ền kinh t ế,
chính phủ các nước đã tung ra hàng loạt những gói kích c ầu mà ngu ồn chi
chủ yếu từ ngân sách nhà nước, một trong những khoản m ục chi tiêu công
của Chính phủ. Năm 2008, Việt Nam có bội chi ngân sách lên t ới con s ố 8%
GDP là rất đáng lưu tâm vì các năm trước Việt Nam vẫn kiểm soát b ội chi
ngân sách trong kế hoạch dưới 5% GDP. Vậy, quyết định chi tiêu công c ủa
Chính phủ Việt Nam có hợp lý không? Hiệu qu ả của các chính sách trong
chương trình chi tiêu của Chính phủ như thế nào? Đây là những v ấn đ ề
vẫn đang còn nhiều ý kiến thảo luận. Nhằm làm rõ hơn tình hình chi tiêu
công của Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây, em xin ti ến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình chi tiêu công ở Vi ệt Nam - Nh ững
thách thức đặt ra và hướng khắc phục”. Trong phạm vi bài viết này chi tiêu
ngân sách cũng chính là chi tiêu công.
Nội dung bài viết gồm 3 phần:
Phần một: Lý luận chung về chi tiêu công.
Phần hai: Thực trạng chi tiêu công ở Việt Nam trong những năm g ần
đây.
Phần ba: Những thách thức đặt ra đối với chi tiêu công ở Việt Nam và
đề xuất một vài kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của chi tiêu công trong
thời gian tới.
Mặc dù em đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi và xây dựng bài ti ểu lu ận
một cách khoa học, logic nhưng cũng không thể tránh kh ỏi những sai sót
nhất định, mong cô và các bạn đưa ra những nhận xét, góp ý đ ể em hoàn
thiện bài tiểu luận tốt hơn.
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về Chi tiêu công:
1. Khái niệm:
Chi tiêu công: là một trong những thuộc tính vốn có khách quan của
khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng ngu ồn l ực tài chính
công của Nhà nước trong quá trình cung cấp hàng hóa công (Lý thuy ết tài
chính công, PGS.TS Sử Đình Thành&TS.Bùi Thị Mai Hoài, 2006:80) Theo
khái niệm trên thì những khoản chi nào được thực hiện trong quá trình
cung cấp hàng hóa công của nhà nước thì mới được xem là chi tiêu công. Ví
dụ như chi để đầu tư phát triển hệ thống đường sá, cầu cống, chi cho quốc
phòng an ninh… Trong phạm trù tài chính công, chi tiêu công đ ược hi ểu là
các khoản chi tiêu của các cấp chính quy ền, các đơn v ị qu ản lí hành chính,
các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ của chính ph ủ. Nh ư v ậy,
chi tiêu công chủ yếu là các khoản chi của ngân sách nhà nước đã đ ược
quốc hội phê chuẩn. Chi tiêu công phản ánh trị giá của các loại hàng hóa
mà Chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã
hội nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước.
Chi tiêu công tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực
trong nền kinh tế. Chính phủ đóng vai trò là trung tâm trong
quá trình tái phân phối thu nhập.Thông qua chi tiêu công, chính
phủ lại cung ứng cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi của
xã hội bằng việc cung cấp những hàng hóa công cần thiết mà
khu vực tư không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không
hiệu quả.Với cơ chế này, chính phủ thực hiện tái phân phối thu
nhập của xã hội công bằng hơn, khắc phục được khuyết tật của
cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
2 Đặc điểm của chi tiêu công :
- Chi tiêu công phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng
hay các quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện n ền
kinh tế xã hội của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức
năng đó, Nhà nước cung cấp một lượng hàng hoá khổng lồ cho nền kinh
tế.
- Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhi ệm
vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi tiêu
công do chính quyền Nhà nước các cấp đ ảm nhi ệm theo các n ội dung
đã được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước và các
khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức
năng quản lý , phát triển kinh tế - xã h ội . Các cấp của cơ quan quyền lực
Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các
khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhi ệm v ụ kinh t ế, chính
trị, xã hội của đất nước.
- Chi tiêu công mang tính chất công cộng, tương ứng với nh ững đ ơn
đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hoá, dịch vụ nhằm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước .Đó cũng là những khoản chi cần thiết
và phát sinh tương đối ổn định như chi lương cho đ ội ngũ cán b ộ, công
chức, chi hàng hoá, dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công c ộng c ủa
dân cư…
- Chi tiêu công mang tính chất không hoàn trả hay hoàn tr ả không
trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số
lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các
khoản chi tiêu công.
3 Vai trò của chi tiêu công đối với nền kinh tế:
a. vai trò phân bổ nguồn lực
Một trong những vai trò quan trọng của chính ph ủ là can thi ệp vào
nền kinh tế thị trường để khắc phục những khuyết tật của thị trường, như
độc quyền, hang hóa công cộng, ngoại ứng hay thông tin không đối xững,
tất nhiên, cũng cần phải thấy sự can thiệp của chính phủ vào phân bổ
nguồn lực không phải là chìa khóa vạn năng để giải quy ết mọi vấn đề. B ởi
lẽ chính phủ cũng có những hạn chế của mình và mọi chính sách can thi ệp
của chính phủ đề kèm theo chi phí nhất định. Vì thế, nguyên tắc biên đã chỉ
ra một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của chính sách can thiệp chính phủ,
đó là các chính sách đó phải mang lại cho xã h ội nh ững l ợi ích lơn hơn
những chi phí phát sinh mà xã hội gánh chịu
b. vai trò phân phối lại thu nhập
Đây là một mục tiêu quan trọng đứng sau nhiều chính sách c ủa chính
phủ. Chính phủ có thể thực hiện mục tiêu này bằng cách nhưng cách thức
trực tiếp thường dùng nhất là đánh thu ế kuyx tiến và chi trợ cấp bằng
tiền cho các đối tượng cần thiết, việc chính phủ cung cấp các dịch vụ ý
tếm giáo dục, nhà ở và các dịch vụ xã hội khác cũng là nh ững tr ọng tâm
của các chính sách phân phối lại, Ngoài ra, các hoạt động điều ti ết như bào
vệ người tiêu dung, chống độc quyền, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh
thực phẩm… cũng mang hàm ý phân phối lại. tuy nhiên, đứng sau mỗi mức
độ phân phối lại đó đều hàm chưa sự đánh đổi giữa hiệu quả và công
bằng, vì nó có liên quan đến những chi phí nhất đ ịnh đ ể đ ảm b ảo ho ạt
động phân phối lại mang tính hiệu quả cao.
c. vai trò ổn định hóa nền kinh tế
Các chính sách chi tiêu công giữ vai trò thi ết y ếu trong vi ệc đ ạt đ ược
các mục tiêu kinh tế vĩ mô như cải thiện cán cân thanh toán, nâng cao tốc
độ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn
định thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế bảo gồm các chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ (mức cung tiền, lãi suất, tín dụng). Bằng việc sự dụng
một cách cẩn thận 2 công cụ chính sách này, chính phủ có thế tác động tớ
tổng chi tiêu của xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế, t ổng sản l ượng, t ỷ lệ
người lao động có việc làm, mức giá cũng như tỷ l ệ lạm phát c ủa n ền kinh
tế.
4. Phân loại:
Căn cứ vào chức năng của nhà nước, chi tiêu công được
chia thành: chi xây dựng cơ sở hạ tầng, chi hệ thống quản lí
hành chính, chi cho quốc phòng an ninh, chi cho tòa án và viện
kiểm sát, chi hệ thống giáo dục, chi hệ thống an sinh xã hội, chi
hỗ trợ doanh nghiệp, chi các chính sách đặc biệt, chi khác.
Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi tiêu công được chia thành
chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Đây là cách phân loại
phổ biến vì qua đây nhà nước sẽ biết được những thông tin về
sự ảnh hưởng của chính sách chi tiêu công đối với mọi hoạt
động kinh tế xã hội, qua đó giúp chính phủ thiết lập các chương
trình chi tiêu nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công.
a.
Chi đầu tư phát triển
Nhu cầu đầu tư phát triển của toàn bộ nền kinh tế là rất
lớn. Có nhiều lĩnh vực đầu tư có thể huy động vốn từ các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư phát triển nhưng
có một số lĩnh vực đầu tư không thể trông chờ vào các nhà đầu
tư tư nhân do nhu cầu vốn lớn, khả năng thu hồi chậm, lợi
nhuận thấpbuộc chính phủ phải sử dụng nguồn tài chính công
để đầu tư. Ngoài ra chính phủ cần thiết phải chi đầu tư còn
nhằm mục tiêu tạo đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
bền vững và xử lý những bất ổn khi nền kinh tế gặp phải các cú
sốc.
Chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một
phần thu nhập từ quỹ NSNN và các quỹ ngoài ngân sách mà
chủ yếu là quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tếxã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa có tính
chiến lược nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và
tăng trưởng kinh tế.
Chi ĐTPT của tài chính công gồm có chi từ ngân sách nhà
nước, từ tín dụng nhà nước, từ một số quỹ ngoài ngân sách. Chi
ĐTPT là khoản chi lớn, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Quy mô, kết cấu khoản chi này phụ thuộc vào mục tiêu phát
triển kinh tế – xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ. Nhìn
chung, chi ĐTPT tập trung vào 1 số lĩnh vực chủ yếu sau:
- Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế – xã hội
công cộng
Đây là khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển, bao gồm
chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các công trình không
có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình
giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học, nhà văn hóa…Việc
đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế công cộng
phải tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành
phần kinh tế đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tính chất “mồi”
để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng.
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội thường hướng vào đầu tư
phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sơ vật chất phục vụ các
hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường.
Nhìn chung khoản chi đầu tư này có vai trò quyết định trong
việc tạo thế cân đối cho nền kinh tế – xã hội, hút vốn của các
chủ thể đầu tư khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư góp vốn cổ
phần vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết
cho nền kinh tế
Khoản chi hỗ trợ, góp vốn của nhà nước thường được cân
nhắc rất thận trọng. Nhà nước chỉ đầu tư với những ngành quan
trọng có quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát
triển của nhà nước. Chẳng hạn, các cơ sở sản xuất ra tư liệu sản
xuất chủ yếu đặc biệt là những mặt hang còn phụ thuộc nhiều
vào nhập khẩu, các sản phẩm liên quan đến quốc phòng, an
ninh, các doanh nghiệp công ích.
Khoản chi này có xu hướng điều chỉnh giảm khi nền kinh tế
hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh mục tiêu
dẫn dắt nền kinh tế khoản chi hỗ trợ các doanh nghiệp còn
được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái sâu
nhằm hạn chế đà suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, khoản chi này chỉ
xuất hiện mang tính nhất thời ở một khoảng thời gian nhất
định.
- Chi dự trữ nhà nước
Chi dự trữ nhà nước nhằm mục đích duy trì sự phát triển
cân đối và ổn định của nền kinh tế. Khoản chi này trước hết
được sử dụng để ngăn chặn, hạn chế và bù đắp những tổn thất
bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế do thiên tai, dịch bệnh, địch
họa… mang lại. Trong nền kinh tế thị trường, khoản chi này còn
được sử dụng để điều tiết nền kinh tế trước các thất bại của thị
trường nhằm thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô đặc biệt khi nền
kinh tế gặp phải các cú sốc từ bên ngoài.
Chi tiêu công cho ĐTPT thường chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng chi tiêu công. Số chi ĐTPT trong từng năm tài chính phụ
thuộc vào mức tăng thu nhập quốc dân và mục tiêu kinh tế xã
hội của nhà nước trong giai đoạn đó. Nhìn chung số chi cho
ĐTPT của nhà nước chiếm tỷ trọng khá lớn trông tổng số chi cho
đầu tư phát triển của toàn xã hội, nó đóng vai trò “dẫn dắt”
hoạt động đầu tư của các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Chi đầu tư phát triển là khoản chi có tính tích lũy, không để
tiêu dùng hiện tại mà có tác dụng tăng trưởng kinh tế, là khoản
chi không mang tính phí tổn, có khả năng hoàn lại vốn. Vậy tại
sao chi đầu tư phát triển lại có thể có tác dụng tăng trưởng kinh
tế? Có thể xét đơn giản như khi nhà nước đầu tư xây dựng các
công trình giao thông, bệnh viện, trường học, một mặt làm tăng
cầu về các hàng hóa vật liệu xây dựng, làm sản lượng của các
mặt hàng này tăng lên, tạo công ăn việc làm cho người lao
động tham gia vào các công trình xây dựng và những người
trong ngành sản xuất vật liêu xây dựng, và từ đó kéo theo tăng
trưởng của các ngành khác. Đơn giản như vậy có thể thấy chi
đầu tư phát triển đã góp phần đạt được một số mục tiêu của
nền kinh tế.
Khoản chi này có thể ở dưới các hình thức như cấp phát
không hoàn lại, có thể chi theo dự toán kinh phí hoặc cấp phát
theo lệnh chi tiền. Chi đầu tư phát triển có mức độ ưu tiên thấp
hơn chi thường xuyên.
b.
Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu
nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi
gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà
nước về quản lý kinh tế – xã hội.
Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực
hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này
mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ cấu chi thường xuyên
phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Với xu thế
phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước
ngày càng gia tăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu
hướng mở rộng. Xét theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên bao
gồm:
- Chi cho các đơn vị sự nghiệp. Đây là các khoản chi cho
các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp
ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm
sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất
lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cụ thể:
+ Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của
nhà nước. Các khoản chi này nhằm đảm bảo hoạt động cho các
đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho các
hoạt động kinh tế như đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp; thủy lợi; khí tượng; thủy văn… mặc dù các đơn
vị sự nghiệp kinh tế có tạo ra sản phẩm và chuyển giao được
nhưng không phải là đơn vị kinh doanh nên các khoản chi tiêu
được coi như chi NSNN. Xu hướng ở Việt Nam, nhà nước chỉ giữ
lại một số đơn vị sự nghiệp kinh tế cần thiết cho sự phát triển
kinh tế quốc gia, các đơn vị còn lại sẽ chuyển sang mô hình
hoạt động như một doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của các đơn vị này.
+ Chi cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội.
Hoạt động sự nghiệp văn hóa – xã hội là tổng thể các hoạt động
nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể dục thể
thao, y tế, xã hội.
Chi cho hoạt động khoa học công nghệ là các khoản chi
cho nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật,
công nghệ mới nhằm hiện đại hóa khoa học, công nghệ từ đó
giúp nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm
việc, tăng năng lực cạnh tranh cho mỗi quốc gia cả về kinh tế,
cả về xã hội. Chi khoa học công nghệ được thực hiện thong qua
các hội, ngành các địa phương. Với xu hướng phát triển kinh tế
theo chiều sâu, chi cho khoa học công nghệ ngày càng được mở
rộng.
Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo là các khoản chi cho
hệ thống giáo dục, đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thong đến đào tạo đại học và sau đại học. Nhu cầu giáo dục,
đào tạo của xã hội ngày càng đòi hỏi gia tăng về số lượng và
chất lượng, với nguồn tài chính có hạn NSNN không thể đáp ứng
cho đủ các nhu cầu này mà chỉ đáp ứng một phần nhu cầu
trong khuôn khổ nhất định, cho một số đối tượng nhất định.
Khuôn khổ chi tiêu, đối tượng thụ hưởng phụ thuộc vào quan
điểm của nhà nước và nguồn lực tài chính quốc gia. Ở Việt Nam
hiện nay, chi tài chính công đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt
động giáo dục tiểu học công lập, đảm bảo phần lớn kinh phí cho
giáo dục phổ thong trung học và một phần kinh phí cho giáo
dục đại học. Mục tiêu của Nhà nước Việt Nam là huy động
nguồn tài chính của các thành phần kinh tế đầu tư cho giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này. Bên cạnh đó, chi
tài chính công đối với hoạt động giáo dục vẫn phải đảm bảo cho
hệ thống giáo dục phát triển toàn diện, nâng cao trình độ nhận
thức, kỹ năng sống và làm việc của con người từ đó xây dựng
và phát triển lành mạnh và văn minh. Đối với hoạt động đào
tạo, chi tài chính công mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn
phải đảm bảo ở một chừng mực nhất định để khuyến khích
nhân tài, tạo điều kiện để họ phát huy được năng lực của mình
từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền
vững.
Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế là các khoản chi cho đảm
bảo sức khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh cho người dân. Trong
khuôn khổ nhất định, chi tài chính công phải đáp ứng kinh phí
cho hoạt động khám chữa bệnh của một số đối tượng như tre
nhỏ, những người thuộc diện chính sách xã hội. Chi tài chính
công tập trung chủ yếu vào chi cho y tế dự phòng, y tế công
cộng nhằm đảm bảo sức khỏe chung của cộng đồng.
Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao là
các khoản chi cho hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng,
truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể thao… khoản chi này
không chỉ nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, nâng cao
sức khỏe về tinh thần cho người dân mà còn góp phần giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần khẳng định và
nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.
Chi cho hoạt động xã hội là các khoản chi cho đảm bảo xã
hội và cứu tế xã hội. Khoản chi này nhằm đảm bảo cuốc sống
của người dân khi gặp khó khăn do ốm đau, bệnh tật hoặc
những người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội.
Nhìn chung các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp là
mang tính tiêu dùng nhằm mục đích nâng cao trình dộn dân trí,
sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân. Bên cạnh đó
khoản chi này còn tạo động lực gián tiếp để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự xã hội.
- Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý
hành chính): là các khoản chi để đảm bảo hoạt động của hề
thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa
phương như chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành
chính, cơ quan chuyên môn các cấp, viện kiểm sát và tòa án.
Trong xu hướng phát triển của xã hội, các khoản chi quản lý
hành chính không chỉ dừng lại ở việc duy trì hoạt động quản lý
của bộ máy nhà nước để cai trị mà còn nhằm mục đich phục vụ
xã hội. Hoạt động này nhằm bảo vệ và hỗ trợ cho các chủ thể
và các hoạt động kinh tế phát triển, chẳng hạn hoạt động cấp
phép, công chứng, hộ khẩu…
- Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn
xã hội. Khoản chi cho an ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã
hội, tạo ra sự yên bình cho người dân. Chi quốc phòng nhằm
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các
thế lực bên ngoài. Quy mô của khoản chi này phụ thuộc vào sự
biến động chính trị, xã hội trong nước và các yếu tố bất ổn từ
bên ngoài. Chi quốc phòng an ninh mang tính bí mậtt của quốc
gia nên toàn bộ khoản chi này do NSNN đài thọ và không có
trách nhiệm công bố công khai như các khoản chi khác.
- Chi khác: ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi
không phát sinh đều đặn và liên tục trong các tháng của năm
nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như chi trợ giá theo chính
sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ
trợ quỹ bảo hiểm xã hội…
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng chi tiêu công
Tỷ trọng chi tiêu công trong GDP thường có xu hướng tăng d ần theo
từng năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:
Thứ nhất, do sự mở rộng không ngừng vai trò của nhà nước:
Khi xã hội ngày càng phát triển, ngày càng công nghi ệp hóa thì h ệ
thống các mối quan hệ xã hội, thương mại và pháp lý trong nền kinh tế
càng trở nên nhiều và phức tạp hơn. Khi đó, chính phủ cần phải có vị th ế
mạnh hơn để thiết lập và vận hành tổ chức giải quyết những mối quan hệ
đan xen đó, điều này tất yêu dẫn đến sự tăng nhanh và mở rộng của chi
tiêu công, đặc biệt trong lĩnh vực lu ật pháp và duy trì tr ật t ự cho giao
thông, liên lạc.
Thứ hai, do thu nhập bình quân đầu người tăng: quá trình tăng
trưởng GDP trên đầu người cũng chính là quá trình phát tri ển c ủa
nền kinh tế từ độ thấp lên cao. hiển nhiên trong quá trình quá đó, đ ầu ra
của các hoàn hooas coogn cộng cũng không ngừng tăng theo, s ố li ệu th ống
kê cho thấy, mức chi tiêu của hang hóa công cộng không chỉ tăng v ề s ố
tuyệt đố mà còn cả tỷ trọng trong GDP
Thứ ba, do thay đồi công nghệ.
Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng lớn đến tỷ trọng chi tiêu cho hang
hóa công cộng, thể hiển qua việc làm thay đổi quy trình sản xu ất và các
sản phẩm được tạo ra, sự tác động đó có thể theo chiều hướng làm tăng
hoặc giảm tầm quan trọng tương đối của các loại hàng hóa công cộng, do
đó cũng làm chi tiêu công cộng thay đổi theo,
Thứ tư, là thay đổi dân số, Đây cũng là một yếu tố quan trọng quyết
định sự thay đổi tỷ trọng chi tiêu công cộng. Dân số tăng sẽ ảnh hướng đến
các khoản chi tiêu cho giáo dục, y tế. tương tự hiện tượng “Lão hóa dân số”
cũng khiến chính phủ phải tăng thêm các khoản chi cho y t ế và phúc lợi xã
hội, đó là các chi phí phát sinh khác do vi ệc thi ếu h ụt l ực l ượng lao động
gây ra.
Thứ năm, là quá trình đô thị hóa: Quá trình đô thị hóa sẽ làm nảy sinh
nhiều nhu cầu mới vốn không có ở các vùng nông thôn. Đại bộ phận
những nhu cầu phát sinh them đó là các hàng hóa và dịch v ụ công cộng như
đường xá, cầu cống, khu vui chơi, giải trí, d ịch v ụ chăm sóc s ức kh ỏe , giáo
dục… vì thế, chi tiêu công cũng sẽ tăng.
II. Thực trạng chi tiêu công ở Việt Nam trong những năm g ần
đây.
Báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Qu ốc h ội khóa XIII, Th ủ
tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết, trong điều ki ện kinh t ế phát
triển không thuận lợi, ngân sách vẫn phải tập trung cho đ ầu tư phát tri ển,
xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện các chính sách xã hội và ti ền l ương.
Trong khi đó, vay ưu đãi nước ngoài có xu hướng gi ảm do Vi ệt Nam đã
bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình, tỷ trọng vay trong nước tăng,
huy động trái phiếu Chính phủ chủ yếu là dưới 5 năm dẫn đ ến nghĩa v ụ
trả nợ trực tiếp của Chính phủ trong ngắn hạn tăng lên. Tuy nhiên, Vi ệt
Nam vẫn bảo đảm trả nợ đầy đủ, không để phát sinh nợ quá hạn.
Hiện nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2013 ở mức 54,2% GDP, dự
kiến đến hết năm 2014, nợ công bằng 60,3% GDP. Năm 2014, dự kiến tỷ lệ
trả nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm khoảng 14,2% tổng thu ngân sách
(theo quy định của Chiến lược nợ công là không quá 25%), nh ưng tính c ả
vay để đảo nợ và trả nợ vay về cho vay lại thì vào khoảng 26,2%.
Đối với phần lớn người dân, sự quan tâm thường tập trung vào ch ỉ
tiêu tổng nợ công so với GDP và xem nó có ở ngưỡng an toàn hay không.
Tuy nhiên, trên thực tế, gánh nặng nợ không phải chỉ được đo b ằng t ổng
số nợ, số nợ phải trả hàng năm cùng lãi suất mà còn ở hi ệu qu ả s ử d ụng
đồng vốn vay. Hiện tại, các nguồn vay của Việt Nam chủ yếu là ODA nên lãi
suất bình quân chưa đến 3% và tương đương với lãi su ất mà Chính ph ủ
Hoa Kỳ đi vay. Tuy nhiên, nếu các khoản vay ODA sử dụng không hi ệu qu ả
và nguồn vay ưu đãi sẽ ít dần mà thay vào đó là các kho ản vay th ương m ại
thì nguy cơ gánh nặng nợ công tăng cao rất dễ xảy ra. Tại th ời đi ểm hi ện
nay, khi nợ công của Việt Nam đã gần chạm ngưỡng cho phép, nhi ều thách
thức rất lớn đang đặt ra cho Chính phủ trong việc quản lý chi tiêu công.
Cùng thời điểm khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, tại Hà Nội
đã diễn ra Hội nghị thường niên Tổ chức Hành chính mi ền Đông th ế gi ới
EROPA 2014. Trong khuôn khổ của Hội nghị, phóng viên của Tạp chí T ổ
chức nhà nước đã có điều kiện ghi lại nội dung bài tham lu ận của PGS.TS.
Lê Chi Mai, Học viện Hành chính quốc gia về việc định hướng gi ải quy ết
các thách thức của Chính phủ Việt Nam trong quản lý chi tiêu công.
Đánh giá bước đầu về việc chi tiêu công của Chinh ph ủ Vi ệt Nam
trong thời gian qua, diễn giả Lê Chi Mai nhận đ ịnh: Trong những năm qua,
chi tiêu công của Chính phủ đóng vai trò quan trọng thúc đ ẩy s ự tăng
trưởng ở Việt Nam. Bằng trực quan, có thể thấy cơ sở hạ t ầng kinh t ế xã
hội đã được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ hộ dân nông thôn k ết n ối v ới đi ện
lưới đã tăng từ 14% năm 1993 lên xấp xỉ 100% năm 2010. Sản l ượng đi ện
từ chỗ chỉ đạt 8,8 tỷ Kwh trong năm 1990 lên 80 tỷ kwh trong năm 2009,
đạt tốc độ tăng bình quân năm là 13%. Từ năm 2000 đ ến 2010, t ổng chi ều
dài các tuyến đường trải nhựa tăng gấp 4 lần, từ 30.000km lên 120.000
km. Tỷ lệ hộ gia đình được kết nối với hệ thống cấp nước tập trung tăng
từ 12% lên 76% vào năm 2009. Chi tiêu cho giáo d ục năm 2012 tăng g ấp
9,5 lần so với năm 2000. Đặc biệt, công cu ộc xoá đói gi ảm nghèo đã đ ạt
được thành công đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 28,9 % năm 2002 xu ống
còn 7,8% năm 2013.
Như vậy, có nhiều vấn đề đang đặt ra trong quản lý chi tiêu công
của Chính phủ, thể hiện ở những điểm sau:
Trước hết, quy mô chi tiêu công tăng nhanh qua các năm, đ ạt đ ỉnh
cao là năm 2007, với mức tăng là 29,65% so v ới năm tr ước đó. Nh ững năm
sau, tốc độ tăng chi có giảm thấp hơn, song quy mô chi v ẫn l ớn. T ốc đ ộ
tăng chi 12 năm (2001-2012) là 19,08%, cao h ơn so v ới t ốc đ ộ tăng GDP
cùng kỳ là 17,29%. Chỉ tính riêng trong năm 2013, chi tiêu c ủa Chính ph ủ
Việt nam cao nhất so với các nước trong khu vực với tỷ lệ 30,9%GDP, trong
khi đó trình độ phát triển kinh tế của Vi ệt Nam còn th ấp h ơn nhi ều so v ới
các nước này. Điều đó một mặt thể hiện việc Chính ph ủ Vi ệt Nam đang
phải chi tiêu khá lớn để tạo ra các nền tảng bước đ ầu cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; song mặt khác con số này lại ph ản ánh
một thực tế là tính kém hiệu quả của chi tiêu công ở Việt Nam. Giới chuyên
gia kinh tế nhận xét, tỷ lệ cao của chi tiêu thường xuyên cho thấy vẫn chưa
có dấu hiệu tích cực của cải cách hành chính. Sự c ồng k ềnh và chi tiêu t ốn
kém của bộ máy công quyền khiến việc cắt giảm chi ngân sách đang tr ở
nên rất khó khăn.
Chi tiêu công của Việt Nam hiện ở mức rất cao so với các n ước. M ột
nghiên cứu của chuyên gia Phạm Thế Anh cho thấy, quy mô chi tiêu công
tối ưu đối với các nền kinh tế đang phát triển nằm trong khoảng 15-20%
GDP. Số liệu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho th ấy, Hong Kong,
Đài Loan, Indonesia và Singapore có quy mô chi tiêu chính ph ủ nh ỏ nh ất, t ừ
15-18% GDP.
Trong khi đó, chi tiêu chính phủ của Việt Nam luôn v ượt xa m ức t ối
ưu này, theo Báo cáo về nợ công của Ủy ban Kinh tế Qu ốc hội, chi ếm tới
hơn 30% GDP vào năm 2013. Bộ Tài chính còn dự kiến mức bội chi ngân
sách tiếp tục tăng từ mức dự kiến 224.000 tỷ đồng trong năm 2014 lên
226.000 tỷ đồng năm 2015.
TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phân tích,
chi tiêu công cao nhưng hiệu quả thấp đe doạ sự ổn đ ịnh của n ền kinh t ế
trong tương lai như lạm phát cao và bất ổn, lãi su ất cao chèn l ấn khu v ực
tư nhân, thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài, gây bất ổn tỷ giá, tăng tr ưởng
chậm do hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp...
Việt Nam đang thực hiện chủ trương tái cơ cấu đầu tư công, trong
khi chi thường xuyên chiếm tỷ trọng rất lớn (hơn 70% ngân sách nhà
nước) còn tỷ lệ chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nu ớc l ại chi ếm t ỷ
trọng rất nhỏ và đang giảm dần. Tốc độ tăng chi tiêu cho đầu tư phát triển
dù vẫn đạt 17-18% mỗi năm song thấp hơn nhiều tốc đ ộ tăng c ủa chi
thuờng xuyên (đạt trung bình 25% giai đoạn 2008-2012).
Tỷ lệ cao của chi thường xuyên cho thấy chưa có dấu hiệu tích cực
của cải cách hành chính. Sự cồng kềnh và chi tiêu t ốn kém c ủa b ộ máy
công quyền khiến việc cắt giảm chi ngân sách trở nên rất khó khăn.
Thêm vào đó, việc thiếu tính kỷ lu ật trong phân c ấp tài khoá trong
vài năm qua đã gây ra một số bất cập như thất thu, chi tiêu sai, đ ầu t ư giàn
trải (từ những hoạt động công ích trong lĩnh vực an ninh, qu ốc phòng, giáo
dục, y tế... đến các hoạt động mang tính kinh doanh thu ần tuý nh ư công
nghiệp chế biến, khai khoáng, nghệ thuật, giải trí...) và thi ếu hi ệu qu ả v ốn
Nhà nước, thể hiện ở hệ số ICOR cao gấp khoảng 1,5-2 l ần các nước khác,
đặc biệt là đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước.
Bày tỏ lo ngại về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long nh ận
xét: “Mức nợ công của Việt Nam hiện vẫn đang được đánh giá là trong
phạm vi kiểm soát, nhưng nếu xét trên cấu trúc nợ của Việt Nam, th ực t ế
có thể nghiêm trọng hơn rất nhiều”. Ông Long phân tích, hi ện nay v ề cách
tính nợ công của Việt Nam và quốc tế có sự vênh nhau, không kh ớp v ới
nhau. Điều đó có nghĩa nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ c ủa m ột s ố
chính quyền địa phương hoặc tổ chức thuộc nhà nước không được nhà
nước tính vào đó.
Thực chất, với khối nợ của doanh nghiệp nhà nước rất lớn hiện nay,
mức nợ công không phải là dưới 65% GDP. Nhiều chuyên gia, nhà khoa h ọc
(không phải tổ chức nước ngoài) đã tính toán nợ công c ủa Vi ệt Nam ph ải
là trên 100%, tức là trên mức báo động rất nhiều. V ới tỷ l ệ n ợ công so v ới
GDP như vậy đồng thời với những khó khăn thách thức cũng như xu hướng
nợ công tăng, khả năng chi trả và việc sử dụng không hi ệu q ủa thì đây là
tình trạng rất đáng báo động.
Theo TS. Trần Đình Thiên, tổng thu thuế và phí của nước ta ch ủ y ếu
đến từ ba nguồn chính: thuế giá trị gia tăng, thu ế thu nh ập doanh nghi ệp,
và thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt đ ối v ới hàng nh ập kh ẩu. T ỷ
trọng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp có xu hướng giảm dần trong khi
tỷ trọng thu từ thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt tăng. Đi ều này
tiềm ẩn nguy cơ thâm hụt ngân sách trong những năm tới tăng m ạnh m ột
khi Việt Nam phải thực hiện các cam kết về giảm thu ế xu ất nh ập kh ẩu
hàng hoá theo yêu cầu của hội nhập thương mại quốc tế.
Bên cạnh đó, các khoản thu từ dầu thô và các tài nguyên khác là
không bền vững do các nguồn này là hữu hạn, đ ặc bi ệt giá d ầu thô ph ụ
thuộc vào thị trường thế giới. Vừa qua, giá dầu thế giới liên tục gi ảm
mạnh, gây thất thoát không nhỏ cho thu ngân sách: thu t ừ d ầu thô gi ảm t ừ
28,8% tổng thu ngân sách xuống còn 11,6% trong năm 2011 và ước
khoảng 10,2% cho năm 2015. Mặt khác, thu từ vi ện tr ợ không hoàn l ại
cũng không bền vững do bản chất ngắn hạn không ổn đ ịnh, nh ất là các
khoản này có nguy cơ giảm mạnh khi Việt Nam trở thành n ước có thu
nhập trung bình thấp.”
Đại biểu Nguyễn Văn Tiên (Tiền Giang): “Tôi băn khoăn v ề vi ệc
nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị tăng lương cho công chức, viên ch ức.
Người hưởng lương từ ngân sách chỉ có 4 triệu trong số 92 triệu dân, v ậy
người không có lương họ biết kêu với ai? Trong khi nợ công tăng, ngân
sách hụt thu, tăng chi, nếu tăng lương thì không biết lấy đâu ra ngu ồn.
Trong một báo cáo gửi Quốc hội kỳ này, tôi thấy có nêu lý do 70% b ội
chi vừa qua do tăng lương nhiều đợt liền và bộ máy chưa đ ược c ải thi ện.
Tôi thấy, cái chúng ta đáng quan tâm là thu nh ập c ủa 30% công ch ức t ừ
trung ương đến xã cũng như những người có công và người v ề h ưu r ất
thấp, còn 70% viên chức còn lại nếu chúng ta không cải cách r ất khó tăng
lương.
Hiện nay, chúng ta đã làm được một việc để giảm gánh n ặng chi tiêu
công, đó là cải cách trong lĩnh vực y tế. Nhà nước đã mua b ảo hi ểm y t ế
cho người nghèo, người có công thì không nên cấp ti ền ti ếp đ ể phát tri ển
các bệnh viện nữa. Các cụ đã nói “xay lúa thì thôi cõng em”, ti ền còn l ại
chúng ta phải tập trung cho y tế dự phòng như phòng ch ống lao, tiêm
chủng mở rộng các dịch bệnh khác. Đây là vấn đề không xã hội hóa được.”
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Đức (Đồng Tháp) nêu ý kiến: “Với
khoảng 2,8 triệu cán bộ ăn lương từ ngân sách nhà nước, hàng năm ngân
sách phải dành ra 35% để chi trả lương và cần phải 40.000 tỷ đ ồng đ ể
tăng lương cho các cán bộ công chức này. Bộ máy chính quy ền c ủa ta quá
lớn, cồng kềnh so với các quốc gia.
Theo tôi, cần có chế độ sát hạch định kỳ đối với cán b ộ, công ch ức
nhằm đánh giá đúng kỹ năng, đạo đức công vụ và vi ệc này sẽ tr ả l ời đ ược
việc 30% cán bộ, công chức ngồi chơi xơi nước mà Quốc hội và dư lu ận đã
nêu, nhưng chưa có lời giải.”
Thứ hai, cơ cấu chi ngân sách có một số vấn đề đáng quan tâm.
Chi trả nợ (cả lãi và gốc) trong tổng chi ngân sách đang gia tăng do
quy mô vay nợ trong những năm qua tăng cao và nhiều khoản vay đ ến h ạn.
Hiện tại, nghĩa vụ nợ công/thu ngân sách đã ở mức khoảng18% và d ự báo
số nợ phải trả sẽ vượt qua mức 25% tổng thu ngân sách nhà nước trong 2
năm 2015 và 2016 (là mức an toàn theo quy định của Chính ph ủ và khuy ến
nghị của WB). Bên cạnh đó, nợ công trong nước thường ở kỳ h ạn ng ắn
đang gây rủi ro lớn đến ngân sách. Theo Báo cáo kinh t ế vĩ mô năm 2014
của UB kinh tế của Quốc hội, phần lớn trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn
dưới 3 năm và chiếm tỉ trọng lên đến 75,3% trong năm 2013. Chi th ường
xuyên chiếm tỉ trọng lớn và có xu hướng tăng nhanh, từ mức 51,9% năm
2003 lên 64,9% năm 2010; 67,2% năm 2011 và lên đến 72,1% năm 2012.
Năm 2013 tỷ trọng chi thường xuyên giảm xu ống còn 68,23%. Tuy nhiên,
điều đáng lưu ý là chi thường xuyên đã lớn hơn mức thu từ thuế và phí.
Do chi thường xuyên tăng cao nên tỉ trọng chi đầu tư từ NSNN gi ảm
dần, từ 30,2% năm 2003 xuống còn 25,5% trong năm 2010, 22,0% trong
năm 2011 và chỉ còn 21,4% năm 2013. Tỉ trọng chi đ ầu t ư trong ngân sách
suy giảm mạnh cho thấy một cơ cấu chi thiếu tích cực khi ph ần l ớn các
khoản chi ngân sách không phục vụ cho mục tiêu đầu tư hỗ trợ tăng
trưởngmà tập trung vào chi thường xuyên. Điều này phần nào cho th ấy s ự
cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền.
Thứ ba, hiệu quả chi đầu tư của khu vực công kém hơn khu vực tư,
đồng thời hiệu quả đầu tư của Việt Nam kém hơn các nước trong khu vực.
Hệ số ICOR của Việt Nam đã tăng từ mức bình quân 6,18% trong giai đoạn
1996-2000 lên 7,04% trong các năm 2001-2005, sau đó gi ảm tr ở l ại còn
6,18% giai đoạn 2006-2010. Tính trong cùng giai đoạn xây d ựng n ền t ảng
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi nước, hệ s ố ICOR c ủa Vi ệt Nam
cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực (Bảng 1).
Bảng 1. Hệ số ICOR của các nước trong giai đoạn công nghiệp hoá đất
nước.
Nước
Hàn Quốc
Malayxia
Trung Quốc
Thái Lan
Việt Nam
Giai đoạn
Tốc độ
Tỷ lệ đầu
Hệ số ICOR
tăng GDP
tư/GDP
1961-1980
7,9
23,3
3
1981-1995
7,2
32,9
4,6
2001-2006
9,7
38,8
4
1981-1995
8,1
33,3
4,1
1996-2009
7,2
40,2
5,6
Nguồn: Báo cáo của Chính phủ (tháng 8/2013).
Hơn thế, ICOR của khu vực kinh tế nhà nước thậm chí còn cao hơn
nhiều so với các khu vực khác, phản ánh hiệu qu ả đầu tư công ở Vi ệt Nam
còn tương đối thấp và tính chất đặc thù của hoạt động đầu tư công
Tuy nhiên, việc sử dụng ICOR để đánh giá hiệu qu ả đầu tư công ở
Viêt Nam chưa thật chính xác, bởi lẽ vốn đầu tư được sử dụng đ ể đ ền bù
và giải phóng mặt bằng rất lớn, cá biệt có dự án lên tới 50-60%, trong khi
đó theo thông lệ các nước, vốn đầu tư chỉ tính vốn tích lũy đầu tư.
Song nếu sử dụng mô hình vec-tơ sai số hiệu chỉnh (VECM-Vector
Error Correction Model) nhằm đánh giá tương tác giữa các biến số kinh tế
theo thời gian để tính toán, các chuyên gia cũng ch ỉ ra hi ệu qu ả c ủa đ ầu t ư
tư nhân cao hơn so với đầu tư công. Cụ thể, đầu tư tư nhân tăng 1% có th ể
làm sản lượng tăng 0,33%, trong khi đầu tư công tăng 1% ch ỉđóng góp
0,23% tăng sản lượng trong cân bằng dài hạn.
Thứ tư, bội chi NS cao dẫn đến nợ công ngày càng gia tăng. Nhìn
chung, thâm hụt ngân sách có xu hướng gia tăng. Thâm h ụt ngân sách,
không bao gồm chi trả nợ gốc, của Việt Nam trung bình trong giai đo ạn
2003-2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên
2,7% GDP trong giai đoạn 2008-2012.
Thứ năm, sự gia tăng chi tiêu công bắt đầu có tác đ ộng b ất l ợi đ ến
nền kinh tế.
Tốc độ gia tăng chi tiêu công và tốc độ tăng trưởng GDP cho th ấy t ừ
năm 2001-2007, tăng trưởng diễn ra thu ận chiều với chi tiêu công. Trong
giai đoạn này, chi tiêu công có tác động tích cực đ ến tăng tr ưởng. Tuy
nhiên, từ năm 2007-2012, mối quan hệ này đã đ ảo chi ều, chi tiêu công b ắt
đầu có tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng kinh tế, kéo theo s ự gia tăng
lạm phát và nợ Chính phủ.
Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, chi tiêu c ủa Chính ph ủ m ột
khi đã vượt quá ngưỡng nào đó sẽ cản trở tăng trưởng kinh t ế do nó gây ra
sự phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả, tham nhũng th ất thoát và
chèn ép khu vực tư nhân. Dựa trên những phân tích th ực nghi ệm, các nhà
kinh tế thống nhất với nhau rằng quy mô chi tiêu công tối ưu đ ối v ới các
nền kinh tế đang phát triển nằm trong khoảng từ 15-25% GDP.
Xét về góc độ chi ngân sách, có một số tiền không nh ỏ đã b ị lãng phí,
thất thoát thông qua việc đầu tư công, thông qua việc chi tiêu của các cơ
quan nhà nước, thông qua việc làm ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nước. Những kết quả kiểm toán, thanh tra với số ti ền bị lãng phí, thất
thoát lớn mới được công bố và được đưa lên mặt báo hằng ngày là đi ều
không thể coi thường. Đầu tư, chi tiêu kém hiệu quả góp phần làm bội chi
ngân sách, làm tăng nợ nần của Chính phủ và tạo sức ép lạm phát. Nền
kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, Chính ph ủ bu ộc ph ải th ực
hiện các biện pháp quyết liệt nhằm cắt giảm chi đầu tư công, giảm chi
thường xuyên để kiềm chế lạm phát. Thế nhưng, nếu đi sâu vào phân tích
vấn đề, ngoài những nguyên nhân khách quan, lãng phí, bội chi ngân sách
kéo dài, còn do hệ lụy từ những tồn tại trong thu chi ngân sách.
1. Chi thiếu căn cứ, sai mục tiêu
Tồn tại nổi lên trong công tác lập và giao dự toán chi ngân sách cho
các dự án đầu tư phát triển thời gian qua là chi thiếu căn cứ, bố trí v ốn
không đúng với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước việc phân bổ vốn
cho các chương trình mục tiêu quốc gia của các bộ ngành, đ ịa phương còn
nhiều tồn tại, trong đó chủ yếu là tình trạng phân b ổ sai n ội dung, m ục
tiêu, đối tượng hưởng thụ... việc phân bổ dự toán tại một số bộ ngành, địa
phương vẫn còn diễn ra tình trạng bình quân chủ nghĩa, dẫn tới tình trạng
phân bổ dàn trải, chia nhỏ kinh phí cho các dự án...
Cũng trong công tác phân bổ ngân sách, phân khai, giao kinh phí và
nhiệm vụ còn chậm, lập và phân bổ dự toán không sát với thực tế dẫn đến
điều chỉnh, bổ sung nhiều lần hoặc không thực hiện được dự án như đã đề
ra.
Vụ việc Ban QLDA nhiệt điện 2, nơi bị phản ánh có nhi ều khu ất t ất
cần được làm rõ. Dư luận còn cho rằng, TCty TNHH MTV Cấp thoát nước
Thanh Hóa là đơn vị đã trúng thầu thực hiện gói thầu gần 16 tỷ đồng
(trong tổng số 23.000 tỷ đồng đầu tư dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 1) về cấp
thoát nước do ông Nguyễn Huy Nhắn, Phó Tổng giám đốc đ ảm nhận.
Nhưng, hiện tại ông Nhắn lại là người của Ban QLDA nhi ệt đi ện 2 trong
việc quản lý, tư vấn giám sát việc triển khai thực hiện một số hạng m ục
thuộc Dự án nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 liệu có khách quan? Bởi lẽ,
ông Nhắn là đơn vị trúng thầu, lại vừa là người tư vấn, giám sát công trình,
liệu có đúng và đảm bảo khách quan cho việc đầu tư, triển khai thực hiện
dự án khi ông Nhắn được là người “vừa đá bóng, vừa thổi còi”?
2. Đầu tư dàn trải, lãng phí do khâu khảo sát, nghiên cứu sự cần thiết
phải đầu tư của dự án còn rất hạn chế, nên nhiều dự án đã qua bước
nghiên cứu khả thi phải dừng lại, gây lãng phí lớn cho ngu ồn v ốn
ngân sách Nhà nước
3. Chi chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn
4. Vay, tạm ứng không đúng quy định
Hiện tượng này theo nhận định là còn khá ph ổ biến, nhất là những
khoản cho tạm ứng dây dưa nhiều năm, chậm được xử lý trong khi ngân
sách của các địa phương còn phải đi vay và nhận bổ sung từ ngân sách
Trung ương, dẫn đến việc sử dụng ngân sách kém hiệu qu ả. Các vấn đề
này đơn cử vụ sai phạm nghiêm trọng đã đẩy Vinashin tới bờ vực phá s ản
gây chấn động dư luận trong nước trong năm vừa qua. Vinashin đối mặt
với nguy cơ phá sản. Theo đánh giá của Chính phủ, cùng với các n ền kinh
tế thế giới và trong nước, Tập đoàn Vinashin chịu tác động hết sức nặng
nề, đặc biệt về thị trường và nguồn vốn của cuộc khủng hoảng tài chính