Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (751.68 KB, 93 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG KIÊN

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CHO NGƢỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƢỢNG CHÍNH SÁCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành

: Lý luận và Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật

Mã số

: 603801

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN MINH ĐOAN

HÀ NỘI – 2012


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Phó
Giáo sư, Tiến sĩ Luật học Nguyễn Minh Đoan, các thầy
giáo, cô giáo đã chỉ bảo tận tình; xin cảm ơn bạn bè, đồng


nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ và đóng góp ý kiến
quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Kiên


CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTV

:

Cộng tác viên

TGPL

:

Trợ giúp pháp lý

TGV

:

Trợ giúp viên

XHCN

:


xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Mở đầu ………………………………………………………………...

1

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về TGPL
cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở Việt Nam ……………..
1.1. Ngƣời nghèo, đối tƣợng chính sách và hoạt động TGPL cho ngƣời
nghèo và đối tƣợng chính sách …………………………………………
1.2. Pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ……
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hoàn thiện pháp luật và về TGPL cho
ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ………………………………….
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối
tƣợng chính sách ở Việt Nam hiện nay ……………………………...
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở Việt Nam …………

8

8

16


24

27

27

2.2. Thực trạng các quy định của pháp luật về chủ thể TGPL………….

31

2.3. Thực trạng các quy định của pháp luật về đối tƣợng TGPL ………

38

2.4. Thực trạng các quy định của pháp luật về lĩnh vực TGPL ………..

47

2.5. Thực trạng các quy định của pháp luật về hình thức TGPL ………

50


Nội dung

Trang

2.6. Thực trạng các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục TGPL …


53

Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL
cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở Việt Nam hiện nay……
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối
tƣợng chính sách ………………………………………………………
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về TGPL cho ngƣời
nghèo và đối tƣợng chính sách …………………………………………
Kết luận ………………………………………………………………
Phụ lục
Danh mục tài liệu tham khảo

62

62

64

79


1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam sau hơn 25
năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, đã có những thành
tựu quan trọng, hệ thống pháp luật đã có bƣớc tiến và chuyển biến đáng kể cả về
số lƣợng và chất lƣợng, góp phần tiếp tục tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả quản lý

nhà nƣớc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đặc
biệt sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về
Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hƣớng đến năm 2020, hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật đã đƣợc ban
hành mới, đƣợc sửa đổi, bổ sung trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
trong đó có pháp luật TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách.
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách là hoạt động xã hội thể
hiện tính nhân văn trong chính sách phát triển của Đảng và Nhà nƣớc ta, tạo điều
kiện cho mọi tầng lớp nhân dân đƣợc bình đẳng trong việc tiếp cận pháp luật,
góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật. Cụ thể hóa chủ trƣơng "mở
rộng loại hình tƣ vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của
các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp
luật của công dân trong quan hệ đời sống hàng ngày... cần nghiên cứu hệ thống
dịch vụ tƣ vấn pháp luật không lấy tiền để hƣớng dẫn nhân dân sống và làm việc
theo pháp luật" [15] của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoá VIII và Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII: "tạo điều kiện cho ngƣời
nghèo đƣợc hƣởng dịch vụ tƣ vấn pháp luật miễn phí... " [16], Thủ tƣớng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 về việc thành lập tổ


2

chức TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách. Đặc biệt là, ngày
29/6/2006, Luật TGPL đã đƣợc kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI thông qua, theo
đó ngày 12/01/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2007/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật TGPL. Đây là nền tảng pháp lý, là cơ
sở để thực hiện tốt công tác TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở
Việt Nam.
Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện, pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và
đối tƣợng chính sách đã bộc lộ những hạn chế và bất cập: việc tham gia tố tụng

của TGV pháp lý trong thực tế còn nhiều khó khăn; cơ chế thu hút các chủ thể
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách mới dừng lại ở mức khuyến
khích tham gia; đối tƣợng ngƣời nghèo đƣợc hƣởng dịch vụ TGPL ở nƣớc ta khó
xác định về định lƣợng và định tính; thủ tục, trình tự đƣợc thụ hƣởng dịch vụ
TGPL còn bất cập; nhận thức về pháp luật TGPL của ngƣời dân còn thấp và
không đồng đều… điều này đã ảnh hƣởng không nhỏ đến công tác thực hiện
TGPL cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính
sách.
Góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật về TGPL cho
ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách, đáp ứng nhu cầu TGPL của ngƣời dân,
phù hợp với chủ trƣơng đổi mới đất nƣớc, đổi mới hệ thống chính trị, cải cách tƣ
pháp và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, tác giả
chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng
chính sách ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học.

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI


3

Pháp luật về TGPL nói chung là lĩnh vực còn khá mới mẻ trong hệ thống
pháp luật Việt Nam song là vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều tác giả khác nhau. Qua tìm hiểu các công trình khoa học đã công bố về
hoàn thiện pháp luật TGPL nói chung và TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng
chính sách nói riêng, có thể kể đến các công trình sau đây:
+ Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật nói
chung. Ở nhóm này, các tài liệu đều thống nhất về nhu cầu hoàn thiện hệ thống
pháp luật và những tiêu chí cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ
thống pháp luật. Tiêu biểu là:
- Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tƣ

pháp, 2010;
- Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Học viện Hành chính quốc gia,
Nxb Chính trị quốc gia, 2001;
- Tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu môn lý luận chung về nhà nước và
pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nhà nƣớc và Pháp
luật, 2005;
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam”, Luận án Phó Tiến sĩ luật học của Lê Minh Tâm, Viện Nghiên
cứu nhà nƣớc và pháp luật, Hà Nội, 1992;
- “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
+ Nhóm thứ hai: bao gồm các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc
bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL. Trong nhóm này, công trình đề cập chủ
yếu đến hoạt động TGPL nói chung ở Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra sự


4

cần thiết và vai trò của quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với hoạt động này.
Tiêu biểu là:
- “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam
hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Văn Tùng, Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí minh, 2007.
+ Nhóm thứ ba: bao gồm các công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật
về TGPL. Các công trình này đề cập đến khái niệm TGPL dƣới những góc độ
khác nhau, nêu lên sự cần thiết phải điều chỉnh/thực hiện/hoàn thiện pháp luật về
TGPL/mô hình TGPL, một số vấn đề về hoạt động TGPL nói chung và TGPL
cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách nói riêng... Tiêu biểu là:
- “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ

luật học của Tạ Thị Minh Lý, Đại học luật Hà Nội, 2008;
- "Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách ở
Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huỳnh Huyện, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006;
- "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL ở Việt Nam", Luận văn
thạc sĩ Luật học của Vũ Hồng Tuyến, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, 2004;
- “Phương hướng xây dựng pháp luật TGPL” của TS. Đinh Trung Tụng,
Tạp san TGPL, 2006;
- “Một số vấn đề TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách” của TS.
Trần Huy Liệu, Thông tin khoa học pháp lý, 2005;
- “TGPL – quan niệm và mô hình ở một số nước trên thế giới ” của Phan
Thị Thu Hà, website cục TGPL, 2011.
Và các báo cáo:


5

- "Báo cáo tổng kết 10 năm công tác TGPL cho người nghèo và đối tượng
chính sách", Báo cáo ngày 20/11/2007 của Bộ Tƣ pháp, năm 2007;
- "Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Quyết định số 734 /TTg ngày 6/9/1997
của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người
nghèo và đối tượng chính sách", Bộ Tƣ pháp, 11/2005.
Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu, bài viết về TGPL cho ngƣời nghèo và
đối tƣợng chính sách đƣợc đăng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, Tạp san TGPL, Thông tin khoa học pháp lý... và các báo cáo tổng kết công
tác TGPL hàng năm của Cục TGPL và các Trung tâm TGPL trên cả nƣớc.
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập tổng thể chung về khái niệm
TGPL, mô hình tổ chức TGPL, chủ thể TGPL, thực hiện pháp luật về TGPL,
hoạt động TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách... còn pháp luật về
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách chƣa đƣợc nghiên cứu cụ thể.

Trên cơ sở tiếp thu kết quả của các công trình nghiên cứu đã có và từ yêu cầu
của thực tiễn, trong Luận văn, tác giả chú trọng đề cập đến một số vấn đề về
pháp luật TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở Việt Nam hiện nay
nhƣ: khái niệm, nội dung, ý nghĩa, quá trình phát triển, đánh giá những quy định
của pháp luật hiện hành...
3. MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách xã hội trong tình hình mới. Trên
cơ sở đánh giá khách quan thực trạng các quy định của pháp luật về TGPL cho
ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách hiện nay, xác định quan điểm, đƣa ra một
số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay.


6

4. NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Xác định khái niệm, nội dung, ý nghĩa và quá trình thành, phát triển pháp
luật TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách;
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật TGPL cho ngƣời
nghèo và đối tƣợng chính sách về chủ thể, đối tƣợng, lĩnh vực, hình thức và trình
tự, thủ tục TGPL cho các đối tƣợng trên; kết quả và những tồn tại yếu kém của
các quy định hiện hành về TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách;
- Đƣa ra các quan điểm và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về TGPL nói riêng là một vấn
đề rộng và phức tạp, trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung làm sáng tỏ các
vấn đề về ngƣời nghèo, đối tƣợng chính sách; khái niệm, nội dung, ý nghĩa của
pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách; thực trạng các quy

định về chủ thể, đối tƣợng, hình thức, phạm vi, trình tự thủ tục thực hiện TGPL
cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
pháp TGPL cho các đối tƣợng này. Luận văn không nghiên cứu các quy định
pháp luật về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động TGPL cho ngƣời nghèo và đối
tƣợng chính sách.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện
pháp luật. Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể của các ngành
khoa học đó là các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp lịch sử cụ thể,


7

phƣơng pháp hệ thống, phân tích, so sánh, kết hợp với phƣơng pháp điều tra xã
hội học, khảo sát thực tiễn... để chọn lọc các vấn đề nghiên cứu.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn đƣa ra một số quan điểm, đặc điểm về ngƣời nghèo, đối tƣợng
chính sách góp phần làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu khoa học về
TGPL cho nhóm đối tƣợng này;
- Đánh giá, phân tích làm rõ hơn cơ sở lý luận về khái niệm, nội dung, ý
nghĩa của pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách;
- Luận văn tập trung phân tích đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng
các quy định về pháp luật, trên cơ sở đó, đƣa ra quan điểm và giải pháp để hoàn
thiện pháp luật TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách TGPL cho ngƣời
nghèo và đối tƣợng chính sách hiện nay.
8. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
gồm 3 chƣơng với 9 mục.



8

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƢỜI NGHÈO VÀ
ĐỐI TƢỢNG CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM

1.1. NGƢỜI NGHÈO, ĐỐI TƢỢNG CHÍNH SÁCH VÀ HOẠT
ĐỘNG TGPL ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƢỢNG CHÍNH SÁCH
1.1.1. Quan niệm về nghèo, ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách
a. Quan niệm về nghèo, người nghèo
Ngƣời nghèo luôn là đối tƣợng đƣợc quan tâm của mỗi quốc gia. Đó là
nhóm đối tƣợng yếu thế của xã hội, chịu ảnh hƣởng trực tiếp và đầu tiên từ quá
trình phát triển kinh tế, xã hội, biến đổi khí hậu... Tìm hiểu cuộc sống, đánh giá
đúng về số lƣợng, mức độ nghèo sẽ giúp cho mỗi nƣớc có những chủ trƣơng,
chính sách phù hợp để hỗ trợ ngƣời nghèo tự ổn định cuộc sống, góp phần vào
sự phát triển chung của đất nƣớc.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nghèo và ngƣời nghèo. Một tác giả
cổ Trung Quốc cho rằng: những ngƣời vẫn đang còn phải lo toan cho bữa ăn đó
là ngƣời nghèo, cuộc sống đối với ngƣời nghèo chỉ là sinh tồn mà thôi. Hội nghị
thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm
1995 đã đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn về ngƣời nghèo: “Ngƣời nghèo là tất
cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi ngƣời, số
tiền đƣợc coi nhƣ đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Khi còn trên
cƣơng vị giám đốc của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Robert McNamara đã
đƣa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Theo ông, “nghèo tuyệt đối... là sống ở ranh


9


giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải
đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ, trong tình trạng bỏ bê và mất
phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của
giới tri thức chúng ta” [57]. Bên cạnh đó, nghèo tƣơng đối có thể đƣợc xem nhƣ
là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những
ngƣời thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó, một ngƣời là
nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu
ngƣời hàng năm (Per Capita Income, PCI) của quốc gia. Theo World Bank:
nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không đƣợc đến bác sĩ, không đƣợc đến trƣờng,
không biết đọc, biết viết, không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tƣơng lai, mất
con do bệnh hoạn, ít đƣợc bảo vệ quyền lợi và tự do. Ngoài ra, còn có định nghĩa
nghèo theo tình trạng sống, quan điểm này lƣu ý đến những khía cạnh khác
ngoài thu nhập khi định nghĩa “nghèo con ngƣời”, nhƣ cơ hội đào tạo, mức sống,
quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hƣởng đến những quyết
định chính trị và nhiều khía cạnh khác.
Ở Việt nam, Chính phủ thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo của Hội
nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái
Lan, tháng 9/1993: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã
hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán
của địa phương” [3, tr.16]. Qua đó, ngƣời nghèo ở Việt Nam đƣợc xác định
thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng nhƣ
Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội. Theo Tổng cục


10

Thống kê, chuẩn nghèo đƣợc xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế

giới, gồm hai mức: nghèo lƣơng thực thực phẩm và nghèo chung. Theo đó,
nghèo lƣơng thực thực phẩm là tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lƣơng thực
thực phẩm, làm sao để đảm bảo lƣợng dinh dƣỡng tối thiểu cho một ngƣời là
2100 kcal/ngày đêm; nghèo chung là tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối
thiểu, đƣợc xác định bằng cách ƣớc lƣợng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lƣơng
thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại. Và để đƣa ra chuẩn nghèo hợp lý,
các mức chuẩn cũng đƣợc hiệu chỉnh lại theo chỉ số giá tiêu dùng tại các thời
điểm. Chuẩn nghèo theo Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội đƣợc xác định
một cách tƣơng đối dựa trên các yếu tố thu nhập, tình trạng việc làm… bằng
cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực khác nhau (nông thôn, thành thị)
tại các thời điểm khác nhau.
Có thể nhận thấy rằng dù tiếp cận dƣới các góc độ khác nhau song các
quan điểm trên đã thể hiện đƣợc những đặc điểm cơ bản của ngƣời nghèo:
Thứ nhất, ngƣời nghèo là đối tƣợng có thu nhập thấp và cuộc sống luôn
thiếu thốn. Thu nhập của ngƣời nghèo không đáp ứng đƣợc nhu cầu tối thiểu của
cuộc sống nhƣ ăn, ở, mặc… Họ thƣờng xuyên rơi vào tình trạng thiếu ăn, thiếu
phƣơng tiện sinh hoạt trong gia đình, không có vốn sản xuất, nhà ở tạm bợ, phải
đối mặt với tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Trẻ em nghèo gần nhƣ
không biết đến giai đoạn tuổi thơ do phải tham gia lao động rất sớm. Cuộc sống
“… không có hộ khẩu trong một ngôi nhà tập thể không có địa chỉ trong 20 năm
qua. Hóa đơn tiền điện và nước rất cao, nhà bị mưa nắng ảnh hưởng, rách rưới,
rột nát và ngập lụt” [31, tr.24] đối với ngƣời nghèo không có gì xa lạ.
Thứ hai, ngƣời nghèo phải sống trong môi trƣờng không đảm bảo. Do
không có điều kiện tiếp xúc với các dịch vụ chất lƣợng nên ngƣời nghèo là đối


11

tƣợng trực tiếp, đầu tiên bị ảnh hƣởng bởi sự biến đổi của khí hậu và mặt trái của
nền kinh tế thị trƣờng. Họ phải sử dụng nguồn nƣớc tự nhiên, không tiếp cận

nguồn nƣớc sạch, môi trƣờng sống chƣa đƣợc vệ sinh; không có điều kiện tiếp
cận với dịch vụ y tế, thông tin; không có thời gian và điều kiện để vui chơi giải
trí vì chủ yếu là dành thời gian để đi làm thêm kiếm tiền; ít hoặc không đƣợc
hƣởng quyền lợi, thiếu tham gia vào phong trào địa phƣơng. Ngƣời nghèo ít
quan tâm đến nền giáo dục chính thức, vì vậy con cái họ ít đƣợc trang bị những
kỹ năng để thành công trong xã hội.
Thứ ba, ngƣời nghèo thƣờng mang tâm lý tự ti, dè dặt và là nhóm đối
tƣợng dễ bị tổn thƣơng. Luôn sống trong tâm trạng bị gạt ra bên lề và không
thuộc về xã hội. Họ nghĩ rằng mình ở vị trí thấp kém trong thang bậc xã hội, cảm
thấy chẳng có quyền lực hay tiếng nói gì trong xã hội mà họ đang sống. Do quá
vất vả với cuộc sống mƣu sinh, ngƣời nghèo không có cái nhìn dài hạn mà luôn
chọn thái độ sống vì cái hiện tại, cái trƣớc mắt, họ chỉ lo cái ăn mặc hàng ngày…
Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đƣợc cho là chiến
tranh; cơ cấu chính trị (nhƣ nền độc tài, các quy định thƣơng mại quốc tế không
công bằng); cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập, tham nhũng, nợ nhiều…), tụt hậu
của quốc gia về công nghệ, giáo dục,…; thiên tai; dân số phát triển quá nhanh,
mất bình đẳng; thất nghiệp, thiếu việc làm…
Từ những phân tích trên, có thể hiểu người nghèo là những đối tượng
thiếu thốn thường xuyên các điều kiện vật chất và phi vật chất để thỏa mãn các
nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hay nói một cách khác đó là nhóm đối tượng
thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu
nhất định.


12

b. Quan niệm về đối tượng chính sách
Chính sách có thể hiểu là tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng
diện nào đó của nhà nƣớc, nó bao gồm các mục tiêu mà nhà nƣớc muốn đạt đƣợc
và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát

triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trƣờng. Tuy
nhiên, khi đề cập đến đối tƣợng chính sách, chúng ta hiểu đó là những đối tƣợng
thuộc diện chính sách xã hội. “Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá, thể chế hoá
các đường lối, chủ trương để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư
tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã hội - chính trị phản ánh lợi ích và
trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng
nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con
người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là
thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh
thần của nhân dân”. [43, tr.290]. Tùy vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - chính
trị mà mỗi quốc gia có những chính sách xã hội khác nhau, quy định những đối
tƣợng hƣởng thụ và hƣớng đến những mục đích khác nhau.
Đối tƣợng chính sách đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là tất cả những
ngƣời thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật quy định, đƣợc hƣởng những
ƣu đãi nhất định từ phía nhà nƣớc nhằm tạo điều kiện cho họ khắc phục khó
khăn, đáp ứng đƣợc nhu cầu cơ bản của cuộc sống và thúc đẩy khả năng hoà
nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tƣợng này. Theo nghĩa trên, đối tƣợng
chính sách là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả những ngƣời đƣợc hƣởng
chính sách ƣu đãi của nhà nƣớc trên các phƣơng diện văn hóa – giáo dục, lao
động - việc làm, nhà ở… Đó có thể là ngƣời nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn, ngƣời tàn tật, ngƣời già cô đơn không nơi nƣơng tựa, ngƣời nhiễm


13

HIV/AIDS… Với mục đích giúp cho những ngƣời thuộc nhóm thu nhập thấp có
việc làm và tham gia vào các hoạt động sản xuất tạo thu nhập có thể đáp ứng
đƣợc nhu cầu tối thiểu và duy trì đƣợc sự độc lập về tài chính; giúp cho các đối
tƣợng yếu thế trở nên bình đẳng và có thể đóng góp và hoà nhập cao nhất đối với
gia đình, cộng đồng và xã hội; giúp đỡ trẻ em thuộc những gia đình không có

khả năng chăm sóc có thể nhận đƣợc sự giúp đỡ từ cộng đồng, xã hội; cung cấp
các dịch vụ về nhà ở với tiêu chuẩn đáp ứng đƣợc điều kiện tối thiểu về chất
lƣợng cuộc sống; giúp ngƣời tàn tật có khả năng sống độc lập hơn và tham gia
một cách tích cực trong các hoạt động kinh tế cũng nhƣ hoạt động cộng
đồng; giúp các đối tƣợng tiếp cận với các kênh thông tin, với các hoạt động hoà
giải, biện hộ các vấn đề xã hội và tạo cơ hội lựa chọn tốt hơn;…
Tuy nhiên, hiện nay khi đề cập đến đối tƣợng chính sách ở Việt Nam
chúng ta hiểu đó là nhóm đối tƣợng đặc thù. Đây là những ngƣời, trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, đã hy sinh xƣơng máu, tính mạng, đã cống
hiến trí tuệ, sức lực, của cải của mình cho tổ quốc. Vì vậy, họ hoặc/và ngƣời thân
cần đƣợc hƣởng những chính sách ƣu đãi của nhà nƣớc và sự quan tâm của toàn
xã hội. Đó là những đối tƣợng nhƣ liệt sỹ và gia đình liệt sỹ; Bà mẹ Việt Nam
anh hùng; Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động; thƣơng
binh,… Trải qua đấu tranh với những điều kiện khắc nghiệt, các đối tƣợng trên
dù sống trong các hoàn cảnh khác nhau (sống cùng gia đình, sống độc thân, sống
trong các viện dƣỡng lão, nhà tình thƣơng…) nhƣng đều có chung đặc điểm là
sức khỏe kém, trình độ học vấn hạn chế nên thƣờng gặp khó khăn trong lao
động, sản xuất, kinh doanh hoặc rơi vào tình trạng thiếu việc làm. Vì vậy, phần
lớn đối tƣợng này có mức sống tƣơng đối thấp, hoàn cảnh sống khó khăn, thiếu
các điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ có phí… Để ghi nhận sự hy sinh, công


14

sức đóng góp và tạo điều kiện cho đối tƣợng này ổn định cuộc sống, Nhà nƣớc
đã dành cho họ những chính sách ƣu đãi trong đó có chính sách TGPL. Vì vậy,
khi đề cập đến khái niệm “đối tƣợng chính sách”, luận văn tiếp cận dƣới góc độ
đó là nhóm đối tƣợng ngƣời có công với cách mạng và thân nhân của họ.
1.1.2. Hoạt động TGPL đối với ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách
TGPL, ngay từ khi ra đời, luôn hƣớng tới các đối tƣợng yếu thế trong xã hội

mà đầu tiên là ngƣời nghèo và đối tƣợng thuộc diện chính sách. Với mục tiêu
giúp đỡ ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách tháo gỡ những khó khăn, vƣớng
mắc về mặt pháp luật, tạo điều kiện cho họ đƣợc tiếp cận với pháp luật, góp phần
bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi
phạm pháp luật, hoạt động TGPL đƣợc thực hiện miễn phí cho các đối tƣợng
trên. Kinh phí hoạt động TGPL do ngân sách Nhà nƣớc bảo đảm. Đây chính là
một trong những điểm khác biệt lớn giữa hoạt động TGPL và các hoạt động tƣ
vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
khác. Hoạt động TGPL miễn phí là thực sự là hoạt động tiến bộ, có tính nhân
đạo nhân văn cao cả vì con ngƣời và nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
của con ngƣời.
Hoạt động TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách luôn có sự tham
gia rộng rãi và sự phối hợp tích cực của các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng,
chính quyền các cấp, của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp. Với sự phối
hợp của các Bộ, ngành, đã xây dựng và ban hành các chế độ, chính sách đối với
cán bộ, cộng tác viên làm TGPL; sự phối hợp với chính quyền địa phƣơng thành
lập đƣợc các trung tâm TGPL ở cấp tỉnh, các chi nhánh, tổ TGPL ở cấp huyện và
cấp xã trong cả nƣớc với đội ngũ cán bộ, cộng tác viên đông đảo; sự tham gia
của các tổ chức chính trị - xã hội, cho đến nay đã thành lập đƣợc các trung tâm


15

và Văn phòng TGPL ở trung ƣơng Hội Nông dân Việt Nam, Trung ƣơng Hội
Cựu chiến binh Việt Nam, Trung ƣơng Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
và Trung ƣơng Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách hiện nay.
Cùng với nhiều hoạt động khác (hoạt động hoà giải cơ sở, phổ biến, giáo
dục pháp luật...) TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách đã giải quyết
đƣợc nhiều vƣớng mắc, nhiều tranh chấp kéo dài, giữ gìn đoàn kết trong nhân

dân, củng cố đƣợc lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nƣớc. Nhận biết
tâm lý chung của ngƣời Việt Nam là ngại tham gia vào kiện tụng, với lợi thế là
một hoạt động gần dân, TGPL gắn kết đƣợc hoà giải (vận động, thuyết phục các
bên tranh chấp tự giải quyết vƣớng mắc chủ yếu dựa trên cơ sở đạo đức xã hội)
với việc giải quyết theo pháp luật nên ngày càng đƣợc ngƣời dân tin tƣởng và
tiếp cận.
Hoạt động TGPL cho các đối tƣợng trên đã góp phần tích cực vào mục tiêu
chung là xoá đói, giảm nghèo và là sự bổ sung cần thiết vào chính sách tổng thể
về phát triển bền vững ở Việt Nam. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng
khẳng định: “Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo thông qua những biện
pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ
đói, giảm mạnh các hộ nghèo” [18, tr.106]; đồng thời “Giảm đói nghèo không
chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc
biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển” [3,
tr.1]. Hoạt động TGPL với tính cách là một bộ phận quan trọng trong tổng thể
Chƣơng trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo đã góp phần nâng cao tri thức hiểu
biết pháp luật trong nhân dân và luôn nhận đƣợc sự đồng tình, ủng hộ của tất cả


16

các cấp chính quyền và nhất là của những ngƣời thuộc đối tƣợng thụ hƣởng dịch
vụ TGPL.
1.2. PHÁP LUẬT VỀ TGPL CHO NGƢỜI NGHÈO VÀ ĐỐI TƢỢNG
CHÍNH SÁCH
1.2.1. Khái niệm pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng
chính sách
Trong quá trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam, việc
ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hƣớng phục vụ lợi
ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Pháp luật là phƣơng tiện để

nhà nƣớc quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đồng thời nó cũng là phƣơng tiện để
nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thực
hiện công lý, công bằng xã hội. Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách
quan (trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh sống khó khăn…), nhiều
ngƣời dân vẫn chƣa thực sự đƣợc tiếp cận với pháp luật, chƣa sử dụng pháp luật
nhƣ một hình thức hữu hiệu và phù hợp với hoàn cảnh để bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng của mình. Chính vì vậy, việc ban hành pháp luật về TGPL cho ngƣời
dân (ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách) là một yếu tố quan trọng để thực hiện
mục đích trên.
TGPL theo tiếng Anh là “legal aid” có nghĩa là “trợ cấp pháp lý” [24].
Đây là khái niệm đƣợc quy phạm hóa trong pháp luật của nhiều nƣớc và là một
bộ phận cấu thành của pháp luật về TGPL. Ở Singapore, TGPL đƣợc hiểu là việc
đại diện cho khách hàng trƣớc tòa án nhằm giúp đỡ những ngƣời không có khả
năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý (Điều 2, Luật đại diện và tƣ vấn pháp lý
năm 1995). Pháp luật Philippine cũng khằng định: TGPL là đại diện miễn phí
cho ngƣời nghèo và trực hệ của họ trong mọi vụ án hình sự, hành chính, dân sự


17

sau khi đối tƣợng này đƣợc xác minh và có quyết định đủ điều kiện hƣởng TGPL
trên cơ sở phục vụ chân lý. Điều 2, Luật về TGPL của Anh có ghi nhận: TGPL là
“sự giúp đỡ trong việc sử dụng bất kỳ biện pháp nào mà một ngƣời có thể sử
dụng, gồm cả các biện pháp đối với thủ tục tố tụng, liên quan đến việc áp dụng
pháp luật”. Tại Australia, TGPL là sự giúp đỡ cho một ngƣời có điều kiện và
hoàn cảnh tƣơng tự nhƣ ngƣời khác trong việc tiếp cận pháp luật, tức là tạo ra sự
công bằng khi tiếp cận với pháp luật… Nhƣ vậy, dù có cách thể hiện khác nhau
nhƣng nhìn chung khái niệm TGPL của các nƣớc đều thể hiện tính pháp lý, kinh
tế, nhân đạo và đƣợc hiểu là việc cho những ngƣời không có điều kiện về tài
chính hoặc có hoàn cảnh đặc biệt đƣợc hƣởng dịch vụ pháp lý mà không phải chi

trả thù lao hoặc đƣợc giảm một phần thù lao.
Ở Việt Nam hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về TGPL.
Theo nghĩa rộng, TGPL đƣợc hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí
của Nhà nƣớc và xã hội cho ngƣời nghèo, ngƣời đƣợc hƣởng chính sách ƣu đãi
và một số đối tƣợng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động tƣ vấn pháp
luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện, phổ
biến, giáo dục pháp luật nhằm đảm bảo cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp
cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Theo nghĩa hẹp, TGPL là
việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức thực hiện TGPL của
Nhà nƣớc cho ngƣời nghèo, ngƣời hƣởng chính sách ƣu đãi và một số đối tƣợng
khác theo lĩnh vực, phạm vi TGPL do pháp luật quy định. Điều 3, Luật TGPL
năm 2006 quy định: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho ngƣời
đƣợc TGPL theo quy định của Luật này, giúp ngƣời đƣợc TGPL bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp
hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý,


18

bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp
luật”. [39]. Ngoài ra, còn có một một số quan điểm khác của các tác giả đƣa ra
trong các bài nghiên cứu, luận văn, luận án... Dù đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc
độ khác nhau, các quan điểm về TGPL trên đây đã kế thừa có chọn lọc những
điểm chung trong quan niệm về TGPL trên thế giới, đề cập một cách tƣơng đối
toàn diện về mục đích, ý nghĩa của TGPL, bao hàm đƣợc các đối tƣợng TGPL,
chủ thể thực hiện TGPL cũng nhƣ phạm vi TGPL. Phù hợp với định hƣớng và
nội dung nghiên cứu, tác giả đồng ý với quan điểm TGPL theo nghĩa rộng, là
việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nƣớc và xã hội cho ngƣời
nghèo, ngƣời đƣợc hƣởng chính sách ƣu đãi và một số đối tƣợng khác do pháp
luật quy định thông qua hoạt động tƣ vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị

giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đảm
bảo cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện
công bằng xã hội
Với những quan niệm nêu trên, chúng ta có thể khẳng định: Pháp luật về
TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách là hệ thống các nguyên tắc và
quy phạm do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ phát
sinh giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cá nhân…
và người nghèo, đối tượng chính sách trong quá trình cung cấp các dịch vụ pháp
lý miễn phí cho các đối tượng này giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật;
góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý và công bằng xã
hội


19

1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về TGPL cho ngƣời nghèo và đối
tƣợng chính sách
a. Chủ thể TGPL
Pháp luật TGPL luôn xác định rõ ràng về các chủ thể TGPL. Theo đó, chủ
thể TGPL rất phong phú và đa dạng. Đó là tất cả tổ chức, cá nhân mà theo chức
năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã tham gia vào thực hiện mục tiêu
TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách.
Pháp luật quy định rõ chủ thể TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính
sách cũng nhƣ chức năng, nhiệm vụ, vị trí, trách nhiệm và yêu cầu đối với từng
chủ thể có vai trò rất quan trọng, là căn cứ để kiện toàn tổ chức, xây dựng tiêu
chuẩn nghề nghiệp, cũng nhƣ có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ thực hiện
TGPL, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay.
b. Đối tượng TGPL (người được TGPL)
Đối tƣợng TGPL trong trƣờng hợp này đƣợc xác định là ngƣời nghèo và đối

tƣợng chính sách. Pháp luật quy định tiêu chí để xác định ngƣời nghèo thuộc
diện TGPL dựa trên mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trong hộ/tháng, đƣợc
tính bằng tiền tƣơng ứng theo chuẩn mực do Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã
hội công bố hàng năm theo quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ. Theo đó, tùy
vào điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi giai đoạn khác nhau sẽ có chuẩn nghèo khác
nhau cho các vùng miền khác nhau: khu vực nông thôn, khu vực thành thị. Đối
tƣợng chính sách (đã trình bày ở mục 1.1.1) cũng đƣợc pháp luật về TGPL xác
định cụ thể và rõ ràng phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Các đối
tƣợng này đều có đặc điểm chung là những ngƣời có thu nhập thấp, hoàn cảnh


20

sống khó khăn, trình độ học vấn hạn chế, nếu có vƣớng mắc về mặt pháp luật mà
cần tƣ vấn, đại diện… thì không đủ khả năng để chi trả các dịch vụ pháp lý.
Xác định đối tƣợng TGPL, số lƣợng, đặc điểm, nắm bắt tâm lý của họ là cơ
sở quan trọng để xây dựng và áp dụng các phƣơng thức TGPL phù hợp nhằm
nâng cao tính khả thi của pháp luật TGPL cũng nhƣ chất lƣợng công tác TGPL
nói chung và TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách nói riêng.
c. Lĩnh vực TGPL
Pháp luật TGPL quy định rõ lĩnh vực TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng
chính sách. Đó là những tranh chấp, vƣớng mắc pháp luật phát sinh trong đời
sống hàng ngày liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc TGPL
trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, lao động – việc làm, đất đai, nhà
ở… Giải quyết những vƣớng mắc pháp luật qua những vụ việc cụ thể không
những giúp đối tƣợng TGPL bảo vệ quyền lợi của mình mà còn góp phần phổ
biến, giáo dục pháp luật đến tất cả ngƣời dân, góp phần tích cực vào công tác đấu
tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật. Việc xác định lĩnh vực pháp luật yêu cầu
TGPL còn để phục vụ cho việc phân công ngƣời thực hiện TGPL trên thực tế
cho phù hợp.

TGPL cho ngƣời nghèo, đối tƣợng chính sách là miễn phí và để đảm bảo
khách quan, tránh cạnh tranh không công bằng, nội dung vụ việc TGPL không
đƣợc liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại.
d. Hình thức TGPL
Các hình thức TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách rất phong
phú, đa dạng và luôn đƣợc pháp luật bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực


×