Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Pháp luật đầu tư của lào trong tương quan so sánh với pháp luật đầu tư việt nam bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư của CHDCND lào

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (553.56 KB, 68 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KHAMMANH SISAATH

PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ CỦA LÀO TRONG TƯƠNG QUAN
SO VỚI PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT NAM – BÀI HỌC KINH NGHIỆM
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ CỦA CHDCND LÀO

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Đặng Hải Yến

HÀ NỘI - 2013

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm vừa qua, được học tập và sinh sống tại Trường Đại học
Luật Hà Nội là quãng thời gian hạnh phúc nhất đối với một học viên, điều này
càng có ý nghĩa hơn đối với một học viên Lào xa gia đình, xa Tổ quốc như tôi.


Tại ngôi trường mến yêu này, tôi nhận được sự giúp đỡ, bảo ban tận tình
của các thầy cô giáo trong học tập. Trong cuộc sống hàng ngày còn thiếu thốn cả
về vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là sự bất đồng ngôn ngữ nhưng tôi đã được bạn
bè, cán bộ nhân viên trong trường hết sức giúp đỡ và yêu thương. Những tình
cảm đó lúc này tôi chỉ có thể nói lời cảm ơn sâu sắc nhất. Cho tôi gửi lời cảm ơn
chân thành đến gia đình, thầy cô, bạn bè vì tất cả những tình cảm mà mọi người
đã dành cho tôi trong thời gian tôi sinh sống và học tập tại Việt Nam. Đặc biệt,
tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo TS. Vũ Đặng Hải Yến –
người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Không thể quên tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, những người tôi mang ơn suốt
cuộc đời vì công ơn sinh thành và nuôi dưỡng.

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2013

Tác giả

Khammanh Sisaath

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CHDCND


Cộng hòa dân chủ nhân dân

HĐBT

Hội đồng bộ trưởng

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật đầu tư Việt Nam và

5

pháp luật đầu tư Lào
1.1.

Khái quát về pháp luật đầu tư của Việt Nam


5

1.2.

Khái quát về pháp luật đầu tư của CHDCND Lào

21

Chương 2: Những nội dung cơ bản trong pháp luật đầu tư Việt Nam

26

và pháp luật đầu tư Lào – nhìn từ góc độ so sánh
2.1. Quy định về đối tượng, phạm vi áp dụng

26

2.2. Quy định về nhà đầu tư

28

2.3. Quy định về hình thức đầu tư

30

2.4. Quy định về thủ tục đầu tư

35


2.5. Quy định về địa bàn, lĩnh vực đầu tư

41

2.6. Quy định về bảo đảm đầu tư

43

2.7. Quy định về ưu đãi đầu tư

45

2.8. Các quy định khác (Về khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ

48

cao, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, đầu tư ra nước ngoài)
Chương 3: Kinh nghiệm đạt được và một số biện pháp cụ thể để hoàn

53

thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào
3.1. Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào rút ra từ
pháp luật đầu tư của Việt Nam

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ

53



3.2. Một số biện pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật đầu tư của Lào trong

56

thời gian tới
Kết luận

61

Danh mục tài liệu tham khảo

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra ngày
càng sâu sắc mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Các quan hệ kinh tế
quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự phát triển
của các quốc gia trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế của nước CHDCND Lào đang trên đà phát
triển và nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới .Tuy nhiên một
trong những thách thức không nhỏ đối với Lào đó là có xuất phát điểm từ một
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Lào là một trong 20 nước kém phát triển trên thế
giới, người dân phần lớn cuộc sống gắn bó với nghề nông nghiệp. Công nghiệp

kém phát triển kéo theo trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ phát triển năng lực
thấp, nguồn lực con người có trình độ còn thiếu và yếu.... Để khắc phục những
khó khăn hiện tại, thay đổi bộ mặt cuộc sống, CHDCND Lào cần hết sức nỗ lực
tìm những hướng đi phù hợp với tình hình kinh tế của mình.
Vì vậy trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Chính phủ Lào chú trọng mối
quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia có mối quan hệ
lịch sử gắn bó tốt đẹp, nước láng giềng có sự tương đồng về nhiều mặt như chính
trị, kinh tế, xã hội, văn hoá... Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, quá trình hoàn
thiện pháp luật của Việt Nam luôn là những kinh nghiệm quý đối với CHDCND
Lào.
Việt Nam đang thiết lập các quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại với nhiều
tổ chức kinh tế quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới, là thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Từ nhiều năm nay, hệ thống pháp luật
Việt Nam nói chung, pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư và kinh doanh nói
riêng đã không ngừng được hoàn thiện trên lộ trình cải cách, điều chỉnh kịp thời cơ
chế, chính sách, luật lệ của nước mình cho phù hợp “luật chơi” quốc tế, chú trọng
việc cải thiện môi trường đầu tư... nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ và khoa học
kỹ thuật. Vì vậy việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật đầu tư nói
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


2
riêng là việc làm hết sức ý nghĩa đối với những sinh viên chuyên ngành luật kinh
tế, hơn nữa còn góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật
đầu tư của Lào qua cái nhìn so sánh, qua những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra
từ chặng đường phát triển pháp luật đầu tư ở Việt Nam.
Với cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật
đầu tư của Lào trong tương quan so sánh với pháp luật đầu tư của Việt Nam – bài

học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về đầu tư là một vấn đề rộng và luôn là vấn đề thời sự. Trong
những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực này,
Ví dụ như: “Tìm hiểu pháp luật đầu tư của Việt Nam trong sự so sánh với pháp
luật CHDCND Lào” - Poumy sinlatanathamatheva - khóa luận tốt nghiệp, ,
trường Đại học Luật Hà Nội, 2007; “Các biện pháp khuyến khích đầu tư theo
luật khuyến khích đầu tư trong nước của CHDCND Lào” – Somphone
Sibounhueng – Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009; “Pháp
luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND
Lào” – Khamkeo Lorvanxay – Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2009; …
Việc nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố này cho thấy, với
những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ
yếu nêu pháp luật về đầu tư của Việt Nam và CHDCND Lào mà chưa đi sâu so
sánh một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc giữa luật đầu tư Việt Nam với
Luật đầu tư của CHDCND Lào.
Chính vì vậy, việc so sánh một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc pháp
luật về đầu tư của Việt Nam cũng như CHDCND Lào, đồng thời đưa ra những
phương hướng và giải pháp hoàn thiện cũng như thi hành các quy định về pháp
luật đầu tư của CHDCND Lào là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết.

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


3
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu tập trung vào phân tích quá

trình ra đời, nội dung chủ yếu các đạo Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước và các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư
của Việt Nam và Lào được ban hành trong thời gian qua. Vì vậy phạm vi nghiên
cứu của luận văn là rất rộng lớn , việc dịch các văn bản pháp luật của Lào sang
tiếng Việt Nam gặp không ít khó khăn về ngôn từ chuyên ngành, cho nên tác giả
không tránh khỏi những thiếu sót trong khi phân tích, so sánh. Rất mong sự
động viên và thông cảm của thầy cô và bạn bè. Những ý kiến đóng góp chân
thành, những góp ý sửa chữa sẽ là động lực rất lớn để tác giả của luận văn tiếp
tục hoàn thiện và phát triển vấn đề này trong những lần nghiên cứu ở cấp độ cao
hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được viết trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà
nước và pháp luật, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu đề tài,
tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh,
phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử ... Trong đó
phương pháp chủ yếu là so sánh, phân tích tổng hợp.
5. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việt Nam và Lào là những quốc gia từ trước đến nay có quan hệ rất khăng
khít trên nhiều lĩnh vực.Trong bối cảnh lịch sử tương tự nhau, việc hoạch định
chính sách, thể chế hoá đường lối của Đảng đi vào cuộc sống của một trong hai
nước đi trước sẽ là điều kiện thuận lợi để nước kia có nhiều cơ hội tìm hiểu, học
hỏi và rút ra được những bài học kinh nghiệm. Mục đích nghiên cứu của luận
văn là tìm hiểu quá trình phát triển pháp luật đầu tư ở Việt Nam trong sự so sánh
với pháp luật đầu tư của Lào. Đặc biệt luận văn chú trọng tìm ra phương hướng
và bài học kinh nghiệm trong thời gian tới để hoàn thiện và hệ thống hoá pháp

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ



4
luật đầu tư ở Lào, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án
đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn giải quyết những vấn đề lý luận theo Luật đầu tư, nghiên cứu
một cách khái quát các quy định theo Luật đầu tư ở Việt Nam và CHDCND
Lào.
Luận văn đã phân tích những quy định pháp luật hiện hành về đầu tư, bắt
đầu từ việc đánh giá khái quát hiệu quả của pháp luật đối với hoạt động đầu tư,
các quy định trong luật đầu tư ... để rút ra bài học kinh nghiệm cho CHDCND
Lào.
Luận văn phân tích thực trạng hệ thống pháp luật về đầu tư ở Việt Nam và
CHDCND Lào. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu
tư ở CHDCND Lào, góp phần hình thành nên Luật đầu tư ở CHDCND Lào ngày
càng hoàn thiện hơn và phù hợp với điều kiện đất nước.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được thực hiện với quy trình, kết cấu, khối lượng phù hợp với
các quy định chung của Nhà nước, ngoài phần mở đầu và phần kết luận bố cục
chính của luận văn bao gồm:
Chương I: Khái quát về Luật Đầu tư Việt Nam và pháp luật đầu tư
CHDCND Lào.
Chương II: Những nội dung cơ bản trong pháp luật đầu tư Việt Nam và
pháp luật đầu tư CHDCND Lào – Nhìn từ góc độ so sánh.
Chương III: Một số kinh nghiệm đạt được và những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật đầu tư của CHDCND Lào.

Khammanh Sisaath


Luận văn thạc sĩ


5
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT NAM
VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ LÀO
1.1. Khái quát về pháp luật đầu tư của Việt Nam
1.1.1. Pháp luật đầu tư Việt Nam trước khi ban hành Luật Đầu tư chung
Từ năm 1945, sau khi giành được chính quyền, Đảng cộng sản Việt Nam
chủ trương “kháng chiến kiến quốc”, bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn
và kiến thiết Quốc gia trên nền tảng dân chủ. Nhà nước Việt Nam đã hiện thực
hoá bằng việc tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên pháp luật về đầu tư thời kỳ này thể
hiện tính ổn định chưa cao, chưa có văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực Nhà
nước ban hành quy định về đầu tư.
Trong thời kỳ Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh
tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ
yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, pháp luật về đầu tư không thực sự
là phương tiện quan trọng nhất trong điều kiện kinh tế nói chung và hoạt động
đầu tư nói riêng. Về mặt pháp lý, hoạt động đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân
không được thừa nhận trong giai đoạn này.
Hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm
xây dựng trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế. Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đánh dấu
một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, với quy định phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Với quan điểm huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế,
pháp luật về đầu tư của Việt Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện
theo hướng ngày càng đảm bảo hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng cho các

nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh.
Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng VI năm 1986 về chuyển đổi hoạt động
của các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


6
nghĩa, thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà
nước, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề đầu tư
của Nhà nước vào doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện mới như: Nghị định số
50/ HĐBT ban hành điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Nghị dịnh số
27/HĐBT ban hành Điều lệ về liên hiệp xí nghiệp... Với cơ chế thị trường, mà
giai đoạn đầu là kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, một yêu cầu có tính nguyên
tắc căn bản là phải đảm bảo quyền tự do và sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh,
trong đó nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải mở rộng quyền đầu tư cho các chủ thể
thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định quan điểm
quản lý kinh tế bằng pháp luật, vì vậy Nhà nước Việt Nam đã ban hành và từng
bước xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật mới về đầu tư như: Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1987 (sửa đổi bổ sung và ban hành mới vào các năm 1990, 1992,
1996, 2000), Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 (được thay
thế bởi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và sau này là Luật Doanh nghiệp năm
2005); Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 (được thay thế bởi Luật Doanh
nghiệp Nhà nước năm 2003); Luật Hợp tác xã năm 1996 (đã được thay thế bởi
Luật hợp tác xã năm 2003); Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 (đã được
thay thế bởi Luật sửa đổi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998); Nghị
định số 52/1999 NĐ - CP ngày 08/7/1999 ban hành kèm theo Quy chế quản lý
đầu tư và xây dựng... Các văn bản pháp luật này cùng với các văn bản hướng dẫn
thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan, đã tạo thành một hệ thống pháp

luật về đầu tư với phương pháp, nội dung điều chỉnh mới, quy định các vấn đề
pháp lý về đầu tư trong nền kinh tế thị trường trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản
như tự do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh... Điều này đã góp phần không nhỏ
vào việc tăng cường hiệu quả huy động vốn đầu tư trong thời gian qua.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam ở thời kỳ
này là có sự phân chia thành hai lĩnh vực: Đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài để điều chỉnh. Cụ thể như sau:

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


7
1.1.1.1. Pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Cùng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và Nhà
nước Việt Nam đồng thời thực hiện chính sách tăng cường hợp tác kinh tế quốc
tế. Trong việc tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại, việc mở rộng thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hướng ưu tiên quan trọng. Điều lệ đầu tư ban
hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Chính phủ là văn bản
pháp lý riêng biệt đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 1 Điều lệ
này, Chính phủ Việt Nam “chấp thuận đầu tư trực tiếp đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
Việt Nam và các bên cùng có lợi”. Điều lệ đầu tư đã tạo ra một khung pháp lý
ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài, làm tiền đề cho những ý tưởng và là
cơ sở cho những bước cải cách sau này. Tuy nhiên do Điều lệ đầu tư năm 1977
đã thể chế hoá chính sách quản lý kinh tế bao cấp nên còn thiếu các quy định cụ
thể cho việc thi hành như các quy định về ngân hàng, quản lý ngoại hối, đất đai,
lao động, tài nguyên.... Do đó chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ, môi trường

pháp lý đồng bộ, có hiệu quả cao và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng
như cho hoạt động đầu tư nói chung. Ngày 29/12/1987 tại kỳ họp thứ hai khoá
VII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong thời kỳ này, đầu tư nước ngoài được coi
là biện pháp quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới
nhằm “khai thác có hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất
nước” để “đẩy mạnh xuất khẩu”. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987 được soạn thảo trên nguyên tắc rút kinh nghiệm Điều lệ đầu tư năm 1977
xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam, có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm của
các nước trên thế giới. Các quy định của luật đã thể hiện vai trò, vị trí, tác dụng
của việc đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế quốc dân. Ngay sau khi ra đời,
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có ảnh hưởng mạnh tới việc
xây dựng hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế mới với
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


8
nhiều thành phần kinh tế. Tuy nhiên qua một thời gian thực hiện, Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót trong
việc thi hành cũng như bản thân nội dung luật. Cụ thể là với các đối tác trong
nước Luật mới chỉ áp dụng cho các tổ chức kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể,
hạn chế về kinh tế tư nhân. Các văn bản dưới luật chưa được ban hành kịp thời.
Mặt khác, Luật ra đời vào thời điểm Việt Nam chưa có các đạo luật cơ bản về
kinh tế, do đó, môi trường pháp lý cho đầu tư nước ngoài nói chung còn tiềm ẩn
của sự thiếu ổn định.
Nhằm khắc phục hạn chế nêu trên ngày 30/6/1990 Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo hướng “khuyến khích và tạo thêm

điều kiện thuận lợi” cho các dự án đầu tư nước ngoài. Với những sửa đổi lần
này, các quy định của luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam mà còn cho các đối tác trong nước được hưởng
những điều kiện tương tự để mở rộng hợp tác với nước ngoài. Vấn đề về “mọi
thành phần kinh tế” trong đó có kinh tế tư nhân lần đầu tiên được quy định một
cách rõ nét: “Các tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được hợp tác kinh doanh với
tổ chức, cá nhân nước ngoài trong lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng bộ trưởng
quy định”. Luật cũng khẳng định chính sách của Nhà nước Việt Nam nhằm đáp
ứng lợi ích của các bên. Nhà nước Việt Nam không những đảm bảo an toàn cho
vốn đầu tư mà còn giảm thuế để bảo đảm lợi nhuận cho các nhà đấu tư khi tỷ
suất của họ thấp hơn so với các xí nghiệp khác trong ngành, khuyến khích các
nhà đầu tư chuyển giao công nghệ tiên tiến và đầu tư số vốn lớn vào Việt Nam,
khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu hoặc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu.
Đến năm 1992, sau hai năm triển khai thực hiện Luật, nhiều vấn đề pháp
lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài. Vì vậy để đạt
được mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra Việt Nam cần phải tiếp tục sửa đổi và
hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài. Thực hiện chủ trương nêu trên, ngày
23/12/1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


9
luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia hợp tác với nước
ngoài trong lĩnh vực đầu tư. Trong lần sửa đổi này, vấn đề tư nhân tham gia hoạt
động đầu tư với nước ngoài được nêu một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn và có
tính khả thi hơn. Bên Việt Nam là “một bên gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế” gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, các

doanh nghiệp được thành lập theo luật Công ty, doanh nghiệp tư nhân được
thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 đã bổ sung một số hình thức
đầu tư nước ngoài mới, hình thức khu chế xuất và hợp đồng xây dựng – kinh
doanh – chuyển giao. Đồng thời, Luật cũng khẳng định rằng, trong trường hợp
do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của
các bên tham gia hợp tác đầu tư thì Nhà nước Việt Nam sẽ “có biện pháp giải
quyết thoả đáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư”.
Năm 1996, khi Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hệ thống pháp luật về đầu tư
nước ngoài đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục. Mặt khác, cùng với quá
trình xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng bộ, từ năm 1994, một số luật
mới lần lượt được ban hành, trong đó môi trường đầu tư, kinh doanh được quy định
chặt chẽ hơn và đi cùng với hệ thống này, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
cũng cần được sửa đổi , bổ sung trên cơ sở quán triệt đường lối nhất quán , nhằm
khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước Việt Nam: “bảo hộ quyền sở
hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài;
tạo điều kiện thuận lợi và quy định thủ tục đơn giản, nhanh chóng cho các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam”. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc
hội thông qua ngày 12/11/1996 thể hiện chủ trương của Nhà nước đối với việc cải
cách các thủ tục hành chính. Luật lần này được sửa đổi theo hướng giảm bớt một số
ưu đãi. Những sửa đổi này, cùng với những quy định chặt chẽ hơn của một số luật
kinh tế khác đã làm giảm sút phần nào đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


10
Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, đồng thời góp phần tăng cường tính

hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư, chặn đà giảm sút của đầu tư nước
ngoài, thực hiện tốt các dự án đã được cấp phép đầu tư và thu hút thêm đầu tư
mới, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, ngày 09/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa, bổ sung,
đổi mới và hoàn thiện quy định của các luật đã ban hành, các nội dung sửa đổi,
bổ sung của Luật đã đem lại cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam sự ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều quy định trước đây. Các quy
định này có tác dụng khuyến khích hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng
như các đối tác trong nước tham gia đầu tư. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 được ban hành đã tháo gỡ
kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, mở rộng tự
chủ trong tổ chức quản lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; bổ
sung một số ưu đãi về thuế đối với dự án đầu tư nước ngoài.
Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật đầu tư
trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đã được hoàn thiện từng bước. Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung liên tục (từ năm 1987 –
2005). Trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài, Chính phủ Việt Nam và các bộ, ban.
ngành đã ban hành một số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo thành hệ
thống pháp luật về đầu tư nước ngoài, điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. So với pháp luật nhiều nước khác trong khu
vực, pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam được coi
là khá thông thoáng, cởi mở và có tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,
mà trực tiếp nhất là thực hiện các thoả thuận trong Hiệp định đầu tư khu vực
ASEAN, Hiệp định thưong mại Việt Nam – Hoa Kỳ, pháp luật về đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế cần phải khắc phục. Sự
chưa hoàn thiện và thiéu đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư nói riêng và của
Khammanh Sisaath


Luận văn thạc sĩ


11
toàn bộ hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung là trở
ngại lớn nhất đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc tăng cường hợp tác
kinh tế quốc tế tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức. Pháp luật về đầu
tư của Việt Nam đứng trước yêu cầu phải vận động theo xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế, phù hợp với pháp luật đầu tư thế giới.
1.1.1.2. Pháp luật về khuyến khích đầu tư trong nước
Trước khi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước ra đời, chính sách về đầu
tư vào các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn cần được khuyến khích và ưu đãi đầu tư
tuy đã được quy định trong một số văn bản của Nhà nước, nhưng chưa đầy đủ,
còn phân tán chưa thành hệ thống chặt chẽ, đồng bộ nên chưa tạo điều kiện để
nhân dân yên tâm, mạnh dạn bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế.
Đồng thời, cho đến khi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước ra đời, Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam đã ban hành dược hơn 6 năm (từ năm 1987) và đã được
sửa đổi, bổ sung 2 lần (vào năm 1990 và 1992) có quy định về ưu đãi cho các nhà
đầu tư nước ngoài, nên trong chừng mực nhất đã tạo ra tình trạng kinh doanh
không bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội thông qua ngày
22/6/1994 là văn bản có tính pháp lý đầu tiên điều chỉnh toàn diện các quan hệ
chủ yếu về khuyến khích đầu tư trong nước ở Việt Nam. Văn bản này ra đời
khẳng định về mặt pháp lý ở tầm văn bản có hiệu lực cao, tư tưỏng độc lập, tự
chủ , tự lực, tự cường của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong phát triển kinh tế.
Vốn đầu tư nước ngoài tuy quan trọng nhưng đối với toàn bộ quá trình phát
triển, vốn đầu tư trong nước vẫn là yếu tố quyết định. Việc huy động vốn đầu tư
trong nước không chỉ nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà còn làm tăng thêm
sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài vào chính sách kinh tế của Đảng và
Nhà nước Việt Nam. Khuyến khích đầu tư trong nước có hiệu quả cũng là gián

tiếp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước ra đời có tác dụng động viên mọi
nguồn vốn tiềm tàng của nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


12
mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành và vùng theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và mức
sống của nhân dân.
Tuy nhiên qua quá trình thực hiện, Luật cũng đã bộc lộ một số hạn chế,
như môi trường đầu tư chưa thông thoáng, thủ tục còn nhiều phiền hà, mức độ
khuyến khích và ưu đãi chưa thật hấp đẫn, các nhà đầu tư chưa thật yên tâm nên
chưa mạnh dạn bỏ vốn vào những lĩnh vực, ngành, nghề và địa bàn, nhất là ở
những vùng còn nhiều khó khăn cũng như đối với các dự án đầu tư chiều sâu,
mở rộng quy mô sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm.... Điều này đã hạn chế
việc phát huy nội lực để phát triển kinh tế – xã hội, tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tinh thần các
văn kiện, nghị quyết của Đảng.
Từ đòi hỏi của thực tiễn, nhằm tiếp tục tạo môi trường pháp lý thuận lợi,
khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp và nhân dân phát huy nội lực,
đẩy mạnh đầu tư có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội
của Nhà nước; bảo đảm thực hiện bình đẳng, đồng bộ các chính sách, biện pháp
khuyến khích ưu đãi đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo
động lực mới thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc huy động các nguồn trong nước, góp
phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đổi mới công
nghệ và tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngày 20/5/1998, Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Khuyến khích

đầu tư trong nước (sửa đổi).
Trong lần sửa đổi này, Luật bổ sung cam kết của Nhà nước Việt Nam đối
với tài sản và vốn hợp pháp của nhà đầu tư không bị tịch thu bằng biện pháp
hành chính, quy định lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được “bảo lưu” trong
trường hợp thay đổi quy định của pháp luật không có lợi cho nhà đầu tư; sửa
đổi, bổ sung quy định về hỗ trợ đất đai cho các nhà đầu tư, hỗ trợ tín dụng, một
số hình thức hỗ trợ khác...; bổ sung hình thức đầu tư trong nước thông qua hợp
đồng hợp tác kinh doanh, bổ sung quy định chuyển quyền sở hữu trí, bí quyết kỹ
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


13
thuật, quy trình công nghệ và dịch vụ - kỹ thuật là tài sản để góp vốn đầu tư xây
dựng dây chuyền sản xuất, cải thiện môi trường sinh thái, di chuyển cơ sở sản
xuất ra khỏi đô thị, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm...
Kể từ khi có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 (sửa đổi năm
1998) số lượng dự án đầu tư gia tăng không ngừng, số lượng vốn tư nhân đưa
vào đầu tư và số việc làm mới được tạo ra ngày càng nhiều. Qua gần 20 năm
thực hiện luật này, đã đạt được một số thành tựu nhất định như: tạo thêm việc
làm mới nhờ các dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư; Theo số liệu
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào, trong nửa đầu tài khóa 2010-2011, đầu tư nước
ngoài vào Lào tăng gần gấp 2 lần so với tài khóa trước.
Cũng trong giai đoạn này, Chính phủ Lào cấp phép cho khoảng 40 dự án
với tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ USD.
Đặc biệt, dự án của Công ty Golf Long Thành (Việt Nam) có số vốn đầu
tư kỷ lục trong năm, với 1 tỷ USD cho dự án sân golf khởi công từ cuối năm
2008 trên diện tích 500ha và một khách sạn cao cấp ở thủ đô Vientiane.
Các dự án đầu tư còn lại có tổng vốn đầu tư 156 triệu USD, tập trung vào

một số lĩnh vực như thủ công nghiệp, chế biến, công nghiệp, nông nghiệp và
khai thác khoáng sản.
Cục trưởng Cục Khuyến khích đầu tư, Houmpheng Souralay cho biết, có
nhiều nhà đầu tư sau khi nhận giấy phép của Chính phủ Lào, đã khẩn trương
triển khai dự án.
Tuy nhiên, cũng có một số nhà đầu tư vẫn để dự án trong tình trạng
"treo". Do đó, Chính phủ Lào sẽ thực hiện biện pháp thu hồi giấy phép đầu tư
với các dự án không thực hiện đầy đủ cam kết đã ký.
Lào cũng như các nước khác trong khu vực và trên thế giới, đều bị tác
động xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khiến các nhà đầu tư thiếu
vốn cho các dự án đã và đang triển khai. Có dự án phải giãn tiến độ, phải sang
nhượng nhưng nhìn chung đầu tư nước ngoài vào Lào vẫn khả quan nếu so với
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


14
tài khóa 2007-2008 với 161 dự án và tổng vốn đầu tư chỉ đạt 650 triệu USD (số
liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư Lào).
Tính đến thời điểm này của năm 2009, Việt Nam vẫn là nhà đầu tư số 1
tại Lào, tiếp theo là Thái Lan và Trung Quốc
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn không ít những tồn
tại chưa được giải quyết như: hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh cho doanh
nghiệp, về thủ tục hành chính, về phân cấp đầu mối cơ quan quản lí đầu tư...
1.1.2. Pháp luật đầu tư Việt Nam từ khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005
1.1.2.1. Mục đích, yêu cầu sửa đổi pháp luật đầu tư và ban hành Luật
Đầu tư chung
Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban

hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp, Luật
Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Dầu khí, Luật Xây dựng, Luật
Đất đai, Luật Ngân sách Nhà nước... các đạo luật đã tạo nên một khung pháp lý
quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt động đầu tư phù hợp
với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, cũng
như phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập, góp phần tạo môi trường đầu tư
thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.[2]
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, việc huy động nguồn lực đầu tư
cho tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng, thể hiện hiệu quả của các chính sách
mới, của hệ thống pháp luật về đầu tư đã ban hành.
Việc ban hành và thực thi Luật Doanh nghiệp Nhà nước cùng các chương
trình hành động của chính phủ, các đề án sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả của Doanh nghiệp Nhà nước, đã khẳng định vai trò Doanh nghiệp Nhà
nước đã và đang tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển các
ngành và lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


15
Luật Doanh nghiệp năm 1999 được đánh giá như một bước đột phá như
cả về tư duy kinh tế lẫn xây dựng và thực thi luật. Theo đó, người dân, doanh
nghiệp được tự do kinh doanh trong tất cả những ngành nghề mà pháp luật
không cấm. Cùng với sự ra đời và thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước, cho tới nay có 150 ngàn doanh nghiệp dân doanh mới được thành lập góp
phần nâng tỉ trọng vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong nước lên mức 36,7%
tổng vốn đầu tư phát triển năm 2011; tạo ra hàng triệu việc làm mới (Số liệu của

Bộ kế hoạch và Đầu tư Lào).
Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm1987 và đã dược sửa đổi bổ
sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và năm 2000 đã tạo môi trường pháp lý
ngày càng hấp dẫn cho việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Tính đến hết năm 2011, trên địa bàn cả nước có trên 5300
dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí trên 47 tỷ USD, vốn
đầu tư hiện thực đạt 31 tỷ USD. Năm 2011, khu vực đầu tư nước ngoài
chiếm27% tổng vốn đầu tư xã hội, tạo ra trên 24,5% GDP của cả nước chiếm
gần 47% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và gần 54,6% kim ngạch xuất
khẩu (số liệu của Bộ Kế hoạch - Đầu tư năm 2011).
Tuy nhiên, do văn bản quy định về đầu tư được ban hành một cách riêng
rẽ, có nhiều vấn đề còn thiếu nhất quán, trong các quy định còn có sụ phân biệt
đối xử giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế nên đã hạn chế việc huy động và các nguồn lực kể cả nguồn lực trong
nước và ngoài nước. Bên cạnh đó, thời gian vừa qua, Việt Nam đã ký kết và
triển khai nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động
đầu tư, trong đó đòi hỏi Việt Nam phải từng bước mở cửa thị trường, xoá bỏ các
rào cản thuế quan, phi thuế quan hoặc các trợ cấp không phù hợp với các cam
kết quốc tế. Do đó, yêu cầu khách quan đặt ra là Việt Nam phải tiếp tục hoàn
thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với nền kinh tế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đơn giản, minh bạch, nhất quán, xoá bỏ
sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; xây dựng trình
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


16
tự, thủ tục đơn giản thuận lợi không chỉ cho các nhà đầu tư mà cho cả cơ quan
Nhà nước nhằm bảo đảm chính sách đến được các nhà đầu tư, tạo lòng tin cho

nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế hăng hái, tự tin sử dụng mọi nguồn lực
cho đầu tư, kinh doanh. [3]
Những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập quốc tế đã và đang đặt
ra những đòi hỏi khách quan đối với việc cần thiết phải xây dựng một Luật Đầu tư
chung nhằm huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội ; cụ thể:
Một là - Nghị quyết Trung ương IX đã đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khắc phục nguy cơ tụt
hậu của nước ta so với thế giới và khu vực, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm nước
đang phát triển có thu nhập thấp. Do đó, trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu
tư cho phát triển là rất lớn. Đây là một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi phải tiếp tục
quán triệt đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng được khẳng định trong Đại hội
Đảng IX, đặc biệt Nghị quyết Trung ương IX (Khoá IX): gắn huy động nguồn
nội lực và ngoại lực, gắn cải cách trong nước với hội nhập để tận dụng cơ hội và
vượt qua thử thách trong giai đoạn tới; điều đó một mặt đòi hỏi phải xây dựng
đồng bộ và hoàn thiện cơ bản thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; mặt khác cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các
giải pháp đồng bộ nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; trong đó
có việc phải xây dựng một Luật Đầu tư áp dụng thống nhất nhằm đảm bảo
quyền bình đẳng, tự do đầu tư kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo
sự hấp dẫn các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Hai là - Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về đầu
tư,kinh doanh không ngừng được cải thiện theo hướng phù hợp việc xây dựng
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó,
môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng không ngừng được hoàn thiện, thay
đổi theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập “cùng một sân chơi chung”
cho các hình thức đầu tư, các thành phần kinh tế, thể hiện qua hàng loạt các đạo
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ



17
luật mới được ban hành, hoặc sửa đổi , bổ sung. Những khác biệt về điều kiện
đầu tư, kinh doanh như điều kiện gia nhập thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra
và hoạt động quản lý doanh nghiệp giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
đã được thu hẹp đáng kể, thậm chí nhiều chính sách đã được hoà đồng.
Tuy nhiên, do các luật liên quan đến đầu tư được ban hành riêng lẻ, lại
chưa có sự nhất quán về nội dung, phạm vi điều chỉnh nên trên thực tế chưa thực
sự tạo được “một sân chơi” bình đẳng như chủ trương của Đảng và yêu cầu hội
nhập. Những khác biệt như vậy đã và đang tiếp tục làm cho hệ thống pháp luật
về đầu tư, kinh doanh thiếu nhất quán, minh bạch; tình trạng phân biệt đối xử
giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp khác nhau đang tồn tại, đã
hạn chế việc phát huy các nguồn lực. Thêm vào đó, sự phát triển năng động, đa
dạng của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã càng làm bộc lộ những
bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành phần kinh tế.
Do đó, việc xây dựng Luật Đầu tư áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư
là yêu cầu thiết yếu và bức xúc nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh
doanh, nhất là môi trường pháp lý nhằm củng cố niềm tin của các nhà đầu tư tạo
điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư tối đa và sử dụng hiệu quả các hoạt động
đầu tư.
Ba là - trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký
kết nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động đầu tư,
hiện nay đang ở giai đoạn thực hiện về cơ bản các cam kết quốc tế đó như những
cam kết trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN,
Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, Hiệp định tự do hóa, khuyến
khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản và những cam kết khi gia nhập WTO. Việc
ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư một mặt
vừa đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa thị trường, xóa bỏ các rào cản thuế quan, phi
thuế hoặc các trợ cấp không phù hợp với thông lệ quốc tế, mặt khác vẫn phải

duy trì một số chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có điều kiện, có thời gian,
mở cửa thị trường theo lộ trình xác định. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


18
pháp luật phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế trong đó có Luật Đầu tư là yêu
cầu cấp thiết.
Bốn là - Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới vào khu
vực đang diễn ra ngày càng gay gắt, nhất là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực đang cải
cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do hóa chính sách đầu tư, thương
mại với các đối tác kinh tế lớn nhằm tranh thủ nguồn vốn đầu tư, công nghệ. Hệ
thống pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam trước đây được coi là hấp dẫn,
thông thoáng nay giảm dần tính cạnh tranh so với những chuyển biến mới về
những chính sách thu hút đầu tư của các nước trong khu vực và thế giới. Vì vậy cần
thiết phải ban hành Luật Đầu tư mới thể hiện rõ ràng, minh bạch hơn chính sách
bảo đảm đầu tư, khuyến khích ưu đãi đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính…
Năm là - nguồn vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước hàng năm hiện chiếm tới
55%- 57% tổng đầu tư xã hội và đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập cơ
cấu kinh tế, nhất là trong việc hình thành hệ thống kết cầu hạ tầng kinh tế xã hội,
trong các ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và thu hút đầu tư
của các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên công tác quản lý đầu tư nói chung,
đặc biệt là quản lý các dự án đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước còn nhiều
yếu kém, thiếu sót đã dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, hiệu
quả sử dụng nguồn vốn đầu tư còn thấp, cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp
lý, sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà
nước còn kém hiệu quả, công tác giám sáp, thanh tra chậm được chú ý và còn

lúng túng trong hướng dẫn triển khai thực hiện. Một trong những nguyên nhân
quan trọng của tình trạng nói trên là chưa có văn bản pháp luật có đủ hiệu lực để
điều chỉnh hoạt động đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước.
Như vậy việc ban hành Luật Đầu tư chung đã trở thành đòi hỏi tất yếu
khách quan của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chủ trương đường lối của Đảng, từ thực
tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế nhằm huy
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


19
động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các nguồn
lực đầu tư trong nước và nước ngoài của mọi thành phần kinh tế.
1.1.2.2. Khái quát về Luật Đầu tư (2005) và những văn bản liên quan
Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, gồm có 10 chương, 89 điều
quy định về bảo đảm đầu tư, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, hình thức hoạt
động đầu tư và các lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Luật
Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và có nội dung cơ bản của từng chương như
sau:
Chương I - Những quy định chung (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 5).
Chương nay quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các chính sách
về đầu tư, việc áp dụng pháp luật về đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước
ngoài và tập quán quốc tế và giải thích một số thuật ngữ có liên quan.
Chương II - Bảo đảm đầu tư (gồm 7 Điều, từ Điều 6 đến Điều 12).
Chương này quy định về bảo đảm vốn và tài sản của nhà đầu tư, bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; mở cửa thị trường đầu tư liên quan đến
thương mại; về việc chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài; bảo đảm đầu tư trong

trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách và giải quyết tranh chấp.
Chương III – Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ( gồm 8 Điều, từ Điều 13
đến Điều 20). Chương này quy định về quyền của nhà đầu tư như quyền tự chủ đầu
tư, kinh doanh, tiếp cận, sử dụng nguồn lực đầu tư; xuất khẩu, nhập khẩu, quảng
cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư; mua ngoại tệ;
chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư; thế chấp quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất và các quyền khác của nhà đầu tư theo đúng nội dung đăng ký
đầu tư, nội dung quy định tại giấy chứng nhận đầu tư; các nghĩa vụ của nhà đầu tư.
Chương IV - Hình thức đầu tư (gồm 6 Điều, từ Điều 21 đến Điều 26).
Chương này quy định các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư thành lập tổ
chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng, đầu tư phát triển kinh doanh, đầu tư thông qua
việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại và các hình thức đầu tư gián tiếp.
Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


20
Chương V – Lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư (gồm 3 mục
18 Điều, từ Điều 27 đến Điều 44).
Chương VI - Hoạt động đầu tư trực tiếp ( gồm 2 mục, 22 Điều, từ Điều 45
đến Điều 66). Chương này quy định về thủ tục đăng ký đầu tư đối với dự án đầu
tư trong nước và dự án đầu tư nước ngoài và việc triển khai thực hiện dự án đầu
tư nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách hành chính trong quản lý đầu tư theo hướng
mở rộng phân cấp và đơn giản hóa thủ tục, tạo môi trường đầu tư thông thoáng,
thuận tiện cho nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất trong
quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư.
Chương VII - Đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước (gồm 7 Điều, từ Điều 67 đến
Điều 73). Chương này quy định việc quản lý đầu tư, kinh doanh vốn Nhà nước; đầu
tư, kinh doanh vốn Nhà nước vào tổ chức kinh tế, hoạt động công ích; đầu tư bằng

vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
được giao quản lý dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước và việc thay đổi nội dung,
hoãn, đình chỉ, huỷ bỏ dự án đầu tư. Luật Đầu tư cũng quy định dự án đầu tư có sử
dụng vốn Nhà nước phải thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ
tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp cho dự án theo quy định của pháp luật về đấu
thầu.
Chương VIII - Đầu tư ra nước ngoài (gồm 6 điều, từ Điều 74 đến Điều
79). Chương này quy định về các hình thức đầu tư ra nước ngoài; điều kiện đầu
tư ra nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài; thủ tục đầu tư
ra nước ngoài và các lĩnh vực khuyến khích hoặc cấm đầu tư ra nước ngoài.
Chương IX - Quản lý Nhà nước về đầu tư (gồm 8 Điều, từ Điều 80 đến
Điều 87). Chương này quy định về nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư; trách
nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư; trách nhiệm của Chính phủ
trong việc tổ chức lập, trình duyệt các quy hoạch; việc xúc tiến đầu tư; theo dõi,
đánh giá hoạt động đầu tư; thanh tra về hoạt động đầu tư và việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, khởi kiện. xử lý các vi phạm về pháp luật đầu tư.

Khammanh Sisaath

Luận văn thạc sĩ


×