LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân, cơ quan, tổ chức. Đó chính là biện pháp nhằm bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân, qua đó bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp
pháp của họ khi bị xâm hại, đồng thời xử lý kịp thời, chính xác, nghiêm minh
các hành vi trái pháp luật, thể hiện đúng bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tiếp công dân là hoạt động hết sức quan trọng, không chỉ là công đoạn
đầu tiên của quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo mà còn giúp cho các cơ
quan của Đảng và Nhà nước, cán bộ, công chức tiếp nhận, lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân, giải đáp kịp thời những vướng mắc trong nhân
dân, góp phần làm yên lòng dân. Thông qua công tác tiếp công dân, các cơ
quan của Đảng và Nhà nước sẽ kịp thời thấy được kết quả thực hiện chủ
trương, chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoạt động
quản lý của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc tổ chức tốt công tác tiếp công
dân góp phần quan trọng hạn chế khiếu nại, tố cáo phát sinh, khiếu nại, tố cáo
tràn lan, vượt cấp, qua đó còn có ý nghĩa giáo dục ý thức chấp hành pháp luật
của công dân, ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Chính vì vậy,
nhằm đổi mới công tác tiếp công dân, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo, Luật Tiếp công dân đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2013 với 9
chương, 36 điều và có hiệu lực từ 01/7/2014. Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân.
Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đã được quy định
tại Luật Tiếp công dân đón để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực
hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp
luật.Trong đó UBND Thị trấn Bắc Hà, Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào cai là một cơ
quan hành chính nhà nước thuộc hệ thống hành chính của Nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ủy ban nhân dân (UBND) Thị trấn Bắc Hà, huyện
Bắc Hà từ khi được thành lập luôn là lá cờ đầu trong công tác quản lí, thực thi
pháp luật và bên cạnh đó là làm tốt công tác tiếp dân, đảm bảo việc tiếp nhận
đơn thư, tố cáo, kiến nghị cũng như góp ý của nhân dân trong huyện với tinh
thần làm việc trách nhiệm, đảm bảo công khai, dân chủ, tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho nhân dân đến làm việc.
Song bên cạnh đó, UBND thị trấn Bắc Hà cũng không tránh khỏi những
vướng mắc khó khăn như: Việc bố trí cán bộ tiếp công dân thường xuyên ở
cấp xã gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là phân công công chức tư pháp - hộ tịch,
địa chính, văn phòng kiêm nhiệm, vì ở cấp xã các chức danh này chỉ được
một định biên, chưa có công chức chuyên trách làm nhiệm vụ tiếp dân thường
xuyên nên sẽ gặp khó khăn trong bố trí cán bộ tiếp dân, tham mưu xử lý đơn
thư. Ngoài ra, do công tác tiếp công dân là hoạt động phức tạp, đòi hỏi vừa
linh hoạt, mềm dẻo vừa đúng nguyên tắc, đúng quy định pháp luật; trong khi
năng lực, trình độ và kỹ năng của một bộ phận cán bộ tiếp công dân còn yếu,
chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về công tác tiếp dân cả về mặt lý luận
và thực tiễn, em lựa chọn báo cáo thực tập “Thực trạng công tác tiếp công
dân tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bắc Hà ”.
Trong khuôn khổ có hạn của đề án kiến tập với đối tượng nghiên cứu là
công tác tiếp dân, em tập trung đưa ra khái niệm, nội dung, hình thức công tác
tiếp dân và những quy định của Pháp luật hiện hành về công tác tiếp dân. Về
thực tiễn em làm rõ tình hình thực hiện tại UBND Thị trấn Bắc Hà, đánh giá
kết quả đạt được, phân tích những điểm ưu và hạn chế. Trên cơ sở đó đưa ra
những kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chế độ tiếp dân trên địa bàn Thị trấn
Bắc Hà nói riêng cũng như huyện Bắc Hà nói chung.
2
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CÔNG DÂN VÀ PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN
1.1 Một số vấn đề lý luận về tiếp công dân
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tiếp công dân
1.1.1.1 Khái niệm công tác tiếp công dân
Ngày nay, khái niệm tiếp công dân đã thường xuyên xuất hiện trong đời
sống hàng ngày và trong các văn bản pháp luật. Hoạt động tiếp công dân là
một trong những hoạt động thường xuyên của các cơ quan Nhà nước .Thông
qua việc tiếp công dân, Đảng và Nhà nước lắng nghe được những ý kiến của
dân, nhận được những thông tin kịp thời phản ánh về quá trình thực hiện các
chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó
Đảng và Nhà nước có thể điều chỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách,
pháp luật cho phù hợp với thực tế đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu và lợi ích của cơ quan,
đơn vị và nhìn từ phía do nhu cầu của công dân, cơ quan, tổ chức thì tiếp công
dân có thể được nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau sau:
Thứ nhất, từ bản chất ngữ nghĩa, tiếp công dân là việc thực hiện giao
tiếp từ phía cơ quan nhà nước, giải quyết quan hệ giữa nhà nước và công
dân.
Thứ hai, từ việc đáp ứng yêu cầu của công dân, tiếp công dân là giải
quyết những yêu cầu của công dân. Theo đó, công dân thực hiện quyền của
mình và nhà nước phải đáp ứng.
Thứ ba, hiểu là một nghiệp vụ của nhà quản lý, tiếp công dân là của
người thừa hành công vụ. Khi đó, tiếp công dân thuộc phạm trù kỹ năng,
nghiệp vụ công tác của cán bộ, công chức.
Từ các cách tiếp cận trên, cần có cách nhìn khái quát về tiếp công dân
gắn với công tác lãnh đạo, quản lý, gắn với quyền dân chủ, quyền phản hồi
3
thông tin, gắn với yếu tố văn hoá và các kỹ năng nghiệp vụ khác. Tiếp công
dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật
Tiếp công dân năm 2013 đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc
thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp
luật.
Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân định
kỳ và tiếp công dân đột xuất.
1.1.1.2 Đặc điểm tiếp công dân
Tiếp công dân là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, bắt buộc cơ quan
Nhà nước phải thực hiện
Công dân đến cơ quan để phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo là quyền
của công dân. Đây là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Điều
30 Hiến pháp 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận,
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về
vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Nghiêm
cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố
cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
1.2 Mục đích, ý nghĩa của công tác tiếp công dân
Khẳng định nội dung tính quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, Hiến
pháp năm 2013, ghi nhận về nội dung này, cụ thể Điều 2 Hiến pháp năm 2013
quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước
CHXHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức.”
4
Nhìn nhận về tính quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hay ở một
khía cạnh nhất định nào đó tức là thực hiện quyền dân chủ. Dân chủ ở đây
không chỉ là bản chất mà còn là mục tiêu, động lực của cuộc cánh mạng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong hoạt động quản lý Nhà nước, việc thực hiện
dân chủ có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động quản lý, mà còn quyết định tới sự ổn định hay không ổn định của tình
hình chính trị - xã hội đất nước, góp phần phát huy bản chất Nhà nước của
dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta, củng cố thêm mối quan hệ chặt chẽ,
bền vững giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước… Như vậy, trong hoạt động
quản lý Nhà nước phải tạo điều kiện để nhân dân tham gia trực tiếp vào hoạt
động này, phải tổ chức tốt việc tiếp thu ý kiến của nhân dân thông qua công
tác tiếp công dân của các cơ quan Nhà nước.
Thông qua khái niệm nêu trên, có thể chỉ ra một số mục đích và ý nghĩa
của công tác tiếp công dân.
1.2.1 Mục đích của công tác tiếp công dân
- Việc tiếp công dân nhằm mục đích tiếp nhận các thông tin, kiến nghị,
phản ánh, góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị.
Đây là sự cụ thể hoá quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia
thảo luận các vấn đề chung của Nhà nước và xã hội của công dân, là sự cụ thể
hoá phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
- Việc tiếp công dân sẽ giúp cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiến hành một cách hiệu quả. Bởi vì, tiếp
công dân là điểm khởi đầu, là một trong những khâu quan trọng của công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo. Điều này là nhằm thực hiện tốt quyền khiếu nại,
tố cáo của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện mối quan hệ chặt
chẽ giữa công tác tiếp công dân và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Tiếp công dân cũng là để hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo đúng chính sách pháp luật, đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết,
5
khắc phục những hạn chế bất cập trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân. Qua đó nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật
nói chung, pháp luật khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng đối với quần
chúng nhân dân.
- Việc tiếp công dân cũng đặt ra một yêu cầu mang tính bắt buộc đối với
cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức Nhà nước là phải luôn luôn tôn trọng
nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân.
1.2.2 Ý nghĩa của công tác tiếp công dân
- Tiếp công dân là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối
quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.Việc tiếp công dân thể hiện rõ
quan điểm “lấy dân làm gốc”, thông qua công tác tiếp dân giúp cho Đảng,
Nhà nước luôn gần gũi với dân, lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, thắc
mắc, ý kiến của người dân liên quan trực tiếp tới hoạt động của cán bộ, cơ
quan Nhà nước và giải đáp kịp thời những vướng mắc. Qua đó góp phần làm
yên lòng người dân, duy trì sự ổn định về tình hình chính trị, trật tự an toàn xã
hội của đất nước. Làm tốt công tác tiếp công dân sẽ góp phần phát huy bản
chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Thực hiện tốt việc tiếp công dân còn
là sự thể hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với nhân dân, tôn trọng
nhân dân, tôn trọng pháp luật, từ đó tăng thêm niềm tin của nhân dân vào các
cơ quan Nhà nước. Mặt khác làm tốt công tác tiếp công dân cũng sẽ góp phần
khơi dậy tiềm năng, trí tuệ của nhân dân giúp cho Đảng và Nhà nước nói
chung, các cơ quan nhà nước nói riêng thu nhận được những thông tin phản
hồi về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống từ đó đề ra những chủ trương,
quyết định đúng đắn hợp lòng dân.
- Công tác tiếp công dân có quan hệ chặt chẽ với công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Muốn thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cần
phải thực hiện tốt việc tiếp công dân, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng
khiếu nại, tố cáo tràn lan vượt cấp, gửi không đúng chủ thể có thẩm quyền
giải quyết cũng như các bất cập khác trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, giáo
6
dục ý thức công dân trong việc giữ gìn trật tự kỷ cương pháp luật, ngăn chặn
và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Ở khía cạnh cụ thể, tiếp công
dân là khâu đầu tiên, là tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng giải
quyết khiếu nại, tố cáo.
- Tiếp công dân là một kênh thông tin quan trọng để kiểm tra, giám sát,
đánh giá cán bộ.Trên thực tế, người dân được trực tiếp làm việc, tiếp xúc với
cán bộ, do đó, để đánh giá cán bộ một cách toàn diện, đầy đủ cần thông qua ý
kiến phản hồi của quần chúng. Muốn vậy người lãnh đạo qua công tác tiếp
dân sẽ nắm bắt được đầy đủ thông tin, kiểm tra, đánh giá chính xác cán bộ của
mình. Đảng, Nhà nước phải dựa vào dân, qua sự giám sát, kiểm tra của nhân
dân thì việc đánh giá sàng lọc cán bộ, đảng viên mới được toàn diện.
- Tiếp công dân cũng là một kênh thông tin để đánh giá tính khả thi của
các chính sách, hiệu quả quản lý nhà nước. Đánh giá chính sách là việc xem
xét, nhận định về giá trị các kết quả thu được khi thực thi chính sách. Đánh
giá chính sách được tiến hành trên cơ sở một chính sách đã được hoạch định,
thực thi và có sự phản ánh kết quả trở lại. Đánh giá tính khả thi của chính
sách, tức là trả lời câu hỏi: việc thực thi chính sách có đạt được mục tiêu đề ra
hay không, có đáp ứng được mong muốn, nguyện vọng của các nhóm đối
tượng của chính sách hay không? Các chính sách, cũng như hoạt động quản lý
Nhà nước được thực thi trên thực tế sẽ tác động trực tiếp đến cuộc sống của
người dân. Do vậy, cần có sự phản hồi của người dân để đánh giá chính sách.
Trên cơ sở những thông tin phản hồi giúp cho Đảng, Nhà nước nắm bắt
được kịp thời kết quả việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật Nhà nước ở các cấp, các ngành, từ đó cơ quan nhà nước nắm được các
thông tin quan trọng để tự mình kiểm tra lại những việc làm, hạn chế những
sơ hở thiếu sót trong việc thực hiện các chủ trương chính sách và các quyết
định quản lý điều hành của các cấp chính quyền để có biện pháp chấn chỉnh,
sửa đổi bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật.
7
- Tiếp công dân là tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền tự do, dân
chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc, xung đột trong xã
hội.
Khi người dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
mới đến cơ quan nhà nước để khiếu nại, tố cáo. Nếu cơ quan nhà nước không
tiếp dân và giải quyết kịp thời sẽ tạo nên bức xúc của người dân đối với cơ
quan nhà nước. Nếu những bức xúc đó không được giải quyết sẽ phát sinh các
vấn đề lớn về mặt xã hội, người dân dễ bị kích động bởi các thế lực thù địch,
có các hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước. Do vậy, làm tốt công tác tiếp
công dân không những tạo điều kiện cho người dân được thực hiện quyền tự
do, dân chủ mà thông qua đó giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
1.3 .Vai trò của công tác tiếp công dân
Thứ nhất, tiếp công dân để tiếp nhận các thông tin, những vấn đề liên
quan đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, công tác quản lý của cơ quan đơn vị.
Đây là sự thể hiện sinh động bản chất dân chủ, Nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Mục tiêu này cũng là một bước cụ thể hóa quyền tham gia quản
lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và
địa phương. Mặt khác điều này còn là sự hiện thực hóa phương châm “dân
biết, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác quản lý và thực tiễn cuộc sống.
Thứ hai, tiếp công dân để tiếp nhận các khiếu nại tố cáo của công dân.
Điều này nhằm đảm bảo thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân đã được Hiến pháp quy định. Qua đó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ,
không thể tách rời giữa công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Biểu hiện là việc tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo thông qua tiếp công dân sẽ
giúp công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, đơn vị được tiến
hành một cách có trật tự và hiệu quả.
8
Thứ ba, tiếp công dân để hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo.
Nội dung này thể hiện rõ yêu cầu mang tính bắt buộc đặt ra đối với các
cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước trong quan hệ với công dân
đó là phải luôn luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ
chặt chẽ với nhân dân và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Đồng thời điều này
cũng là để khắc phục những hạn chế bất cập trong việc thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo của công dân, qua đó, tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức pháp
luật nói chung, pháp luật khiếu nại, tố cáo nói riêng đối với quần chúng nhân
dân.
Thứ tư, tiếp công dân là một yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình
hoàn thiện công tác quản lý.
Xây dựng và bảo đảm thực hiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân trước hết mọi quyền lợi chính sách phải hướng để bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của dân. Bởi vậy mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát
từ nhân dân, từ thực tế cuộc sống của cộng đồng dân cư và sau đó phải trở về
phục vụ bảo đảm cho cộng đồng dân cư. Công tác quản lý của các cấp, các
ngành cần phải có được thông tin ban đầu trong thiết kế chính sách và cần có
thông tin phản hồi về tính thực tiễn của chính sách, những yếu kém, khiếm
khuyết của chính sách, những hạn chế của công tác quản lý cũng như đội ngũ,
cơ cấu tổ chức bộ máy vận hành thực thi chính sách. Tiếp công dân là một
kênh có nhiều điều kiện thuận lợi giúp cho nhà quản lý có thể tự điều chỉnh
được những hạn chế, khiếm khuyết trên. Do tính cụ thể, tính rộng khắp và
tính đa dạng của cộng đồng dân cư, thông tin đến với quản lý qua tiếp công
dân từ nhiều phía, nhiều đối tượng. Từ đó các cấp các ngành thấy được một
thực tế sinh động và sự phù hợp không phù hợp của chính sách, cơ chế…
Những con số, thông tin hiện tượng do tiếp công dân đưa lại, giúp cho công
tác quản lý về phương diện: điều tra xã hội học, sự phản ứng của dân cư đối
với những vấn đề nhạy cảm của đời sống xã hội; sự phản ánh tình hình thực tế
9
về điều chỉnh của chính sách pháp luật và dự báo những vấn đề phát sinh; Có
được những thông tin về thực trạng cơ chế, bộ máy, con người thực thi chính
sách; Phản ánh sự tin cậy của nhân dân với chính sách, với chế độ, tính ổn
định của cộng đồng dân cư.
Thứ năm, tiếp công dân là một thủ tục trong công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo.
Giải quyết những khiếu kiện, vướng mắc của dân là một trong những
con đường thiết thực để thực hiện, bảo đảm quyền dân chủ và bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân. Trong đó tiếp công dân là một thủ tục không
thể thiếu được của quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Việc tiếp công dân là
một thủ tục trong giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo và xuất hiện không chỉ
một lần, ở một thời điểm mà nó có thể thực hiện ở nhiều thời điểm khác nhau
trong suốt quá trình giải quyết vụ việc:
+ Trước hết, việc tiếp công dân được thực hiện ngay từ thời điểm ban
đầu khi giải quyết vụ việc. Lúc này việc tiếp công dân của cơ quan có thẩm
quyền giải quyết lần đầu nhằm có thể tiếp nhận thông tin để tự điều chỉnh
quyết định hành vi của mình. Tiếp công dân của cơ quan có thẩm quyền giải
quyết ở những lần tiếp theo, để xem xét giải quyết vụ việc theo thẩm quyền
hoặc đôn đốc kiểm tra quá trình giải quyết vụ việc (thi hành quyết định có
hiệu lực, giám sát kiểm tra…).
+ Tiếp công dân được thực hiện trong quá trình xem xét thẩm tra, xác
minh giải quyết vụ việc. Quá trình giải quyết vụ việc, việc cơ quan có thẩm
quyền, thông qua tiếp công dân nhằm thu thập thông tin, thẩm tra xác minh
những thông tin đã thu nhận được và hướng dẫn công dân thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định…Thậm chí
việc tổ chức đối thoại, giải quyết vụ việc cũng có thể được hiểu là việc tiếp
công dân.
+ Tiếp công dân có thể giúp cho vụ việc khiếu nại, tố cáo sớm chấm
dứt. Từ đó vụ, việc được kết thúc “như một con đường của hòa giải”. Thực tế
10
cho thấy nhiều vụ việc được giải quyết chấm dứt ngay trong quá trình tiếp
công dân. Đặc biệt việc tiếp công dân khi giải quyết lần đầu tại nơi có vụ việc
khiếu nại tố cáo xảy ra. Xuất phát từ nội dung này cần tăng cường công tác
tiếp công dân ở cơ sở nhằm chấm dứt, giải quyết ngay từ đầu việc khiếu nại tố
cáo.
Thứ sáu, tiếp công dân giúp các cơ quan thẩm quyền thực hiện chức
năng giám sát, kiểm tra theo quy định của pháp luật.
Thông qua những quy định về đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân
dân các cấp, các tổ chức chính trị- xã hội tham gia vào công tác tiếp công dân
và tổ chức tiếp công dân trong phạm vi công việc của mình chính là một
phương thức giúp cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện việc
kiểm tra giám sát.
1.4 Một số vấn đề lý luận Pháp luật điều chỉnh công tác tiếp công dân
1.4.1 Khái niệm, đặc điểm Pháp luật điều chỉnh công tác tiếp công dân
Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều
4 của Luật Tiếp công dân năm 2013 đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công
dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy
định của pháp luật.
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền tự nhiên của con người trước
những vấn đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình. Hay nói một cách khác, bản chất
của quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi
phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội. Đó là quyền
hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn thế nữa, đó là quyền để bảo
vệ quyền. Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo là hiện tượng khách quan trong đời
sống xã hội. Từ khi có giai cấp, các giai cấp thống trị xã hội với những biện
pháp, cách thức khác nhau để giải quyết hiện tượng này.
11
Ở nước ta, từ trước đến nay, đều ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trong
những quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều
74: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc
khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong
thời hạn pháp luật quy định…”. Quy định này đã được Hiến pháp 2013 sửa
đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể là: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được
bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp
luật. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền
khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
Theo quy định này, khiếu nại, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định của công
dân Việt Nam (những người có quốc tịch Việt Nam) mà đã được công nhận là
quyền con người, được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Khiếu nại và tố cáo là
một trong những phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần giải
quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân. Đây cũng là phương
thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân. Khiếu nại, tố cáo đều hướng tới bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật được thực thi
nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nhà nước
pháp quyền.
Khiếu nại và tố cáo rất khác nhau, việc phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo có
ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền
tố cáo của mình đúng thủ tục và đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, tố cáo; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo
nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tránh nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết
12
khiếu nại, tố cáo. Do đó, ngày 11 tháng 11 năm 2011, Quốc hội Khóa 13 đã
thông qua Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, 02 Luật này đều có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2012 và thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là lần đầu tiên
khiếu nại, tố cáo được tách thành 02 Luật và quy định cụ thể về khái niệm,
thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết quyết rất khác nhau.Và sau đó thì Luật
tiếp công dân số 42/2013/QH13 đã được ban hành vào ngày 25 tháng 11 năm
2013 quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn về trách nhiệm tiếp công dân, quyền và
nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh; việc tổ chức
hoạt động tiếp công dân, trụ sở tiếp công dân của cơ quan tổ chức và các điều
kiện đảm bảo cho hoạt động tiếp công dân.
Về khiếu nại: Theo quy định của Luật Khiếu nại “Khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này
quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ
luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều
2). Trong đó, quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật
cán bộ, công chức được định nghĩa như sau:
- Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để
quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (Khoản 8
Điều 2 Luật Khiếu nại);
- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 9
Điều 2 Luật Khiếu nại);
13
- Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức
thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức (Khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại).
Về tố cáo: Theo quy định của Luật Tố cáo quy định: “Tố cáo là việc
công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 1
Điều 2). Tố cáo được chia làm 02 loại như sau:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (Khoản 2 Điều
2 Luật Tố cáo);
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh
vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với
việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
(Khoản 3 Điều 2 Luật Tố cáo).
Về tiếp công dân: Theo quy định tại Điều 2 Luật tiếp công dân “Tiếp
công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của
Luật Tiếp công dân năm 2013 đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về
việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của
pháp luật. Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân
định kỳ và tiếp công dân đột xuất”.
Có thể nói rằng, đây chính là những cơ sở pháp lý cần thiết để công dân tự
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước những hành vi trái pháp luật
14
của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Đồng
thời cũng là căn cứ pháp lý để người dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám
sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà
nước đồng thời cũng qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, thể hiện đúng bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta - Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
1.4.2. Nguyên tắc của Pháp luật điều chỉnh công tác tiếp công dân
- Việc tiếp công dân phải được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ
quan, tổ chức, đơn vị.
- Việc tiếp công dân phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục
đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy
định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử
trong khi tiếp công dân.
- Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.
15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN TẠI THỊ
TRẤN BẮC HÀ, HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
2.1. Giới thiệu khái quát về huyện Bắc Hà
Bắc Hà là một huyện vùng cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai,
với diện tích tự nhiên hơn 686, 78 km2 , nằm cách thành phố Lào Cai khoảng
70km. Phía Bắc giáp huyện Si Ma Cai và huyện Mường Khương, phía Đông
giáp huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp huyện Bảo Thắng và phía
Nam giáp huyện Bảo Yên.
Huyện Bắc Hà gồm thị trấn Bắc Hà (huyện lỵ) và 20 xã, là nơi sinh sống
của 13 dân tộc anh em, trong đó ngoại trừ thị trấn Bắc Hà và xã Bảo Nhai thì
tất cả các xã còn lại đều thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong chương
trình 135 giai đoạn 2.
Tỉ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm cao, hơn 82% ( dân tộc Mông
47%, Tày 11%, Dao 14%; còn lại là các dân tộc khác). Trình độ văn hóa của
nhân dân trong địa bàn không được cao,chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số
nên nhận thức chưa cao, sự hiểu biết về pháp luật nhà nước còn hạn chế, dẫn
đến khó khăn trong công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại và
các công tác hành chính nhà nước khác gặp không ít khó khăn.
Là địa bàn du lịch, các hoạt động dịch vụ, thương mại đang phát triển
mạnh nên tiềm ần nhiều yếu tố gây mất an ninh trật tự.
2.2. Thực tiễn hoạt động tiếp công dân tại UBND thị trấn Bắc Hà
UBND thị trấn Bắc Hà thành lập Ban tiếp dân với một trưởng ban và một phó
ban.
- Thực hiện Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13, Luật Tố cáo số
03/2011/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11/11/2011; Luật Tiếp công dân và
Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy
16
định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số 76/2012/NĐ-CP
ngày 26 tháng 4 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ và các văn bản hướng
dẫn có liên quan. UBND thị trấn Bắc Hà đã chỉ đạo tổ tiếp công dân, tiếp
nhận hồ sơ tại bộ phận một cửa vào tất cả các ngày hành chính trong tuần.
Công tác tiếp công dân được thực hiện đúng quy trình của pháp luật.
Công chức được phân công tiếp công dân nhiệt tình, chu đáo, giải thích
ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu, không gây phiền hà cho nhân dân đến giao dịch và
làm việc. Trong năm 2016 hoạt động một cửa đã tiếp nhận và giải quyết:
3.071 lượt. Trong đó:
+ Lĩnh vực tư pháp: 2.949 lượt ( thu phí, lệ phí: 40.653.000đ)
+ Lĩnh vực Địa chính: 77 lượt ( thu phí, lệ phí: 2.310.000đ)
+ Lĩnh vực LĐTBXH: 45 lượt
Trong năm 2016, Ban tiếp công dân UBND thị trấn đã tiếp 12 lượt công dân,
cụ thể:
+ Về đất đai, xây dựng: 10 lượt
+ Về chế độ, chính sách: 01 lượt
+ Về pháp luật, kinh tế: 01 lượt
Việc tiếp công dân được ghi vào sổ theo dõi và tiến hành giải quyết theo
đúng trình tự quy định pháp luật
-
Cơ sở vật chất phục vụ công tác tiếp công dân được đầu tư, đã có
phòng tiếp công dân, quy chế tiếp công dân…
Cán bộ, công chức UBND thị trấn Bắc Hà luôn nâng cao tinh thần trách
nhiệm, nhiệt tình với công việc, luôn quan tâm đến lợi ích chính đáng của
người dân, quyền lợi của nhân dân được đặt lên hàng đầu. Trong năm 2016
Ban tiếp dân của UBND thị trấn không nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo
nào; nhận được 02 đơn đề nghị, đều thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND.
Ngoài ra, thực hiện theo kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 01 tháng 03 năm
2016 của UBND huyện Bắc Hà về tuyên truyền pháp luật đợt I; kế hoạch số
17
167/KH-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2016 của UBND huyện Bắc Hà về
tuyên truyền pháp luật đợt II. UBND thị trấn Bắc Hà đã tổ chức tuyên truyền
với rất nhiều nội dung trong đó có Luật bầu cử, Luật dân sư, Luật phí, lệ phí
và còn tuyên truyền về Luật Khiếu nại, Tố cáo, Luật tiếp công dân. Qua
những hoạt động này, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà
nước được tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ, Đảng viên, các ban nghành đoàn
thể và nhân dân thị trấn Bắc Hà, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, nắm bắt
tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó hình thành lối sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật, từ đó hạn chế vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định về
tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, bình
yên, từng bước hạn chế việc gia tăng tội phạm, tệ nạn xã hội,thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội của địa phương.
( Dựa theo báo cáo về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và công tác phòng chống tham nhũng
năm 2016, phương hướng nhiệm vụ năm 2017 của Ủy ban nhân dân thị trấn
Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai).
Việc tiếp công dân được tiến hành vào sổ theo dỗi và giải quyết theo đúng
trình tự quy định của pháp luật.
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác tiếp công dân tại
UBND thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
2.3.1. Thuận lợi
- Đội ngũ cán bộ đang dần được chuẩn hóa, cán bộ trong Ban tiếp dân
được học tập và nâng cao kiến thức qua các đợt tập huấn về công tác tiếp dân
trong huyện cũng như của Tỉnh Lào Cai tổ chức.
- Huyện Bắc Hà đang phát triển mạnh, theo xu thế hội nhập, vì vậy số
lượng vụ việc giải quyết không đơn thuần chỉ còn là của nhân dân trong địa
bàn mà ngoài ra còn có các nhà đầu tư, các doanh nghiệp ngoài huyện, nội
dung các vụ việc đa dạng, phức tạp, nhưng đó cũng chính là cơ hội để cán bộ,
18
chuyên viên trong Ban tiếp dân của Ủy ban có thể nâng cao trình độ của mình
trong công tác tiếp dân, từ đó làm tốt nhiệm vụ được giao.
2.3.2. Khó khăn
-Mặt chủ quan: Kĩ năng của cán bộ, chuyên viên trong Ban tiếp dân
dù đang được bồi dưỡng song vẫn còn chưa được đồng bộ và chuyên nghiệp,
trình độ văn hóa của cán bộ trong Ban còn chưa cao, có đồng chí mới chỉ học
đến trình độ trung cấp. Nên không thể tránh được những hạn chế về mặt
nghiệp vụ.
-Mặt khách quan:
+ Một số công dân không hiểu rõ các quy định của pháp luật về khiếu
nại, tố cáo và các pháp luật khác có liên quan nên dẫn đến khiếu nại, tố cáo
chưa đúng quy định; có trường hợp cố tình liên tục khiếu nại các quyết định
giải quyết khiếu nại cuối cùng, nhưng không đưa ra bằng chứng mới; việc
khiếu nại đòi lại đất có nguồn gốc cũ và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất phát sinh ngày càng nhiều; thái độ của người khiếu nại hết sức gay
gắt, nhưng thiếu nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu chứng lý để chứng minh
việc khiếu nại là có cơ sở.
+Công tác tiếp công dân có tính chất phức tạp, mức độ căng thẳng
nhưng chế độ, chính sách cho cán bộ tiếp dân thấp, chưa đủ tạo động lực nâng
cao chất lượng cán bộ tiếp dân.( Ví dụ: Điển hình là các giải quyết liên quan
đến lĩnh vực đất đai, do cơ chế và chính sách thay đổi, dẫn đến khó khăn
trong việc thực hiện, nhất là khiếu kiện về quyền sử dụng đất và đơn giá bồi
thường khi thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển kinh tế, xã hội)
2.4. Đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân tại UBND thị trấn Bắc Hà,
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
2.4.1 .Ưu điểm
- Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân
trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật và công tác phòng chống tham nhũng
19
- Thực hiện nghiêm túc triển khai thực hiện đề án đổi mới công tác tiếp
công dân theo Quyết định 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính
phủ; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ vê chấn
chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- UBND thị trấn xây dựng nội quy tiếp công dân theo Quyết định số:
125/QĐ-UBND ngày 04/02/2015 của chủ tịch UBND huyện Bắc Hà.
- Là địa bàn có trình độ dân trí tương đối cao so với mặt bằng chung
của huyện nên có những yếu tố thuận lợi cho công tác tiếp công dân.
- Trang thiết bị phục vụ cho công tác tiếp công dân đảm bảo, có phòng
tiếp dân, có tủ sách pháp luật để người dân tham khảo, từ đó nâng cao nhận
thức pháp luật trong nhân dân.
- Bên cạnh đó UBND thị trấn Bắc Hà luôn xác định công tác tiếp dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là nhiệm vụ quan trọng trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo. điều hành thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra
đôn đốc bộ phận tiếp dân nâng cao vai trò trách nhiệm, kịp thời trấn chỉnh
những biểu hiện lệch lạc, sai phạm trong công tác tiếp công dân và giải quyết
Khiếu nại- tố cáo, đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, UBND thị trấn Bắc Hà đãcó
nhiều cố gắng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền,
phát huy tác dụng của tổ hòa giải cơ sở. Tổ chức họp ban công tác Mặt trận tổ
quốc dân phố đề trưng cầu ý kiến của nhân dân nhằm giúp cho việc giải
quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân được thuận lợi, khách quan, công
khai dân chủ và đúng pháp luật. Tạo lòng tin trong nhan dân đối với cấp ủy và
chính quyền địa phương.
Và trong năm 2016, tổ tiếp dân đã nhận tổng số 02 đơn đề nghị của
nhân dân, giảm 06 đơn so với năm 2015, đây có thể coi là một bước tiến mới,
thể hiện sự cải tiến rõ rệt trong công tác tiếp công dân của Ủy ban nhân dân
thị trấn Bắc Hà.
2.4.2. Hạn chế
20
- Cán bộ làm công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo còn kiêm nhiệm
nhiều việc
- Đối với công dân hiện tượng lạm dụng dân chủ vẫn còn tình trạng
phát ngon còn thiếu xây dựng tại công sở, một số công dân đến giao dịch tại
cơ quan vẫn còn chưa chấp hành văn hóa công sở. Công dân đến liên hệ làm
thủ tục hành chính không mang đủ giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp
luật.
- Nhận thức một số bộ phận nhân dân chưa cao, chưa hiểu rõ pháp luật
của nhà nước gây không ít khó khăn trong việc thực hiện công tác tiếp công
dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Là địa bàn đô thị du lịch, dịch vụ đang phát triển nên tiềm ẩn nhiều
yếu tố gât mất ổn định về an ninh trật tự.
-Công tác tiếp công dân có tính chất phức tạp, mức độ căng thẳng
nhưng chế độ, chính sách cho cán bộ tiếp dân thấp, chưa đủ tạo động lực nâng
cao chất lượng cán bộ tiếp dân.
- Việc huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong quá
trình hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế. Công tác đối
thoại trực tiếp với nhân dân còn ít.
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TIẾP
CÔNG DÂN TẠI UBND THỊ TRẤN BẮC HÀ, HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH
LÀO CAI
21
3.1.Định hướng nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân tại UBND thị trấn
Bắc Hà
- Chỉ đạo bộ phận một cửa tổ chức tiếp công dân theo quy định của
Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo
- Cán bộ tiếp công dân phải nêu cao vai trò trách nhiệm, tiếp thu và trả
lời những vấn đề kiến nghị của công dân. Trong quá trình giải quyết phải đảm
bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Thực hiện tốt công tác chứng
thực tại bộ phận một cửa theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, ngày 16/02/2015
của Chính phủ về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản
chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
- Chỉ đạo bộ phận một cửa tổ chức tiếp công dân theo quy định của
Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo; Luật tiếp công dân; Nghị định sô 89/NĐ-CP
của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều về giải quyết đơn thư thuộc thẩm
quyền, giải quyết của Chủ tịch UBND. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp
luật đến mọi tầng lớp nhân dân. Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, Nghị định số
75/2012/NĐ-CP và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm
2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khiếu nại
và Luật tố cáo; Nghị định 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của
Chính phủ và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
- Phối hợp với các tổ chức đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân
thực hiện đúng đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Giải
quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền và chuyển các vụ việc theo đúng quy
định của pháp luật.
- Tiếp tục tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước đến cán bộ, Đảng viên và nhân dân trong thị trấn
Bắc Hà. Tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tuyên truyền, công tác
tiếp dân cho đội ngũ cán bộ.
3.2. Một số kiến nghị
Thứ nhất, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trước hết là nhờ vai
22
trò lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền. Các cấp ủy
có nghị quyết lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các cấp chính
quyền có kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, phân công
trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể để giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ
việc khiếu nại, tố cáo. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên
kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố
cáo thuộc thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, các cơ quan nhà nước phải
thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khách quan, làm rõ nguyên nhân phát sinh
khiếu nại, tố cáo, kết luận rõ đúng, sai, đề ra phương án giải quyết phù hợp,
có lý, có tình.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước phải củng cố và chấn chỉnh công tác tiếp
công dân, thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân, bố trí cán bộ có đủ năng lực,
trình độ, kinh nghiệm, phẩm chất đảm nhiệm công tác tiếp dân. Những vụ
việc phức tạp các đồng chí lãnh đạo phải đích thân tiếp dân, đối thoại với
công dân và trực tiếp chỉ đạo giải quyết với tinh thần "giải quyết để bảo đảm
yên dân chứ không giải quyết xong việc". Khi xảy ra khiếu kiện đông người
thì các cơ quan nhà nước phải tăng cường sự phối hợp để tiếp dân và vận
động công dân trở về địa phương, đồng thời, có biện pháp giải quyết kịp thời,
dứt điểm, không để kéo dài, tái khiếu kiện.
Thứ ba, các cơ quan thanh tra Nhà nước tăng cường thanh tra trách
nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng và cán bộ, công chức có
trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, tập trung vào
những nơi có nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp, đông người,
phức tạp; chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thấp; không chấp
hành nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên... để làm rõ trách nhiệm của tập thể,
cá nhân, kiến nghị chấn chỉnh những tồn tại, yếu kém, xử lý công khai,
nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật
trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương, tăng cường
hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
23
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp
luật của cán bộ, nhân dân; tăng cường vận động, thuyết phục công dân chấp
hành pháp luật và các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Đối với các trường hợp lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động, gây
rối thì phải tiến hành làm rõ, xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự đồng bộ, nâng
cao tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật; chấn chỉnh, tăng
cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đất
đai, đầu tư, xây dựng, tài chính, ngân sách, chính sách xã hội; thực hiện tốt
công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia
vào hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân;
đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham
nhũng nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, hài hòa, tạo động lực mới
trong phát triển kinh tế - xã hội và hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu
lực pháp luật; thường xuyên rà soát và tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm
các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài. Tăng cường công tác thanh tra
trách nhiệm thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc thực hiện các quy định
của pháp luật về công tác tiếp dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết
khiếu nại, tố cáo khiếu nại, tố cáo.
Thứ bảy, thực hiện tốt nội quy tiếp công dân đã xây dựng của UBND thị
trấn Bắc Hà đã làm dựa trên Quyết định số : 125/QĐ-UBND ngày
04/02/2015 của Chủ tịch UBND huyện Bắc Hà.
Thứ tám, đối với những vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được xem xét, giải
quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng người dân tiếp tục đến khiếu nại, tố
cáo, phản ánh về những nội dung đã được xem xét, giải quyết và trả lời theo
đúng quy định thì tiến hành ra thông báo từ chối tiếp công dân theo quy định
về tiếp công dân.
24
Thứ chín, cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh
vực giải quyết khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Có chính sách động viên khen thưởng kịp thời những tập
thể, cá nhân có thành tích tốt trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong hoạt
động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kiên quyết xử lý
những cán bộ công chức có hành vi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ mười, tăng cường và tổ chức thực hiện tốt việc giám sát chuyên đề
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân theo quy
định. Việc tổ chức giám sát cần tập trung vào các vụ việc cụ thể, khiếu kiện
phức tạp kéo dài, đông người... Tránh giám sát chung chung, theo định kỳ tại
cơ quan.
Thứ mười một, cần đặc biệt quan tâm đến việc bố trí, sắp xếp cán bộ,
công chức làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư. Ngoài nghiệp vụ chuyên
môn, cán bộ, công chức còn phải là những người có bản lĩnh, trung thực, có
tinh thần trách nhiệm cao; đồng thời biết kiên nhẫn, lắng nghe ý kiến của dân,
giải thích cho dân rõ về pháp luật và hướng dẫn công dân thực hiện đúng quy
trình thủ tục.
Thứ mười hai, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi cán bộ làm công tác tiếp
dân không chỉ có trình độ chuyên môn vững, am hiểu pháp luật, nắm vững
các chế độ, chính sách, có bản lĩnh chính trị, kiên trì, trung thực, công tâm,
khách quan mà còn phải có tấm lòng nhân hậu, bao dung, cảm thông chia sẻ,
gần gũi với nhân dân. Đây vừa là yêu cầu nhiệm vụ, vừa là mong muốn, thể
hiện sự quan tâm sâu sắc của đồng chí Chủ tịch UBND thị trấn, các đồng chí
lãnh đạo UBND thị trấn đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp
công dân nói chung, cán bộ, công chức thuộc Ban Tiếp công dân thị trấn nói
riêng. Lĩnh hội sâu sắc tinh thần đó, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác
25