Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của ủy ban nhân dân tỉnh hà tĩnh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.51 KB, 80 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG

BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2013


2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG

BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY


Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lê Văn Long.

HÀ NỘI- NĂM 2013


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự giúp
đỡ chân thành, nhiệt tình của TS. Lê Văn Long và các thầy cô trong Tiểu ban Lý
luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội. Các số
liệu trong Luận văn là trung thực.
Tôi xin cảm ơn TS. Lê Văn Long và các thầy cô trong Tiểu ban Lý luận và
lịch sử Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà nội đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./.


4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU


6

Chương 1

10

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG
HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH HIỆN NAY
1.1. Khái niệm, nội dung, quy trình ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hiện nay
1.2. Khái niệm, nội dung bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hiện
nay
1.3. Điều kiện, ý nghĩa của việc bảo đảm pháp chế đối với hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

10

Chương 2

36

18

30

THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

2.1 Kết quả đạt được của việc bảo đảm pháp chế trong hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh hiện nay

36

2.2 Tồn tại, hạn chế của việc bảo đảm pháp chế trong hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh hiện nay

45


5

2.3 Nguyên nhân của kết quả và tồn tại, hạn chế đối với việc bảo

51

đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
Chương 3

58

GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG BAN
HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động ban hành, kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật tỉnh Hà Tĩnh


58

3.2 Tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả các quy định về ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

59

3.3 Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm
công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát việc thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật ở tỉnh Hà Tĩnh

61

3.4 Thường xuyên rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp
luật ở tỉnh Hà Tĩnh

65

3.5 Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật nói chung,
phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh nói riêng

66

3.6 Kịp thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh Hà Tĩnh

68


KẾT LUẬN

72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

78


6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa
của việc nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật của cán bộ và nhân dân đối với việc
xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Chính Người đã trực tiếp chỉ đạo
thiết lập một nền pháp chế cách mạng ở Việt Nam. Đó là một nền pháp chế
thống nhất giữa các cơ quan trong toàn bộ bộ máy Nhà nước, vừa đảm bảo sự chỉ
đạo tập trung thống nhất của trung ương nhằm xây dựng một kỷ cương nhà
nước, một trật tự xã hội nghiêm minh, vừa đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ
động của địa phương cũng như của mỗi cơ quan cán bộ và người dân.
Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp luật và phải được
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi cán bộ, công chức, viên chức
phải tôn trọng và chấp hành pháp luật trong khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất
của các văn bản quy phạm pháp luật.
Nguyên tắc pháp chế đã trở thành nguyên tắc hiến định ở nước ta. Điều 12
Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [19].
Và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Chính
trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 khẳng định: Phát huy dân chủ, tăng cường pháp
chế trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật [1].


7

Trong những năm qua, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
(gồm quyết định và chỉ thị) của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Hoạt động này đã từng bước được chương trình hoá; quy
trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nghiêm túc
hơn; việc tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan và của đối tượng chịu
sự tác động của văn bản bước đầu được chú trọng. Chất lượng ban hành văn bản
ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban
nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cũng đang bộc lộ nhiều mặt hạn chế. Việc tuân thủ quy
trình thủ tục trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với một
số văn bản chưa đầy đủ; Tính khoa học và tính khả thi của một số văn bản chưa
cao. Thậm chí vẫn còn có những văn bản không đảm bảo tính hợp hiến, hợp
pháp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Tình hình trên cho thấy rất cần thiết phải có những công trình nghiên cứu,
đánh giá và đề ra được những giải pháp mang tính khoa học, khả thi nhằm góp
phần giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xây dựng được một hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật thống nhất, minh bạch và hiệu quả.
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn chủ đề “Bảo đảm pháp chế trong hoạt
động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết liên quan
đến vấn đề bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa như: Giáo trình lý luận về Nhà
nước và pháp luật năm 2005, 2010; Sách tham khảo có nội dung về pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội


8

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay của TS. Đỗ Ngọc
Hải; bài viết: “Văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật trái pháp luật” của TS.Bùi Thị Đào; Bài viết: “Công tác ban hành
văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh: Thực trạng và
giải pháp” của TS.Phạm Tuấn Khải và các bài nghiên cứu khoa học của PGS.TS.
Nguyễn Minh Đoan, PGS.TS. Nguyễn Văn Động và TS. Nguyễn Thị Hồi …liên
quan đến nội dung pháp chế. Những công trình khoa học, những tác phẩm trên
có giá trị lớn, tầm vĩ mô về mặt lý luận. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu cụ thể, chi tiết về nội dung “Bảo đảm pháp chế trong hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh”. Vì
vậy, trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu những công trình khoa học và các tác phẩm
có liên quan đến nội dung bảo đảm pháp chế và qua hoạt động thực tiễn ở Hà
Tĩnh đề viết Luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn nghiên cứu pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Uỷ ban nhân dân. Tuy nhiên, đây là một vấn đề lớn, phức tạp, vì
vậy, trong khuôn khổ một luận văn cao học luật, tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn
đề bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
4. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể
của Luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ

Chí Minh về nhà nước, pháp luật, pháp chế và các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về pháp luật, pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam.


9

Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê,...
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là đề xuất được những giải pháp khả thi
nhằm tiếp tục bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn có nhiệm vụ luận giải cơ sở lý luận
của việc bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay; đánh giá thực trạng và đề xuất
các giải pháp nhằm tiếp tục bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
6. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận của việc bảo đảm pháp chế
trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh hiện nay; Chương 2. Thực trạng bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay;
Chương 3. Giải pháp bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.


10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ TRONG HOẠT
ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP TỈNH HIỆN NAY
1.1. Khái niệm, nội dung, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hiện nay
1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh hiện nay
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành
hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy
định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có
hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các
quan hệ xã hội” [23].
Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
Văn bản quy phạm pháp luật được chia thành văn bản quy phạm pháp luật
của Trung ương và văn bản quy phạm pháp luật của địa phươg. Văn bản quy
phạm pháp luật của Trung ương được ban hành theo trình tự, thủ tục quy định
của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 được Quốc hội khóa
XII thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2009. (Trước đây theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996,
được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2002).
Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được ban hành
theo trình tự, thủ tục được quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp


11

luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được Quốc hội khóa XI, kỳ họp

thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm
2005.Về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân được quy định như sau:
“Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
là văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền,
trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có
hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
[22].
Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân năm 2004.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân được ban hành dưới
hình thức nghị quyết; Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân được
ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị.
Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân được quy định tại Điều 1 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nhằm phân biệt với văn bản
quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương ban hành. Khái niệm
trên cũng giúp ta phân biệt văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp
luật là những văn bản do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành trên cơ sở
các quy định của pháp luật nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể
để áp dụng đối với từng trường hợp nhất định. Qua các khái niệm trên về văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân chúng ta thấy
các đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật như sau:


12

- Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban
hành theo hình thức do pháp luật quy định;

- Được ban hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;
- Có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối
tượng hoặc một nhóm đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng
địa phương;
- Được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế.
Từ những trình bày ở trên, có thể khẳng định: Văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là văn bản chứa đựng qui phạm pháp luật, ban
hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật quy định, nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước tại địa phương, được
Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bảo đảm thực hiện nhiều lần trong thực tế đời
sống.
1.1.2. Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản quy phạm pháp luật là để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Do vậy, thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh về mặt nội dung phụ thuộc vào nội dung quản
lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Nội dung quản lý nhà nước của Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại các điều từ Điểu 82 đến Điều 96 của
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003. Cụ thể: “Trong
lĩnh vực kinh tế, Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:


13

1. Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành,
phát triển đô thị và nông thôn trong phạm vi quản lý; xây dựng kế hoạch dài hạn
và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trình Hội đồng nhân dân
thông qua để trình Chính phủ phê duyệt;
2. Tham gia với các bộ, ngành trung ương trong việc phân vùng kinh tế; xây

dựng các chương trình, dự án của bộ, ngành trung ương trên địa bàn tỉnh; tổ chức
và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương trình, dự án được giao;
3. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; lập dự toán thu, chi
ngân sách địa phương; lập phương án phân bổ dự toán ngân sách của cấp mình
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; lập dự toán điều chỉnh ngân sách
địa phương trong trường hợp cần thiết; quyết toán ngân sách địa phương trình
Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét theo quy định của pháp luật;
4. Chỉ đạo, kiểm tra cơ quan thuế và cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ
thu ngân sách tại địa phương theo quy định của pháp luật;
5. Xây dựng đề án thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức
huy động vốn trình Hội đồng nhân dân quyết định;
6. Xây dựng đề án phân cấp chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội của địa phương theo quy định của pháp luật để trình Hội
đồng nhân dân quyết định; tổ chức, chỉ đạo thực hiện đề án sau khi được Hội
đồng nhân dân thông qua;
7. Lập quỹ dự trữ tài chính theo quy định của pháp luật trình Hội đồng nhân
dân cùng cấp và báo cáo cơ quan tài chính cấp trên;


14

8. Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn góp của Nhà nước tại
doanh nghiệp và quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai tại địa phương theo quy
định của pháp luật” [21].
Điều 82 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003.
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh cũng được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 tại Điều 13 và Điều 14, theo đó:
- Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh được ban hành để thực hiện chủ
trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm

nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao
thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du
lịch, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế, xã hội, khoa
học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp
luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa
bàn tỉnh quy định tại các điều 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94 và
95 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy
phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành để quy định biện
pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan,
đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong
việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân
cùng cấp và quyết định của mình.


15

1.1.3. Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân
dân tỉnh Hà Tĩnh
Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là
một lĩnh vực hoạt động phức tạp, vừa đảm bảo những quy định chung vừa đảm
bảo tính đặc thù, cụ thể: Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh được quy định từ Điều 35 đến Điều 40 của Luật ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và quy
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
cũng phải theo quy trình đó.
- Đối với việc lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng quyết
định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh:
a) Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị hằng năm của Uỷ ban nhân

dân tỉnh được xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh
chủ trì, phối hợp với cơ quan tư pháp lập dự kiến chương trình xây dựng quyết
định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và trình Uỷ ban nhân dân quyết định tại phiên
họp tháng một hằng năm của Uỷ ban nhân dân;
b) Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị phải xác định tên văn bản,
thời điểm ban hành, cơ quan soạn thảo văn bản;
Mặt khác, trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân quyết định điều
chỉnh chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị.


16

- Về việc soạn thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thì tuỳ
theo tính chất và nội dung của quyết định, chỉ thị, Uỷ ban nhân dân tổ chức việc
soạn thảo hoặc phân công cơ quan soạn thảo quyết định, chỉ thị; cơ quan soạn
thảo có nhiệm vụ khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương;
nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và thông tin, tư liệu có
liên quan đến dự thảo; xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định, chỉ thị;
xác định văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay
thế, hủy bỏ, bãi bỏ; tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến và chỉnh lý dự thảo
quyết định, chỉ thị.
- Đối với việc lấy ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân
dân tỉnh: Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, chỉ thị, cơ
quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu
sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị. Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy
ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày
nhận được dự thảo quyết định, chỉ thị. Trong trường hợp lấy ý kiến của đối

tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị thì cơ quan lấy ý kiến có
trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít
nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến
góp ý vào dự thảo quyết định, chỉ thị.
- Về việc thẩm định dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh:
Dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh phải được cơ quan tư pháp
của tỉnh thẩm định trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh. Chậm nhất là mười lăm
ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân tỉnh họp , cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự


17

thảo quyết định, chỉ thị đến cơ quan tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gửi thẩm định
bao gồm: a) Công văn yêu cầu thẩm định; b) Tờ trình và dự thảo quyết định, chỉ
thị; c) Bản tổng hợp ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị; d) Các tài liệu có liên
quan. Phạm vi thẩm định bao gồm: a) Sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi
điều chỉnh của dự thảo quyết định, chỉ thị; b) Tính hợp hiến, hợp pháp và tính
thống nhất của dự thảo quyết định, chỉ thị với hệ thống pháp luật; c) Ngôn ngữ,
kỹ thuật soạn thảo văn bản. Cơ quan tư pháp có thể đưa ra ý kiến về tính khả thi
của dự thảo quyết định, chỉ thị. Chậm nhất là bảy ngày trước ngày Uỷ ban nhân
dân họp, cơ quan tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo.
Về hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị trình Uỷ ban nhân dân tỉnh: Cơ quan
soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị đến Uỷ ban nhân dân chậm nhất
là năm ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp; chủ tịch Uỷ ban nhân dân chỉ đạo
việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị để chuyển đến các thành viên Uỷ
ban nhân dân chậm nhất là ba ngày trước ngày Uỷ ban nhân dân họp. Hồ sơ dự
thảo quyết định, chỉ thị bao gồm: a) Tờ trình và dự thảo quyết định, chỉ thị; b)
Báo cáo thẩm định; c) Bản tổng hợp ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị; d) Các
tài liệu có liên quan.
- Đối với trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ

ban nhân dân tỉnh. Việc xem xét, thông qua dự thảo quyết định, chỉ thị tại phiên
họp của Uỷ ban nhân dân được tiến hành theo trình tự sau: a) Đại diện cơ quan
soạn thảo trình bày dự thảo quyết định, chỉ thị; b) Đại diện cơ quan tư pháp trình
bày báo cáo thẩm định; c) Uỷ ban nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự
thảo quyết định, chỉ thị. Dự thảo quyết định, chỉ thị được thông qua khi có quá


18

nửa tổng số thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành. Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân thay mặt Uỷ ban nhân dân ký ban hành quyết định, chỉ thị.
1.2. Khái niệm, nội dung bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hiện nay
1.2.1. Khái niệm bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Trong các mối quan hệ khác nhau, pháp chế có nội dung riêng, cụ thể, tạo
thành pháp chế trong lĩnh vực ấy. Vì thế, trong hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, pháp chế có những nội dung đặc
thù. Pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh là một bộ phận của pháp chế trong lĩnh vực lập pháp, lập quy
nói riêng và nền pháp chế nói chung. Khi đề cập đến pháp chế trong hoạt động
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải đặt
trong yêu cầu chung của pháp chế. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật là giai đoạn đầu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mang tính sáng tạo,
hình thành hệ thống quy phạm pháp luật phản ánh đời sống chính trị-xã hội ở địa
phương. Do vậy, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ
một cách nghiêm chỉnh về trình tự, thủ tục theo luật định. Hoạt động ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là sự cụ thể hóa các
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, thể chế hóa các nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà

nước ở địa phương
Bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là đòi hỏi trong việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp; Luật ban hành văn bản quy


19

phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;… Nói cách khác, văn bản quy phạm pháp luật
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành phải hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với
hệ thống pháp luật hiện hành, phải bảo đảm tính khả thi và có hiệu quả trong
thực tiễn. Nhằm tạo ra tính pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố
sau:
-Văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành phải
đúng hình thức là quyết định, chỉ thị;
- Văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành phải
theo trình tự, thủ tục của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004;
- Văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành phải
chứa đựng các quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật); được áp dụng
nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng và có hiệu lực trong
phạm vi địa phương;
- Văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành được
Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh còn
phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Khi phát hiện văn
bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội

đồng nhân dân cấp tỉnh thì cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền phải kịp
thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ.


20

Như vậy, bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là sự đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các cá nhân được Nhà nước trao quyền trong quá trình xây
dựng, ban hành các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải chấp
hành nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác và tự giác các quy định trong Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm
2004 và các văn bản quy phạm pháp luật khác để cho các văn bản bảo đảm tính
hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Mọi vi
phạm pháp luật trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều bị xử lý
theo pháp luật
1.2.2. Nội dung bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của mình, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cần đáp ứng các nội dung sau
đây:
Một là, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng chương
trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thỉ
của Uỷ ban nhân dân tỉnh được xây dựng hàng năm. Việc lập chương trình xây
dựng quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh nhằm tạo ra tính chủ động,
tính thống nhất và sự sáng tạo của các chủ thể có quyền đề xuất sáng kiến ban
hành văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của
ngành hoặc địa phương.
Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh do
Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành vào tháng 01 hàng năm. Tuy nhiên, chương trình

này có thể được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và yêu cầu của quản lý nhà
nước ở từng thời điểm. Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc được quy định trong


21

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân năm 2004.
Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản
quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh với hệ thống pháp luật hiện hành.
Tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh được
thể hiện ở chỗ: quyết định, chỉ thị không được trái với quy định cụ thể của Hiến
pháp và không được trái với tinh thần của Hiến pháp. Để bảo đảm văn bản quy
phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không trái với Hiến pháp thì khi
ban hành văn bản cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định văn bản phải
nắm vững, đối chiếu một cách khách quan, thận trọng, chính xác các nội dung và
nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp.
Tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh
là sự phù hợp về nội dung và hình thức của văn bản với quy định của hệ thống
pháp luật hiện hành. Tính hợp pháp được thể hiện ở hai khía cạnh: văn bản phải
bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật và nội dung
văn bản phải phù hợp với hình thức văn bản và thẩm quyền ban hành văn bản đó.
Để bảo đảm việc tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống
pháp luật, đòi hỏi văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
phải phù hợp với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên đã ban hành, ngoài ra còn phải phù hợp với nghị quyết của Hội
đồng nhân dân tỉnh.
Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành có nội
dung phù hợp với hình thức và thẩm quyền ban hành văn bản là văn bản được
ban hành đúng thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức. Những quy

định này được thể hiện trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân năm 2003 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân


22

dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004. Như vậy, trong phạm vi nhất định, cơ quan,
người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ được ban hành
văn bản trong giới hạn cho phép nhằm thực thi pháp luật ở địa phương, không
được ban hành văn bản vượt quá thẩm quyền.
Tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là trong cùng
một lĩnh vực hoặc đối tượng điều chỉnh thì các quy phạm pháp luật phải thống
nhất với nhau và không có mâu thuẫn giữa các quy phạm đó. Tính thống nhất
của văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện theo hai chiều: chiều dọc và chiều
ngang. Theo chiều dọc thì hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp trên
xuống cấp dưới thống nhất với nhau. Còn theo chiều ngang thì hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật của cùng một cơ quan ban hành phải thống nhất với
nhau. Văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh còn phải phù hợp với nghị quyết của
Hội đồng nhân dân tỉnh, bởi vì Uỷ ban nhân dân tỉnh là cơ quan chấp hành của
Hội đồng nhân dân theo luật định. Việc bảo đảm tính thống nhất theo chiều
ngang của các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp với
nhau về từng lĩnh vực cụ thể phải đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, không mâu
thuẫn, chồng chéo lẫn nhau. Tuy nhiên, khi ban hành văn bản quy phạm pháp
luật thì Uỷ ban nhân dân từng địa phương có những quy định mang tính đặc thù,
đặc điểm của từng vùng, miền nhưng không được trái với Hiến pháp và pháp
luật.
Ba là, đảm bảo sự tham gia của các cơ quan, tổ chức liên quan vào quá
trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan và các đối tượng chịu sự tác
động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đảm bảo tính dân

chủ, công khai, minh bạch trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Công khai minh bạch hóa, dân chủ hóa


23

hoạt động lập pháp, lập quy là một đòi hỏi tất yếu trong xây dựng nhà nước pháp
quyền của quản lý nhà nước. Việc tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân liên quan đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh là một trong những yêu cầu quan trọng, nhất là các văn bản liên quan
đến các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ hoặc phạm vi đối tượng chịu sự tác
động trực tiếp của văn bản. Đây là yêu cầu mang tính dân chủ rộng rãi, bảo đảm
đề nhân dân phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của mình đối với từng cơ chế,
chính sách cụ thể liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, mặt
khác, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, giám sát các hoạt
động của bộ máy nhà nước một cách chặt chẽ, có hiệu quả.
Bốn là, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
tỉnh tuân thủ, chấp hành đúng thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục luật định.
- Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh
phải tuân thủ, chấp hành đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
năm 2004, bao gồm 2 khía cạnh: thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình
thức.
Thẩm quyền nội dung chỉ ra chủ thể luật định được phép ban hành văn bản
về những vấn đề gì? (phạm vi). Thẩm quyền hình thức cho phép hiểu chủ thể có
thẩm quyền được quy định những vấn đề gì về nội dung luật định được ban hành
văn bản dưới hình thức nào. Khi điều chỉnh một vấn đề pháp lý, cơ quan có thẩm
quyền phải sử dụng đúng hình thức văn bản mà mình ban hành (Ví dụ, Uỷ ban
nhân dân chỉ có thể ban hành quyết định, chỉ thị). Nếu cơ quan có thẩm quyền
ban hành văn bản không tuân theo nguyên tắc này, thì văn bản đó được coi là trái

thẩm quyền về hình thức và phải bị xử lý theo quy định. Do vậy, trong hoạt
động quản lý nhà nước, việc tuân thủ thẩm quyền về hình thức là bảo đảm tính


24

nghiêm minh trong kỷ luật, kỷ cương hành chính, thể hiện tính pháp chế trong
hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc chấp hành quy định về sự lựa chọn hình thức văn bản là một biện
pháp hữu hiệu trong quản lý nhà nước, nhằm đẩy lùi tình trạng hiện nay là cơ
quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thường sử dụng các
hình thức văn bản hành chính thông thường như công văn, thông báo… để đặt ra
các quy phạm pháp luật trái quy định.
Theo Điều 1 của Luật 2004 thì chỉ có tập thể Uỷ ban nhân dân mới có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan chuyên môn của
Uỷ ban nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân không có thẩm quyền đặt ra các quy
phạm pháp luật.
Về thẩm quyền ban hành văn bản về mặt nội dung là rất quan trọng trong
quản lý nhà nước. Bởi vì, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật xuất
phát từ thẩm quyền quản lý Nhà nước. Nội dung của văn bản quy phạm pháp
luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2004 (Điều 13, Điều 14) và các luật chuyên ngành khác như: Luật
giáo dục năm 2005,…Trong phạm vi luật định, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ
được ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền về nội dung, phạm
vi cho phép, nếu vượt ra khỏi nội dung quy định là trái thẩm quyền nội dung và
phải bị kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Để bảo đảm pháp chế, văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh phải ban hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Việc soạn thảo, ban
hành quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được

thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:


25

+ Trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo: Tập hợp, hệ thống, nghiên
cứu các chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, các tư liệu, văn bản
có liên quan. Tổ chức việc khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa
phương mà văn bản cần điều chỉnh, chuẩn bị đề cương, xây dựng dự thảo văn
bản; lấy ý kiến tham gia vào dự thảo, xây dựng tờ trình, gửi hồ sơ thẩm định theo
yêu cầu, hoàn chỉnh hồ sơ để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phiên họp thường kỳ
của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
+ Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật: Dự thảo quyết định, chỉ thị của
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải gửi đến Sở Tư pháp để thẩm định theo yêu cầu.
Phạm vi thẩm định bao gồm: Sự cần thiết phải ban hành văn bản; đối tượng,
phạm vi điều chỉnh của dự thảo quyết định, chỉ thị; tính hợp hiến, hợp pháp và
tính thống nhất của dự thảo quyết định, chỉ thị với hệ thống pháp luật; ngôn ngữ,
kỹ thuật soạn thảo văn bản. Cơ quan tư pháp có thể đưa ra quan điểm và tính khả
thi của dự thảo quyết định, chỉ thị.
+ Trình tự xem xét, ban hành quyết định, chỉ thị: Đại diện cơ quan soạn
thảo trình bày dự thảo quyết định, chỉ thị; Đại diện cơ quan tư pháp trình bày báo
cáo thẩm định; thành viên tham dự hội nghị thảo luận về những vấn đề chưa
thống nhất; các thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết thông qua dự thảo quyết
định, chỉ thị. Trường hợp dự thảo văn bản chưa được thông qua thỉ Uỷ ban nhân
dân thông báo cho cơ quan chủ trì soạn thảo về những vấn đề cần phải chỉnh lý,
do chưa ban hành và thời hạn trình lại dự thảo văn bản.
Năm là, bảo đảm tính khả thi, tính cụ thể, chi tiết và tính hợp lý của văn
bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Để bảo đảm tính khả thi của văn bản, các quy định của Uỷ ban nhân dân

tỉnh phải xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước ở địa phương. Do vậy, khi cần


×