Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Tranh tụng trong tố tụng hành chính ở việt nam lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 80 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VIỆT NAM

TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Ở VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH HƢƠNG

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình
khác.
HỌC VIÊN CAO HỌC

NGUYỄN VIỆT NAM


LỜI CẢM ƠN


Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Minh Hương đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý và động viên em trong quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của các thầy, cô chuyên
ngành đào tạo cao học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính – Trường Đại học Luật
Hà Nội, các bạn lớp Cao học Luật Hành chính khóa 19b đã nhiệt tình giúp đỡ em
trong suốt khóa học.
Những lời cảm ơn sau cùng xin dành cho gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp
ở cơ quan công tác đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian và kiến thức có hạn nên luận văn cũng không thể tránh khỏi
những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để luận văn
được hoàn chỉnh. Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy cô cùng gia đình luôn mạnh
khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong cuộc sống.
Tác giả
NGUYỄN VIỆT NAM


GIỚI THIỆU LUẬN VĂN
Trong xu thế tiếp tục đổi mới và hội nhập của đất nước, cải cách hành chính
và cải cách tư pháp là điều hết sức cần thiết. Mở rộng tranh tụng, nâng cao hiệu quả
tranh tụng là mắt xích quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay theo
Nghị quyết 08-NQ/TƯ và Nghị quyết 48-NQ/TƯ của Bộ Chính trị. Đây là định
hướng quan trọng trong cải cách tư pháp nói chung và mở rộng tranh tụng trong tố
tụng nói riêng, trong đó có tố tụng hành chính. Tuy nhiên, để có cơ sở cho việc thực
hiện các định hướng này thì nhất thiết phải có cơ sở nền tảng lý luận và phương pháp
luận phù hợp. Đó là các yêu cầu về lý luận tranh tụng trong tố tụng hành chính, đó là
xác định được thực trang tranh tụng trong tố tụng hành chính.
Để góp phần nghiên cứu hoàn thiện lý luận cũng như giúp các nhà quản lý ở
Việt Nam đánh giá đúng thực trạng và có những giải pháp phù hợp nâng cao hiệu
quả tranh tụng trong tố tụng hành chính, luận văn đã giải quyết và đạt được kết quả

về các vấn đề:
- Hoàn thiện các vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng trong tố tụng hành
chính như khái niệm tố tụng hành chính, khái niệm tranh tụng trong tố
tụng hành chính, đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng hành chính, ý nghĩa
của tranh tụng trong tố tụng hành chính…
- Đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ về sự thể hiện nội dung tranh tụng
trong pháp luật tố tụng hành chính hiện hành – Luật Tố tụng hành chính
năm 2010.
- Đánh giá được thực trạng tranh tụng trong tố tụng hành chính hiện nay,
làm rõ được các hạn chế và các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này.
- Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng trong tố
tụng hành chính, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và yêu cầu cải cách tư pháp
như hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực của chủ thể tranh tụng, xây
dựng các dịch vụ công hỗ trợ và tổ chức thiết chế Luật sư công….


MỤC LỤC
TIÊU MỤC

TRANG

PHẦN MỞ ĐẦU

1

PHẦN NỘI DUNG

7

Chƣơng 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TRONG


7

TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm tố tụng hành chính

7

1.2 Khái niệm về tranh tụng trong tố tụng hành chính

12

1.3 Đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng hành chính

16

1.4 Ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng hành chính

20

Chƣơng 2 - PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG

23

HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến tranh tụng trong tố tụng hành

24

chính

2.2 Tranh tụng trong tố tụng hành chính được thể hiện qua các quy định về

28

nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng và quyền, nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng
2.3 Tranh tụng được thể hiện qua các quy định về chứng minh và chứng cứ

36

2.4 Tranh tụng được thể hiện qua các quy định về phiên tòa hành chính

37

Chƣơng 3 - THỰC TIỄN TRANH TỤNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG

42

CAO HIỆU QUẢ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
3.1 Tranh tụng trong thực tiễn tố tụng hành chính hiện nay

42

3.2 Nâng cao hiệu quả tranh tụng trong tố tụng hành chính

47

PHẦN KẾT LUẬN

65



BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ
(Nguồn: />
Biểu đồ 2.1: Số lƣợng giải quyết sơ thẩm vụ án hành chính từ năm 2006-2012

Biểu đồ 2.2: Số lƣợng giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính từ năm 2006-2012


Biểu đồ 2.3: Số lƣợng giải quyết giám đốc thẩm vụ án hành chính từ năm 20062012


1

PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Điều 10 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 khẳng định: Mọi
người đều có quyền trình bày sự việc của mình một cách vô tư và công khai với sự
bình đẳng hoàn toàn, trước một Tòa án độc lập và không thiên vị, để Tòa án này
quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ. Điều này đã được nhắc lại tại Điều 14
Công ước quốc tế và quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam cũng là
thành viên: tất cả mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán. Bất kỳ
người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Tòa án
có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp lý… Như vậy,
với phương thức tố tụng bằng Tòa án, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền
được yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình đẳng với
bên tranh chấp còn lại, cho dù đó là cá nhân, tổ chức nào trong xã hội.
Tranh tụng là một nội dung, một quá trình trong tố tụng nói chung và tố tụng
hành chính nói riêng. Với phương thức tranh tụng, trong quá trình tố tụng, các đương
sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

đều được bình đẳng, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, các
lập luận và đối đáp với nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án hành chính. Tòa
án là cơ quan tiến hành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng mà không
tranh tụng với các bên đương sự, Tòa án sử dụng kết quả tranh tụng giữa các bên
đương sự để giải quyết vụ án hành chính một cách khách quan, công bằng và đúng
pháp luật. Đây là một phương thức bảo đảm dân chủ và công bằng trong tố tụng
hành chính. Xuất hiện tranh tụng trong tố tụng hành chính là một thành quả thắng lợi
của đấu tranh của dân chủ chống lại phản dân chủ trong tố tụng hành chính. Ở đó,
đối tượng quản lý mặc dù “lép vế” trước chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong
quan hệ hành chính, nhưng trong quan hệ tố tụng hành chính họ bình đẳng với chủ
thể quản lý hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Khi đương sự thực hiện
đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình như quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền
và lợi ích, quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp hoặc Tòa án thu thập,
quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ
người khác bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền tranh luận tại
phiên tòa… thì các tình tiết khách quan của vụ án được làm sáng tỏ, tạo ra bức tranh
toàn cảnh và đầy đủ về tranh chấp giữa các bên đương sự. Trên cơ sở đó, Tòa án có
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


2

đầy đủ các căn cứ để giải quyết vụ án hành chính một cách chính xác, công bằng và
đúng pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án đưa ra được các phán quyết có
căn cứ và đúng pháp luật, giải quyết được các yêu cầu của đương sự.
Trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay, xã hội ngày càng văn minh
và tiên tiến. Chính vì vậy, nhu cầu từ phía xã hội nói chung là các tranh chấp đều

phải được giải quyết trên cơ sở bình đẳng, công khai, bảo vệ các quyền và lợi ích đã
được pháp luật thừa nhận. Thủ tục tố tụng nói chung và thủ tục tố tụng hành chính
nói riêng cần phải đảm bảo và phát huy dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch…
Để đáp ứng được các yêu cầu này, cần phải mở rộng và nâng cao hiệu quả tranh tụng
trong tố tụng nói chung, tố tụng hành chính nói riêng.
Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người [3,
trang 134] là tôn chỉ, mục đích của Đảng được thể hiện trong Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thức IX. Với tinh thần đó, Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị
quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 đều nhấn mạnh phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh
tụng, phải mở rộng tranh tụng, nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa
xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.
Về mặt lý luận, tranh tụng trong tố tụng nói chung nhận được sự quan tâm
nghiên cứu của giới khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng
hình sự. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tranh tụng trong tố
tụng dân sự và tố tụng hình sự, tuy nhiên, trong lĩnh vực tố tụng hành chính thì tranh
tụng vẫn còn là một vấn đề còn để ngõ và chưa được quan tâm nghiên cứu.
Mặc dù vậy, khái niệm tranh tụng đã được đề cập nhưng khái niệm này vẫn
chưa được làm rõ trong các văn kiện của Đảng. Nhà nước đã thể chế hóa tinh thần
tranh tụng trong các văn bản pháp luật về tố tụng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Tố tụng hành chính năm 2010… Tuy
nhiên, khái niệm và nội hàm của tranh tụng trong tố tụng hành chính vẫn chưa được
định nghĩa chính thức trong các văn bản pháp luật.
Luật Tố tụng hành chính ra đời trên cơ sở kế thừa, phát triển Pháp lệnh Giải
quyết các vụ án hành chính. Luật này về cơ bản đã thể hiện tinh thần tranh tụng giữa
các bên đương sự trong tố tụng hành chính, đáp ứng được phần nào yêu cầu về mở
rộng tranh tụng trong công cuộc cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên,
các quy định của Luật Tố tụng hành chính vẫn chưa thể hiện đầy đủ và phù hợp với
NGUYỄN VIỆT NAM


CH19B086


3

yêu cầu mở rộng tranh tụng như chưa ghi nhận nguyên tắc tranh tụng…. Thực tiễn
tranh tụng trong tố tụng hành chính cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng hiệu
quả tranh tụng không cao như sự tham gia của luật sư vào các vụ án hành chính còn
ở mức thấp, chất lượng luật sư không cao…
Vì những lẽ trên, việc nghiên cứu đề tài “Tranh tụng trong tố tụng hành
chính ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” là cần thiết, cả về mặt lý luận lẫn thực
tiễn. Việc nghiên cứu đề tài thành công không những giải quyết được những vướng
mắc về lý luận tranh tụng trong tố tụng hành chính, góp phần hoàn thiện pháp luật tố
tụng hành chính về tranh tụng, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và
cung cấp nguồn tài liệu cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học pháp lý về tranh
tụng trong tố tụng hành chính.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ở Việt Nam hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về xét xử hành chính
dưới các góc độ khác nhau, có giá trị cao trong khoa học chính trị - pháp lý như:
Nguyễn Thanh Bình, “Tổ chức và hoạt động của tòa án hành chính – một biện pháp
mới bảo đảm quyền con người ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật số 8/1996, GS. Nguyễn Niên “Về thành lập tòa án hành chính ở Việt Nam” đăng
trên Tạp chí Thanh tra số 1/1996, TS. Vũ Thư “Sự hình thành và phát triển của tư
pháp hành chính ở nước ta” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 10/2003… Cũng
đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến xét xử hành chính đã được
công bố như sách chuyên khảo của TS. Lê Bình Vọng “Một số vấn đề về tài phán
hành chính ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1994. Tác
giả đề cập và lý giải những vấn đề lý luận về mối liên hệ giữa quản lý hành chính và
tài phán hành chính, vị trí của tài phán hành chính trong nền hành chính quốc gia,

phân biệt tài phán hành chính và tài phán tư pháp, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những
nguyên tắc thiết lập tòa án hành chính ở Việt Nam, gợi ý một số phương án tổ chức
tòa hành chính và những biện pháp cần thiết cho việc thành lập tòa hành chính ở
Việt Nam. Đặc biệt phải kể đến Luận án tiến sĩ của Tiến sĩ Hoàng Quốc Hồng “Đổi
mới tổ chức và hoạt động của toà hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam hiện nay”. Luận văn này đã hoàn thiện một bước hệ thống lý
luận về tổ chức và hoạt động của của tòa án nhân dân, phân tích sâu sắc thực trạng tổ
chức và hoạt động của tòa hành chính, từ đó đề xuất mô hình tổ chức Tòa hành chính
ở Việt Nam là tổ chức như hiện nay nhưng thành lập thêm Tòa hành chính ở Tòa án
nhân dân cấp huyện và tiến tới chuyển đổi mô hình Tòa án nhân dân theo cấp hành
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


4

chính lãnh thổ hiện nay thành Tòa án nhân dân xét xử theo cấp xét xử, khu vực và
vẫn giữ cơ cấu có Tòa hành chính; đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của Tòa hành chính, trong đó có đề cập đến một số yếu tố liên quan đến tranh
tụng trong tố tụng hành chính như đảm bảo tính độc lập của Tòa án, nâng cao năng
lực của Thẩm phán… Luận án Tiến sĩ của Tiến sĩ Trần Kim Liễu “Toà hành chính
trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân”,
năm 2011. Với luận án của mình, Tiến sĩ Trần Kim Liễu đã đi theo hướng hoàn thiện
xét xử hành chính ở Việt Nam là một nội dung của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân. Luận án này cũng chủ yếu sử dụng lý luận và hoàn
thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền và xét xử hành chính, đánh giá thực tiễn tổ
chức và hoạt động xét xử hành chính của Tòa án nhân dân ở Việt nam để đưa ra các
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa hành chính…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Tòa hành

chính và xét xử hành chính đều không nghiên cứu chuyên biệt về tranh tụng trong tố
tụng hành chính như các yếu tố cấu thành tranh tụng trong tố tụng hành chính, thực
trạng tranh tụng trong tố tụng hành chính, các giải pháp nâng cao hiệu quả tranh tụng
trong tố tụng hành chinh...
Về lĩnh vực tranh tụng nói chung, đặc biệt nhận được sự quan tâm của rất
nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hình sự. Trong lĩnh vực
tố tụng dân sự đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tranh tụng như Kỷ yếu
hội thảo của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về “Một số nội dung và
nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng – Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển
chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán”; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường – Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam
trước yêu cầu cải cách tư pháp”… Trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu về tranh tụng như “Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm
hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn” – Luận văn thạc sĩ luật học của Thạc sĩ
Lưu Bình Dương, “Tranh tụng tại phiên toà theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam” – Luận văn thạc sĩ luật học của Thạc sĩ Bùi Thị Hà…
Như vậy, việc chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu và lý
giải những vấn đề có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề tranh
tụng trong tố tụng hành chính như khái niệm tranh tụng trong tố tụng hành chính,
tranh tụng được thể hiện như thế nào trong Luật Tố tụng hành chính…
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


5

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ
yếu sau:

- Những vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng hành chính
- Các quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam thể hiện về tranh
tụng
- Thực tiễn tranh tụng trong tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở những nghiên cứu này, tác giả đề xuất những sửa đổi, bổ sung để
hoàn thiện quy định và mở rộng tranh tụng trong pháp luật tố tụng hành chính; đề
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả tranh tụng trong tố tụng hành chính.
IV. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ
TÀI
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê nin, trong đó có sự vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử.
Luận văn vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các văn bản pháp luật Việt Nam, kết hợp với các phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.. để lý giải các vấn đề lý luận, đánh giá các
quy định của pháp luật cũng như đánh giá các vấn đề thực tiễn có liên quan giúp cho
vấn đề nghiên cứu được nhìn nhận dưới góc nhìn đa chiều và đạt được mục đích,
hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
V. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
5.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ được những vấn đề lý luận về
tranh tụng trong tố tụng hành chính như khái niệm, đặc điểm, bản chất, chủ thể tranh
tụng, phạm vi tranh tụng trong tố tụng hành chính và xây dựng quan điểm xem tranh
tụng là nguyên tắc của tố tụng hành chính, đánh giá đúng thực trạng quy các quy
định của pháp luật tố tụng hành chính về tranh tụng và thực trạng tranh tụng trong tố
tụng hành chính hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu
quả tranh tụng trong tố tụng hành chính, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và yêu cầu cải
cách tư pháp.
5.2 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nhận thức đầy đủ và sâu sắc các vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng trong
tố tụng hành chính như khái niệm tố tụng hành chính, khái niệm tranh tụng
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


6

trong tố tụng hành chính, đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng hành
chính, ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng hành chính
- Phân tích và đánh giá được một cách toàn diện và đầy đủ về sự thể hiện
nội dung tranh tụng trong pháp luật tố tụng hành chính hiện hành
- Phân tích và đánh giá được thực trạng tranh tụng trong tố tụng hành chính
hiện nay, làm rõ được các hạn chế và các nguyên nhân dẫn đến những hạn
chế này.
- Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng trong tố
tụng hành chính, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và yêu cầu cải cách tư pháp.
VI. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI CỦA LUẬN VĂN
6.1 Về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về tranh
tụng trong tố tụng hành chính; đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng
hành chính về tranh tụng theo định hướng cải cách tư pháp. Kết quả nghiên cứu của
luận văn cũng là tư liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa
học pháp lý về các vấn đề liên quan đến tranh tụng trong tố tụng hành chính.
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chính
sách có góc nhìn cơ bản hơn về mặt lý luận cũng như có thêm ý kiến từ phía nhà
nghiên cứu để có được những đánh giá khách quan về tranh tụng trong tố tụng hành
chính. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc mở rộng tranh tụng trong tố tụng hành

chính thông qua việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tố tụng hành chính
cũng như có những giải pháp thực tế góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng trong tố
tụng hành chính thời gian tới.
VII. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ
TỤNG HÀNH CHÍNH
Chương 2 - PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 3 - THỰC TIỄN TRANH TỤNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


7

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG
HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm tố tụng hành chính
Hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước. Các
chủ thể quản lý hành chính nhà nước, chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước
tác động bằng pháp luật đến các đối tượng quản lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình, nhằm đảm bảo việc chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khác, đưa các quy định này đi vào cuộc sống. Quản lý hành chính nhà
nước được thể hiện ở hai hình thức chính là ban hành quyết định hành chính (chứa

đựng quy tắc xử sự chung hoặc chứa đựng mệnh lệnh cụ thể) và thực hiện các hành
vi hành chính. Cho dù đó là ban hành quyết định hành chính hay thực hiện hành vi
hành chính, các hoạt động này của chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể
là hoạt động hợp pháp hoặc bất hợp pháp, mà không nhất nhất chỉ là hoạt động hợp
pháp. Và nếu đó là quyết định hành chính được ban hành, hành vi hành chính được
thực hiện một cách bất hợp pháp sẽ xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức (đối tượng quản lý hành chính nhà nước).
Song song với quá trình chấp hành các mệnh lệnh theo quyết định hành chính,
hành vi hành chính xuất phát từ bản chất áp đặt quyền lực đơn phương của quản lý
hành chính nhà nước, xuất phát từ tính dân chủ trong quản lý nhà nước, đối tượng
chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính có quyền yêu cầu
xem xét lại khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính mà
mình chịu tác động là trái pháp luật, ngăn cản quyền, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệu hại các lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ. Điều này tạo ra tình
trạng tranh chấp pháp lý – tranh chấp hành chính giữa một bên là nhà nước – chủ thể
quản lý hành chính nhà nước với đối tượng quản lý của chính họ – các cơ quan, tổ
chức, công dân trong xã hội. Dù muốn hay không, Nhà nước cũng phải thiết lập các
cơ quan và ban hành pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc xem xét và giải quyết các
tranh chấp này. Hoạt động này của Nhà nước được gọi là tài phán hành chính. Như
vậy, tài phán hành chính là hoạt động thuộc về bản chất của quản lý hành chính, là
yếu tố song hành với quản lý điều hành hành chính.
Thuật ngữ “tài phán” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “jurisdictio”, thuật ngữ
này cũng được tìm thấy trong tiếng Anh với cách phát âm tương tự là “jurisdiction”.
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


8


Theo nghĩa rộng, “tài phán” (jurisdiction) có nghĩa là phán quyền, tức là quyền lực
của chính phủ trong việc xem xét tính đúng sai của các hoạt động diễn ra trên phạm
vi lãnh thổ nhất định; theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ thẩm quyền
đặc thù của Tòa án trong việc lắng nghe, xem xét, đánh giá và ra các phán quyết
được thể hiện trong các bản án hay quyết định của Tòa án đối với vụ việc cụ thể và
với các đối tượng xác định [33, trang 85]. Theo cách hiểu này, tài phán được hiểu
bao gồm cả hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án và hoạt động giải quyết tranh
chấp thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính.
Thuật ngữ “tài phán hành chính” được sử dụng trong tiếng Anh là “Judicial
review of administrative action”, có nghĩa là quyền được pháp luật trao cho Tòa án
được tuyên bố về hành vi hay quyết định hành chính nào đó có hiệu lực hay không,
có bảo đảm tính hợp hiến hay không [34, trang 284]. Tòa án ở đây có thể là Tòa án
hành chính hoặc Tòa án tư pháp. Như vậy, tài phán hành chính hiểu theo nghĩa là
quyền phán xét tính đúng sai của quyết định hành chính hay hành vi hành chính
không chỉ là thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính mà còn thuộc thẩm quyền
của Tòa án. Chính vì vậy, về khái niệm tài phán hành chính, quan niệm của các quốc
gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới không có sự thống nhất bởi
sự tiếp cận và truyền thống pháp lý của mỗi quốc gia là khác nhau. Cụ thể:
Các nước thuộc hệ thống Common Law không có sự phân biệt rõ ràng giữa
công pháp và tư pháp, do đó, các tranh chấp hành chính cũng không được xác định
là phát sinh trong lĩnh vực nào. Ở các nước này, các tranh chấp hành chính trước hết
được giải quyết bởi cơ chế giải quyết khiếu nại do cơ quan hành chính đã ban hành
quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu nại thực hiện. Trường
hợp người dân không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi
kiện tại Tòa án. Tuy nhiên, các nước này không thành lập hệ thống Tòa án chuyên
trách mà các tranh chấp hành chính được giải quyết bởi hệ thống Tòa án thường
(Tòa án tư pháp) và theo thủ tục chung – thủ tục tố tụng dân sự, mà không phải là
thủ tục tố tụng riêng biệt – thủ tục tố tụng hành chính.
Đối với các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, có sự phân định rạch ròi giữa
luật công và luật tư, do đó, tranh chấp phát sinh sẽ được xác định rõ thuộc lĩnh vực

luật nào. Tranh chấp hành chính là tranh chấp nảy sinh trong lĩnh vực luật công nên
được giải quyết theo một cơ chế khác so với các tranh chấp trong lĩnh vực luật tư. Ở
các nước này, các tranh chấp hành chính có thể được giải quyết bằng con đường giải
quyết khiếu nại (cơ chế hành chính) do các cơ quan đã ban hành quyết định hành
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


9

chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị khiếu nại thực hiện. Bên cạnh đó, để đảm
bảo tính độc lập, khách quan trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính thì một
hệ thống cơ quan tài phán hành chính độc lập được thành lập đó là hệ thống Tòa án
hành chính, tồn tại song song bên cạnh hệ thống Tòa án tư pháp để chuyên giải quyết
các tranh chấp hành chính bằng thủ tục tố tụng. Vì vậy, theo quan điểm của các quốc
gia thuộc hệ thống pháp luật này, tài phán hành chính là hoạt động xét xử các tranh
chấp hành chính giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan công quyền;
đồng thời có một hệ thống Tòa án hành chính được thành lập chuyên để giải quyết
các tranh chấp này theo thủ tục riêng biệt – thủ tục tố tụng hành chính.
Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trước đây, tồn tại quan
điểm cho rằng tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước xã hội chủ
nghĩa là đại diện cho quyền lực của nhân dân. Với nhận thức như vậy nên các nước
thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa cho rằng quyền lợi của nhà nước và nhân dân về cơ
bản là thống nhất, không thừa nhận sự tồn tại các tranh chấp giữa nhà nước và công
dân. Vì vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính không được thiết lập. Về sau,
cùng với sự thay đổi nhận thức, thêm vào đó, các quốc gia này không có sự phân
định rạch ròi giữa công pháp và tư pháp, nên các tranh chấp hành chính tuy đã được
thừa nhận nhưng được giải quyết theo cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính (thủ
tục hành chính). Phải rất lâu sau, ở một số quốc gia thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa

mới thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính bằng Tòa án như Nam Tư cũ
(1952), Rumani (1967), Bungari (1970), Ba Lan (1980)…
Ở Việt Nam, trước khi Tòa hành chính được thành lập (01/07/1996), vấn đề
giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan công quyền đã được quan tâm ở mức độ nhất định như việc ban hành và
thực hiện Pháp lệnh xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981, Pháp
lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 1991... Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của mô
hình hệ thống pháp luật cũng như tư tưởng lập pháp xã hội chủ nghĩa trước đây nên
trong thời kỳ này, Việt Nam chỉ thừa nhận các tranh chấp hành chính như những
khiếu nại thông thường, được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính
mà cho phép giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá
IX, tại kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật tổ
chức Toà án nhân dân năm 1992, với nội dung trao cho Toà án nhân dân chức năng
xét xử các vụ án hành chính. Theo đó, Toà hành chính đã được thành lập bên cạnh
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


10

các Toà chuyên trách khác của Tòa án nhân dân để thụ lý giải quyết các vụ án hành
chính. Đây là sự chuyển biến căn bản về tư tưởng lập pháp trong việc giải quyết các
tranh chấp hành chính ở Việt Nam, là dấu mốc đánh dấu sự ra đời của ngành Luật Tố
tụng hành chính ở Việt Nam. Mặt khác, cũng thấy rõ rằng mô hình tài phán hành
chính ở Việt Nam không theo mô hình của các quốc gia thuộc hệ thống Common
Law, cũng không hoàn toàn giống các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law. Mặc dù
Việt Nam thừa nhận cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính bằng thủ tục tố tụng,
tuy nhiên không thành lập một hệ thống Tòa án hành chính độc lập mà thành lập các

Tòa hành chính với tư cách là tòa chuyên trách thuộc hệ thống Tòa án nhân dân. Và
cơ sở cho hoạt động của Tòa án trong giải quyết vụ án hành chính là Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính được ban hành năm 1996. Các văn bản quy
phạm pháp luật này hiện nay đã được thay thể bởi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Hai luật này là cơ sở pháp lý quan
trọng trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính của công dân hiện nay. Song
song với hình thức tố tụng hành chính, hình thức khiếu nại hành chính vẫn được duy
trì và được hoàn thiện dần, từ Pháp lệnh xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của
công dân năm 1981, đến Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 1991, Luật
khiếu nại, tố cáo năm 1998 và hiện nay là Luật Khiếu nại năm 2011.
Như vậy, ở Việt Nam có hai hình thức giải quyết tranh chấp hành chính là giải
quyết bằng con đường hành chính theo thủ tục khiếu nại và giải quyết bằng con
đường Tòa án theo thủ tục tố tụng, tức tố tụng hành chính.
Tố tụng hành chính là khái niệm còn khá mới mẻ trong hoạt động tư pháp ở
Việt Nam về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn, nhưng cũng đã nhận được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Về khái niệm tố tụng hành chính, có nhiều cách định
nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc độ của người định nghĩa. Các nhà tuyên truyền,
các nhà làm luật định nghĩa Tố tụng hành chính là việc giải quyết các khiếu kiện
hành chính bằng con đường tố tụng (theo trình tự, thủ tục của pháp Luật Tố tụng
hành chính), được giải quyết bởi Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân
dân theo một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi ngành Luật Tố tụng hành chính [14,
trang 3-4]. Với các nhà khoa học định nghĩa dưới góc độ khoa học thì Tố tụng hành
chính là trình tự giải quyết vụ án hành chính theo quy định của pháp luật tại Tòa án
nhằm giải quyết các khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan nhà nước và của cán bộ, công chức thuộc những cơ quan này [31,
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086



11

trang 785]. Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể thấy định nghĩa này về cơ bản
là đầy đủ. Tuy nhiên, cũng còn một số yếu tố cần làm rõ:
Thứ nhất, là cụm từ “trình tự giải quyết vụ án hành chính theo quy định của
pháp luật”. Theo cách định nghĩa chung nhất thì “tố tụng” chính là trình tự giải quyết
các vụ việc tại Tòa án theo yêu cầu của công dân, tổ chức. Như vậy, trình tự giải
quyết vụ án hành chính được quy định trong pháp luật tố tụng hành chính. Các quy
định pháp luật tố tụng khác và các quy định của pháp luật nội dung không điều chỉnh
tố tụng hành chính tại Toà án. Vì vậy, cần phải làm rõ pháp luật ở đây là pháp luật tố
tụng hành chính.
Thứ hai, không phải tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khiếu kiện đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chỉ những quyết định hành
chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền theo loại việc của Tòa án bị khiếu kiện
mới được giải quyết theo con đường tố tụng nếu đảm bảo các điều kiện khác. Vì vậy,
các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính được nêu ở định nghĩa
phải được làm rõ hơn là các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
Chính vì vậy, dưới góc độ pháp lý, cần phải định nghĩa một cách đầy đủ về tố
tụng hành chính như sau: Tố tụng hành chính là trình tự giải quyết vụ án hành chính
theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính tại Tòa án nhằm giải quyết các khiếu
kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và
của cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Xét về bản chất, tố tụng hành chính là một phương thức giải quyết các khiếu
kiện hành chính, nó tồn tại song song với cơ chế giải quyết các khiếu nại hành chính
bằng thủ tục hành chính. So với cơ chế giải quyết các khiếu nại hành chính bằng thủ
tục hành chính, tố tụng hành chính có ưu điểm lớn đó là các khiếu kiện được giải
quyết bởi một hệ thống cơ quan chuyên trách độc lập – các Tòa hành chính thuộc
Tòa án nhân dân. Không những thế, tố tụng hành chính còn bảo đảm sự bình đẳng

giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án, đây là điều không thể có được
khi giải quyết theo thủ tục hành chính các khiếu nại hành chính, nơi mà người giải
quyết “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Cho nên, đây là cơ chế hữu hiệu góp phần bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi những quyền lợi của
họ bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan
công quyền.
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


12

1.2 Khái niệm về tranh tụng trong tố tụng hành chính
Tranh tụng là một thành tựu của văn minh nhân loại trong lĩnh vực tố tụng, là
giá trị chung của nhân loại. Tranh tụng gắn với bản chất của hoạt động tố tụng và
quyền dân chủ của nhân dân trong hoạt động tố tụng. Cho nên, dù là xét xử hành
chính, dân sự hay hình sự thì đều xuất hiện yếu tố tranh tụng. Dù là mô hình Tòa án
được thiết kế theo kiểu mô hình tố tụng tranh tụng, mô hình tố tụng xét hỏi hay mô
hình pha trộn giữa mô hình tố tụng xét hỏi và mô hình tố tụng tranh tụng thì các yếu
tố của tranh tụng cũng đều xuất hiện để đảm bảo quyền lợi cho những người tham
gia tố tụng.
Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên
xuất hiện trong lịch sử các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng. Loại hình tố tụng
này được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được áp dụng ở La Mã với tên gọi là
“thủ tục hỏi đáp liên tục” [21, trang 2]. Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được
kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định trong các loại hình tố tụng.
Ở Việt Nam, về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chưa từng được chính
thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
từ năm 1945 cho đến nay. Về mặt ngôn ngữ, theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998

thì tranh tụng có nghĩa là kiện tụng [28, trang 1686]; còn theo Hán – Việt tự điển
giải thích tranh tụng có nghĩa là cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải [10, trang 621].
Theo các giải thích này, tranh tụng chính là quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa
án, theo đó, các bên tranh chấp tham gia vào quá trình giải quyết vụ án tranh luận về
các yêu cầu, chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý tố tụng dân sự, khái niệm tranh tụng trong tố
tụng dân sự nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu. Và
cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này đã được đưa ra:
Quan điểm thứ nhất cho rằng tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được
hành xử cho đến khi có một phán quyết của Tòa án [7, trang 63].
Quan điểm thứ hai cho rằng tranh tụng chỉ là một giai đoạn tập trung tại
phiên tòa xét xử, được thể hiện bằng việc các bên đưa ra chứng cứ và tranh luận,
đối đáp dựa trên các chứng cứ đó. Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ việc của mình
dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa [30, trang 19]. Quan điểm này xuất phát từ
Nghị quyết 08 – NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhắc đến cụm từ “tranh tụng”:
Trong khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


13

luật, thực sự dân chủ, khách quan. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp
để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn
pháp luật quy định [4, trang 3-4].

Quan điểm thứ ba cho rằng Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa ra các
chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo vệ
quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng giữa các bên để ra
phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự [30, trang 19].
Đánh giá về các quan điểm này, các nhà khoa học tham gia Đề tài Nghiên cứu
khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội: Tranh tụng trong tố tụng dân
sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp đánh giá như sau: tranh tụng trong tó
tụng dân sự được hiểu như quan điểm thứ nhất thì chưa đầy đủ bởi vì quan điểm này
mới chỉ coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến
khi có bản án, quyết định Tòa án mà chưa nói lên được bản chất, ý nghĩa của tranh
tụng. Nếu tranh tụng trong tố tụng dân sự được hiểu theo quan điểm thứ hai tuy
phần nào nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của chúng lại quá
hẹp. Theo quan điểm này, tranh tụng trong tố tụng dân sự chỉ diễn ra tại phiên tòa,
tranh tụng trong tố tụng dân sự đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa và chỉ giới
hạn trong phần tranh luận tại phiên tòa cũng là chưa đầy đủ. Về mặt ngữ nghĩa,
thuật ngữ tranh tụng trong tố tụng dân sự và thuật ngữ tranh luận tại phiên tòa là
khác nhau. Thực chất, tranh luận tại phiên tòa chỉ là một sự biểu hiện tập trung cao
nhất của tranh tụng trong tố tụng dân sự. Quan điểm thứ ba đã chỉ ra được bản chất
của tranh tụng nhưng lại không chỉ ra được giới hạn của quá trình tranh tụng, nó
được bắt đầu và kết thúc ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
[29, trang 4-5].
Trên cơ sở các lập luận của mình, nhóm các nhà nghiên cứu trong đề tài này
đã nêu ra khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi
kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình
tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, thu thập,
trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên
đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc
NGUYỄN VIỆT NAM


CH19B086


14

thẩm, tái thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn
xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa
án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại. Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được
tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự
điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và
đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh rằng
yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là
có căn cứ và hợp pháp. Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội
đồng xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự [29, trang 6]. Từ đó, các
nhà nghiên cứu này đưa ra khái niệm chung nhất về tranh tụng trong tố tụng dân sự
như sau: Tranh tụng trong tố tụng dân sự là quá trình hoạt động của các chủ thể tố
tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật, theo đó các chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa án
được đưa ra, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho
quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp
luật tố tụng dân sự quy định và Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ án dân sự căn cứ
vào kết quả tranh tụng của các chủ thể tranh tụng [29, trang 8].
Trong tố tụng hình sự cũng có các quan điểm tương tự về tranh tụng: theo
nghĩa hẹp thì khái niệm “tranh tụng” có thể được hiểu một cách ngắn gọn và đơn
giản là sự tranh luận trong quá trình tố tụng tại Tòa án [8, trang 4-5]; tranh tụng là
quá trình tranh luận của các bên tại phiên tòa sau khi đã nghiên cứu đầy đủ và toàn
diện các chứng cứ trên cơ sở bảo đảm sự độc lập, bình đẳng với nhau và tách riêng
ba chức năng buộc tội, biện hộ và phán xét vụ án để xác định sự thật khách quan
nhằm đưa ra bản án (quyết định) tương ứng có hiệu lực pháp luật của Tòa án một
cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, thể hiện bản chất nhân đạo và dân

chủ, bảo vệ vững chắc các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong hoạt động
tư pháp hình sự [8, trang 6-7], tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi
các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với
nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ cho quan điểm và lợi ích của
mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía bên đối lập [31, trang 807-808]…
Như vậy, dù là tranh tụng trong tố tụng dân sự hay tranh tụng trong tố tụng
hình sự thì tranh tụng cũng mang bản chất là việc các bên tranh chấp trong cùng một
vụ án cần Tòa án phân xử được quyền đưa ra, trao đổi các chứng cứ, các căn cứ pháp
lý, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau trên cơ sở các quy định của pháp
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


15

luật tố tụng để chứng minh cho các yêu cầu của mình, bác bỏ yêu cầu của phía còn
lại dưới sự giám sát của Tòa án. Thông qua tranh tụng, các tình tiết của vụ án được
làm sáng tỏ, Tòa án xác định được sự thật khách quan của vụ án và căn cứ vào kết
quả tranh tụng để đưa ra phán quyết. Đương nhiên, bản chất của tranh tụng trong tố
tụng hành chính cũng sẽ phải có những nội dung như vậy.
Hiện nay, ở Việt Nam, vấn đề tranh tụng trong tố tụng hành chính chưa nhận
được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Vẫn chưa có bất kỳ định nghĩa nào về
tranh tụng trong tố tụng hành chính được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Xét về bản chất của tố tụng hành chính, đó là phán xét tính hợp pháp của
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện. Theo đó, chủ thể khiếu
kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành
vi hành chính. Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính,
hành vi hành chính bị khiếu kiện. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cá
nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ

án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Như vậy, các chủ thể này
là những chủ thể có liên quan trực tiếp đến quan hệ hành chính – quan hệ pháp luật
nội dung của tranh chấp. Họ tranh chấp với nhau về tính hợp pháp đối với quyết định
hành chính, hành vi hành chính của người bị kiện. Do đó, trong quá trình tố tụng
hành chính, họ chủ yếu đánh giá xoay quanh vấn đề về tính hợp pháp của quyết định
hành chính, hành vi hành chính. Điều này cũng tương đồng với trong tố tụng dân sự
khi mà các bên đương sự đánh giá xoay quanh vấn đề hành vi của họ có hợp pháp
theo quy định của pháp luật về quan hệ dân sự mà họ đang tranh chấp, trong tố tụng
hình sự khi mà bị cáo và cơ quan công tố đánh giá xoay quanh vấn đề phạm tội và
mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm của bị cáo đã thực hiện. Từ đây, có thể định
nghĩa khái quát Tranh tụng trong tố tụng hành chính là quá trình hoạt động của các
chủ thể tranh tụng trong tố tụng hành chính được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện
và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, theo đó, các chủ thể tranh
tụng dưới sự điều khiển của Tòa án được đưa ra, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ
pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa
án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hành chính quy định và Tòa án
ra phán quyết giải quyết vụ án hành chính căn cứ vào kết quả của tranh tụng do các
chủ thể tranh tụng đã thực hiện.
Giải quyết vụ án hành chính về bản chất là một quá trình nhận thức và tư duy
của các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hành chính trên cơ sở xem xét, đánh
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


16

giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của
vụ án và các quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Các chủ thể gia vào quá
trình tố tụng hành chính phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp,

thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, căn cứ pháp lý, đưa ra các lập luận,
các quan điểm về việc giải quyết vụ án. Tất cả các hoạt động như đưa ra các yêu cầu,
phản đối các yêu cầu, trao đổi chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp lý, quan điểm biện hộ
của đối phương, đối thoại giữa các bên… trong giai đoạn trước phiên tòa hay tại
phiên tòa đều thuộc quá trình tranh tụng trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên, cũng
cần phân biệt tranh tụng với hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính. Tranh
tụng trong tố tụng hành chính không hoàn toàn đồng nhất với chứng minh trong hoạt
động tố tụng này. Chứng minh trong tố tụng hành chính được hiểu là hoạt động tố
tụng của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự
kiện, tình tiết của vụ án hành chính. Đây là nghĩa vụ của các chủ thể này. Mặt khác,
hoạt động chứng minh này có sự tham gia của rất nhiều chủ thể, trong đó bao gồm cả
Tòa án với trách nhiệm chứng minh các bản án, quyết định mà mình đưa ra là có căn
cứ và hợp pháp. Trong khi đó, tranh tụng không phải là quyền cũng không phải
nghĩa vụ mà đó là một yêu cầu, một nguyên tắc, một thủ tục để đảm bảo hiệu quả
trong công tác xét xử. Trong quá trình tranh tụng, Tòa án tham gia với tư cách là
người trọng tài, người điều khiển quá trình tranh tụng được thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật tố tụng hành chính và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra phán
quyết giải quyết vụ án. Ngoài ra, hoạt động chứng minh có thể diễn ra một cách đơn
chiều, chỉ tồn tại mối quan hệ giữa các đương sự và Tòa án khi họ cung cấp chứng
cứ, tài liệu cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình là
đúng và Tòa án tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu đó. Còn tranh tụng phát sinh hai mối
quan hệ đồng thời là quan hệ tranh nại giữa các đương sự với nhau và quan hệ giữa
họ với Tòa án giải quyết vụ tranh chấp đó. Điều này đồng nghĩa với quá trình tranh
tụng luôn có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể là các bên đương sự và Tòa án, trong
đó có hai bên đương sự đối tụng với nhau theo quy định của pháp luật tố tụng hành
chính và Tòa án là người thứ ba, vô tư, khách quan để phân xử tranh chấp giữa họ.
1.3 Đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng hành chính
1.3.1 Chủ thể tranh tụng là các bên đương sự và Tòa án, nghĩa vụ chứng minh
thuộc về các đương sự


NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


17

Chủ thể tranh tụng được hiểu là những chủ thể mang quyền, nghĩa vụ tố tụng,
tham gia vào quá trình tranh tụng. Như đã phân tích trên, chủ thể tham gia tranh tụng
là đương sự và Tòa án.
Đương sự là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết
quả tranh tụng. Bởi họ tham gia tranh tụng xuất phát từ chính yêu cầu bảo vệ quyền
và lợi ích của mình trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và
lợi ích cần được bảo vệ của họ. Hơn nữa, về bản chất tranh chấp hành chính, đó là
việc đối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính tranh
chấp với chủ thể quản lý hành chính nhà nước mà họ cho rằng mình bị xâm hại về
quyền và lợi ích bởi các quyết định hành chính đã được ban hành, hành vi hành
chính đã được thực hiện; hay nói cách khác, đó là việc đối tượng chịu sự tác động
của quyết định hành chính, hành vi hành chính cho rằng chủ thể quản lý hành chính
nhà nước đã ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính (hoạt
động áp dụng pháp luật) trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của mình được pháp luật bảo vệ. Do đó, việc xác định vụ việc đã xảy ra, xác định
trường hợp áp dụng pháp luật của chủ thể quản lý hành chính có đúng theo quy định
của pháp luật hành chính hay không phụ thuộc trước hết vào các bên đương sự. Đây
là con đường ngắn nhất để xác định rõ sự thật khách quan của vụ án và để Tòa án có
cái nhìn khách quan và công minh trong việc đưa ra phán quyết của mình về việc
giải quyết vụ án.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì đương sự bao
gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ở một
vụ án hành chính bao giờ cũng có người khởi kiện và người bị kiện. Họ là chủ thể

tranh tụng trước hết và chủ yếu, bởi vì, họ là hai bên của tranh chấp, họ đứng ở vị trí
tố tụng đối lập nhau và việc tham gia tố tụng của người đại diện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ trong những trường hợp nhất định, quyền và
nghĩa vụ tố tụng của những đối tượng này phát sinh trên cơ sở quyền và nghĩa vụ tố
tụng của đương sự. Mặt khác, cho dù chủ thể bị kiện mang quyền lực nhà nước trong
pháp luật hành chính, nhưng trong tố tụng hành chính, họ bình đẳng với người khởi
kiện là đối tượng quản lý của mình. Trong suốt quá trình tranh tụng, người khởi kiện
và người bị kiện bình đẳng với nhau, họ liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ,
lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình. Tương tự, nếu
vụ án hành chính xuất hiện người có quyền và nghĩa vụ liên quan thì họ cũng sẽ
tham gia tranh tụng bình đẳng với các đương sự khác bởi việc giải quyết vụ án liên
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


18

quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của người khởi kiện, người bị kiện [25, Điều
52]. Do vậy, họ cũng được quyền đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập
luận đến chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các đương sự
khác [25, Điều 52].
Tuy nhiên, cũng có những đương sự không thể hoặc không thực hiện tốt nhất
việc tranh tụng trong tố tụng hành chính nên họ phải cần đến người đại diện hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giúp thực hiện tranh tụng. Việc tham gia
tranh tụng của hai đối tượng này không phải xuất phát trực tiếp hay gián tiếp từ lợi
ích của họ, bởi họ không phải là chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính tranh
chấp, mà xuất phát từ quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Người đại diện là người thay mặt cho đương sự tham gia vào quá trình tranh

tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người đại diện
thay mặt đương sự thực hiện các hành vi tố tụng trong phạm vi đại diện, do đó, lẽ
đương nhiên, nếu họ xuất hiện trong vụ án hành chính thì họ cũng sẽ là chủ thể tham
gia tranh tụng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương
sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự [25, Điều 55]. Họ là người giúp đỡ về mặt pháp lý cho đương
sự, đồng thời tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Khác với người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có
các quyền và nghĩa vụ độc lập theo quy định của pháp luật, mà không giống như
người đại diện có các quyền và nghĩa vụ bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ của
đương sự mà họ đại diện. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có
thể là Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý hoặc những người am hiểu pháp luật khác.
Trong quá trình tranh tụng, do họ là những người có kiến thức pháp luật, kinh
nghiệm tham gia tố tụng và kỹ năng tranh tụng nên có thể giúp cho các bên đương sự
bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất là trong việc đưa ra các chứng
cứ, căn cứ pháp lý và các lập luận. Không những thế, ý kiến của họ còn rất quan
trọng trong việc giúp Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như nội
dung phán quyết mà Tòa án sẽ đưa ra đối với vụ việc đang giải quyết.
Tòa án đóng vai trò là bên thứ ba trong quá trình tranh tụng, đúng bên trên và
bên ngoài sự tranh tụng của các bên đương sự. Để đảm bảo công bằng, trong quá
trình tranh tụng, Tòa án phải thực hiện đúng chức năng của mình là người tài phán
NGUYỄN VIỆT NAM

CH19B086


×