Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (626.34 KB, 75 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ PHAN MAI

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN NGỌC DŨNG

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa sau Đại học
Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS. Trần Ngọc Dũng, giảng
viên Trường Đại học Luật Hà Nội – người đã giúp đỡ tôi hết sức tận tình và có
những góp ý, hướng dẫn quý báu để tôi có thể hoàn thành đề tài này.
Tôi xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và bạn bè – những người đã luôn ở bên
động viên, giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình.
Xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Nguyễn Thị Phan Mai




MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU....................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ
ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ....................................................................... 6
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần ...................................................... 6
1.1.1. Khái niệm của công ty cổ phần ..................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần ....................................................................... 6
1.2. Khái quát chung về cổ đông trong công ty cổ phần ................................ 8
1.2.1 Khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần .................................................. 8
1.2.2. Đặc điểm của cổ đông trong công ty cổ phần ........................................... 8
1.2.3. Phân loại cổ đông trong công ty cổ phần .................................................. 9
1.2.4. So sánh cổ đông trong công ty cổ phần với thành viên trong công ty
TNHH và xã viên trong hợp tác xã ....................................................................... 11
1.3. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần. .............................. 12
1.3.1. Hệ thống các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần –
Quá trình hình thành và phát triển ....................................................................... 12
1.3.2. Những nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về cổ đông trong công
ty cổ phần ...................................................................................................................... 14
1.4. So sánh quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở Việt Nam và
quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở một số nƣớc trên thế giới –
Kinh nghiệm cho Việt Nam .................................................................................... 15
1.4.1. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
Nhật Bản........................................................................................................................ 15


1.4.2. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
của Singapore............................................................................................................... 16
1.4.3. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật

của Mỹ: .......................................................................................................................... 18
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN .................................................................................. 20
2.1. Các quy định pháp luật về xác lập, thay đổi, chấm dứt tƣ cách cổ
đông trong công ty cổ phần .................................................................................... 20
2.1.1. Xác lập tư cách cổ đông .......................................................................... 20
2.1.2. Thay đổi tư cách cổ đông công ty cổ phần ........................................ 24
2.1.3. Chấm dứt tư cách cổ đông trong công ty cổ phần ........................... 25
2.2. Các quy định pháp luật về quyền của cổ đông phổ thông trong công
ty cổ phần...................................................................................................................... 26
2.3. Các quy định pháp luật về nghĩa vụ của cổ đông phổ thông trong
công ty cổ phần ........................................................................................................... 37
2.4. Các quy định về quyền của cổ đông ƣu đãi biểu quyết trong công ty
cổ phần ........................................................................................................................... 38
2.5. Các quy định về quyền của cổ đông ƣu đãi cổ tức trong công ty cổ
phần…………………………………………………………………………..39
2.6. Các quy định về quyền của cổ đông ƣu đãi hoàn lại trong công ty cổ
phần…………………………………………………………………………..40
2.7. Các quy định về quyền và nghĩa vụ đặc biệt của cổ đông trong công ty
cổ phần……………………………………………………………………….40


2.8. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cổ đông trong công ty
cổ phần…………………………………………………………………….....42

2.8.1. Những ưu điểm đã đạt được .............................................................. 42
2.8.2. Những hạn chế còn tồn tại ................................................................ 43
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ............. 54
3.1. Các nguyên tắc của việc hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông

trông công ty cổ phần:.............................................................................................. 54
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty
cổ phần ........................................................................................................................... 55
3.3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông trong
công ty cổ phần ........................................................................................................... 56
3.3.1. Nhóm các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về
cổ đông công ty cổ phần ..................................................................................... 56
3.3.2. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
cổ đông trong công ty cổ phần. ....................................................................... 61
3.3.3. Nhóm giải pháp nhằm tăng cường nhận thức pháp luật của các
cổ đông công ty cổ phần ..................................................................................... 62
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 67
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN .... 69


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công ty cổ phần là một mô hình doanh nghiệp có các ưu điểm vượt trội,
đóng một vai trò quan trọng và là một xu thế vận động tất yếu của hệ thống
doanh nghiệp nói chung. Tuy ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới,
song công ty cổ phần ở Việt Nam đang có những bước phát triển vượt bậc, lớn
mạnh về mọi mặt kể cả quy mô lẫn chất lượng; mang lại hiệu quả to lớn trong
công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.
Ngay từ khi công ty cổ phần ra đời, Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần. Từ Luật Công ty (1990),
đến Luật Doanh nghiệp (1999) và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2005),
chúng ta đã đạt được những bước tiến lớn trong việc hoàn chỉnh những quy định

pháp luật về loại hình doanh nghiệp này. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
các công ty cổ phần là sự gia tăng nhanh chóng số lượng các cổ đông - những
thành viên đóng vai trò nòng cốt trong công ty, từ đó một yêu cầu đặt ra là phải
hoàn thiện pháp luật để tạo một hành lang pháp lý phù hợp cho các cổ đông có
thể dễ dàng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong những năm qua, các vụ việc xâm phạm quyền và lợi ích của nhà đầu
tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách khá phổ biến. Những hệ quả tức thời
đối với cá nhân người đầu tư có thể không lớn, nhưng tác động tiêu cực đến sự
phát triển của thị trường như làm suy giảm khả năng huy động vốn cổ đông rất
đáng được nhà quản lý kinh tế cũng như các doanh nghiệp lưu tâm. Bởi vậy việc
nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về cổ đông công ty cổ phần là một yêu cầu
cần thiết, giúp tạo ra khung pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng
của các cổ đông, qua đó thu hút được nguồn vốn trong xã hội, góp phần vào việc


2

thúc đẩy loại hình doanh nghiệp này phát triển rộng rãi ở nước ta. Chính vì vậy,
tôi đã mạnh dạn chọn nội dung “Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ
phần” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề cổ đông trong công ty cổ phần không còn là một đề tài quá mới mẻ
đối với giới nghiên cứu luật học. Đã có khá nhiều bài viết, khóa luận tốt nghiệp,
luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ đề cập đến vấn đề này. Mỗi bài viết, đề tài
nghiên cứu lại đề cập đến các khía cạnh pháp lý khác nhau của cổ đông trong
công ty cổ phần. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về nội dung này
như: “Quy chế pháp lý về cổ đông công ty cổ phần”, Đỗ Thị Thìn, khóa luận tốt
nghiệp 2008; hay “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo
pháp luật Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Bùi Minh Nguyệt, Luận
văn thạc sỹ Luật học 2010; “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở

Việt Nam”, Đỗ Thái Hán, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2012; “Luật Doanh
nghiệp bảo vệ cổ đông, Pháp luật và thực tiễn”, Bùi Xuân Hải, NXB Chính trị
Quốc gia, 2011…
Tuy nhiên, trước sự biến động không ngừng của xã hội, sự gia tăng của loại
hình công ty này nói chung và các cổ đông công ty cổ phần nói riêng, hàng loạt
văn bản pháp luật mới được ban hành với nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ
phát sinh xung quanh cổ đông công ty cổ phần. Bên cạnh đó, yêu cầu học hỏi
kinh nghiệm các nước phát triển về vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục
nghiên cứu để đưa ra các chế tài thật sự phù hợp để áp dụng trong thực tiễn. Do
đó luận văn này tập trung đi sâu nghiên cứu quy chế pháp lý về cổ đông trong
công ty cổ phần, trên cơ sở cập nhật đối chiếu với tình hình thực tiễn thời gian


3

qua từ đó rút ra kinh nghiệm trong xây dựng và áp dụng pháp luật đối với vấn đề
này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty
cổ phần như: quyền và nghĩa vụ của các loại cổ đông trong công ty cổ phần, thực
trạng pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần.
3.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật về cổ
đông trong công ty cổ phần thể hiện trong Luật Doanh nghiệp (2005) và các văn
bản hướng dẫn thi hành luật này, và trong các văn bản pháp luật của một số nước
trên thế giới đề từ đó xác định ưu điểm, hạn chế của pháp luật nhằm đưa ra
phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
4.1. Phương pháp luận:

Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng của Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Mình. Đồng thời, dựa trên
cơ sở quan điểm, chủ trương, phương hướng nhiệm vụ của Đảng về phát triển
kinh tế hiện nay, nhất là Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020.
4.2.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài là các phương pháp truyền thống, như: phân tích, so sánh, chứng minh, hệ
thống hóa, thống kê, tổng hợp….Trong đó, các phương pháp được sử dụng chủ
yếu là hệ thống hóa, thống kê, tổng hợp các quy định của pháp luật về cổ đông


4

trong công ty cổ phần, việc thực hiện các quy định đó, so sánh quy định của pháp
luật hiện hành với lý luận và thực tiễn, phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn
chế của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần để từ đó đưa ra phương
hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề trên.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nêu ra phương hướng và các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần.
Khi nghiên cứu đề tài này, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quy chế pháp lý đối với cổ đông trong công
ty cổ phần, như: khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần, đặc điểm của cổ đông
trongcông ty cổ phần, các loại cổ đông trong công ty cổ phần…, những nội dung
cơ bản của pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần, so sảnh quy chế pháp lý
về cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật thực định về cổ đông trong công ty cổ

phần, bình luận, đánh giá các quy định đó.
- Đề xuất phương hướng, nhiệm vụ nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong
công ty cổ phần, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty cổ phần cũng như
cổ đông của công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả.
6. Những điểm mới của luận văn
Đề tài này không còn là một vấn đề mới mẻ đối với giới nghiên cứu Luật học,
nhưng luận văn đóng ghóp một phần vào công tác nghiên cứu, hoàn thiện pháp
luật nói chung cũng như pháp luật kinh tế nói riêng. Luận văn có điểm mới sau
đây:


5

- Luận văn đã trình bày được quá trình hình thành và phát triển của quy chế pháp
lý của cổ đông trong công ty cổ phần từ khi công ty cổ phần ở Việt Nam ra đời
(từ Luật công ty (1990) đến luật Doanh nghiệp năm (2005))
- Luận văn nghiên cứu một số quy định về cổ đông trong công ty cổ phần trong
pháp luật của một số nước trên thế giời và chỉ rõ những bài học nước ta có thể
tham khảo và áp dụng.
- Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật về cổ đông trong công ty
cổ phần ở Việt Nam. Luận văn nêu ra được những điểm hạn chế, thiếu sót trong
các quy định pháp luật hiện hành về cổ đông trong công ty cổ phần.
- Luận văn đưa ra được phương hướng và các giải pháp cụ thể tương đối đồng bộ
và sát với thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Luận văn được cơ cấu thành ba chương như
sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về cổ đông trong công
ty cổ phần.
Chương 2: Thực trạng quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ
đông trong công ty cổ phần.


6

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm của công ty cổ phần
Xuất hiện từ thế kỷ XVII, cho đến nay công ty cổ phần đã có lịch sử hàng
trăm năm và đã trở thành hình thức doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết các nước có
nền kinh tế thị trường. Về bản chất, công ty cổ phần là một công ty đối vốn,
trong đó vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty cho đến hết số cổ phần mà họ sở hữu.
Tại Việt Nam, Luật Công ty năm (1990) lần đầu tiên đã có các quy định về
công ty cổ phần. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy đã được thay thế bởi Luật
Doanh nghiệp (1999). Ngày nay, Luật Doanh nghiệp (2005) đã dành hẳn một
chương với các quy định khá cụ thể về công ty cổ phần.
Nói một cách khái quát, công ty cổ phần là công ty, mà trong đó, vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau, gọi là cổ phần. Các thành viên của
công ty (cổ đông) có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ, nghĩa vụ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà họ nắm
giữ.
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
 Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần
Ở công ty cổ phần có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của cá
nhân. Do đó, công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty



7

bằng tài sản của công ty; các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn
đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp vào công ty.
 Khả năng huy động vốn
Công ty cổ phần có cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng huy động vốn lớn.
Điều này thể hiện ở việc trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền
phát hành chứng khoán các loại (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng để huy
động vốn. Đây là một ưu điểm vượt trội của công ty cổ phần so với các loại hình
doanh nghiệp khác.
 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
Việc quản lý công ty cổ phần được thực hiện thông qua ba cơ quan: Đại hội
đồng cổ đông; Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Ngoài ra,
đối với những công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là
tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có Ban kiểm soát.
Trong công ty cổ phần có sự tách biệt giữa vai trò của chủ sở hữu với chức
năng quản lý trong công ty. Giám đốc, Tổng giám đốc là người điều hành hoạt
động hàng ngày của công ty, nhưng không nhất thiết phải là cổ đông của công ty
mà có thể được thuê để quản lý công ty. Sự tách bạch như vậy một mặt vừa thu
hút được những người quản lý chuyên nghiệp làm việc cho công ty, mặt khác đã
tạo cho công ty cổ phần có được sự quản lý tập trung cao.
 Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Điều đó có nghĩa là công ty cổ phần nhân danh chính mình khi tham gia vào
các quan hệ pháp luật và chiụ trách nhiệm trước các nghĩa vụ phát sinh bằng
chính những tài sản của công ty. Công ty cổ phần có tài sản độc lập với các tổ
chức và cá nhân khác.



8

1.2. Khái quát chung về cổ đông trong công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm cổ đông trong công ty cổ phần
Khoản 11, Điều 4, Luật Doanh nghiệp (2005) định nghĩa “Cổ đông là người
sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần”. Tuy nhiên, không
phải mọi chủ sở hữu cổ phần đều được gọi là cổ đông. Người nắm giữ cổ phiếu chỉ
trở thành cổ đông của công ty khi đã ghi đúng, ghi đủ những thông tin luật định vào
Sổ đăng ký cổ đông. Do đó, có thể khái quát“Cổ đông công ty cổ phần là tổ chức
hay cá nhân sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong công ty cổ phần, có các quyền và
nghĩa vụ tương ứng với sổ cổ phần đang sở hữu, được chứng nhận bằng cổ phiếu
của công ty và phải đảm bảo đủ các thông tin được quy định trong Sổ đăng ký cổ
đông”. Về bản chất, cổ đông có vai trò là thành viên, là chủ sở hữu của công ty cổ phần.
Điều này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa “cổ đông” và “trái chủ” trong
công ty cổ phần. Với cấu trúc vốn đa dạng, công ty cổ phần được phát hành các loại
chứng khoán, để huy động vốn. “Cổ phiếu” và “trái phiếu” đều là công cụ huy động
vốn của công ty cổ phần, nhưng khác nhau ở chỗ trái phiếu là công cụ huy động vốn
vay, còn cổ phiếu dùng để huy động hoặc tăng vốn điều lệ. Nếu như “cổ phiếu” có
vai trò là một chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp pháp của một
chủ thể đối với một doanh nghiệp cổ phần, thì “trái phiếu” xác nhận một khoản nợ
của tổ chức phát hành đối với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ trả lại khoản nợ
kèm tiền lãi trong một thời hạn nhất định. Do đó, người nắm giữ trái phiếu - “trái
chủ” là chủ nợ của công ty cổ phần, còn người mua cổ phiếu - “cổ đông” là chủ sở
hữu trong công ty cổ phần.
1.2.2. Đặc điểm của cổ đông trong công ty cổ phần
 Về số lượng cổ đông trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có số lượng thành viên đông đảo
và không bị hạn chế. Điểm d, khoản 1, Điều 79 Luật Doanh nghiệp (2005) quy



9

định công ty cổ phần có “tối thiểu ba thành viên và không hạn chế số lượng tối
đa”.
Điều này xuất phát từ đặc thù của công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp
đặc trưng cho công ty đối vốn. Khi tham gia vào công ty, các thành viên không
quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Họ có thể dễ
dàng chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty một cách dễ
dàng, khiến cho số lượng thành viên của công ty tăng lên một cách đáng kể. Quy
định không giới hạn số lượng cổ đông tối đa mà chỉ quy định số lượng cổ đông tối
thiểu đã giúp cho công ty cổ phần phát huy cao nhất khả năng thu hút vốn của mình,
Đây là quy định khá phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới (pháp luật của
Ba Lan quy định công ty cổ phần có số lượng cổ đông tối thiểu là một cổ đông; ở
Anh, Pháp số lượng cổ đông trong công ty cổ phần tối thiểu là bảy).
 Về chế độ trách nhiệm của cổ đông trong công ty cổ phần
Cổ đông chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong
phạm vi số vốn mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình. Đặc điểm này cho phép nhà
đầu tư mạnh dạn đầu tư vào công ty mà không lo phải chịu rủi ro đối với tài sản cá
nhân trong trường hợp công ty phá sản vì cổ đông không bao giờ bị mất nhiều hơn
so với số vốn họ đã bỏ ra đầu tư.
1.2.3. Phân loại cổ đông trong công ty cổ phần
Cổ đông trong công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú. Có thể dựa trên
nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại cổ đông trong công ty cổ phần, như:



Căn cứ vào loại cổ phần: có thể chia thành “Cổ đông phổ thông” và

“Cổ đông ưu đãi”
Điều 78 Luật Doanh nghiệp quy định công ty cổ phần phải có cổ phần phổ

thông, và người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông, với những
quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất.


10

Ngoài ra, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi, và người sở hữu cổ phần
ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Tương ứng với mỗi loại cổ phần ưu đãi là các loại cổ
đông ưu đãi khác nhau. Cổ phần ưu đãi đem lại cho người nắm giữ những quyền và
nghĩa vụ đặc biệt. Có các loại cổ đông ưu đãi sau:
- Cổ đông ưu đãi biểu quyết (sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết)
- Cổ đông ưu đãi cổ tức (sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức)
- Cổ đông ưu đãi hoàn lại (sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại)
- Các loại cổ đông ưu đãi khác (sở hữu các loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ
công ty quy định)
 Căn cứ vào thời gian, trình tự tham gia thành lập công ty cổ phần, có thể chia
thành “Cổ đông sáng lập” và “Cổ đông thường”.
Cổ đông sáng lập là người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và
ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần (khoản 1, Điều 23, Nghị định
số 102//2010/NĐ-CP).
Trừ các cổ đông sáng lập, những cổ đông còn lại sẽ cổ đông thường trong công
ty, hình thành bằng cách tham gia góp vốn, mua cổ phần và trở thành cổ đông của
Công ty cổ phần.
 Ngoài ra, có thể căn cứ vào nhiều tiêu chí khác để phân loại như:
- Căn cứ vào chủ thể: có thể chia thành “cổ đông là tổ chức” và “cổ đông là cá
nhân”; hoặc “cổ đông là nhà đầu tư trong nước” và “cổ đông là nhà đầu tư nước
ngoài”.
- Căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ: phân loại thành “cổ đông lớn” và
“cổ đông thiểu số”.
- Căn cứ vào nguồn gốc hình thành: có thể chia thành cổ đông là người lao

động trong công ty, cổ đông mua lại phần vốn góp trên thị trường chứng khoán…


11

1.2.4. So sánh cổ đông trong công ty cổ phần với thành viên trong công ty
TNHH và xã viên trong hợp tác xã
Có thể thấy, cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên trong công ty TNHH
và xã viên trong hợp tác xã có một số đặc điểm giống nhau và khác nhau, việc so
sánh ba loại hình thành viên này là hết sức cần thiết. Có thể so sánh ba loại hình
thành viên này dựa trên những tiêu chí sau:
 Những điểm giống nhau:
- Đều là các thành viên có nhu cầu, tự nguyện góp vốn (và góp sức đối với xã
viên hợp tác xã) để lập ra một tổ chức kinh tế.
- Đều được hưởng phần lợi nhuận dựa trên số vốn/ công sức đã góp.
- Đều chịu trách nhiệm về các khoản nợ, rủi ro,thiệt hại trong phạm vi phần
vốn góp của mình.
 Những điểm khác nhau:
Những điểm khác nhau giữa cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên công
ty TNHH và xã viên hợp tác xã được thể hiện trong bảng sau:
Tiêu chí

Cổ đông công ty
cổ phần

Điều kiện
trở thành
thành
viên


Sở hữu ít nhất
một cổ phần đã
phát hành của
công ty cổ phần

Thành viên công ty
TNHH

Xã viên Hợp tác xã

Góp vốn/ cam kết góp
Góp vốn và công sức, tự
vốn bằng các loại hình
nguyện gia nhập hợp tác
tài sản khác nhau vào

công ty

1 thành viên đối với
Số lượng
Công ty TNHH 1 thành
Từ 3 thành viên
thành
viên, từ 2-50 thành viên Từ 7 thành viên trở lên.
trở lên
viên
đối với công ty TNHH
hai thành viên trở lên

Quyền

biểu
quyết

Số phiếu biểu
quyết căn cứ vào
số phần vốn góp
của cổ đông.

Việc biểu quyết tại hội
đồng thành viên phụ
thuộc vào số phần vốn
góp/vốn điều lệ của
thành viên.

Việc biểu quyết tại Đại
hội xã viên và các hội
nghị xã viên không phụ
thuộc vào số vốn góp hay
chức vụ của xã viên hợp
tác xã. Mỗi xã viên hoặc
đại biểu xã viên chỉ có
một phiếu biểu quyết.


12

1.3. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
1.3.1. Hệ thống các văn bản pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần –
Quá trình hình thành và phát triển
Ở Việt Nam, cổ đông trong công ty cổ phần được quy định lần đầu tiên tại

Luật Công ty năm (1990), sau đó là Luật Doanh nghiệp (1999) và gần đây nhất là
Luật Doanh nghiệp (2005). Từ khi ra đời đến nay, quy chế về cổ đông trong công ty
cổ phần đã có những bước tiến quan trọng thể hiện rõ ràng trong những văn bản
pháp luật trên. Cụ thể như sau:
Luật Công ty (1990) chưa có định nghĩa rõ ràng, cụ thể thế nào là cổ đông;
quyền, nghĩa vụ của cổ đông cũng chưa được quy định; chưa phân loại các loại cổ
đông trong công ty. Đạo luật này mới chỉ nêu khái quát cổ đông là thành viên của
công ty cổ phần, sở hữu cổ phần của công ty cổ phần. Như vậy, tại Luật công ty
(1990), quy chế cổ đông trong công ty cổ phần hay công ty cổ phần nói chung chưa
được quy định chi tiết, còn sơ sài, nhiều hạn hạn chế.
Đến LDN (1999), quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần có một
bước tiến đáng kể kể về chất lượng cũng như số lượng các điều luật. Đạo luật này
đã phân loại cổ đông gồm có cổ đông phổ thông và các cổ đông ưu đãi, đã quy định
rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ pháp lý của cổ đông phổ thông, quyền của các
cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần (từ Điều 53 đến Điều 58). Tuy nhiên, LDN
(1999) vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là “cổ đông”, Luật đã quy định về
quyền, nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần nhưng chưa thực sự đầy đủ, chi
tiết. Ví dụ như Luật chưa quy định cụ thể về việc cổ đông phổ thông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác hoặc cho người không phải
là cổ đông của công ty, chưa có quy định cho phép cổ đông phổ thông được xem
xét, tra cứu, trích lục Điều lệ công ty; Nghĩa vụ của các cổ đông phổ thông cũng
được quy định khá sơ sài, chưa đưa ra được các chế tài khi cổ đông vi phạm Điều lệ


13

công ty hay làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của công ty thì sẽ bị xử lý ra sao…
Như vậy, có thể thấy LDN (1999) đã quy định đầy đủ hơn, chi tiết hơn về quy chế
pháp lý đối với cổ đông trong công ty cổ phần. Tuy nhiên, các quy định vẫn còn tồn
tại nhiều thiếu sót, hạn chế, chưa nắm bắt được hết các tình huống có thể xảy ra

trong quá trình hoạt động của công ty cổ phần.
So với LDN (1999), LDN(2005) đã có nhiều đổi mới và tiến bộ trong quy định
về các loại hình doanh nghiệp nói chung và về công ty cổ phần nói riêng. Trong
LDN (2005), có tới 52/111 điều quy định về công ty cổ phần. LDN (2005) đã có
những quy định cụ thể đảm bảo cho việc thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của các cổ đông nói chung; đồng thời bảo vệ mạnh mẽ lợi ích của
các cổ đông thiểu số nói riêng. Bên cạnh việc tạo cơ sở pháp lý cho các cổ đông có
điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty, LDN
(2005) cũng có những quy định bảo vệ mạnh mẽ hơn quyền và lợi ích của các cổ
đông thiểu số như quy định cho phép nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ
phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty có các quyền: đề cử người vào HĐQT và BKS, Quy
định về phương thức bầu dồn phiếu…Như vậy, so với hai văn bản trên, LDN (2005)
đã có những quy định hoàn thiện hơn quy chế pháp lý về cổ đông của công ty cổ
phần.
Có thể thấy rằng, qua hơn 20 năm tồn tại ở nước ta, quy chế pháp lý về cổ
đông trong công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện hơn. Các quy định đã từng
bước được điều chỉnh cụ thể hơn, chi tiết và hợp lý hơn, phù hợp với quá trình phát
triển của nền kinh tế đất nước. Hiện nay, ngoài quy định tại LLDN (2005), pháp

luật về cổ đông trong công ty cổ phần còn được thể hiện trong một số văn bản
hướng dẫn thi hành Luật như Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành
LDN, thay thế Nghị định số 139, Thông tư số 131/2010/TT-BTC ngày 6/9/2010


14

hướng dẫn quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các
doanh nghiệp Việt Nam…
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu pháp luật về cổ đông trong công ty cổ phần,

chúng ta cần tham khảo các quy định có liên quan tại Bộ luật Dân sự, về các vấn
đề như tài sản, quyền tài sản, quyền mua bán, tặng cho, thừa kế cổ phần…Sau
hơn năm năm thi hành Bộ luật dân sự (2005), bên cạnh nhiều ưu điểm cũng đã
bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế và đang tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong thời
gian tới. Ngoài ra, do tính chất đặc thù của mình, pháp luật về cổ đông trong
công ty cổ phần còn chịu sự điều chỉnh của các quy định của Luật đầu tư, Luật
chứng khoán... Có thể nói Luật đầu tư (2005) và Luật chứng khoán (2006) đã
quy định chi tiết các vấn đề về mua bán, phát hành, chào bán, chuyển nhượng cổ
phần, cổ phiếu…, qua đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cổ đông, các nhà
đầu tư vào Công ty cổ phần có được môi trường kinh doanh ổn định, hiệu quả.
1.3.2. Những nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về cổ đông trong công
ty cổ phần
Căn cứ vào những quy định trong các văn bản pháp luật về cổ đông trong
công ty cổ phần, quy chế pháp lý về cổ đông công ty cổ phần bao gồm các nội
dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, Xác lập, thay đổi, chấm dứt tư cách cổ đông công ty cổ phần
Thứ hai, Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần;
Quyền của cổ đông ưu đãi trong công ty cổ phần và các quyền, nghĩa vụ đặc biệt
của cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần.
Khi nghiên cứu về quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần, chúng ta
cần tìm hiểu kỹ càng các quy định pháp luật dựa trên các nội dung trên.


15

1.4. So sánh quy chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở Việt Nam và quy
chế pháp lý về cổ đông trong CTCP ở một số nƣớc trên thế giới –Kinh
nghiệm cho Việt Nam
1.4.1. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
Nhật Bản

Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần được quy định tại Luật
Công ty (2005) của Nhật Bản. Luật công ty của Nhật Bản là sự kết hợp đặc biệt
giữa truyền thống Luật Dân sự của Đức (có một vài yếu tố của Pháp) với Luật
Công ty của Mỹ và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội, văn hóa của Nhật Bản.
Nền tảng pháp lý cho các loại hình công ty ở Nhật Bản là Bộ luật Dân sự và Luật
Thương mại đã có từ khá lâu và sau đó được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Việc
ban hành Luật Công ty mới trong tháng 6 năm 2005 ( Japanese Company Act
2006-JCA 2006) là đỉnh cao của những nỗ lực của Nhật Bản để tái cấu trúc lại và
làm mới khuôn khổ hệ thống pháp luật công ty của mình.[8]
Luật Công ty (LCT) của Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam
đều có những quy định tương đồng về quyền của cổ đông, như quyền hưởng lợi
tức cổ phần, quyền biểu quyết, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, quyền xem
xét trích lục các thông tin, v.v….
Trong Luật Công ty của Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp của Việt Nam,
cổ đông có những quyền của người góp vốn, như: quyền dự họp ĐHĐCĐ, quyền
biểu quyết, quyền đề cử thành viên HĐQT, BKS, quyền tiếp cận thông tin,
quyền được hưởng cổ tức, quyền ưu tiên mua cổ phần mới, quyền chuyển
nhượng cổ phần, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền nhận tài sản còn
lại khi công ty phá sản. Quyền của cổ đông được phân loại phụ thuộc vào cổ
phần nắm giữ. Cả Việt Nam và Nhật Bản đều có qui định về cổ đông phổ thông
và cổ đông ưu đãi. Cổ đông ưu đãi theo Luật Công ty của Nhật Bản là người sở


16

hữu cổ phần ưu đãi trong CTCP. Cổ đông ưu đãi có quyền và lợi ích đặc biệt mà
cổ đông phổ thông không có như quyền ưu đãi biểu quyết, quyền ưu đãi cổ tức,
quyền ưu đãi hoàn lại. [6]
Ở Việt Nam, cơ cấu cổ đông của CTCP khác với cơ cấu cổ đông của công
ty cổ phần ở Nhật Bản ở chỗ có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong một số

CTCP. Cổ đông nhà nước có thể sở hữu đa số cổ phần để giữ vai trò chi phối
trong CTCP. Còn pháp luật Nhật Bản không quy định sự tham gia của cổ đông
nhà nước trong các CTCP.[5]
1.4.2. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
của Singapore
Singapore áp dụng khá triệt để hệ thống pháp luật của Anh. Một trong
những nguyên tắc của việc áp dụng hệ thống pháp luật Anh ở Singapore là áp
dụng đến chừng mực chưa gây ra mâu thuẫn với tập quán và pháp luật
của Singapore. Chính vì vậy, nguồn luật về công ty của Singapore chủ yếu dựa
vào các văn bản pháp luật về công ty của Anh và Úc. Tuy nhiên, Luật Công ty
của Singapore hiện nay cũng chứa đựng nhiều điểm khác so với luật công ty hai
nước trên. Theo Luật Công ty (Luật số 50), Luật đăng ký kinh doanh (Luật số
32) của Singapore thì ở Singapore có các loại hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp một chủ)
- Loại hình doanh nghiệp hợp danh: Hợp danh là thoả thuận giữa những
người tiến hành kinh doanh nhằm thu lợi. Như vậy, theo định nghĩa này thì hai
dấu hiệu đặc trưng của hợp danh là sự tồn tại của việc kinh doanh và sự thoả
thuận giữa nhiều người tham gia việc kinh doanh vì lợi nhuận. Mục đích lợi
nhuận là tiêu chí cơ bản cho việc xác định hợp danh. Số lượng thành viên tối
thiểu của hợp danh là 2 và tối đa là 20. Các hợp danh có thành viên với số lượng
từ 21 trở lên được gọi là công ty cho dù không đăng ký như là công ty.
- Công ty: Hai hay nhiều người có thể thành lập công ty hoạt động vì mục
đích hợp pháp thông qua việc họ ký vào thoả thuận thành lập công ty và tuân thủ


17

quy định đăng ký. Trong mọi trường hợp một công ty phải có ít nhất 2 thành
viên. Nếu công ty trong quá trình hoạt động mà còn lại một thành viên và công
ty vẫn tiếp tục hoạt động hơn tháng thì thành viên này bị coi là phạm luật công ty

và phải chịu trách nhiệm về tất cả những khoản nợ xảy ra trong công ty thì việc
sở hữu cổ phiếu của công ty là điều kiện bắt buộc. Công ty theo pháp luật của
Singapore gồm 3 loại hình:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phiếu (CTCP): trách nhiệm của các thành
viên công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá đã được thanh toán hay chưa được
thanh toán cổ phiếu mà họ nắm giữ.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn theo bảo lãnh: trách nhiệm của các thành viên
công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá trị mà họ cam kết cá nhân đóng góp vào
tài sản của công ty trong trường hợp giải thể.
+ Công ty trách nhiệm vô hạn: các thành viên công ty chịu trách nhiệm vô hạn
đối với hoạt động của công ty.
Luật công ty Singapore chia các công ty thành công ty cổ phiếu giao dịch
hạn chế (private company) và công ty cổ phiếu giao dịch rộng rãi (public
company). Công ty cổ phiếu giao dịch hạn chế không được quá 50 thành viên,
không được phát hành cổ phiếu và trái phiếu cho công chúng và không được
nhận tiền gửi của công chúng. Công ty này cũng có thể hạn chế quyền chuyển
nhượng cổ phiếu. Ngược lại, công ty có cổ phiếu giao dịch rộng rãi không bị
ràng buộc bởi những quy định này.
Theo một số sửa đổi mới đây trong Luật công ty của Singapore, luật pháp
trao cho giám đốc công ty những nghĩa vụ nặng nề và cụ thể hơn so với pháp
luật của Việt Nam. Cụ thể, giám đốc công ty vừa có nhiệm vụ điều hành công ty,
vừa có nhiệm vụ giám sát việc hoạt động của các thành viên HĐQT, chịu trách
nhiệm về công bố thông tin…Có thể nói đây là một quy định khá hay mà Việt
Nam cần học hỏi, bởi ở Việt Nam, nhiều nhà lãnh đạo công ty còn tắc trách, ỷ lại


18

mà không làm tròn trách nhiệm của mình, đặc biệt là các nghĩa vụ về công bố
thông tin.[7]

1.4.3. Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật
của Mỹ:
Ở Mỹ có hai loại hình công ty: công ty đóng là công ty không bán cổ
phiếu ra công chúng và công ty mở là công ty có niêm yết cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán. Luật của Mỹ không buộc người lập công ty phải xác định
loại hình công ty khi đăng ký hoạt động mà sẽ căn cứ vào việc công ty đó sau
này niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hay không để phân loại hình
thức công ty. Có thể kể đến một số điểm đáng chú ý trong luật pháp của Mỹ về
quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông như sau:
Cổ đông ở Mỹ có quan niệm bỏ tiền vào công ty thì luôn mong muốn số
tiền ấy gia tăng và sinh sôi nảy nở. Sự gia tăng có thể là cổ tức nhận được mỗi
năm nhiều hơn hoặc cổ phiếu lên giá nhưng cổ đông Mỹ lại thích cổ phiếu mình
cầm giữ tăng giá hơn là hưởng cổ tức. Cái lợi của cổ đông là thu lợi từ sự phát
triển của công ty mà không phải bận tâm hay bỏ thời gian vào việc quản lý.
Quản lý công ty là việc của HĐQT và Tổng giám đốc.
Ở Mỹ cũng có quy định về phương thức bầu dồn phiếu, nhưng phương thức bầu
dồn phiếu chỉ được áp dụng dễ dàng trong các công ty không phát hành chứng
khoán. Còn ở các công ty phát hành chứng khoán thì phương thức bầu dồn phiếu
không khả thi vì số cổ đông quá lớn. Trong việc bầu chọn Ban giám đốc, trừ khi
có những quy định khác trong điều khoản thành lập công ty,các giám đốc được
bầu bằng đa số phiếu. Điều đó có nghĩa là các ứng cử viên có số phiếu bầu lớn
nhất sẽ được chọn, cho dù họ có đạt được sự tán đồng từ đa số cổ phiếu có quyền
tham gia bỏ phiếu hay không.Việc bầu chọn như vậy sẽ giúp cân bằng quyền lợi


19

của tất cả các cổ đông trong công ty. Đây là một phương thức mà Việt Nam cần
học hỏi.
Như vậy, ở một số nước trên thế giới, quy chế pháp lý về cổ đông không

giống nhau. Học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển, pháp luật của Việt Nam
cần hoàn thiện hơn nữa quy chế này theo hướng quy định quyền lợi và nghĩa vụ
của các cổ đông một cách đồng bộ, chặt chẽ từ vai trò quản lý của HĐQT đến
việc giám sát và quản lý của các nhà đầu tư, của các cổ đông được diễn ra song
hành. Có như vậy thì hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần sẽ cao hơn và phù
hợp hơn với điều kiện kinh tế, trình độ quản lý kinh doanh của chúng ta trong
giai đoạn hiện nay. [5]


20

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CỔ ĐÔNG TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1. Các quy định pháp luật về xác lập, thay đổi, chấm dứt tƣ cách cổ
đông trong công ty cổ phần
2.1.1. Xác lập tư cách cổ đông
Xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần là việc một chủ thể có đủ điều
kiện, thực hiện những phương thức nhất định được pháp luật cho phép để trở thành
cổ đông - chủ sở hữu của công ty cổ phần. Tư cách cổ đông trong công ty cổ phần
có thể được xác lập bằng nhiều phương thức khác nhau như: mua cổ phần của công
ty cổ phần; nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho cổ phần từ cổ đông hiện hữu của
công ty...
So với quy chế thành viên tại các loại hình doanh nghiệp khác, việc các nhà
đầu tư tham gia và trở thành thành viên của công ty cổ phần được thực hiện một
cách dễ dàng thông qua việc nắm giữ quyền sở hữu đối với cổ phần của công ty cổ
phần. Tuy nhiên, việc xác lập tư cách cổ đông trong công ty cổ phần vẫn phải tuân
thủ những trình tự, thủ tục nhất định do luật định.
 Thứ nhất, điều kiện về chủ thể
Luật Doanh nghiệp(2005) quy định “mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức,

cá nhân nước ngoài” đều có quyền góp vốn, mua cổ phần của các loại hình doanh
nghiệp nói chung và của công ty cổ phần nói riêng. Quy định này góp phần tạo nên
sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc đối xử quốc gia và
tối huệ quốc, phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, ổn định chính trị,
phát triển kinh tế, Luật Doanh nghiệp (2005) đã quy định một số trường hợp ngoại
lệ nhà đầu tư không có quyền mua cổ phần trong công ty cổ phần. Theo đó, Luật
Doanh nghiệp (2005) đã sử dụng phương pháp loại trừ khi liệt kê những đối tượng
này tại Khoản 4, Điều 13:


×