BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HẢO
NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN TRONG GIAO DỊCH
DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Thị Huệ
Hà Nội – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
được trình bày trong luận văn là trung thực, thông tin trích dẫn trong luận văn đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hảo
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học: TS.
Trần Thị Huệ - Khoa pháp luật Dân sự, đại học Luật Hà Nội đã hướng dẫn và
giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến
đóng góp quý báu của khoa Sau đại học – Đại học Luật Hà Nội cùng các giảng
viên trong và ngoài Nhà trường đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn truyền đạt
những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tác giả xin cảm ơn sự trợ giúp của cán bộ trung tâm thư viện – Đại học
Luật Hà Nội đã tạo điều kiện hỗ trợ tìm kiến nguồn tài liệu phục vụ quá trình học
tập và nghiên cứu của tác giả cho đến khi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tác giả xin gửi tới gia đình và bạn bè những người luôn bên
cạnh cổ vũ động viên cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Thanh Hảo
1
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................... 3
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ
CỦA CÁ NHÂN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ ............................................ 9
1.1. Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự ...... 9
1.1.1.
Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân ........................................9
1.1.2.
Khái niệm giao dịch dân sự ............................................................16
1.1.3. Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự ..20
1.2. Ý nghĩa của việc xác định năng lực chủ thể của cá nhân trong
giao dịch dân sự .............................................................................................. 23
1.3. Khái lược quy định pháp luật Việt Nam về năng lực chủ thể của cá
nhân trong giao dịch dân sự .......................................................................... 25
1.4. Năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự theo quy định
của pháp luật dân sự một số nước ................................................................ 31
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NĂNG
LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ ............. 36
2.1. Quy định về năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự ... 36
2.1.1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân trong giao dịch dân sự ....36
2.1.2. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong giao dịch dân sự........37
2.2. Quy định của pháp luật về năng lực chủ thể của cá nhân trong một
số giao dịch dân sự cụ thể .............................................................................. 46
2.2.1. Năng lực chủ thể của cá nhân trong hợp đồng dân sự ....................46
2.2.2. Năng lực chủ thể của cá nhân trong hành vi pháp lý đơn
phương .............................................................................................................56
2
2.3. Nhận xét quy định của pháp luật về năng lực chủ thể của cá nhân
trong giao dịch dân sự.................................................................................... 62
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN TRONG
GIAO DỊCH DÂN SỰ........................................................................................ 66
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về năng lực chủ thể của cá nhân trong
giao dịch dân sự .............................................................................................. 66
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về năng lực chủ thể của cá
nhân trong giao dịch dân sự .......................................................................... 71
3.2.1. Về lập pháp ...........................................................................................71
3.2.2. Về áp dụng pháp luật...........................................................................75
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 78
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ được viết tắt
Từ viết tắt
1
Bộ luật Dân sự
BLDS
2
Giao dịch dân sự
GDDS
3
Hôn nhân và gia đình
HN&GĐ
4
Năng lực chủ thể
NLCT
5
Năng lực hành vi dân sự
NLHVDS
6
Năng lực pháp luật dân sự
NLPLDS
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giao dịch dân sự (GDDS) là một trong những phương thức hữu hiệu
cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền
nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và
trong sản xuất kinh doanh. Để tạo sự ổn định, giúp nhận biết, khắc phục và
ngăn chặn những yếu tố chứa đựng rủi ro đối với các chủ thể khi tham gia
GDDS pháp luật đã quy định về các điều kiện có hiệu lực của GDDS.
Khoản 1 Điều 122 bộ Luật Dân sự (BLDS) năm 2005 ghi nhận điều
kiện có hiệu lực của GDDS là “chủ thể tham gia giao dịch dân sự có năng lực
hành vi dân sự” nhưng chúng ta có thể hiểu để GDDS có hiệu lực thì chủ thể
tham gia GDDS phải là người có năng lực chủ thể (NLCT). Điều này có nghĩa
là chủ thể đó phải có năng lực pháp luật dân sự (NLPLDS) và năng lực hành
vi dân sự (NLHVDS). Nếu pháp luật có quy định các chủ thể tham gia giao
kết và thực hiện GDDS phải có NLHVDS thì buộc các bên chủ thể phải tuân
theo nếu không tuân thủ thì giao dịch không có hiệu lực pháp luật. Trong
trường hợp này các bên không được quyền lựa chọn khác với yêu cầu của
pháp luật. Điều đó cho phép khẳng định: điều kiện về NLHVDS của chủ thể
có giá trị quyết định đến hiệu lực của GDDS.
NLPLDS của cá nhân hình thành khi người đó sinh ra và kết thúc khi
người đó chết nhưng NLHVDS lại chỉ có được khi người này đạt được một
trình độ phát triển nhất định về thể lực và trí lực. Như vậy, không phải ngay từ
khi sinh ra cá nhân đã có thể tự mình tham gia vào GDDS mà họ cần phải đạt
được một trình độ phát triển nhất định về thể lực và trí lực mới có thể trở
thành chủ thể của GDDS. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đã có không ít giao dịch
5
diễn ra mà người tham gia không thỏa mãn những điều kiện về NLCT dẫn đến
tranh chấp trong quá trình thực hiện như: người giao dịch không có quyền
giao dịch, không có NLHVDS giao dịch, tình trạng lợi dụng người chưa thành
niên, người mất NLHVDS để tiến hành GDDS… Hệ quả là không ít các
GDDS đã bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều kiện về NLCT.
Hơn nữa, hệ thống pháp luật quy định về NLCT nói chung và NLCT
trong giao dịch nói riêng vẫn còn những mâu thuẫn, chồng chéo dẫn đến khó
khăn cho quá trình áp dụng pháp luật như vẫn chưa có sự thống nhất về thuật
ngữ “vị thành niên”, “trẻ em”, “người chưa thành niên” liệu những người này
có cùng là một hay có sự khác nhau; hay quy định về độ tuổi tham gia giao
dịch vẫn còn chưa thống nhất như tại Điều 3 khoản 1 luật Lao động 2012 quy
định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động,
làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều
hành của người sử dụng lao động”. Cũng trong quy định của Bộ luật này tại
Điều 61 xác định: “Người học nghề, tập nghề trong trường hợp này phải đủ
14 tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định”; Điều 161: “Người lao
động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”… Chính sự thiếu đồng
bộ này đã dẫn đến ngay cả các nhà làm luật cũng khó khăn trong giải thích và
áp dụng pháp luật khiến việc thực thi pháp luật kém hiệu quả, chưa bảo vệ
được quyền lợi hợp pháp của người dân khi tham gia GDDS.
Vì thế, tác giả đã chọn đề tài “Năng lực chủ thể của cá nhân trong
giao dịch dân sự theo quy định của BLDS năm 2005” làm đề tài nghiên cứu
của mình. Đề tài hoàn thành sẽ giúp nhìn nhận đầy đủ, hệ thống những quy
định của pháp luật; những thiếu sót, bất cập xảy ra trong thực tế liên quan đến
6
NLCT của cá nhân trong GDDS; cũng như đóng góp những giải pháp thiết
thực để hoàn thiện quy định của pháp luật về NLCT của cá nhân trong GDDS.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về NLCT trong GDDS không hẳn là đề tài mới. Trong thời
gian qua, vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả, trong nhiều công trình
nghiên cứu đề cập đến như: TS. Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Chủ thể quan hệ
pháp luật dân sự”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; TS. Đỗ Văn Đại, Nguyễn
Thanh Thanh Thư (2011), “Vấn đề bảo hộ người mất năng lực hành vi dân
sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý (5); TS. Phan Huy Hồng (2005), “Bàn về
năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân kinh doanh”, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, (5); TS. Nguyễn Văn Tuyết (2004), “NLCT của cá nhân khi tham
gia GDDS”, Tạp chí Luật học, (2); Lê Vương Long (1996), “Cơ chế xác lập
hành vi của chủ thế khi tham gia quan hệ pháp luật”, (4); Lê Đình Nghị
(2003), “Các quy định về cá nhân trong giao dịch dân sự”, Tạp chí Luật học,
(11)….
Tuy nhiên, những nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập đến những khía
cạnh khác nhau của đề tài, do đó có một đề tài nghiên cứu toàn diện về NLCT
trong GDDS theo quy định của BLDS năm 2005 là hết sức cần thiết để hoàn
thiện các quy định của pháp luật về năng lực của các chủ thể tham gia GDDS
giúp cho pháp luật đi vào cuộc sống.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chủ thể là cá nhân tham gia GDDS bao gồm cá nhân là người Việt Nam
và cá nhân là người nước ngoài, người không quốc tịch. Vì thế, trong luận văn
của mình, tác giả đề cập đến NLCT của cá nhân là người Việt Nam và tập
trung vào một số vấn đề như sau:
7
- Nghiên cứu tổng quan về NLCT của cá nhân trong GDDS theo quy
định của BLDS năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Nghiên cứu NLCT của cá nhân trong một số GDDS điển hình như:
hợp đồng dân sự, hứa thưởng, thi có giải và lập di chúc;
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định của BLDS thông qua một
số tình huống liên quan đến NLCT trong GDDS.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin;
- Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
thể như:
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử … được sử
dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về
GDDS, NLCT và NLCT trong GDDS;
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở
chương 2, 3 khi xem xét, tìm hiểu về các quy định của BLDS năm 2005 về
NLCT trong GDDS, thực tiễn thi hành các quy định này và giải pháp hoàn
thiện.
5. Mục đích của việc nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu nhằm:
- Tìm hiểu quy định của pháp luật về NLCT của cá nhân trong GDDS;
8
- Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định về NLCT của cá nhân trong
GDDS thông qua một số vụ việc cụ thể;
- Chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến những vi phạm quy định của pháp
luật về NLCT trong GDDS
- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của BLDS trong thời
gian tới.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ là công trình mang tính hệ thống về NLCT của cá
nhân trong GDDS góp phần xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp
luật trong việc điểu chỉnh hành vi của cá nhân khi tham gia giao dịch.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của đề tài gồm những phần sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về năng lực chủ thể của cá nhân trong
giao dịch dân sự
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về năng lực chủ thể của cá
nhân trong giao dịch dân sự
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và định hướng hoàn thiện pháp luật về
năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự
9
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ
NHÂN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
1.1.
Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân
sự
1.1.1. Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân
Cá nhân là chủ thể đầu tiên và quan trọng của các quan hệ xã hội, song
để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng cá
nhân phải có NLCT.
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: NLCT của cá nhân là tổng
hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc
trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu
quả cao. Tâm lý học chia NLCT của cá nhân thành các dạng khác nhau như
năng lực chung và năng lực chuyên môn.
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác
nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực
học tập, năng lực tưởng tưởng…;
- Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định
của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội
hoạ, toán học...
Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với
nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát
triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của
năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối
với sự phát triển của năng lực chung.
10
NLCT của cá nhân còn được hiểu theo một cách khác là tính chất tâm
sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo
tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động. Trong điều kiện bên
ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng
và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải
mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được
trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định
tuy đã hết sức cố gắng [36].
Dưới góc độ pháp lý: Hiện nay pháp luật không có định nghĩa cụ thể về
năng lực chủ thể của cá nhân. NLCT của cá nhân được xác định bởi hai yếu tố
là NLPLDS và NLHVDS. Trong đó NLPLDS “là khả năng của cá nhân có
quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”; NLHVDS là “khả năng cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
* Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Để tham gia các quan hệ dân sự, cá nhân phải có NLCT. Trước hết, cá
nhân đó phải có NLPLDS. NLPLDS được quy định tại khoản 1 điều 14
BLDS: “Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự”. NLPLDS là khả năng, điều kiện, tiền đề cần thiết để cá
nhân đó có quyền và nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá
nhân để được xem là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, NLPLDS
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, NLPLDS của cá nhận được nhà nước ghi nhận trong các văn
bản pháp luật mà nội dung của nó mang tính lịch sử. Ở những nước khác
nhau, có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau thì NLCT cũng khác nhau. Cụ thể
như: Ở Anh quyền tư hữu về đất đai được pháp luật thừa nhận. Cùng với đó,
luật pháp nước Anh cũng thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của nữ hoàng Anh
11
(hình thức sở hữu này chỉ mang tính tượng trưng, nặng về ý nghĩa chính trị,
không có ý nghĩa về mặt kinh tế và pháp luật). Bên cạnh đó nữ hoàng cũng có
những diện tích đất thuộc quyền sở hữu của hoàng gia mà không phải là sở
hữu của Nhà nước [32, tr.4]. Còn ở Việt Nam thì không công nhận quyền này.
NLPLDS không phải là thuộc tính vốn có của chủ thể, không phải là
thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên, càng không phải là hiện tượng bất biến. NLPL
do pháp luật của một nhà nước quy định và dành cho công dân của nước họ.
Bởi vậy, NLPLDS của công dân mang tính giai cấp và mỗi hình thái kinh tế
xã hội khác nhau, NLPLDS cũng không giống nhau. Trong lịch sử nhân loại
đã từng có một nhóm người không được thừa nhận là chủ thể của các quan hệ
xã hội mà là khách thể của quan hệ - những nô lệ của trong thời kỳ chiếm hữu
nô lệ. Những người nô lệ chỉ là công cụ lao động biết nói, là con vật biết tiếng
người, họ không có tư cách là chủ thể của quan hệ xã hội, họ chỉ là vật để mua
đi, bán lại.
Không những thế, trong cùng một hình thái kinh tế xã hội, nhưng ở
những nước khác nhau thì NLPLDS cũng khác nhau. Thậm chí, trong cùng
một nước, cùng một hình thái kinh tế xã hội, nhưng vào những thời điểm khác
nhau của lịch sử thì NLPLDS cũng khác nhau. Điều này phụ thuộc vào đường
lối, chính sách của giai cấp thống trị trong xã hội, trong từng thời kỳ cụ thể.
Chẳng hạn, ở Việt Nam từ năm 1980 – 1992, cá nhân không có quyền sở hữu
đối với đất đai, từ năm 1992 đến nay “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà
nước làm đại diện chủ sở hữu” cá nhân có quyền chuyển dịch và sử dụng đất
đai [12, tr.79].
Thứ hai, mọi cá nhân đều bình đẳng về NLPLDS. Điều này được ghi
nhận tại khoản 2 Điều 14 BLDS: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân
12
sự như nhau”. Tức mọi người không phân biệt già trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn
giáo… đều được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ như nhau.
Thứ ba, NLPLDS không bị hạn chế. NLPLDS do Nhà nước quy định
bảo đảm cho cá nhân có tiền đề tham gia vào các quan hệ xã hội nên Nhà nước
không cho phép sự hạn chế năng lực này của cá nhân. NLPLDS là thuộc tính
nhân thân gắn liền với chủ thể, và không thể dịch chuyển cho chủ thế khác.
Điều 16 BLDS quy định: “năng lực pháp luật dân sự không bị hạn chế, trừ
trường hợp do pháp luật quy định”.
Thứ tư, tính bảo đảm của NLPLDS. Khả năng có quyền và nghĩa vụ vẫn
chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luật quy định cho các chủ thể.
Để biến những khả năng ấy thành hiện thực cần phải có những nhân tố nhất
định, một trong những nhân tố không thể thiếu được đó là những điều kiện
kinh tế - xã hội - chính trị trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thứ năm, NLPLDS có tính liên tục. Một cá nhân sẽ được xác định là có
NLPLDS từ khi họ được sinh ra và năng lực này chỉ chấm dứt khi họ chết.
Việc xác định thời điểm một người sinh ra hay thời điểm người đó chết có ý
nghĩa pháp lý quan trọng làm phát sinh hay chấm dứt NLPLDS đó. NLPLDS
không phụ thuộc vào độ tuổi hay nhận thức của người đó. Trường hợp đặc biệt
bào thai cũng có NLPLDS, đó chính là trường hợp một người sinh ra và còn
sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di
sản chết cũng được xác định là người thừa kế và được hưởng di sản của người
đã chết.
* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Cùng với NLPLDS, NLHVDS là bộ phận cấu thành NLCT của cá nhân.
Mỗi cá nhân chỉ có NLHVDS khi người đó đạt đến một độ tuổi nhất định và
có sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ.
13
Về mặt ngôn ngữ thì năng lực là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên để có
thể thực hiện hoạt động nào đó. Còn hành vi hiểu theo nghĩa chung là sự xử sự
của con người dưới dạng hành động hoặc không hành động. Nói cách khác
hành vi là cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn
cảnh cụ thể. Nhưng không phải mọi hành động của con người biểu hiện ra bên
ngoài đều được hiểu là hành vi. Để được gọi là hành vi thì hành động của con
người phải có ý thức, phải mang tính xã hội. Tức là phải chứa đựng cả hai yếu
tố lý trí và ý chí, trong đó lý trí là khả năng nhận thức sự vật bằng suy luận,
biểu hiện mức độ khả năng làm chủ của mình. Còn ý chí là mong muốn chủ
quan, là sự theo đuổi mục đích nhất định thiên về tình cảm, cảm giác của cá
nhân. Những người không có khả năng nhận thức thì không có khả năng điều
khiển hành vi. Chỉ khi có hai thuộc tính này thì cá nhân mới có khả năng kiểm
soát hành vi của mình và chịu trách nhiệm về hành vi đó. Vì thế, ở góc độ này
NLHVDS là sự phù hợp giữa lý trí và ý chí và sự mong muốn chủ quan của cá
nhân đó. Dựa vào sự phù hợp của hai yếu tố nói trên, cho thấy khi một cá nhân
đã đạt được sự phù hợp giữa lý trí và ý chí sẽ được coi là người có đầy đủ
NLHVDS.
Như vậy, NLHVDS có thể hiểu là khả năng của cá nhân trong việc nhận
thức và điều khiển hành vi của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp
luật và khả năng tự chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra. Điều 17
BLDS năm 2005 quy định “Năng lực hành vi là khả năng cá nhân bằng hành
vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”. Mặt khác, NLHVDS
còn bao hàm cả năng chịu trách nhiệm của cá nhân khi cá nhân đó vi phạm
nghĩa vụ dân sự trước chủ thể mang quyền. Khả năng ở đây còn được hiểu là
pháp luật cho phép hay không cho phép, cho phép ở mức độ nào trong khi
tham gia GDDS. Những khả năng này thông thường được pháp luật thừa nhận
14
thông qua những văn bản cụ thể như: giấy phép hành nghề, giấy đăng ký
doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư… Nếu những người không có khả năng
này mà vẫn tham gia thì giao dịch bị xem là vô hiệu.
Nghiên cứu về NLHVDS của cá nhân có một số điểm đáng lưu ý như
sau:
Thứ nhất, NLHVDS của cá nhân do pháp luật quy định. Pháp luật Việt
Nam cũng như pháp luật của các nước lấy độ tuổi làm tiêu chí xác định
NLHVDS của cá nhân. Dĩ nhiên, đây không phải là tiêu chí duy nhất và thống
nhất để làm điều kiện công nhận NLHVDS của một cá nhân cho tất cả các loại
quan hệ pháp luật. Nếu như độ tuổi cho thấy sự phát triển về thể chất thì khả
năng nhận thức và làm chủ hành vi thể hiện sự phát triển về tinh thần. Sự phát
triển về thể chất và tinh thần phản ánh đầy đủ, toàn diện “khả năng” của cá
nhân trong việc thực hiện, kiểm soát và chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Quá trình hình thành nhân cách phải trả qua một thời gian nhất định, chỉ khi
đạt đến độ tuổi nhất định thì cá nhân mới hoàn thiện, đủ khả năng để kiểm
soát, chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi mình gây ra. Khi đó, hành vi mà họ
thực hiện mới là hành vi xã hội, là đối tượng điều chỉnh của pháp luật.
Thứ hai, NLHVDS của cá nhân không mang tính đồng đều. Sự không
đồng đều thể hiện trong các mức độ NLHVDS mà pháp luật quy định: Người
chưa thành niên sẽ có NLHVDS khác với người đã thành niên; người chưa
thành niên có NLHVDS chưa đầy đủ (từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi) sẽ có
NLHVDS khác với người chưa thành niên không có NLHVDS (dưới 6 tuổi).
Sự không đồng đều này phản ánh sự phát triển khác nhau của người chưa
thành niên dựa vào các yếu tố tâm sinh lý, khả năng nhận thức, làm chủ hành
vi.
15
Thứ ba, NLHVDS không xuất hiện từ khi cá nhân sinh ra, mà chỉ có khi
cá nhân đạt độ tuổi nhất định. Không giống như NLPLDS “có từ khi người đó
sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. Một người khi sinh ra đã có
NLPLDS, pháp luật quy định cho họ có quyền khai sinh, quyền đối với họ tên,
quyền được có quốc tịch… Thế nhưng, lúc sinh ra NLHVDS chưa được hình
thành, họ không thể tự mình mua bán, ký kết hợp đồng… mà họ phải đạt độ
tuổi nhất định nào đó thì mới có NLHVDS. Chẳng hạn như quy định tại Điều
19 BLDS: “người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường
hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của bộ luật này”. Như vậy, người từ đủ
18 tuổi trở lên là người có NLHVDS đầy đủ nếu như họ không bị mất
NLHVDS, hoặc hạn chế NLHVDS.
NLPLDS và NLHVDS tạo thành NLCT vì thế chúng có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau.
NLPLDS là điều kiện cần, NLHVDS là điều kiện đủ để cá nhân trở
thành chủ thể của quan hệ pháp luật. Những chủ thể chỉ có NLPLDS mà
không có NLHVDS thì không thể trực tiếp trở thành chủ thể của quan hệ pháp
luật dân sự nói riêng, quan hệ pháp luật nói chung. Họ không thể tham gia một
cách tích cực vào các quan hệ pháp luật. Chủ thể chỉ có thể tham gia thụ động
vào các quan hệ pháp luật thông qua hành vi của người thứ ba hoặc được Nhà
nước bảo vệ trong một số quan hệ pháp luật nhất định.
NLPLDS là tiền đề của NLHVDS nên không thể có chủ thể pháp luật
không có NLPLDS mà lại có NLHVDS. Vì khi không quy định các quyền,
nghĩa vụ pháp lý cho chủ thể thì Nhà nước cũng không cần phải tính đến điều
kiện để cá nhân có thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý đó.
Với cá nhân, NLPLDS và NLHVDS không xuất hiện đồng thời,
NLPLDS có ngay từ khi sinh ra, còn NLHVDS là điều kiện đủ để tạo nên
16
NLCT cho cá nhân tham gia vào GDDS. NLPLDS là tiền đề cho NLHVDS,
song NLPLDS của cá nhân cũng được mở rộng dần theo NLHVDS của họ.
Trong một số trường hợp, NLHVDS được xác định là cơ sở để xem xét và bảo
vệ một số quyền dân sự nhất định như quyền nuôi con, nuôi con nuôi…
Từ phân tích về các yếu tố cấu thành của NLCT có thể đưa ra khái niệm
về NLCT của cá nhân như sau:
Năng lực chủ thể của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi
của mình xác lập, thực hiện quyền và gánh vác các nghĩa khi được pháp luật
trao quyền hoặc phải gánh vác nghĩa vụ dân sự.
1.1.2. Khái niệm giao dịch dân sự
GDDS là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lí
quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung
ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên
trong xã hội.
Tiếp cận dưới góc độ bản chất: Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ
thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên GDDS là hành vi mang tính ý
chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.
Dưới góc độ pháp lý: Điều 121 BLDS năm 2005 đã khẳng định:
“GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Tác giả đồng ý với quan điểm trong giáo trình luật Dân sự, Học viện tư
pháp (2006, tr.128 – 133) cho rằng:
GDDS là một dạng của quan hệ pháp luật dân sự phát sinh trên cơ sở
hành vi có ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm làm phát
sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
17
Hành vi pháp lý trở thành GDDS khi hội tụ các điều kiện sau đây:
Phải có sự sự tuyên bố ý chí (thể hiện ý chí) của một hoặc các chủ thể
thực hiện hành vi đó. Tuyên bố ý chí được tạo thành bởi hai yếu tố: hành vi
tuyên bố công khai các ý định và ý định thực sự mong muốn những hậu quả
pháp lý nhất định.
Ý chí là khả năng tự xác định mục đích, hướng hoạt động, khắc phục
khó khăn nhằm đạt được những mục đích đã đặt ra. Nói cách khác, ý chí được
hiểu là điều mà người ta mong muốn, là nguyên nhân thúc đẩy họ (động lực
bên trong) hướng tới việc thực hiện những hành vi nhất định để đạt được kết
quả xác định. Như vậy, ý muốn và việc lựa chọn biện pháp để đạt được ý
muốn đó thuộc suy nghĩ chủ quan của con người, do đó ngoài chính người đó
những người xung quanh không thể biết người đó đang suy nghĩ gì nếu họ
không biểu lộ nội tâm.
Việc một người mong muốn biểu lộ nội tâm ra bên ngoài làm cho người
khác thấy rõ nội dung ý chí của mình được gọi là tuyên bố ý chí. Hay nói cách
khác, hành vi tuyên bố là hành vi công khai ý chí nhằm làm cho người khác
biết về ý định, mong muốn của mình về một hậu quả pháp lý nào đó sẽ được
xảy ra trong tương lai.
Thông thường, các tuyên bố ý chí đều xuất phát từ ý định thực sự của
người tuyên bố, nhưng trên thực tế cũng có những trường hợp tuyên bố ý chí
không xuất phát từ ý định thật sự của người tuyên bố hoặc tuyên bố ý chí đó
không hoàn chỉnh, bị bóp méo do sự tác động từ bên ngoài. Trong trường hợp
này nếu công nhận hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ý chí đó thì lợi ích của
các bên có thể không được bảo đảm. Do vậy, pháp luật đòi hỏi tuyên bố ý chí
phải xuất phát từ ý định thực sự và dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của
người tuyên bố.
18
Thứ hai, phải có hậu quả pháp lý xảy ra từ sự tuyên bố ý chí đó. Hậu
quả pháp lý với nghĩa rộng là sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ
quyền lợi và nghĩa vụ. Hậu quả pháp lý có thể là việc hưởng một quyền lợi
nhất định và đồng thời chịu một nghĩa vụ tương xứng hoặc là việc thay đổi
hay kết thúc các quyền và nghĩa vụ đang tồn tại.
Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự khi tuyên bố ý chí đều mong muốn
đạt được một hậu quả phát lý nhất định. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi giữa
tuyên bố ý chí và các quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh trong quan hệ
pháp lý phải có mối quan hệ chặt chẽ nhau. Đó là hậu quả pháp lý phải phát
sinh từ hành vi tuyên bố ý chí.
Thứ ba, hậu quả pháp lý xảy ra phải phù hợp với ý chí của người thực
hiện hành vi đó và phù hợp với nội dung tuyên bố ý chí đã thực hiện. Mặc dù
tuyên bố ý chí và ý định thực sự là hai yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên
GDDS. Song nếu chỉ có hai yếu tố này thôi thì chưa đủ mà để một hành vi
pháp lý được hình thành còn đòi hỏi phải có sự xuất hiện của hậu quả pháp lý.
Hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vi tuyên bố ý chí là điều kiện cần nhưng
chưa phải là điều kiện đủ làm phát sinh hành vi pháp lý mà để một hành vi
pháp lý phát sinh cần có điều kiện là sự phù hợp giữa hậu quả pháp lý xảy ra
với ý định của người thực hiện hành vi tuyên bố ý chí. Hay nói cách khác, để
hình thành hành vi pháp lý cần có: ý chí, tuyên bố ý chí, hậu quả pháp lý từ
tuyên bố ý chí và sự phù hợp của ba yếu tố trên.
Thứ tư, nội dung và mục đích của hành vi pháp lý phải không vi phạm
điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Mục đích của GDDS là
lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó
(mục đích thực tế). Nội dung của GDDS là tổng hợp các điều khoản mà các
bên đã cam kết, thoả thuận. Mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ
19
chặt chẽ với nhau. Con người xác lập, thực hiện GDDS luôn nhằm đạt được
mục đích nhất định. Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận
về nội dung và ngược lại những cam kết, thoả thuận về nội dung của họ là để
đạt được mục đích của giao dịch. Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán tài sản, mục
đích mà các bên hướng tới là quyền sở hữu tài sản. Để đạt được mục đích này
họ phải thoả thuận được về nội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều
khoản như đối tượng (vật bán), giá cả, thời hạn, địa điểm, phương thức thực
hiện hợp đồng. Sự thoả thuận về các điều khoản đó lại nhằm đạt được mục
đích là quyền sở hữu tài sản. Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải bao giờ
các chủ thể cũng có cùng mục đích. Có những trường hợp người mua muốn
được sở hữu tài sản nhưng người bán không có mục đích đó mà vì một mục
đích khác, như bán tài sản để trốn tránh việc kê biên tài sản, trường hợp này
người bán không phải muốn chuyển quyền sở hữu cho bên mua. Mục đích này
là trái pháp luật.
Để GDDS có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch
không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Điều cấm của pháp luật là những quy
định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong
đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Chỉ những tài sản
được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của
GDDS. Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức
xã hội là những giao dịch có mục đích và nội dung không hợp pháp, không
làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch đó.
Thứ năm, GDDS mang tính xác định và khả thi. Hành vi tuyên bố ý chí
nhằm xác lập, thay đổi, hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Do vậy,
20
nó cần phải được biểu đạt một cách chính xác, rõ ràng đến mức làm cho người
khác có thể nắm bắt được. Nếu hành vi tuyên bố ý chí này không được biểu
đạt một cách chính xác, rõ ràng đến mức làm cho người khác có thể nắm bắt
được thì đương nhiên hành vi tuyên bố này sẽ không thể mang lại một hậu quả
pháp lý mà chủ thể đã thực hiện nó mong muốn. Những hành vi tuyên bố ý chí
chung không rõ ràng, không mang tính xác thực hoặc không mang tính khả thi
sẽ không làm phát sinh một hậu quả pháp lý mong muốn. Chẳng hạn như,
hành vi tuyên bố về một hợp đồng mua bán nhà nhưng không xác định rõ ngôi
nhà nào là nhà định bán là một hành vi thiếu tính xác thực và hành vi tuyên bố
về một hợp đồng mua bán một ngôi nhà đã bị tiêu hủy là một hợp đồng không
có tính khả thi nên những hợp đồng loại này đều vô hiệu.
Tuyên bố ý chí cần phải được thể hiện ra bên ngoài thông qua lời nói,
chữ viết hay một hành động cụ thể mới làm cơ sở phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt một GDDS.
1.1.3. Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự
Cá nhân khi tham gia GDDS cần tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của
GDDS. Điều 122 khoản 1 điểm a BLDS năm 2005 quy định: “người tham gia
giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự” mà không quy định: “người
tham gia giao dịch dân sự có năng lực chủ thể” nhưng, chúng ta cần phải hiểu
quy định nêu trên theo cách chủ thể tham gia GDDS có NLCT đối với GDDS
bởi vì cá nhân muốn tham gia vào GDDS trước hết cần được pháp luật thừa
nhận quyền tham gia GDDS từ đó mới có cơ sở để xác lập, thực hiện và chịu
trách nhiệm đối với GDDS. Vậy NLCT trong GDDS là gì?
Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về NLCT trong GDDS.
Khoa học pháp lý nghiên cứu NLCT là một trong những điều kiện có hiệu lực
của GDDS.
21
Cá nhân là chủ thể chủ yếu và thường xuyên tham gia vào các GDDS.
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng không phải mọi cá nhân đều bình đẳng
với nhau trong việc xác lập, thực hiện GDDS, trái lại khả năng này phụ thuộc
vào NLHVDS của mỗi cá nhân. Cá nhân ở mỗi độ tuổi khác nhau, với khả
năng nhận thức khác nhau đối với hành vi cũng như hậu quả do hành vi của
mình nên sẽ có khả năng tham gia GDDS khác nhau.
Sỡ dĩ pháp luật quy định như vậy vì cho rằng bản chất của GDDS là sự
tuyên bố ý chí và tuyên bố ý chí này chỉ có ý nghĩa nếu như nó đạt được sự
thống nhất giữa ý chí và thể hiện ý chí.
Dựa vào những nghiên cứu ở trên có thể hiểu khái quát về NLCT của cá
nhân trong GDDS như sau:
Năng lực chủ thể của cá nhân trong giao dịch dân sự là khả năng của
cá nhân bằng hành vi có ý chí của mình nhằm xác lập, thực hiện, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự khi được pháp luật trao quyền hoặc phải
gánh vác nghĩa vụ.
Căn cứ vào các điều từ Điều 18 đến Điều 23 của BLDS năm 2005, khả
năng tham gia các GDDS của cá nhân được xác định tùy thuộc vào độ tuổi và
năng lực nhận thức, điểu khiển hành vi cũng như khả năng nhận thức được
hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây nên. Cụ thể là:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có NLHVDS đầy đủ, trừ trường hợp họ bị
toà án tuyên bố mất NLHVDS, tuyên bố hạn chế NLHVDS là người có
NLHVDS đầy đủ. Về nguyên tắc, người có NLHVDS đầy đủ được toàn quyền
xác lập mọi GDDS cho bản thân họ và người mà họ đại diện. Tuy nhiên, pháp
luật cũng đưa ra một số trường hợp ngoại lệ theo đó một người dù đã có
NLHVDS đầy đủ cũng không được phép tham gia GDDS như:
+ Bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc