Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Trường hợp cấm kết hôn một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (672.53 KB, 72 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HIỀN

TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số:

60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS- NGÔ THỊ HƯỜNG

HÀ NỘI 2013


2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận văn “ Các trường hợp cấm kết hôn- Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” Được thực hiện từ tháng 5/2012 đến tháng 3/2013. Luận văn sử dụng
những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Các thông tin này đã chỉ rõ nguồn


gốc , một số dữ liệu được phân tích tổng hợp và xử lý với mục đích nghiên cứu
khoa học trong phạm vi đề tài luận văn.
Tôi xin cam đoan:
1. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực
và có nguồn trích dẫn rõ ràng, đảm bảo .
2. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này hoàn toàn vì mục tiêu
khoa học, cống hiến, không có mục đích vụ lợi hoặc làm sai lệch thông tin ảnh
hưởng đến đường lối chính trị của Đảng và chính sách pháp luật Nhà nước.
3. Cam kết đã nghiêm túc nghiên cứu, minh bạch trong sử dụng thông tin,
khôn làm ảnh hưởng đến uy tín của bất cứ nhà nghiên cứu nào có liên quan đến
đè tài của luận văn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2013
Học viên

Nguyễn Thị Hiền


3

LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của tập thề giảng
viên trương Đại học luật Hà Nội, các giảng viên thỉnh giảng cũng như sự động
viên ủng hộ của cơ quan, gia đình, bè bạn trong suốt thời gian học tập, nghiên
cứu và thực hiện đề tài.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời chi ân đến TS Ngô Thị
Hường – Người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn
thành luận văn này.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể các thầy cô trong Tiểu ban
Hôn nhân và gia đình đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như

tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
thực hiện đề tài thạc sỹ của mình.
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên
hỗ trợ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các
đồng chí, đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ.

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2013
Học viên

Nguyễn Thị Hiền


4

MỤC LỤC
trang
MỞ ĐẦU

6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤM KẾT HÔN

12

1.1 KHÁI NIỆM KẾT HÔN, ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN, CẤM KẾT HÔN

12


1.1.1 Khái niệm kết hôn

12

1.1.2 Khái niệm điều kiện kết hôn

15

1.1.3 Khái niệm điều kiện cấm kết hôn

16

1.2 QUY ĐỊNH VỀ CẤM KẾT HÔN TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT
NAM

17

1.2.1 Pháp luật thời kỳ phong kiến

17

1.2.2 Pháp luật thời kỳ pháp thuộc

18

1.2.3 Pháp luật Việt nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

20


CHƯƠNG 2: CẤM KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2000 VÀ BIÊN PHÁP XỬ Lý

23

2.1 CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM KẾT HÔN

23

2.1.1 Người đang có vợ có chồng

23

2.1.2 Người mất năng lực hành vi dân sự

26

2.1.3 Giữa những người cùng dòng máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm
vi ba đời

29

2.1.4 Giữa cha mẹ nuôi với con nuôi giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với
con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, mẹ kế với con riêng của chồng
32
2.1.5 Kết hôn giữa những người cùng giới tính

34

2.2 BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN VI PHẠM

QUY ĐỊNH CẤM KẾT HÔN

37

2.2.1 Xử lý theo luật hôn nhân và gia đình

37


5

2.2.2 Xử lý theo luật hành chính

39

2.2.3 Xử lý theo luật hình sự

41

CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CẤM KẾT HÔN VÀ MỘT SỐ BIỆN
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

44

3.1 Thực hiện quy định về cấm kết hôn

44

3.1.1 Những kết quả đạt được


44

3.1.2 Những tồn tại

47

3.1.2.1 Tình trạng người đang có vợ, có chồng kết hôn

48

3.1.2.2 Tình trạng người bị tâm thần kết hôn

50

3.1.2.3 Tình trạng kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ và giữa những
người có họ trong phạm vi ba đời

52

3.1.2.4 Tình trạng chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính54
3.1.2.5 Thực tiễn Tòa án giai quyết hủy kết hôn trái pháp luật

57

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cấm kết hôn

57

3.2.1 Một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng quy định về cấm kết hôn


57

3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của
pháp luật về cấm kết hôn

61

KẾT LUẬN

67

DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO

69


6

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã
hội. Gia đình là một tổ chức tự nhiên của xã hội loài người, là một đơn vị nhỏ
nhất để tạo nên xã hội. Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội
không thể tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, muốn xây dựng xã hội tốt thì
phải xây dựng gia đình tốt, như Hồ Chủ Tịch đã nói: “ Gia đình tốt thì xã hội
tốt, nhiều gia đình cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”.
Gia đình có vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người cũng
như sự phát triển của xã hội, mà hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình nên
các quốc gia đều quan tâm điều chỉnh quan hệ hôn nhân. Ở Việt Nam, quan
hệ hôn nhân và gia đình là đối tượng điều chỉnh của pháp luật từ rất sớm.

Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) được ban hành dưới triều Lê đã có
những điều khoản quy định về hôn nhân. Từ đó đến nay, qua các thời kỳ, các
văn bản pháp luật về dân sự và hôn nhân và gia đình của Việt Nam đều điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó kết hôn là một trong các chế
định quan trọng, bởi kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn
nhân và hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình. Để hôn nhân tồn tại bền vững,
pháp luật của nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến điều kiện kết hôn. Quy định
điều kiện kết hôn là xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của các bên kết hôn, của
gia đình và xã hội. Do vậy, các bên kết hôn phải tuân thủ điều kiện kết hôn.
Thông qua các đạo luật từ thời phong kiến đến nay có thể nhận định rằng điều
kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam bao gồm điều kiện mà các bên kết hôn
cần phải có mới được kết hôn và điều kiện mà các bên kết hôn không có mới
được kết hôn (các trường hợp cấm kết hôn). Trong đó, điều kiện về các bên
kết hôn không thuộc trường hợp cấm kết hôn mang tính chế tài rất cao. Quy
định các trường hợp cấm kết hôn là hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình


7

đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Mục tiêu đó luôn được xác định rõ ràng, nhất
quán trong Luật hôn nhân và gia đình cũng như trong các văn bản pháp luật
khác của Nhà nước ta. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành quy
định điều kiện kết hôn gồm: Độ tuổi, sự tự nguyện của các bên kết hôn và các
trường hợp cấm kết hôn. Quy định về cấm kết hôn trong Luật hôn nhân và gia
đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 có những điểm khác nhau. Điều này xuất phát từ những thay
đổi về xã hội cũng như quan điểm lập pháp của Nhà nước ta. Trong mỗi thời
kỳ, quy định về cấm kết hôn được thực hiện khá nghiêm chỉnh trong thực
tiễn. Nhiều quy định cấm kết hôn đã đi vào cuộc sống và trở thành tập quán
của người Việt Nam. Tuy nhiên, ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, các

trường hợp vi phạm quy định về cấm kết hôn vẫn tồn tại và có xu hướng gia
tăng. Các trường hợp vi phạm quy định điều kiện cấm kết hôn đang diễn ra
hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, đến thuần phong, mỹ
tục, ảnh hưởng đến việc quản lí nhà nước theo pháp luật và ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, trong quá trình
thực hiện và áp dụng pháp luật đã bộc lộ nhiều điểm vướng mắc, bất cập. Đặc
biệt, trong yêu cầu sửa đổi bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 xuất hiện nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về quy định cấm kết
hôn. Bên cạnh việc giữ gìn văn hóa truyền thống thì pháp luật hôn nhân và gia
đình cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội
trong sự hội nhập và giao lưu quốc tế. Từ đó cho thấy, việc nghiên cứu một
cách toàn diện về quy định cấm kết hôn là cần thiết, làm sáng tỏ các vấn đề
bất cập, vướng mắc và những quan điểm khác nhau, góp phần vào việc hoàn
thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình. Do đó, đề tài “ Các trường hợp cấm
kết hôn - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận
và thực tiễn.


8

2. Tình hình nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, có nhiều tác giả nghiên cứu về điều kiện kết hôn
trong đó có các trường hợp cấm kết hôn. Nhiều bài viết được đăng trên các
tạp chí chuyên ngành; một số Luận văn, Khóa luận về vấn đề này đã được
thực hiện.
- Bài viết trên Tạp chí Luật học số 11/2011 của Ths. Bùi Thị Mừng “Về
độ tuổi kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình” và bài “Nguyên tắc hôn nhân
tự nguyên, tiến bộ từ góc nhìn bình đẳng giới” đăng trên Tạp chí Luật học số
3/2010 đã chỉ ra những vướng mắc bất cập trong quy định độ tuổi kết hôn,
không đồng bộ với luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự.

- Bài viết “Chế định kết hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam qua các thời kỳ - Dưới góc nhìn lập pháp” của Ths. Bùi Thị Mừng đăng
trên tạp chí Luật học số 11/2012, đã phân tích so sánh các quy định cấm kết
hôn trong của pháp luật qua các thời kỳ và đưa ra những nhận xét liên quan
đến luật điều chỉnh việc kết hôn.
- Bài viết “Vài ý kiến về việc cấm kết hôn giữa những người cùng huyết
thống” đăng trên Tạp chí Luật học số 5/1996 (tr.12 – 13) và bài “Mấy vấn đề
về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” đăng trên Tạp chí
Luật học số 6/2001 (tr.32 – 35) của tác giả Ngô Thị Hường bàn về cơ sở khoa
học và thực tiễn của quy định cấm kết hôn giữa những người cùng huyết
thống và giữa những người cùng giới tính.
- Bài viết “Một số vấn đề về cấm kết hôn giữa những người cùng giới
tính”của Ths. Bùi Thị Mừng đăng trên tạp chí Luật học số 1/2013 đưa ra góc
nhìn dựa trên cơ sở khoa học về giới tính, đồng thời đưa ra một số giải pháp
để giải quyết vấn đề hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
- Luận văn thạc sỹ của Khuất Thị Thu Hạnh (2009) với đề tài “ Chế
định kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” đã phân


9

tích các điều kiện kết hôn, trong đó bao gồm quy định về cấm kết hôn theo
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thi Diệu Thuần với đề tài “ Hủy việc
kết hôn trái pháp luật theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” (2008) đã
phân tích các điều kiện kết hôn, từ đó nêu những biện pháp pháp lý giải quyết
các trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn.
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Quỳnh Trang với đề tài “Các
trường hợp cấm kết hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2012). Với yêu
cầu của khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã giải quyết được một số vấn đề về lý

luận và thực tiễn về các trường hợp cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000. Tuy nhiên, Khóa luận chưa nêu ra và giải quyết được các
quan điểm khác nhau về quy định cấm kết hôn theo pháp luật hiện hành cũng
như chưa đưa ra được hướng hoàn thiện pháp luật về cấm kết hôn.
Như vậy, có thể nhận định rằng mỗi công trình nghiên cứu đều có
những thành công trong phạm vi và mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có
đề tài nào đi sâu nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn về quy định cấm
kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số lý luận về điều kiện kết hôn và
cấm kết hôn các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về các
trường hợp cấm kết hôn và thực tiễn thực hiện pháp luật về cấm kết hôn
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp được áp dụng để thực hiện đề tài
gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê và phương pháp xã hội học.
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu


10

Mục đích nghiên cứu đề tài là:
- Phân tích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về
các trường hợp cấm kết hôn;
- Phân tích những tác động của thời đại đến các điều kiện kết hôn trong
đó có các trường hợp cấm kết hôn ở nước ta;
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao ý
thức của nhân dân trong việc thực hiện quy định về điều kiện kết hôn nói
chung và cấm kết hôn nói riêng.

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về các điều kiện kết hôn, đánh giá được
bản chất, ý nghĩa của kết hôn và các điều kiện kết hôn;
- Phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về các trường hợp cấm
kết hôn và biện pháp xử lý đối với tình trạng kết hôn vi phạm quy định về
cấm kết hôn;
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về cấm kết hôn,
từ đó chỉ ra những điều hạn chế của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về
cấm kết hôn;
- Đề xuất một số kiến nghị sửa đổi quy định về điều kiện kết hôn và cấm
kết hôn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về kết hôn và cấm kết
hôn. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện quy định về
cấm kết hôn trong thực tiễn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về điều kiện cấm kết hôn, sự
cần thiết phải quy định điều kiện cấm kết hôn.


11

- Luận văn cũng đánh giá những điểm còn bất cập, vướng mắc trong việc
thực hiện các điều kiện cấm kết hôn, phân tích một số sự biến đổi, tác động
của các điều kiện xã hội hiện nay đến các quy định về cấm kết hôn.
- Luận văn đã đề xuất một số kiến nghị về sửa đổi bổ sung các điều kiện
cấm kết hôn cho phù hợp hơn với điều kiện xã hội hiện nay
7. Cơ cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
gồm ba chương.
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về cấm kết hôn

Chương 2: Cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 và biện pháp xử lý
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về cấm kết hôn và một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật về cấm kết hôn


12

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤM KẾT HÔN
1.1. KHÁI NIỆM KẾT HÔN, ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN, CẤM KẾT HÔN

1.1.1. Khái niệm kết hôn
Mong muốn mưu cầu hạnh phúc đã được hình thành từ lâu trong ý thức
của mỗi cá nhân, ngay từ thủa sơ khai khi con người vừa thoát thai từ loài
vượn người, còn sống bầy đàn. Cùng với thời gian, loài người có sự phát
triển, nhận thức, tư duy. Trải qua những giai đoạn lịch sử, dưới các chế độ của
các hình thái xã hội khác nhau, mong muốn này vẫn không hề mất đi, nó vẫn
tồn tại và phát triển như quy luật tất yếu của cuộc sống.
Ở nước ta, trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy,
có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Nam nữ xác
lập quan hệ vợ chồng nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm chính là một trong
những mục tiêu của mưu cầu hạnh phúc. Quan hệ vợ chồng được thiết trên cơ
sở kết hôn. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người
nữ, sự liên kết này phải được nhà nước thừa nhận bằng một hình thức pháp
lý- đó là đăng ký kết hôn. Bất cứ Nhà nước nào cũng quy định hình thức pháp
lý mà thông qua đó Nhà nước công nhận việc xác lập quan hệ vợ chồng trước
pháp luật. Quan điểm của mỗi Nhà nước có thể khác nhau về hình thức của sự

công nhận, về cơ quan có thẩm quyền công nhận nhưng pháp luật của các
nước đều có điểm giống nhau là việc xác lập một hình thức pháp lý cho quan
hệ vợ chồng phải dựa trên các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Các
điều kiện kết hôn chỉ được đặt ra và xem xét khi cơ quan có thẩm quyền công
nhận quan hệ hôn nhân giữa hai bên kết hôn.


13

Theo pháp luật Việt Nam, việc thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa hai
bên nam nữ phải được thực hiện thông qua việc đăng ký kết hôn. Mọi nghi
thức kết hôn khác không tuân thủ quy định về đăng ký kết hôn đều không
được pháp luật công nhận. Điều đó có thể khẳng định kết hôn là sự kiện pháp
lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự thủ tục Luật
định, nhằm công nhận các bên kết hôn là vợ chồng.
Để thiết lập quan hệ vợ chồng, trước hết hai bên kết hôn phải thể hiện ý
chí của mình là mong muốn được tiến tới hôn nhân. Do đó, các bên kết hôn
phải bày tỏ ý chí tự nguyện, ưng thuận kết hôn với nhau. Đây là yếu tố quan
trọng để yêu cầu đăng ký kết hôn của các bên nam nữ được công nhận. Pháp
luật hiện hành quy định: Việc kết hôn phải được đăng kí trong sổ hộ tịch,
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại Điều 12,
Điều 13 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Đồng thời, Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ nam, nữ sống chung như vợ,
chồng mà không đăng kí kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ
chồng.
Hiện nay trên thế giới có nhiều nước quy định không có hôn nhân khi
không có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ. Tuy nhiên, tính tự nguyện trong
hôn nhân được nhìn nhận với nhiều quan điểm khác nhau. Ở các nước
Phương tây, tự do thỏa thuận trong hôn nhân trước hết thể hiện ở sự thỏa
thuận về tài sản trong hôn nhân, được gắn liền với việc xác lập hôn ước trước

khi kết hôn. Một số nước khác, trong đó có Việt Nam cho rằng tự nguyện kết
hôn phát sinh từ tình cảm giữa nam và nữ, việc tiến tới hôn nhân là do chính
các bên kết hôn quyết định. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình chứ
không vì mục đích tạo lập, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng dân sự. Sự tự
nguyện là hướng tới mục đích bền vững của hôn nhân. Hôn nhân được xây
dựng trên yếu tố tình cảm, nhằm mục đích xây dựng gia đình, đó là điều kiện


14

đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, vững bền của hôn nhân, mà hôn nhân có
vững bền thì gia đình, xã hội mới phát triển tốt.
Dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là một sự kiện pháp lý. Đây là
một sự kiện pháp lý phức hợp bao gồm nhiều sự kiện cấu thành, nếu thiếu
một trong những sự kiện hoặc hành vi đó thì cấu thành không có hiệu lực, tức
là việc kết hôn sẽ không có giá trị pháp lý.
Việc kết hôn của bên chỉ được công nhận là hợp pháp khi đảm bảo các
yếu tố sau:
- Các bên nam nữ phải thể hiện ý chí tự nguyện của mình trong việc
mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng;
- Các bên nam nữ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn do pháp
luật quy định;
- Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Khi tiến hành đăng ký kết hôn, Cơ quan đăng ký kết hôn ghi việc kết
hôn vào sổ đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho các bên nam
nữ . Từ đó, quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ phát sinh và được đảm bảo
bằng pháp luật. Đăng ký kết hôn là hình thức công nhận quan hệ hôn nhân về
mặt pháp lý, hoàn toàn khác với các hình thức công nhận hôn nhân trên thực
tế. Ở Việt Nam hiện vẫn tồn tại hình thức tổ chức lễ cưới theo phong tục hay
nghi lễ tôn giáo... Nhiều cặp “vợ chồng” sau khi tổ chức lễ cưới theo phong

tục hoặc tại nhà thờ theo nghi thức tôn giáo đã chung sống với nhau trong
quan hệ vợ chồng nhưng không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì giữa các bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng
theo quy định của pháp luật.
Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng
giữa hai bên kết hôn trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết


15

hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của
pháp luật.
1.1.2. Khái niệm điều kiện kết hôn
Điều kiện, theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là: Điều nêu ra như một
đòi hỏi trước khi thực hiện một việc gì đó [1, tr 311 ]. Vậy có thể hiểu điều
kiện kết hôn là điều nêu ra như một đòi hỏi khi nam nữ đăng ký kết hôn.
Mỗi nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử đều có quy định về điều kiện kết
hôn, nhưng các điều kiện kết hôn đó được quy định không hoàn toàn giống
nhau. Nếu vi phạm một trong các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn sẽ không
có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai bên kết
hôn. Việc kết hôn luôn gắn liền với điều kiện kết hôn. C.Mac đã viết: “Không
ai bị buộc kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc tuân theo luật hôn nhân một khi
người đó kết hôn” [2,tr.218].
Điều kiện kết hôn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, cũng bị chi phối
và chịu sự ảnh hưởng của đạo đức, tôn giáo trong từng thời kỳ lịch sử. Điều
kiện kết hôn phản ánh và phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, y
học. Suốt thời kỳ tồn tại chế độ phong kiến, quan hệ hôn nhân của đôi bên
nam – nữ đều do cha, mẹ quyết định với quan niệm: “Cha,mẹ đặt đâu con
ngồi đó”. Trong “Cổ luật Việt Nam lược khảo”, tác giả Vũ Văn Mẫu cho rằng
việc kết hôn “được đánh giá như việc tối quan trọng liên hệ đến nền tảng gia

đình, do đó điều kiện tối thiết yếu là ưng thuận của cha mẹ”. Ông cũng chỉ ra
“ cùng các điều kiện khác liên hệ đến tuổi, đến sự ưng thuận của hai bên namnữ, cũng như các điều kiện không có giá thú, không có tang hay không phải là
thân thuộc hoặc không ở trong những trường hợp luật cấm” [3. tr 166]. Điều
kiện kết hôn là những điều kiện gắn liền với bản thân người kết hôn, không
tách rời, là những yếu tố thuộc về nhân thân của chủ thể kết hôn. Trong “Dân
luật lược giảng”, tác giả Vũ Văn Mẫu cũng chỉ ra những điều kiện kết hôn về


16

nội dung “là các điều kiện mà hai bên trai gái phải dẫn được bằng chứng cho
viên hộ lại, có thể hiểu đây là điều kiện về bản thể: nam- nữ tính, thể cách và
giấy chứng minh tiền hôn, tuổi của hai vợ chồng, điều kiện về sự ưng thuận
của cha mẹ, đây là những điều kiện tích cực. Bên cạnh đó cũng có điều kiện
tiêu cực không cần phải dẫn chứng trong trường hợp thông thường như: Điều
kiện không có một giá thú chưa được giải tiêu; điều kiện không có liên hệ
thân thích giữa hai vợ chồng; điều kiện không phạm vào thời kỳ cư tang, cư
sương hay ở vậy” [4.tr 154]. Đây cũng là lý giải của ông về quy định cấm kết
hôn. Điều kiện kết hôn là quy định của pháp luật do nhà nước ban hành, khác
với quy phạm xã hội, quy phạm đạo đức ở chỗ có tính cưỡng chế, thể hiện sức
mạnh quyền lực của nhà nước bắt buộc các chủ thể phải tuân theo.
Như vậy, điều kiện kết hôn là chuẩn mực pháp lý gắn liền với bản thân
các bên kết hôn, đòi hỏi hai bên kết hôn phải đáp ứng, trên cơ sở đó việc kết
hôn của các bên được nhà nước công nhận là hợp pháp.
1.1.3 Khái niệm cấm kết hôn
“Cấm” được hiểu là không cho phép làm gì đó hoặc không cho phép
tồn tại. Vậy cấm kết hôn là việc pháp luật không cho phép nam, nữ kết
hôn.[5-trg 117 ]
Pháp luật của hầu hết các quốc gia đều quy định các điều kiện kết hôn,
trong đó có các trường hợp cấm kết hôn. Quy định cấm kết hôn là xuất phát từ

phong tục, tập quán, đạo đức, khoa học. Quy định cấm kết hôn nhằm đảm bảo
sự lành mạnh của nòi giống, thuần phong mỹ tục, trật tự kỷ cương trong gia
đình, sự phát triển của xã hội. Do vậy, quy định các trường hợp cấm kết hôn
là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên kết hôn, của gia đình và
xã hội.
Khi kết hôn, các bên phải không thuộc trường hợp cấm kết hôn. Nếu
một trong các bên yêu cầu đăng ký kết hôn thuộc trường hợp cấm kết hôn thì


17

cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký việc kết hôn đó. Trong trường hợp
các bên đã được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, sau đó có căn cứ
cho rằng một trong hai bên hoặc cả hai bên thuộc trường hợp cấm kết hôn thì
việc kết hôn đó bị Tòa án xử hủy theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức,
các bên kết hôn không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Như vậy, cấm kết hôn là quy định của pháp luật về một số trường hợp
cụ thể mà khi kết hôn, các bên kết hôn không thuộc trường hợp đó.
1.2. QUY ĐỊNH VỀ CẤM KẾT HÔN TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM

1.2.1 Pháp luật thời kỳ phong kiến
Hệ thống pháp luật thời kỳ phong kiến đề cao các nghi lễ tôn giáo,
thiết chế kỷ cương trong xã hội. Ảnh hưởng nho giáo, lễ nghĩa thể hiện rõ
trong các quy định về hôn nhân và gia đình. Chính vì vậy các tư tưởng này đã
ảnh hưởng đến tư tưởng chủ đạo của các nhà làm luật lúc bấy giờ. Tư tưởng
đức trị kết hợp với pháp trị được thể hiện rõ trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ
luật Gia Long. Trong các bộ luật thời kỳ này quy định nghiêm ngặt, chặt chẽ
về điều kiện kết hôn, trong đó có các trường hợp cấm kết hôn. Với việc đề cao
quan hệ bề tôi phải trung thành với vua, vợ thủ tiết với chồng… Bộ luật

Hồng Đức quy định các trường hợp cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ
hoặc tang chồng (Điều 317). Quy định này đề cao chữ “hiếu” của con đối
với cha, mẹ và chữ “tiết” của vợ đối với chồng. Điều 318 quy định cấm kết
hôn khi ông, bà, cha, mẹ đang bị giam cầm. Điều 324 cấm anh lấy vợ góa của
em, em lấy vợ góa của anh, trò lấy vợ góa của thầy, nhằm đề cao tôn ty, trật
tự, kỷ cương trong gia đình cũng như trong xã hội. Điều 334 cấm quan trấn
giữ bi
các vùng dân tộc Lô Lô, Si La, PuPeo, Brâu, Ơ du…[27].
Việc kết hôn có quan hệ huyết thống có hệ quả rất xấu cho thế hệ sau
về mặt sức khỏe như: Vàng Thị N cháu gái của Vàng A T (đều cư trú ở thôn


53

Phiêng My), đã hơn 4 lần bị chính quyền ngăn cản không cho kết hôn nhưng
họ vẫn lén lút làm đám cưới và về chung sống với nhau, để rồi kết quả Vàng
Thị N đã 3 lần sinh con nhưng hai đứa con đầu yếu ớ, mền oặt,rồi chết sau vài
tháng, đứa trẻ thứ ba mới sinh cũng rất yếu ớt, chị Vàng Thị N cũng rất lo
lắng sợ giống hai đứa con đầu của mình. Hoặc trường hợp

Vàng

A

K

sinh năm 1984 và Vàng Thị D sinh sinh năm 1984 ở bản Liền là hai chị em
con dì con già, họ chung sống với nhau đã ba năm và sinh ra những đứa trẻ
đều yếu ớt rồi chết [28]. Ở xã Đắc Liêng huyện Lắk (Đắc Lắc) năm 2005 anh
Y và chị H kết hôn với nhau dù biết rõ có quan hệ huyết thống (mẹ anh Y là

em ruột của bố chị H) nhưng vẫn tiến hành kết hôn, hậu quả con trai đầu của
họ là X (sinh 2006), ngay khi mới sinh đã bị khoèo chân, chậm phát triển
[29]. Một vấn đề đặt ra ở đây là những trường hợp kết hôn giữa anh em con
cô, con cậu này vẫn được cơ quan địa phương cấp Giấy chứng nhận kết hôn.
Anh Nguyễn Võ Trường, cán bộ tư pháp xã Đắc Liêng cho biết: Khi họ đến
Ủy ban nhân dân làm thủ tục đăng ký kết hôn, thì điền vào mẫu đơn có sẵn và
vì mỗi người mang một họ khác nhau nên khó nhận biết được là có quan hệ
huyết thống gần thuộc diện cấm kết hôn với nhau. Từ đấy cho thấy việc nâng
cao trình độ pháp lý cho cán bộ ở các vùng miền này là điều hết sức cấp thiết,
bên cạnh đó cần tăng cường tuyên truyền cho người dân hiểu hôn nhân cận
huyết thống để lại hậu quả nặng nề cho thế hệ sau và bị pháp luật nghiêm
cấm. Từ đó, người dân có ý thức chấp hành pháp Luật hôn nhân và gia đình
tốt hơn, đồng thời nâng cao hiểu biết của nhân dân về pháp luật hôn nhân và
gia đình, góp phần phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả
nghiêm trọng. Ví dụ một vụ việc đau lòng mà Tòa án nhân dân Thành phố
Vũng Tàu đã xét xử bị cáo Ngô Hùng Toán sinh năm1995, ngụ ở Cà Mau,
tạm trú ở Bà Rịa Vũng Tàu về tội giết người mà nạn nhân lại chính là em họ
con cậu ruột của Toán. Nguyên nhân là do tình yêu của hai anh em bị hai bên


54

gia đình ngăn cấm, Toán đã giết em và tự sát trước mặt hai bên gia đình với
mong muốn giữ trọn lời thề mãi bên nhau, kết quả là em họ của Toán chết
cònToán lĩnh án 7 năm tù (vì tại thời điểm gây án Toán chưa đủ 15 tuổi) .
Thiết nghĩ trong gia đình cũng cần phải quan tâm hơn với con trẻ, hướng dẫn
giáo dục trẻ về quan hệ họ hàng, bởi họ được sinh ra trong mối quan hệt tình
cảm họ hàng, có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau, nên rất rễ nảy sinh tình
cảm, nếu không có định hướng rõ ràng, kịp thời của cha mẹ, thì rất có thể xảy
ra những hậu quả đau lòng như vụ án trên [30].

Một vấn đề hiện đang xảy ra nhưng còn thiếu cơ sở pháp lý để giải
quyết đó là cơ sở để xác định quan hệ huyết thống của những người kết hôn.
Đó là tình trạng “mang thai hộ” hay “đẻ thuê”. Trên thực tế tình trạng này
đang diễn ra đến mức khó kiểm soát. Hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 chưa quy định về “mang thai hộ” hay “đẻ thuê”. Nghị định số
12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học có
quy định cấm mang thai hộ, nhưng đó là mang thai hộ theo phương pháp khoa
học. Trên thực tế “mang thai hộ” hay “đẻ thuê” là sinh con tự nhiên. Người
thuê hoặc “nhờ” sau khi nhận con thì khai sinh cho đứa trẻ mà phần khai về
cha mẹ thì vợ chồng họ được khai. Giả thiết rằng những đứa con do một
người mẹ sinh ra nhưng về pháp lý không phải là anh chị em với nhau mà yêu
cầu đăng ký kết hôn với nhau thì cơ quan đăng ký kết hôn không có cơ sở để
từ chối đăng ký kết hôn cho họ.
3.1.2.4. Tình trạng chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới
tính
Những năm gần đây, hiện tượng chung sống như vợ chồng giữa những
người đồng tính, chuyển giới ngày càng nhiều và họ ngày càng công khai
quan hệ.


55

Ngày 7 tháng 4 năm 1997 hãng tin thông tấn Reuters đưa tin về đám
cưới đồng tính đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam giới,
tiệc cưới được diễn ra ở một khách sạn với hơn 100 khách mời và bị nhiều
người dân phản đối.
Ngày 7 tháng 3 năm 1998, hai đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh
Long, nhưng không được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau đám cưới này
Quốc hội thông qua đạo luật cấm kết hôn vào tháng 6/1998. Đám cưới của hai
đồng tính nữ từng học cùng nhau là Thùy Linh và Quang Minh (tên thật là

Ngô Diễm Huyền) là giám đốc của một công ty truyền thông quảng cáo ở Hà
Nội đã tạo nên một sự xung đột trong tư tưởng sống của cộng đồng xã hội.
Đám cưới được tổ chức quy mô, được sự chấp nhận của hai bên gia đình, ủng
hộ của bạn bè [31]. Gần đây nhất vào ngày 16/5/2012 tại phường Bình San,
Thị xã Hà Tiên tỉnh Kiên Giang đã diễn ra tiệc cưới của hai đồng tính nam là
Trương Văn Hiên và Nguyễn Hoàng Bảo Quốc. Đám cưới được sự đồng
thuận của hai bên gia đình, hơn 100 khách đến dự,nhiều người dân hiếu kỳ
đến xem, gây ách tắc giao thông, chính quyền phường Bình San phải can
thiệp và sử phạt hành chính với đám cưới trên. Có thể thấy, việc kết hôn giữa
những người đồng tính hiện nay đã được một số nước công nhận, tuy nhiên ở
Việt Nam thì vẫn chưa được cho phép vì nó trái với truyền thống lâu đời của
dân tộc ta.
Trên thực tế, trong xã hội nước ta hiện nay hiện tượng đồng tính không
còn bị miệt thị, khinh bỉ hay xa lánh như trước, người đồng tính đã sẵn sàng
công khai với giới tính thật của mình và chung sống với nhau như vợ chồng.
Theo thống kê từ năm 2007 thì tại Hà Nội có khoảng 10.000 đồng tính nam,
thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 20.000 người [32, trg 80].
Các tổ chức qua quá trình nghiên cứu, điều tra đưa ra con số ước tính
một cách khác nhau: Theo một báo cáo của bác sỹ Trần Bồng Sơn được công


56

bố tại hội nghị khoa học kỹ thuật tại bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức 26/9/2006 số người đồng tính nam khoảng 70.000 người,
nhưng theo nghiên cứu của tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện tại Việt
Nam thì khoảng 50.000- 125.000 người. Con số này đang ngày càng gia tăng
trong những năm gần đây. Hiện nay, tuy trong văn bản pháp luật của nước ta
không cấm quan hệ tình dục đồng tính, nhưng trong Luật Hôn nhân gia đình
cấn kết hôn giữa những người cùng giới tính. Chưa có nhiều nghiên cứu ở

nhiều khía cạnh khác nhau của đồng tính luyến ái. Đại bộ phận người dân còn
kỳ thị, cũng như có suy nghĩ sai lệch về người đồng tính, điều này có tác động
xấu đến những người đồng tính và cả xã hội, một số hoạt động dành cho giới
này chưa được tổ chức quan tâm đầy đủ và cần thiết. Theo nghiên cứu của
Viện ISEE về sự kỳ thị của ngừơi đồng tính tại Việt Nam cho thấy: 1,5% đã
bị đuổi học khi bị phát hiện là người đồng tính; 4,1% bị kỳ thị về nhà ở: 4,5 %
cho biết đã bị tấn công, đánh đập vì là người đồng tính: 1,5 % bị cha,mẹ đánh
đập và chửi mắng vì là người đồng tính [31].
Tuy nhiên, tại thời điểm này thái độ khinh miệt với người đồng tính đã
giảm nhẹ hơn trước trong tư tưởng thế hệ thanh thiếu niên. Qua thăm dò tại
Trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 với câu hỏi “
Người đồng tính có xấu không”, hơn 80% học sinh trả lời “ không” và giải
thích đó là quyền tự do của mỗi người hoặc đồng tính không phải lỗi của bản
thân người đó. Khi phát hiện bạn trong lớp đồng tính thì 72 % vẫn giữ mối
quan hệ như trước, kèm thêm động viên, an ủi là 34%, giữ kín cho bạn 35%,
khinh bỉ 2%. Sợ hãi 13%. Điều này cho thấy , việc quy định của pháp luật
Việt Nam nên có những điều chỉnh sao cho phù hợp với tâm sinh lý của
người, đồng thời cũng tiến dần đến xu hướng công nhận hôn nhân đồng tính
như một số nước trên thế giới [33].


57

3.1.2.5. Thực tiễn tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối
với trường hợp vi phạm quy định cấm kết hôn chưa phản ánh đúng tình
hình thực tiễn vi phạm
Theo số liệu thống kê của Tòa án Tối cao từ năm 2008 đến năm 2010
thì năm 2008 tổng số vụ việc hôn nhân và gia đình mà Tòa án nhân dân giải
quyết là 76.152 vụ, trong đó số vụ hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết
là 80 vụ, chiếm 0,11% tổng số vụ hôn nhân và gia đình. Năm 2009 tổng số

vụ hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết là 54 vụ, chiếm 0,06% tổng số
vụ hôn nhân và gia đình. Năm 2010 tổng số vụ việc hôn nhân và gia đình mà
tòa án đã giải quyết được 98.989 vụ, chiếm 0,06% , trong đó số vụ hủy kết
hôn trái pháp luật được giải quyết là 58 vụ, chiếm 0,06% tổng số vụ hôn nhân
và gia đình [34]. Từ số liệu trên ta thấy, số lượng án hủy kết hôn trái pháp luật
chiếm rất ít, điều này cũng cho thấy số vụ vi phạm các trường hợp cấm kết
hôn bị xử lý là rất thấp so với thực tế vi phạm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
sự việc này, có thể khi bị phát hiện các bên vi phạm tự thỏa thuận với nhau
sửa chữa, tiếp tục chung sống hoặc do người có quyền yêu cầu hủy vệc kết
hôn trái pháp luật không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên tắc tố tụng, tòa
án chỉ xét xử khi có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của những người
có quyền yêu cầu. Tuy nhiên, khi vi phạm quy định về cấm kết hôn thì nam
nữ và cha, mẹ, con cũng như tổ chức có quyền yêu cầu thường không yêu cầu
tòa án hủy vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính vì thế mà con số vi phạm
cấm kết hôn bị tòa án xử là quá ít so với con số vi phạm trên thực tế.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤM KẾT HÔN
3.2.1. Một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng quy định về cấm kết hôn
Một số quy định của pháp luật Việt Nam vẫn còn chưa phù hợp nên khi
áp dụng còn gặp những vướng mắc nhất định.
Thứ nhất: Xác định thế nào là người đang có vợ, có chồng.


58

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 thì “ người đang có vợ, có chồng” không được kết hôn. Khi kết hôn
người kết hôn phải biết được người mà mình định kết hôn có ở tình trạng
đang có vợ, có chồng hay không. Tuy nhiên, việc xác định tình trạng hôn
nhân của các bên kết hôn không phải lúc nào cũng đơn giản. Đặc biệt đối với
người chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn, thì việc xác

định là người đang có vợ, có chồng hay không thực tế rất phức tạp vì không
có cơ sở rõ ràng. Theo quy định của pháp luật hiện hành, nam nữ sống chung
như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987 thì được pháp luật công nhận là vợ
chồng. Trường hợp nam nữ chung sống sau ngày 3/1/1987 thì không được
công nhận là vợ chồng. Những người này có thể coi là chưa có vợ hoặc có
chồng, họ có quyền kết hôn với người khác mà không bị coi là vi phạm
nguyên tắc một vợ, một chồng. Tuy nhiên, khó khăn là ở chỗ xác định đúng
thời điểm các bên bắt đầu chung sống và thế nào là chung sống như vợ chồng,
đặc biệt là những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương.
Từ đó cho thấy, việc xác định thế nào là người có vợ, có chồng thường khó
khăn cho cả các bên kết hôn và cho cơ quan cấp giấy xác nhận tình trạng hôn
nhân, cũng như cơ quan đăng ký kết hôn. Vì vậy dẫn đến tình trạng người
đang có vợ hoặc có chồng vẫn được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận yêu
cầu đăng ký kết hôn (như trường hợp của ông Nguyễn Huy Tuấn ở thôn Lực
Canh- xã Xuân Canh- Đông Anh -Hà Nội đang ly thân với bà Đặng Thị Bình
trú tại xã Đông Hội Đông Anh Hà Nội, thì ông đến Ủy ban nhân dân xã Xuân
Canh Đông Anh Hà Nội xin đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị Vân trú tại
xã Nguyên Khê Đông Anh Hà Nội và đã được Ủy ban nhân dân cấp giấy
chứng nhận kết hôn).
Thứ hai: Về quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn.


59

Khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định cấm
người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Theo Điều 22 Bộ luật dân sự năm
2005 thì người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc
mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và
phải có quyết định của tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự khi được
xác nhận của tổ chức giám định trên cơ sở yêu cầu bởi người có quyền lợi liên

quan. Do đó, một người dù không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi
của mình nhưng những người có quyền và lợi ích liên quan không yêu cầu tòa
án tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự thì người đó vẫn có quyền
kết hôn. Thực tế cho thấy có rất ít trường hợp bố, mẹ, ông, bà , anh,chị, em…
có yêu cầu tòa án tuyên bố người thân của mình mất năng lực hành vi dân sự.
Vì vậy, khi có yêu cầu kết hôn với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà
dẫn đến không còn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, thì nhiều cơ quan
đăng ký kết hôn lúng túng trong việc xác định người này có thuộc diện bị cấm
kết hôn hay không. Thực tế vẫn có nơi đăng ký kết hôn cho người bị bệnh tâm
thần đến mức không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình.
Quy định này có sự khác biệt với quy định tại Điểm b Điều 7 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986 là cấm kết hôn “khi đang mắc bệnh tâm thần,
không có khả năng nhận thức hành vi của mình”. Vì thế, việc thực hiện quy
định tại Khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình 2000 trong thực tiễn gặp
nhiều khó khăn. Do đó pháp luật cần có sự điều chỉnh cụ thể và phù hợp hơn,
nên chăng cần quy định giống điểm b Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986: Cấm kết hôn “khi đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận
thức hành vi của mình”.
Ngoài ra đối với những trường hợp những người có nhược điểm về trí
tuệ (như mắc bệnh down chẳng hạn) thì pháp luật không cấm họ kết hôn. Tuy
nhiên, nếu cho phép họ kết hôn thì khó có thể đảm bảo được quyền, lợi ích


60

hợp pháp của vợ, chồng, con của họ. Vì rõ ràng những người này khi kết hôn
họ không thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân
và gia đình.
Thứ ba: Về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định cấm kết

hôn giữa những người cùng giới tính. Trên thế giới hiện nay đã có một số
nước cho phép kết hôn giữa những người cùng giới tính, nhưng ở Việt Nam
vẫn chưa công nhận. Hiện nay trong xã hội có nhiều người hiểu không đúng
về người đồng tính. Người LGBT là từ viết tắt của cụm từ Lesbian, Gay,
Bisexual và Transgender/Transgender people (đồng tính nữ, đồng tính nam,
lưỡng giới, hoán tính/chuyển đổi giới tính). Như vậy, có thể hiểu người đồng
tính là người không khiếm khuyết, lệch lạc về giới tính nhưng họ có nhu cầu
tình dục với người cùng giới với mình. Có đồng tính nam và có đồng tình nữ.
Chuyển giới là người có cấu trúc giới tính hoàn thiện về mặt sinh học nhưng
họ khát khao được mang giới tính khác với giới tính mình sinh ra. Ví dụ: Một
người là nam nhưng luôn suy nghĩ mình là nữ, mong muốn được chuyển đổi
giới tính bằng cách phẫu thuật, tiêm hooc môn. Nghị định số 88/2008/NĐ-CP
ngày 05/8/2008 về xác định lại giới tính đã quy định việc xác định lại giới
tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa
được định hình chính xác. Do vậy, xét về sinh học sẽ có người giới tính
không rõ ràng, có người lưỡng tính… Hiện nay Nhà nước chưa có luật về giới
tình dẫn đến khó khăn trong việc xác định thế nào là người cùng giới tính đối
với đối tượng không phải là nam và cũng không phải là nữ.. So với các nước
trên thế giới thì vấn đề này là vấn đề mới mẻ ở nước ta, do vậy cũng còn
nhiều sự thiếu sót, lúng túng của cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành đăng
ký kết hôn.


×