Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mang thai hộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (681.03 KB, 73 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI QUỲNH HOA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MANG THAI HỘ

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Cừ

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các thông
tin và số liệu trong luận văn là trung thực. Những kết luận của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Bùi Quỳnh Hoa


LỜI CẢM ƠN



Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Cừ,
người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy cô
giáo khoa Sau Đại học – trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy
chúng tôi trong suốt thời gian qua.
Đồng thời, tôi cũng xin được cảm ơn tới các bạn đã luôn ở bên động
viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến bố mẹ, em gái và bạn Phan
Thị Lệ Hằng, người đã luôn động viên, chia sẻ với tôi nhiều kinh nghiệm quý
báu trong quá trình viết luận văn.
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu hoàn thiện luận văn này nhưng luận văn
vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, tôi rất mong nhận được sự chỉ
bảo, góp ý của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Tác giả

Bùi Quỳnh Hoa


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MANG THAI HỘ .................... 7
1.1. Khái niệm mang thai hộ........................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm mang thai hộ dưới góc độ y học......................................... 10

1.1.2. Khái niệm mang thai hộ



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

:

Luật HN&GĐ 2000

Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 của

:

NĐ12/2003/NĐ-CP

:

DTL

Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học
Dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 sửa đổi


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ 2000) được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp ngày
9/6/2000, Quốc hội khóa X và có hiệu lực thi hành từ năm 2000. Sự ra đời
của Luật HN&GĐ 2000 đã tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, an toàn để
điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể có liên quan trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân
thân. Qua đó, đảm bảo yếu tố bền vững của hôn nhân và gia đình phù hợp với
bối cảnh lịch sử của đất nước tại thời điểm đó. Tuy nhiên, qua 14 năm thi
hành, trước những biến động to lớn của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
đã khiến cho nhiều quy phạm pháp luật được quy định trong Luật HN&GĐ
2000 bị lỗi thời khiến hiệu quả điều chỉnh không cao. Bên cạnh đó, nhiều
quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được luật
điều chỉnh, từ đó dẫn tới việc áp dụng tùy tiện, thiếu tính nhất quán của các cơ
quan chức năng khi giải quyết tranh chấp, xung đột có liên quan tới các quan
hệ hôn nhân và gia đình mới phát sinh. Điều này đã gây ảnh hưởng không
nhỏ tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan,
gây cản trở cho việc thực hiện mục tiêu về “Xây dựng gia đình no ấm, tiến
bộ, hạnh phúc thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan
trọng trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” đã được đề ra tại
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt
Nam. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HN&GĐ 2000
là một yêu cầu cấp thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi
(DTL), cùng với hôn nhân đồng giới, mang thai hộ là vấn đề nhận được sự
quan tâm rất lớn của dư luận xã hội. Việc cho phép hay không cho phép mang


2

thai hộ ở Việt Nam hiện nay đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Có ý kiến

cho rằng chỉ nên cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong khi đó ý
kiến khác lại cho rằng nên nghiêm cấm mang thai hộ dưới mọi hình thức. Đề
xuất cho phép mang thai hộ trong trường hợp nhân đạo nhận được nhiều sự
đồng thuận; bởi lẽ nếu cho phép sẽ đảm bảo được quyền làm mẹ chính đáng
của người phụ nữ, đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ và các bên
trong quan hệ mang thai hộ. Trái ngược với điều này, các ý kiến phản đối việc
luật hóa mang thai hộ cho rằng mang thai hộ sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực cho xã
hội như buôn bán trẻ sơ sinh bất hợp pháp, lách luật để sinh con thứ ba… Như
vậy, quy định như thế nào để vừa đảm bảo việc thực hiện quyền làm mẹ của
người phụ nữ, vừa tránh được những hệ quả xấu có thể xảy ra trên thực tế lại
không hề đơn giản. Đây chính là những khó khăn được đặt ra đối với các nhà
lập pháp ở Việt Nam hiện nay.
Trong khi đó, thực tế, việc mang thai hộ đã và đang diễn ra trong xã hội
và nhu cầu đối với việc mang thai hộ ngày càng lớn. Vì pháp luật Việt Nam
nghiêm cấm việc mang thai hộ nên nhiều cặp vợ chồng đã ra nước ngoài để
làm “chui” dẫn đến nhiều rủi ro như: người được nhờ mang thai hộ không
chịu giao đứa bé cho bên nhờ mang thai hộ, rắc rối về mặt giấy tờ pháp
lý…Đặc biệt, khi tranh chấp phát sinh giữa người nhờ mang thai hộ và người
được nhờ mang thai hộ về việc xác định cha, mẹ, con; quyền nhân thân và
quyền tài sản của đứa trẻ, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang
thai hộ sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết; do đó gây ra nhiều thiệt thòi,
ảnh hưởng đến quyền lợi của đứa trẻ cũng như của các bên liên quan.
Từ những bất cập của pháp luật và thực tiễn của cuộc sống; từ những
tranh luận sôi nổi tại các Hội nghị lấy ý kiến sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ
2000 trong thời gian gần đây, tác giả luận văn nhận thấy cần phải nghiên cứu
một cách toàn diện và nghiêm túc về vấn đề này để từ đó xây dựng hành lang


3


pháp lý vững chắc làm cơ sở giải quyết tranh chấp phát sinh. Đó chính là lý
do để tác giả lựa chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mang
thai hộ”. Luận văn đã phân tích nhiều khía cạnh của vấn đề mang thai hộ như
khái niệm mang thai hộ nhìn dưới góc độ y học, pháp lý; ý nghĩa của việc
mang thai hộ; các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về mang thai
hộ đồng thời đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về mang thai hộ. Tác giả cũng hi vọng với những đóng góp của luận
văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người nghiên cứu
luật pháp về vấn đề còn mới mẻ nhưng rất hấp dẫn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do mang thai hộ là một vấn đề còn mới mẻ và pháp luật Việt Nam
đang nghiêm cấm mang thai hộ; do đó việc tìm hiểu về mang thai hộ gặp
nhiều khó khăn, hạn chế nên vấn đề này chưa thực sự nhận được nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu luật pháp.
Qua tìm hiểu, tác giả luận văn nhận thấy mang thai hộ có tính cấp thiết
về lý luận và thực tiễn cao, tuy nhiên số lượng bài viết, công trình nghiên cứu
về mang thai hộ nhìn dưới góc độ pháp luật là không nhiều. Cho đến thời gian
gần đây, khi vấn đề mang thai hộ được đề xuất đưa vào DTL, đã có một số bài
viết về mang thai hộ được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Tuy nhiên, những bài viết này chủ yếu chỉ đưa thông tin, nêu vấn đề
mang tính gợi mở chứ chưa đi sâu vào phân tích bản chất pháp lý của mang
thai hộ. Có thể kể đến những bài viết như: “Mang thai hộ: nên cho phép để
kiểm soát tốt” trên báo phunuonline.com.vn ngày 17/8/2013; “ Đưa mang
thai hộ vào luật” trên duthaoonline.quochoi.vn; “Có nên cho phép mang thai
hộ” trên hn.ipad.24h.com.vn/tintuctrongngay ngày 11/1/2013; “Mang thai hộ:
Gái xinh ra giá gần 4 tỷ đồng” trên vtc.vn, ngày 13/12/2012; “Luật hóa
chuyện mang thai hộ”, trên baodatviet.vn ngày 17/4/2013; “Đẻ thuê- nhìn


4


trực diện từ khía cạnh pháp lý và đạo đức” trên nguoiduatin.vn ngày
27/12/2012; “Cho hay không cho phép mang thai hộ” trên webphunu.net
ngày 11/4/2013… Điểm chung của các bài viết này đều nêu lên thực trạng của
việc mang thai hộ ở Việt Nam hiện nay, gợi mở vấn đề, nêu ra một số hạn chế
của pháp luật hiện hành chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá
để làm sáng tỏ vấn đề dưới góc độ pháp lý đồng thời cũng không đưa ra được
giải pháp để hoàn thiện vấn đề.
Như vậy, có thể thấy các bài viết phân tích tính pháp lý của mang thai
hộ rất hiếm, tính đến thời điểm hiện tại, nổi bật nhất vẫn là bài viết “Một số
vấn đề pháp lý về mang thai hộ” của tác giả Nguyễn Thị Hương – khoa Luật
Dân sự, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên báo Pháp luật
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/02/2001. Bài viết đã đề cập tới nhiều khía
cạnh pháp lý của việc mang thai hộ; từ những phân tích về việc xác định cha,
mẹ, con đến việc cần thiết phải quy định về thỏa thuận mang thai hộ, điều
kiện của các bên trong quan hệ mang thai hộ… Có thể thấy, đây là bài viết
điển hình đầu tiên đề cập đến mang thai hộ một cách khái quát nhất, toàn diện
nhất dưới góc độ pháp lý.
Về công trình nghiên cứu khoa học, tính đến thời điểm này, công trình
nghiên cứu khoa học mang tên “Mang thai hộ - Sự cần thiết phải điều chỉnh
bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay” năm 2013 của trường Đại học Luật Hà
Nội là một công trình nghiên cứu về mang thai hộ hiếm hoi và được đánh giá
cao. Trong công trình nghiên cứu khoa học này, tập thể tác giả đã phân tích
nhiều khía cạnh pháp lý của việc mang thai hộ, đi sâu nghiên cứu một cách cơ
bản, có hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, khái niệm, bản chất của việc
mang thai hộ đồng thời còn định hướng xây dựng pháp luật về mang thai hộ ở
Việt Nam. Đây được coi là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện
và mang lại nhiều giá trị. Công trình nghiên cứu khoa học này thực sự là tài



5

liệu tham khảo hữu ích đối với cá nhân tác giả luận văn cũng như đối với
những nhà nghiên cứu pháp luật về mang thai hộ.
3. Phạm vi, nội dung nghiên cứu
Luận văn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mang thai hộ” chỉ tập
trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến mang thai hộ và pháp luật điều
chỉnh mang thai hộ không có yếu tố nước ngoài. Luận văn phân tích những
khía cạnh pháp lý của mang thai hộ từ khái niệm mang thai hộ (nhìn dưới góc
độ y học và pháp lý); ý nghĩa của việc mang thai hộ; các yếu tố ảnh hưởng
đến việc điều chỉnh pháp luật về mang thai hộ đến việc tìm hiểu về pháp luật
mang thai hộ ở một số quốc gia, lãnh thổ trên thế giới và cuối cùng là đưa ra
phương hướng cũng như giải pháp nhằm xây dựng pháp luật về mang thai hộ
ở Việt Nam hiện nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu chủ yếu là:
- Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề mang thai hộ để từ đó có
cách nhìn đúng đắn, khách quan về mang thai hộ, phân biệt được mang thai
hộ và đẻ thuê.
- Những kiến nghị, giải pháp được đưa ra trong luận văn sẽ là tài liệu
tham khảo cho các nhà lập pháp trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2000.
Luận văn tập trung vào một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích khái niệm về mang thai hộ dưới nhiều góc độ khác nhau;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng pháp luật về mang
thai hộ;
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật nước ngoài về mang thai hộ;


6


- Khái quát thực trạng pháp luật Việt Nam về mang thai hộ và đưa ra
phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng pháp luật mang thai hộ ở Việt Nam
hiện nay.
5.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của luận văn là phương pháp luận nghiên cứu khoa
học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và hệ
thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp bình luận được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu
những vấn đề chung về mang thai hộ như khái niệm mang thai hộ, ý nghĩa của
việc mang thai hộ, những yếu tố ảnh hưởng tới pháp luật điều chỉnh việc
mang thai hộ.
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở
chương 2 khi xem xét, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn mang thai
hộ cũng như đưa ra phương hướng và giải pháp để xây dựng pháp luật điều
chỉnh việc mang thai hộ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về mang thai hộ.
Chương 2: Xu hướng pháp luật điều chỉnh mang thai hộ ở Việt Nam
hiện nay.



7

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MANG THAI HỘ
1.1. Khái niệm mang thai hộ
“Thời điểm ca mang thai hộ đầu tiên trên thế giới được xác định vào
năm 1979 tại Hoa Kỳ khi bác sĩ Richard M.Levin tiếp một cặp vợ chồng mà
người vợ không có khả năng sinh con. Khi đó, người vợ đã rất mong muốn có
một đứa con của chồng, dù bản thân bà không mang thai.
Biết được nguyện vọng này, bác sĩ Levin đã nghĩ đến cách nhờ một phụ
nữ khác mang thai giúp thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng. Tuy
nhiên, để thực hiện được ý định, ông Levin đã vấp phải các vấn đề pháp lý đối
với việc mang thai hộ này và mất chín tháng hợp tác với các luật sư, nghiên
cứu luật của bang và của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ để hiểu rõ hơn các khía
cạnh pháp luật phức tạp của mối quan hệ mang thai hộ (còn gọi là làm mẹ
thuê, đẻ thuê). Các khía cạnh này cũng được nghiên cứu kỹ, có sự tham khảo
ý kiến của nhiều chức sắc tôn giáo và nhà đạo đức học để đi đến một thỏa
thuận không xúc phạm đến giá trị đạo đức của cộng đồng.
Cuối cùng, một “hợp đồng”, còn gọi là “biên bản ghi nhớ” đã được
soạn thảo rất kín kẽ, bảo đảm quyền lợi cho cặp vợ chồng vô sinh, người mẹ
mang thai hộ và cả đứa trẻ. Người mẹ mang thai hộ lần đầu tiên trên thế giới
đã được các thầy thuốc khám, tư vấn rất kỹ lưỡng về các vấn đề y tế sinh sản
cũng như được các nhà hoạt động pháp luật tư vấn về vấn đề pháp lý xoay
quanh quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp mang thai hộ này.
Đến đầu năm 1980, theo thỏa thuận giữa người mẹ mang thai hộ và cặp vợ
chồng vô sinh, các bác sĩ đã tiến hành thụ tinh nhân tạo phôi thai bằng tinh
trùng của người chồng với noãn của người vợ và phôi thai được cấy vào
người phụ nữ mang thai hộ. Chín tháng sau, tại Lousville, người phụ nữ mang
thai hộ đã sinh hạ một bé trai và năm ngày sau đó, người phụ nữ mang thai hộ



8

đã trình diện trước Tòa án để chính thức chấm dứt những quyền liên quan đến
việc làm mẹ của mình và trao lại con cho người bố sinh học. Sau khi đã hoàn
tất các thủ tục về mối quan hệ pháp lý với đứa trẻ, cặp vợ chồng được toàn
quyền chăm sóc, nuôi dạy đứa trẻ. Đó là câu chuyện về trường hợp mang thai
hộ hợp pháp và có chuẩn bị kỹ lưỡng đầu tiên trên thế giới” [13, tr14]
Dù mang thai hộ xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới từ năm 1979 nhưng
phải đến những năm gần đây, “mang thai hộ” mới được biết đến ở Việt Nam.
Hiện tại, nó không còn là một khái niệm lạ lẫm với người dân và thường được
đánh đồng với việc “đẻ thuê”, “đẻ mướn”. Cách hiểu không đúng này đã làm
cho vấn đề vốn đã nhạy cảm nay lại càng nhạy cảm hơn. Vì vậy, tác giả luận
văn nhận thấy cần thiết phải đưa ra khái niệm về mang thai hộ để mỗi người
trong chúng ta có cách hiểu đúng đắn và thống nhất về vấn đề này.
Mang thai hộ theo từ điển Tiếng anh là "surrogacy" (the action of a
woman having a baby for another woman who is unable to do herself) [24],
nghĩa là hành động có em bé (mang thai) của một người phụ nữ cho một
người phụ nữ khác khi mà người đó không thể tự mình làm được. Cũng từ
khái niệm "surrogacy" đã hình thành nên một khái niệm khác có quan hệ mật
thiết với nó, đó là " surrogate mother" - người mẹ thay thế hay nói cách khác
là người mang thai hộ khi mẹ chính không có khả năng mang thai.
Trước đây, mang thai hộ được hiểu theo nghĩa rộng, nó được xếp vào
một trong các loại đẻ mướn, điều này lý giải vì sao khi nói về mang thai
hộ, nhiều người vẫn đánh đồng mang thai hộ với đẻ thuê, đẻ mướn. Mang
thai hộ là một trong các loại hình đẻ mướn do có sự liên quan đến yếu tố
người thay thế để mang thai và sinh con. Theo đó, đẻ mướn bao gồm
những hình thức sau:
“ a. Đẻ mướn truyền thống:



9

Đẻ mướn truyền thống được hiểu là việc một người phụ nữ cung cấp
trứng cùng với tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh để thực
hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Sau đó phôi thai được cấy vào tử cung của
chính người phụ nữ này để thực hiện quá trình mang thai và sinh con cho cặp
vợ chồng nhờ mang thai hộ. Đứa trẻ sinh ra mang gien của người phụ nữ
mang thai hộ và người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ.
b. Thai đẻ mướn:
Thai đẻ mướn được hiểu là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ cung cấp
trứng và tinh trùng để tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó phôi thai
hình thành sẽ được cấy vào tử cung của người phụ nữ mang thai hộ để người
phụ nữ này thực hiện quá trình mang thai và sinh con cho cặp vợ chồng nhờ
mang thai hộ. Với trường hợp này, đứa trẻ sinh ra mang gien di truyền của
cặp vợ chồng người nhờ mang thai hộ, mà không có sự di truyền gien với
người phụ nữ mang thai hộ.
c. Thai đẻ mướn & trứng hiến (GS / ED):
Nếu người nhờ mang thai và người mang thai hộ đều không thể sản
xuất trứng thì người phụ nữ mang thai hộ mang phôi thai phát triển từ một
nhà tài trợ trứng (người hiến trứng) đã được thụ tinh bởi tinh trùng từ người
cha đã định. Với phương pháp này, những đứa trẻ sinh ra có di truyền liên
quan với người cha.
d. Thai đẻ thuê và các nhà tài trợ tinh trùng (GS / DS):
Nếu người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không thể sản
xuất tinh trùng, người phụ nữ mang thai sẽ mang giúp một phôi thai phát triển
từ trứng người mẹ nhờ mang thai hộ và tinh trùng hiến tặng. Với phương
pháp này, những đứa trẻ sinh ra có liên quan về mặt di truyền với người mẹ
nhờ mang thai hộ.
e. Thai đẻ thuê và các nhà tài trợ phôi thai (GS / DE):



10

Khi cha mẹ nhờ mang thai không thể sản xuất hoặc tinh trùng, trứng,
hoặc phôi thai, thì người thay thế có thể mang theo một phôi thai tặng (phôi
thai tặng từ các cặp vợ chồng khác, những người đã hoàn thành thụ tinh ống
nghiệm có phôi còn sót lại) để tiến hành mang thai và sinh con, khi đó đứa trẻ
sinh ra có gien di truyền không liên quan đến cha mẹ nhờ mang thai hộ và
cũng không phải từ người mẹ thay thế”. [13, tr17]
Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, khái niệm mang thai hộ đã được
thu hẹp lại và được hiểu một cách đúng đắn, phù hợp với chế độ nhà nước và
hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Ở nhiều quốc gia, việc mang thai hộ chỉ
được phép thực hiện khi đứa trẻ được tạo thành từ noãn của người vợ và tinh
trùng của người chồng trong cặp vợ chồng hiếm muộn mà không cho phép
các trường hợp nhận trứng hiến, tinh trùng hiến, phôi hiến. Cách hiểu phổ
biến nhất hiện nay về mang thai hộ là trường hợp “thai đẻ mướn” là việc cặp
vợ chồng nhờ mang thai hộ cung cấp trứng và tinh trùng để tiến hành thụ tinh
trong ống nghiệm, sau đó phôi thai hình thành sẽ được cấy vào tử cung của
người phụ nữ mang thai hộ để người phụ nữ này thực hiện quá trình mang
thai và sinh con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Do đó, đối với các
trường hợp như trứng của vợ kết hợp với tinh trùng của người khác; tinh trùng
của chồng kết hợp với trứng của người khác hay cả trứng và tinh trùng là của
người hiến đều không được coi là mang thai hộ. Đây cũng chính là điểm khác
biệt cơ bản giữa mang thai hộ và đẻ thuê, đẻ mướn mặc dù cả mang thai hộ
lẫn đẻ thuê, đẻ mướn đều liên quan đến yếu tố “người mẹ thay thế” để mang
thai và sinh con.
1.1.1. Khái niệm mang thai hộ dưới góc độ y học
Sự ra đời và phát triển của công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
đã giúp nhiều phụ nữ bị vô sinh được thoả ước nguyện làm mẹ. Giờ đây,

những người phụ nữ kém may mắn (không có trứng, chất lượng trứng không


11

đạt yêu cầu) nhờ vào việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong
lĩnh vực y học đã có thể tận hưởng niềm hạnh phúc làm mẹ, làm tròn thiên
chức mà tạo hoá ban cho như những người phụ nữ bình thường khác. Tuy
nhiên, vẫn có những trường hợp, dù ứng dụng những thành tựu mới nhất của
y học thế giới vẫn không thể mang thai và sinh con. Đó là những trường hợp
người phụ nữ không thể mang thai và nếu muốn có con, chỉ còn cách duy nhất
là nhờ mang thai hộ.
Theo bác sỹ Vũ Bá Quyết – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung
ương, nhiều cặp vợ chồng sau khi thăm khám sức khỏe sinh sản được xác
định là khỏe mạnh, chất lượng trứng và tinh trùng tốt nhưng vẫn không thể
mang thai và sinh con, đó là bởi người phụ nữ mắc một trong những trường
hợp dưới đây:
Thứ nhất: Trường hợp những người phụ nữ có tử cung không bình
thường. Các bất thường bẩm sinh của tử cung, các dị tật tử cung thường gây
sẩy thai. Các dị tật này được chia thành 5 nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm không có tử cung. Điển hình là không có hai bên không
hoàn toàn gây ra hội chứng Rokitansky – Kuster – Houser
Nhóm 2: Nhóm nửa tử cung, bao gồm: Nửa tử cung hai cổ (hai sừng, ứ
máu kinh một bên thường kèm không có thậm bên ứ máu kinh); nửa tử cung hai
sừng, hai cổ, thường có vách ngăn dọc âm đạo; và nửa tử cung một cổ (hay gặp
nhất trong nhóm này và 25% nhóm này chỉ có một bên thận và niệu quản).
Nhóm 3: Nhóm tử cung có vách ngăn. Đây là dị tật phổ biến nhất, chiếm
tới 2 phần 5 số dị dạng tử cung, có thể có vách ngăn một phần hay toàn phần.
Nhóm 4: Nhóm tử cung thông nhau. Loại dị tật này rất hiếm gặp, xuất
hiện trên một tử cung có vách ngăn toàn phần, tử cung hai sừng – hai cổ

thông với âm đạo chột hoặc trên tử cung hai cỏ, vách ngăn thân.


12

Nhóm 5: Nhóm tử cung thiểu sản. Tử cung rất bé ở phụ nữ trong độ
tuổi sinh sản, thường kèm với hở hoặc chít hẹp eo tử cung.
Thứ hai: Trường hợp người phụ nữ có tổn thương thực thể ở tử cung
như u xơ tử cung, Polype buồng tử cung, quá sản nội mạc tử cung, dính
buồng tử cung từng phần sau các thủ thuật nạo hút, lạc nội mạc tử cung… Các
trường hợp này gây nên tình trạng phôi không thể tạo tổ hoặc dễ sẩy thai, đẻ
non đối với người phụ nữ.
Thứ ba: Vô sinh do bệnh lý toàn thân và những cơ quan ngoài hệ sinh
dục như vô sinh do các bệnh toàn thân (tim, gan, thận); vô sinh do các bệnh
nội tiết (đái tháo đường, Basedow, thừa adrogen, u thượng thận)
Để tiến hành một “ca” mang thai hộ, người mang thai hộ và người nhờ
mang thai hộ phải tiến hành qua nhiều bước với một trình tự, thủ tục nghiêm
ngặt, việc thăm khám bao gồm hỏi bệnh, khám lâm sàng và tiến hành các xét
nghiệm thăm dò. Theo bác sỹ Nguyễn Giang Hồng - Trưởng khoa sản Bệnh
viện Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh:
“Người mang thai hộ không cần phải có cùng nhóm máu với mẹ ruột
của phôi thai nhưng trước khi đưa phôi thai vào tử cung, người mang thai hộ
bắt buộc phải xét nghiệm để tìm yếu tố Rh trong máu, là yếu tố cho biết tình
trạng protein có trong tế bào máu. Người có yếu tố này sẽ được kí hiệu là
Rh+, còn nếu không sẽ là Rh- . Việc xét nghiệm nhằm xác định người mang
thai hộ có cùng Rh- hoặc Rh+ với mẹ ruột của phôi thai hay không vì nếu
không tương đồng về Rh, thai dễ bị hư non hoặc nảy sinh các vấn đề khác –
như dị dạng thai nhi chẳng hạn”. [9]
“Cùng với việc xét nghiệm Rh, người mang thai hộ còn phải làm các
xét nghiệm chuyên biệt như đánh giá chức năng của buồng trứng, thăm dò

chức năng tử cung, nội tiết, từ đó mới có thể xác định họ mang thai hộ được
hay không. Nếu được, bác sĩ chuyên khoa sẽ chuẩn bị mội mạc tử cung của


13

người mang thai hộ bằng nội tiết tố tương ứng với người mẹ cung cấp phôi
thai, nhằm giúp “phôi thai” đậu được và phát triển. Noãn được chọc hút từ
người vợ sẽ được thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng của người chồng,
sau đó, phôi thai của cặp vợ chồng sẽ được cấy vào tử cung người mang thai
hộ. “Trong vòng mười hai tuần lễ đầu, bác sỹ sẽ can thiệp bên ngoài như dùng
nội tiết tố thay thế để người mang thai hộ có một môi trường đảm bảo thai
phát triển được. Sau mười hai tuần lễ, khi nhau thai của người phụ nữ mang
thai hộ phát triển, thai sẽ được nhau thai nuôi dưỡng. Khi đó không cần sự
can thiệp từ bên ngoài. Như vậy, nếu có thai, thai kỳ sẽ diễn ra hoàn toàn bình
thường từ trong tử cung của người mang thai hộ. Sau khi sinh, cặp vợ chồng
nhờ mang thai hộ sẽ nhận lại con của mình từ người mang thai hộ sau khi đã
hoàn tất các thủ tục về pháp lý” [13, tr19]
Như vậy, dưới góc độ y học, mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp
kỹ thuật lấy trứng của vợ và tinh trùng của chồng để thụ tinh trong ống
nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một người phụ nữ khác để nhờ người này
mang thai hộ. Đứa con sinh ra từ biện pháp này có cùng ADN với cặp vợ
chồng nhờ mang thai.
1.1.2. Khái niệm mang thai hộ dưới góc độ pháp lý
Hiện nay, Luật HN&GĐ 2000 không quy định về mang thai hộ, vấn
đề này chỉ được đề cập đến trong Nghị định 12/2003/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 12/2/2003 hướng dẫn về sinh con bằng phương pháp khoa học.
Tuy nhiên, tại Điều 6, NĐ 12/2003/NĐ-CP cũng không đưa ra khái niệm
mang thai hộ mà chỉ quy định hành vi mang thai hộ cùng với sinh sản vô
tính là hai hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Như vậy, khái niệm “Mang

thai hộ” tuy được sử dụng phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa trọn
vẹn, thống nhất về nó.


14

Lần đầu tiên vấn đề mang thai hộ được nghiên cứu một cách toàn diện
và khái quát nhất dưới góc độ pháp lý thông qua bài nghiên cứu “Một số vấn
đề pháp lý về mang thai hộ” của tác giả Nguyễn Thị Hương - khoa Luật Dân
sự, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, trên báo Pháp luật thành
phố Hồ Chí Minh (13/02/2011). Bài viết đã đề cập tới nhiều khía cạnh pháp
lý của việc mang thai hộ; từ những phân tích về việc xác định cha, mẹ, con
đến việc cần thiết phải quy định về thỏa thuận mang thai hộ, điều kiện của các
bên trong quan hệ mang thai hộ, dù vậy, tác giả vẫn chưa đưa ra được khái
niệm mang thai hộ.
Chỉ đến khi soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
HN&GĐ 2000 (nay là Dự thảo Luật HN&GĐ 2000 sửa đổi - DTL) đề cập
đến vấn đề mang thai hộ thì khái niệm này mới được xây dựng. Theo đó, DTL
đưa ra cách hiểu về mang thai hộ như sau:
“Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự
nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà
người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để
thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự
nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con” [3, tr 7]
Tuy nhiên, cách hiểu và cách giải thích về mang thai hộ của DTL theo
hướng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, loại bỏ trường hợp mang thai hộ vì
mục đích thương mại (là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác
bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc
các lợi ích khác).

Nếu như ở Ấn Độ, Thái Lan cho phép mang thai hộ vì mục đích thương
mại (bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ có thể thoả thuận giá "dịch vụ
mang thai hộ") và việc mang thai hộ được lập thành hợp đồng thì ở những


15

quốc gia khác, mang thai hộ lại mang ý nghĩa là sự hỗ trợ, giúp đỡ để những
người phụ nữ kém may mắn có thể được hưởng niềm vui làm mẹ. Ở những
quốc gia này, mang thai hộ không phải là một loại hình kinh doanh, không
phải là một ngành nghề dịch vụ, chỉ mang thai hộ nhằm mục đích "nhân đạo"
mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do đó, trong bối cảnh của Việt Nam
hiện nay, việc đưa ra khái niệm “mang thai hộ” phù hợp với điều kiện xã hội,
y tế của đất nước là vô cùng cần thiết. Theo quan điểm tác giả luận văn, khái
niệm mang thai hộ theo hướng vì mục đích nhân đạo như DTL là hoàn toàn
phù hợp, vì những lý do sau:
Một là: Khái niệm mang thai hộ theo DTL đã được trình bày đầy đủ, rõ
nghĩa, ngôn từ trong sáng, giúp hiểu đúng mục đích của việc mang thai hộ
trong trường hợp nhân đạo, tránh tình trạng hiểu sai vấn đề cho rằng mang
thai hộ đồng nghĩa với việc “đẻ thuê” và trong bất cứ trường hợp nào cũng có
thể nhờ đến việc mang thai hộ. Nếu như đẻ thuê chỉ đơn thuần là “mượn tử
cung” của một người phụ nữ để người này mang thai và sinh con, còn trứng,
tinh trùng có thể lấy từ bất kì một người nào (trứng của người được nhờ mang
thai hộ, trứng của người hiến trứng, tinh trùng của người hiến tặng tinh trùng,
phôi được tặng…) thì mang thai hộ lại bắt buộc phải là trứng của người vợ và
tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng hiếm muộn. Đây chính là sự
khác biệt cơ bản giữa “mang thai hộ” và “đẻ thuê”.
Khái niệm mang thai hộ theo DTL cũng đã xác định cụ thể đối tượng
được áp dụng mang thai hộ. Mang thai hộ chỉ được đặt ra đối với những cặp
vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng

kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản có thể kể đến là thụ tinh
nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm… Những người phụ nữ bị vô sinh nhưng
vẫn có khả năng tự mang thai và sinh con khi được sự hỗ trợ về mặt y học
không thuộc đối tượng được phép thực hiện mang thai hộ. Đối với những phụ


16

nữ vì lý do không chính đáng như sợ xấu, sợ vất vả, sợ tốn thời gian dĩ nhiên
không thể là đối tượng để áp dụng biện pháp mang thai hộ.
Hai là: Khái niệm đã đưa ra được phương thức thực hiện mang thai hộ
đó là thực hiện bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, tức là lấy trứng
(noãn) của người vợ, tinh trùng của người chồng để tạo thành phôi, sau đó cấy
phôi vào tử cung của người mang thai hộ. Như vậy, về mặt khoa học, noãn
của người phụ nữ, tinh trùng của người đàn ông không phải là kết quả của sự
kết hợp tự nhiên, trực tiếp giữa vợ và chồng mà phải nhờ vào biện pháp hỗ trợ
y tế của các bác sỹ chuyên ngành. Từ noãn và tinh trùng lấy từ cơ thể vợ và
chồng, bác sỹ thụ tinh trong ống nghiệm (thụ tinh bên ngoài cơ thể) để tạo
thành phôi và cấy phôi thai vào tử cung người mang thai hộ. Như vậy, việc
mang thai hộ phải trải qua một phương thức nghiêm ngặt, không được “giúp
đỡ trực tiếp” giữa người chồng bên nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ
vì về bản chất, hành vi này không được coi là “mang thai hộ”.
1.2. Ý nghĩa của mang thai hộ
1.2.1 Mang thai hộ là kết quả của việc ứng dụng thành tựu khoa học
kỹ thuật trong lĩnh vực y học
Trong những năm qua, lĩnh vực điều trị vô sinh của nước ta đã có
những tiến bộ vượt bậc. Từ chỗ chỉ dừng lại ở kỹ thuật bơm tinh trùng vào
buồng tử cung thì nay đã áp dụng được rất nhiều kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiên
tiến, điển hình là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Nhu cầu điều trị vô sinh
ở nước ta ngày một tăng, các cơ sở khám chữa bệnh phụ khoa và trung tâm

chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng đã thành lập các đơn vị điều trị vô sinh, đặc
biệt vào năm 2011, với sự ra đời của Trung tâm nghiên cứu về di truyền và
sức khỏe sinh sản (khoa Y Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Việt
Nam trở thành một trong bốn trung tâm đào tạo về hỗ trợ sinh sản lớn nhất


17

của Châu Á (cùng với Singapore, Ấn Độ, Trung Quốc) và hiện mỗi năm tiếp
nhận đào tạo, huấn luyện đào tạo cho nhiều bác sỹ nước ngoài.
“Theo Hội nội tiết sinh sản – vô sinh thành phố Hồ Chí Minh, cả nước
hiện có 15 Trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm và đến nay, hơn 10.000 trẻ
đã ra đời nhờ kỹ thuật này. Ngoài ra, Việt Nam là nơi thực hiện thụ tinh trong
ống nghiệm nhiều nhất khu vực Đông Nam Á. Kỹ thuật và tỷ lệ thành công
của thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam ngang bằng các nước tiên tiến trên
thế giới, có thể thực hiện được hầu hết các kỹ thuật hiện đại của thế giới” [13,
tr 40]. Kỹ thuật mang thai hộ rất đơn giản so với các kỹ thuật chuyên sâu về
thụ tinh trong ống nghiệm. Do đó, trang thiết bị kỹ thuật và nguồn nhân lực
nước ta hoàn toàn thực hiện tốt kỹ thuật này, Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Thị
Ngọc Phượng cho biết từ năm 2000, Việt Nam bắt đầu nhận thụ tinh trong
ống nghiệm cho người nước ngoài và ngày càng thu hút họ đến nước ta.
“Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng ba trung tâm lớn trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện An Sinh, bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh
viện Từ Dũ, mỗi trung tâm tiếp nhận, điều trị, hỗ trợ sinh sản thụ tinh trong
ống nghiệm cho khoảng 200 trường hợp người nước ngoài/năm và con số này
ngày càng gia tăng. Trong đó, bệnh viện An Sinh mỗi năm có 100-150 trường
hợp điều trị thụ tinh trong ống nghiệm cho người nước ngoài. Theo các
chuyên gia y tế, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm của Việt Nam hiện đã
phát triển thành công dù đi sau nhờ nhiều yếu tố. Đó là được đầu tư thiết bị
tiên tiến, cán bộ y tế lĩnh vực này đều trẻ, được đào tạo bài bản ở nước ngoài,

có kinh nghiệm và kiến thức nền tảng tốt, tổ chức được những hội thảo nhóm
hằng năm có chất lượng chuyên môn cao, đi sâu vào học thuật, đội ngũ bác sĩ,
nhân viên hỗ trợ LAB, điều dưỡng…giao tiếp tiếng anh tốt.
Một trong những yếu tố góp phần vào thành công này là do chi phí
thấp. Cụ thể, một ca thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam chỉ bằng 1/4 hoặc


18

1/3 với khu vực và 1/6 -1/8 so với Mỹ. Vừa qua, lần đầu tiên, Việt Nam cũng
đào tạo kỹ thuật mới về hỗ trợ sinh sản, nuôi trưởng thành noãn trong ống
nghiệm cho đoàn chuyên gia do một bệnh viện lớn nhất Singapore gửi đến.
Cùng với khóa huấn luyện này, nhiều học viên các nước khác cũng tìm đến
Việt Nam. Điều này đã từng bước khẳng định được vị trí của Việt Nam trong
lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, không chỉ về kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu khoa
học mà còn là một trung tâm đào tạo cho khu vực, công nghệ cao và thực hiện
hầu hết các kỹ thuật điều trị vô sinh trên thế giới” [13, tr 40]
Với những kết quả đã đạt được, cùng rất nhiều cơ hội mới từ việc
nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới vào Việt
Nam, trong tương lai chắc chắn các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, trong đó có
những kĩ thuật hỗ trợ sinh sản liên quan đến vấn đề đảm bảo an toàn, hiệu quả
cho mang thai hộ sẽ ngày một phát triển hơn. Chúng ta, với tư cách là những
công dân của đất nước, chắc chắn sẽ được tiếp nhận những thành tựu, những
lợi ích và thành quả mà y học mang lại.
1.2.2. Mang thai hộ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Mang thai hộ mà cụ thể là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mang ý
nghĩa nhân văn sâu sắc. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được hiểu là việc
một người phụ nữ mang thai và sinh con cho người phụ nữ khác mà không
đòi hỏi lợi ích vật chất hay lợi ích gì khác cho quá trình mang thai và sinh con
của mình. Yếu tố huyết thống của một con người dù thế nào cũng không thể

thay đổi nên điều khiến một người phụ nữ khác sẵn sàng giúp đỡ để sinh con
cho một cặp vợ chồng được nhìn nhận như một hành vi nhân đạo cao cả, sâu
xa hơn đó là tình đồng loại cũng tương tự như việc hiến máu nhân đạo, hiến
bộ phận cơ thể để cứu giúp những người bệnh đang trong nguy kịch. Pháp
luật cần thiết phải cho phép việc mang thai hộ vì ý nghĩa nhân văn của nó,
chúng ta chỉ đặt vấn đề mang thai hộ không gì khác ngoài mục đích nhân đạo


19

để tạo cơ hội cho những cặp vợ chồng không thể tự “đảm đương” được hết
quá trình thụ thai, sinh nở.
1.2.3. Mang thai hộ giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ
bản của gia đình – chức năng tái sản xuất con người.
Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận
chức năng tái sản xuất con người; tái tạo, bảo dưỡng sức lao động cho xã hội.
Tái sản xuất con người là một chức năng cơ bản và riêng có của gia đình.
Hoạt động sinh con đẻ cái trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con
người, của xã hội. Việc thực hiện chức năng này không chỉ nhằm thỏa mãn
nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn
đề duy trì tính liên tục của xã hội. Theo Ăngghen,“con người ta thay đổi hàng
ngày cuộc sống của mình, bắt đầu sản xuất ra những con người khác tức là tự
tái sản xuất, đó là quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa cha mẹ và con cái,
đó là gia đình” [18]. Nếu không có sản xuất và tái sản xuất, kể cả tái sản xuất
con người thì xã hội không phát triển, thậm chí không tồn tại được. Gia đình
không chỉ tái sản xuất con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời
sống tình cảm, tâm hồn, văn hóa tức là quá trình xã hội hóa con người, quá
trình biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con người xã hội.
Nhờ có mang thai hộ mà chức năng duy trì nòi giống của các cặp vợ
chồng hiếm muộn được đảm bảo đồng thời đáp ứng được nhu cầu sinh con

cùng huyết thống, cùng mã gen với bố mẹ. Yếu tố huyết thống không chỉ là
cơ sở để xác định cha, mẹ, con mà còn là cơ sở xác định nguồn gốc, dòng
họ, gia phả với những giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và truyền thống
của dòng họ gắn với mỗi con người cụ thể. Đó cũng là lý do để những cặp
vợ chồng hiếm muộn vẫn luôn khao khát có đứa con mang dòng máu của
mình và cách duy nhất chỉ có thể là mang thai hộ. Như vậy, mang thai hộ


×