ĐỊA LÍ KINH TẾ THẾ GIỚI
Chủ đề: “Xu thế Toàn cầu hóa”
Mục lục:
I. Lịch sử toàn cầu hóa
II. Bản chất của toàn cầu hóa
III. Biểu hiện của toàn cầu hóa
IV. Tác động của toàn cầu hóa
1.Toàn cầu hóa kinh tế
1.1.Tính hai mặt
1.2.Tác động tích cực
1.3.tác động tiêu cực
2.Tác động đến văn hóa-xã hội-giáo dục
3.Tác động đến chính trị
V. Phản ứng xung quanh về vấn đề toàn cầu hóa
I.Lịch sử toàn cầu hóa
Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có
những thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh
thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522. Cũng như việc xuất hiện các
trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ không
phải là hiện tượng gần đây. Ngoài những trao đổi về hàng hoá vật chất, một số giống
cây cũng được đem trồng từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn
như khoai tây, cà chua và thuốc lá).
Do có hai khía cạnh kỹ thuật và chính trị, "toàn cầu hoá" sẽ có nhiều lịch sử khác
nhau. Thông thường trong phạm vi của môn kinh tế học và kinh tế chính trị học, toàn
cầu hoá chỉ là lịch sử của việc trao đổi thương mại không ngừng giữa các nước dựa
trên những cơ sở ổn định cho phép các cá nhân và công ty trao đổi hàng hoá với nhau
một cách trơn tru nhất.
Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế về thị trường
tự do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hoá. Điều này
dẫn tới sự chuyên môn hoá không ngừng của các nước trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng
như tạo ra áp lực chấm dứt hàng rào thuế quan bảo hộ và các rào cản khác. Thời kỳ
bắt đầu dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng) và tự do hoá
trong thế kỷ thứ 19 thường được chính thức gọi là "thời kỳ đầu của toàn cầu hoá".
Cùng với thời kỳ bành trướng của đế quốc Anh (Pax Britannica) và việc trao đổi hàng
hoá bằng các loại tiền tệ có sử dụng tiền xu, thời kỳ này là cùng với giai đoạn công
nghiệp hoá. Cơ sở lý thuyết là công trình của David Ricardo nói về lợi thế so sánh và
luật cân bằng chung của Jean-Baptiste Say, cho rằng, về cơ bản các nước sẽ trao đổi
thương mại một cách hiệu quả, và bất kỳ những bất ổn tạm thời về cung hay cầu cũng
sẽ tự động được điều chỉnh. Việc thiết lập bản vị vàng bắt đầu ở các nước công nghiệp
hoá chính khoảng giữa năm 1850 và năm 1880, mặc dù chính xác khi nào các nước
này áp dụng bản vị vàng vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh cãi.
"Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh
thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào
cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930.
Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng
trưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái
kiến thiết. Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại
do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các
hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với "thương mại tự do". Vòng đàm phán
Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm
giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hiệp ước thương mại song phương khác,
bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do
Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào
cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ
rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.
Toàn cầu hoá đã trải qua nhiều thế kỷ, nhưng nó đặc biệt trở nên mạnh mẽ kể từ đầu
thế kỷ XX và có thể tóm tắt thành bốn giai đoạn chính:
Giai đoạn thứ nhất (Từ thời cổ đại đến cách mạng công nghiệp): Quá trình toàn cầu
hoá diễn ra chậm chạp, trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá. Những tác nhân
chính là chiến tranh, thương mại và sự truyền bá về tôn giáo.
Giai đoạn thứ hai (Từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp đến sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai): Toàn cầu hoá như yêu cầu tất yếu của thời đại công nghiệp. Ngay từ
khi xuất hiện thời đại công nghiệp thì song song với nó là sư quốc tê hoá mạnh mẽ của
kinh tế thế giới. Yêu cầu khách quan là cần làm cho không gian kinh tế giữa nơi cung
cấp nguyên liệu thô, sản xuất và thị trường thế giới gắn bó và gần gũi với nhau hơn.
Người ta phát triển mạnh mẽ hệ thống đường sắt, tàu thuỷ chạy máy hơi nước, đào
kênh Suez, kênh Panama và đặc biệt là sự xuất hiện của hệ thống điện báo quốc tế.
Đặc trưng của giai đoạn này là sản xuất được tập trung trong nội bộ. Một số nước,
toàn cầu hoá về kinh tế diễn ra với sự xung đột gay gắt với quyền lợi dân tộc cùng với
các chính sách thương mại luôn đi kèm với sự hỗ trợ của lực lượng quân sự để giải
quyết sự xung đột về quyền lợi, đỉnh cao của nó là hai cuộc đại chiến đẫm máu nhất
trong lịch sử nhân loại.
Giai đoạn thứ ba (Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến những năm 80 của thế
kỷ trước): Toàn cầu hoá được điều chỉnh bởi các định chế quốc tế. Trong bối cảnh sụp
đổ của chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa, đây là giai đoạn tăng trưởng chưa
từng thấy của các nước công nghiệp. Đầu tư nước ngoài phát triển mạnh, các hàng rào
thương mại bắt đầu bị dỡ bỏ hoặc thu hẹp, các công ty đa quốc gia ngày càng lớn
mạnh và trở thành những thế lực chủ chốt trên vũ đài kinh tế, chính trị thế giới mà các
chính phủ dù là của các quốc gia giàu có nhất cũng không thể xem thường họ. Từ
những bài học xương máu và để tránh những rủi ro của thời kỳ trước, trong giai đoạn
này đã xuất hiện các định chế quốc tế để điều chỉnh quá trình toàn cầu hoá diễn ra một
cách suôn sẻ, tránh nguy cơ xung đột giữa các dân tộc. Các định chế quốc tế như Liên
Hiệp Quốc (UN), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) xử lý các công việc mang tính toàn cầu, những tổ chức
này đã bao trùm sức mạnh lên mọi khía cạnh của đời sống nhân loại và đã thúc đẩy
thành công quá trình toàn cầu hoá.
Giai đoạn thứ tư (Từ 1990 đến nay): Toàn cầu hoá diễn ra sâu sắc và triệt để nhất trên
mọi mặt kinh tế và xã hội. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu, đồng nghĩa với sự kết thúc chiến tranh lạnh, đồng thời với sự phát triển như vũ
bão của công nghệ thông tin làm mờ nhạt biên giới giữa các quốc gia. Máy tính điện
tử và Internet đã thành công trong việc thu hẹp những hạn chế về không gian và thời
gian. Sự ra đời của những lực lượng đa quốc gia (bao gồm các định chế quốc tế và các
công ty đa quốc gia) với sức mạnh hùng hậu làm thay đối nhiều mặt về quan hệ giữa
các quốc gia. Ngày nay trào lưu toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại ngày càng diễn
ra sâu rộng và quyết liệt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. Cho dù
nơi này hay nơi kia người ta lên tiếng phản đối hoặc công kích nhưng mọi người buộc
phải thừa nhận rằng toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại là xu thế không thể cưỡng
lại đối với mọi quốc gia.
II.BẢN CHẤT CỦA TOÀN CẦU HÓA
Cũng như bất kỳ hiện tượng chính trị, kinh tế, xã hội khác, toàn cầu hóa kinh tế phản
ánh tương quan lực lượng giữa các nước, các lực lượng tham gia quá trình đó. Từ sau
khi Liên Xô tan rã, Chủ nghĩa xã hội (CNXH) bị xóa bỏ ở các nước Đông Âu, tương
quan lực lượng trên thế giới thay đổi không có lợi cho các lực lượng cách mạng. Về
kinh tế, các nước công nghiệp phát triển nhất là Mỹ chi phối nền kinh tế thế giới từ
sản xuất tới vốn, công nghệ, xuất khẩu, dịch vụ, thông tin và giữ vai trò chủ chốt trong
nhiều tổ chức kinh tế. Từ đó, Mỹ và các nước công nghiệp phát triển tìm mọi cách áp
đặt quyền thống trị, “các luật chơi” có lợi cho chúng. Tính chất đế quốc của quá trình
toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra hiện nay và ngày càng thể hiện rõ.
Toàn cầu hoá được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau, và do đó hiện ra với nhiều bộ
mặt : một mặt là sự bùng nổ thương mại quốc tế, những dòng vốn khổng lồ, mặt khác,
những luồng thông tin cực kỳ phong phú với giá khá rẻ từng giờ từng phút đang xuyên
thủng biên giới các quốc gia; và mặt khác nữa là một thị trường cao cấp để mua bán
chất xám mà hình thức trực quan nhất là các hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày
càng nhộn nhịp. Đó là chưa kể những làn sóng di cư, những xu hướng hoà trộn văn
hoá và chủng tộc.
Đối mặt với toàn cầu hoá cũng có vô số hình thức và thái độ khác nhau. Những người
nhiệt thành cổ vũ thật đông đảo cũng không thể ngăn cản chúng ta chứng kiến trên
màn ảnh vô tuyến truyền hình và qua báo chí những cuộc biểu tình chống đối của
những người chịu thiệt thòi trong cuộc chạy đua khốc liệt.
Nhưng những nông dân Hy Lạp đang giơ nắm đấm gào thết chửi rủa Coca-cola khiến
nước cam của họ ế ẩm; những chủ trại ở miền Nam nước Pháp đòi đập phá mẹ Donald
và ngay cả Mahathir, người vẫn đang lớn tiếng chỉ trích phương Tây, đều không thể
phủ nhận một điều: toàn cầu hoá không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào, một
dân tộc nào. Nó đã đến gõ cửa từng gia đình. Nó thậm chí tác động hàng ngày đến mỗi
con người. Bối cảnh kinh tế, xã hội, chính tả và điều kiện kỹ thuật ngày nay tạo nên
một tình thế mới, trong đó mọi quốc gia bất kể dù muốn hay không đều buộc phải
tham gia cuộc đua phát triển để tồn tại Thật là sai lầm khi người ta cho rằng toàn cầu
hoá là mục đích của các cường quốc kinh tế hay của các lực lượng đa quốc gia. Ngay
cả những quốc gia hùng mạnh nhất như Hoa Kỳ cũng không thể làm chủ được toàn
cầu hoá, mà chỉ có thể tìm kiếm lợi ích của mình trong đó mà thôi.
Quá trình toàn cầu hoá diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Toàn cầu hoá
là xu thế khách quan trong sự chung sống của nhân loại mà không một quốc gia nào
có thể đứng ngoài. Toàn cầu hoá đang làm thức tỉnh con người về các giá trị, thức
tỉnh các quốc gia về năng lực cạnh tranh và hợp tác. Giải phóng năng lực sáng tạo
của mỗi người là đòi hỏi tất yếu để mỗi dân tộc nâng cao sức cạnh tranh. Tuy nhiên,
toàn cầu hoá có những mặt trái mà nhiều người vẫn chưa nhận ra.
Thế giới sau sự kiện 11/09/2001 đã bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác. Nhiều
nhà chính trị, thậm chí nhà chính trị ở những quốc gia phát triển đã không nhận thức
được đầy đủ sự chuyển mình này của thế giới để hiểu rằng toàn cầu hoá có những mặt
trái vô cùng khủng khiếp, phản ánh những khuyết tật cơ bản của đời sống toàn cầu.
Khu vực hoá là một phản ứng đối với trào lưu toàn cầu hoá. Chủ nghĩa khủng bố và
chủ nghĩa tôn giáo cực đoan cũng là một phản ứng đối với toàn cầu hoá. Chúng ta đều
biết rằng, nhân loại đang được hưởng lợi rất nhiều từ quá trình toàn cầu hoá. Tuy
nhiên, phía sau đó vẫn có những mặt trái mà toàn cầu hóa gây nên. Không có một hiện
tượng hay sự vật nào hoàn hảo.
Toàn cầu hoá tạo ra những dòng dịch chuyển lớn. Đó là những dòng dịch chuyển
mang chất lượng toàn cầu với quy mô toàn cầu: dòng di dân từ phương Đông sang
phương Tây, dòng di chuyển tiền vốn và công nghệ từ phương Tây sang phương
Đông… Những dòng dịch chuyển con người, tiền vốn và công nghệ trên phạm vi toàn
cầu còn phản ánh một vấn đề nữa, đó là con người với kinh nghiệm của mình vẫn
muốn đi tìm cơ hội trở thành triệu phú chứ vẫn không muốn trở thành người hạnh
phúc. Nhiều người tìm mọi cách đến Mỹ, đến châu Âu với tham vọng kiếm tiền chứ
không phải đến đó để tìm kiếm một cuộc sống an toàn hay tìm kiếm cảm giác hạnh
phúc. Con người vẫn không ý thức được đầy đủ những ưu thế mà mình có.
Nhân loại cần nhận thức một cách đầy đủ, trọn vẹn các mặt khác nhau của đời sống
toàn cầu, biến nhận thức ấy trở thành hành động để sắp xếp lại một cách hợp lý các
dòng dịch chuyển về con người, tiền vốn, công nghệ và tài nguyên để đảm bảo tính
cân đối cho sự phát triển toàn cầu.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu của lịch sử, nó mang đến cho tất cả các dân tộc
những cơ hội, lợi ích lớn lao và những rủi ro, bi kịch mới. Từ nay, nếu quốc gia nào
chỉ cố gắng trục lợi cho riêng mình, bằng cách này hay cách khác, cũng sẽ chịu những
hệ lụy nhất định. Môi trường, là một bằng chứng để con người hiểu rằng từ nay họ
phụ thuộc lẫn nhau, nếu không có một cơ thế thích hợp, chính họ cũng phải gánh chịu
những rủi ro về môi trường sinh thái, dịch bệnh từ các dân tộc khác. Phải nói rằng,
toàn cầu hoá về mặt văn hoá là vấn đề cần được quan tâm nhất, khi mà các nước
cường quốc dễ dàng thâm nhập đến các nước đang phát triển, và âm thầm từng ngày
đưa văn hóa của họ trở nên gần gũi và khó tách rời với đời sống của các nước phụ
thuộc.
III.BIỂU HIỆN CỦA TOÀN CẦU HÓA
Có thể nhận biết toàn cầu hoá thông qua một số xu hướng, hầu hết các xu hướng đó
bắt đầu từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trong số đó có lưu thông quốc tế ngày
càng tăng đối với hàng hoá, tiền tệ, thông tin và người; cùng với việc phát triển các
công nghệ, tổ chức, hệ thống luật lệ và cơ sở hạ tầng cho việc lưu thông này. Hiện nay
vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh sự tồn tại của một số xu hướng.
Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
Với xu thế phát triển hiện nay, việc gia tăng thương mại quốc tế giữa các nước là vô
cùng càn thiết, hợp tác trao đổi với nhau, tạo thuận lợi cho cả 2 bên. Gia tăng được giá
trị xuất khẩu cũng như hàng hóa chất lượng. Đi cùng với đó là vai trò ngày càng gia
tăng của các công ty đa quốc gia và các tổ chức quốc tế cũng như các tổ chức phi
chính phủ.
Mỗi quốc gia sẽ có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Khi hiểu rõ chính mình, họ
sẽ tập trung vào những gì là sở trường, và dồn phần lớn nhân lực cũng như tiền bạc để
đầu tư. Còn những gì không phải là thế mạnh, họ sẽ cùng hợp tác với một nước khác,
đôi bên cùng có lợi, và ai cũng sẽ giảm được những áp lực của mình. Điển hình là các
tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới như Apple, Sony, Samsung đều có out-source ở
các nước đang phát triển nhằm giải quyết vấn đề xả thải môi trường và tìm được
nguồn nhân lực rẻ mạt.
Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Với sự phát triển của hội nhập quốc tế, luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài thu hút nhiều nguồn lợi lớn hơn từ các nước, mở ra thị trường tiêu
thụ giàu tiềm năng trên nhiều lĩnh vực, tăng cường phát triển kinh tế.
Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như
Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại
Ví dụ, sự xuất hiện của các kênh truyền hình tin tức vệ tinh dựa trên sự kết hợp của
công nghệ báo chí và các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã khiến cho thông tin được
truyền tải trên phạm vi toàn cầu, vượt qua mọi khoảng cách địa lý với tốc độ gần như
tức thì. Qua đó một sự kiện ở một quốc gia cụ thể có thể gây nên những tác động
mạnh mẽ tới tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của hàng trăm quốc gia trên khắp
hành tinh. Việc di chuyển giữa các địa điểm trên toàn cầu cũng trở nên nhanh chóng
và dễ dàng hơn
Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế
Với công cuộc toàn cầu hóa, văn hóa các nước cũng được hội nhập, trao đổi lẫn nhau.
Có thể lấy ví dụ về việc nhập sách hay mua bản quyền phim nước ngoài ở các nước
không còn là điều xa lạ.
Những bộ phim Hollywood giúp phổ biến các giá trị văn hóa đại chúng của Mỹ ra
khắp thế giới. Thói quen tiêu dùng và sinh hoạt của người dân ở các quốc gia cũng
dần bị biến đổi theo hướng đồng nhất. Tương tự, thông qua âm nhạc và điện ảnh,
người dân thế giới ngày càng biết tới nhiều hơn các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, phong
tục tập quán… của các quốc gia như Hàn Quốc hay Trung Quốc. Một mặt quá trình
toàn cầu hóa về văn hóa này tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau lớn hơn giữa người dân
thuộc nhiều quốc gia, nhiều nền văn hóa khác nhau. Mặt khác, trong một số trường
hợp nó cũng tạo nên những phản ứng tiêu cực, như sự va chạm giữa các giá trị văn
hóa đối lập, hay sự phản kháng đối với những giá trị văn hóa phương Tây, đặc biệt là
ở các quốc gia Hồi giáo. Tương tự, toàn cầu hóa cũng đe dọa làm lu mờ bản sắc văn
hóa của các quốc gia, vốn là những giá trị cần được duy trì nhằm bảo vệ sự đa dạng
của nền văn hóa thế giới
Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến
những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố,
buôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo.
Bên cạnh những lợi ích do toàn cầu hóa mang lại thì còn nhiều vấn đề bất cập cần
được giải quyết trong giai đoạn này. Các vấn đề về sự nóng lên của trái đất khiến môi
trường sinh thái bị suy giảm, sự ô nhiễm môi trường như ở Trung Quốc và người dân
cần đến không khí sạch. Chính sách dẹp tệ nạ ma túy ở Phillipin…Hay các vụ xung
đột sắc tộc, những vụ khủng bố kinh hoàng, những nhân vật ảnh hưởng đến thế giới,
những tin tức nóng bỏng đều được cập nhật từng giây, từng phút với độ chính xác cao.
Đa dạng văn hóa
Sự tràn lan của chủ nghĩa đa văn hoá từ nhiều cá nhân ngày càng có xu hướng hướng
đến đa dạng văn hoá, mặt khác, làm mất đi tính đa dạng văn hoá thông qua sự đồng
hoá, lai tạp hoá, Tây hoá, Mỹ hoá hay Hán hoá của văn hoá.
Với xu thế toàn càu hóa, việc học hỏi văn hóa các nước là phù hợp tuy nhiên với sự
chạy theo xu thế quá đà như thần tượng Hàn quốc, cuồng nghệ sĩ Hàn trong giới trẻ đã
tự làm mất đi sự tôn nghiêm của văn hóa dân tộc
Làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các hiệp ước
quốc tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC
Gia tăng việc đi lại và du lịch quốc tế
Việc đi lại du lịch giữa các nước không còn mới lạ, góp phần quảng bá hnhf ảnh các
nước với nhau, mở rộng thúc đẩy du lịch các nước.
Gia tăng di cư, bao gồm cả nhập cư trái phép
Sự gia tang di cư, nhập cư đến những nơi thuận tiện hơn tạo điều kiện cho con người
ổn định cuộc sống hơn. Với xu thế toàn cầu hóa thì vấn đề đó trở nên phổ biến rộng
rãi hơn , đặc biệt là với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc…
Phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu
Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế
Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia
Sự phát triển và bành trướng của các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia, lực
lượng chi phối toàn cầu hóa. Các công ty này là kết quả của quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất và tư bản. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các công ty lớn ở Tây
Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc thấy rõ sự khẩn thiết phải sáp nhập nhằm tăng
cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trên thế giới hiện nay có 60.000 công ty xuyên quốc gia với khoảng 500.000 chi
nhánh ở nước ngoài có tổng doanh số trên 10.000 tỉ USD, chiếm gần 40% tổng sản
phẩm của thế giới, kiểm soát 60% tổng thương mại thế giới, 80% FDI, 90% thành quả
nghiên cứu triển khai kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trên thế giới. Luân chuyển
giữa các công ty xuyên quốc gia và trong nội bộ các công ty ấy chiếm gần 2/3 tổng
luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, tài chính quốc tế. Sức mạnh của các công ty xuyên
quốc gia này nhiều khi có thể làm khuynh đảo cả nền kinh tế của một quốc gia, thách
thức và làm suy yếu vai trò điều tiết nền kinh tế của Nhà nước.
Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử lý các
giao dịch quốc tế
WTO là một thể chế kinh tế toàn cầu chi phối hơn 90% tổng kim ngạch thương mại
thế giới. Chức năng chủ yếu của WTO là điều hành và thực thi các hiệp định thương
mại đa phương và hiệp định giữa một số bên cấu thành WTO; hoạt động với tính chất
một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa phương tìm kiếm các giải pháp
xử lý tranh chấp thương mại, giám sát các chính sách thương mại quốc gia, và hợp tác
với các thiết chế quốc tế khác liên quan tới hoạch định chính sách toàn cầu
IMF và WB cũng can thiệp sâu vào các nước thông qua các luật lệ của mình về tín
dụng, tài chính, đầu tư. Điều đó thể hiện rất rõ qua việc IMF và WB tham gia giải
quyết khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở Thái Lan, Inđônêxia, Hàn Quốc, Liên bang
Nga, Braxin… trong thời gian vừa qua.
Có thể nói IMF, WB và WTO là những tổ chức đặt dưới sự chi phối của chủ nghĩa tư
bản do Mỹ đứng đầu, là những công cụ của các công ty xuyên quốc gia, của chủ nghĩa
tư bản lũng đoạn, là những công cụ của toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, Maicơn
Brâu, Chủ tịch mạng lưới thông tin thế giới thứ ba đã có lần nói, “WB và IMF được
dàn dựng để phục vụ cho chủ nghĩa bá quyền của Hoa Kỳ”
Gia tăng số lượng các tiêu chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d. luật bản quyền
Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến tranh thế
giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
(GATT). Các đề xuất của GATT cũng như WTO bao gồm:
Thúc đẩy thương mại tự do
Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thuế quan; xây dựng các khu mậu dịch tự do
với thuế quan thấp hoặc không có
Về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soát tư bản
Giảm, bỏ hẳn hay điều hoà việc trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương
Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ
Hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia (nói chung là thắt chặt hơn)
Công nhận sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước (v.d. bằng sáng chế do Việt Nam
cấp có thể được Mỹ thừa nhận)
IV.TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA
1.Toàn cầu hóa kinh tế.
1.1.Tính hai mặt
TCH KT là xu thế khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới. Tính tất yếu khách
quan của quá trình này được thúc đẩy bởi các tiến bộ mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông
tin. TCH KT có sức hấp dẫn vì nó làm cho nền kinh tế của các quốc gia nếu khéo vận
dụng trong chiến lược hội nhập thì sẽ phát huy được lợi thế của mình, được bổ sung
những yếu tố mới, hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả hơn, thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế trong nước. TCH KT đang ngày càng lôi cuốn nhiều dân tộc, quốc
gia có trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị – xã hội khác nhau tham gia. Tuy
nhiên, trong giai đoạn hiện nay và trong nhiều năm tới TCH KT chưa phải là công
thức tối ưu cho tất cả các quốc gia, dân tộc. TCH KT chưa phải là môi trường tốt đẹp
mà vào đó ai cũng thắng, ai cũng có lợi như nhau và không ai phải trả giá. Xu thế
TCH KT diễn ra không trôi chảy, dễ dàng mà phải thông qua quá trình vừa hợp tác
vừa đấu tranh giữa hai nhóm nước: các nước phát triển và các nước đang phát triển,
trong sự thống nhất và mâu thuẫn giữa TCH và liên kết khu vực, giữa tự do hóa và
bảo hộ mậu dịch…
1.2.Tác động tích cực
– TCH KT thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của LLSX, đưa lại sự tăng trưởng cao cho
nền kinh tế thế giới. Trong đó, cơ cấu kinh tế thế giới có bước chuyển dịch mạnh về
chất: Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ dựa vào công nghệ cao và tri
thức tăng mạnh. Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển và hiện
đại hóa xã hội loài người. Các nước có nền kinh tế chậm phát triển nhờ tham gia TCH
KT họ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực phát triển từ bên ngoài như vốn đầu tư
nước ngoài, công nghệ chuyển giao, kinh nghiệm tổ chức quản lý… khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên… thúc
đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế trong nước.
– TCH KT thực chất là mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu. Sự giao lưu hàng
hóa thông thoáng hơn, hàng rào quan thuế và phi quan thuế bị dỡ bỏ, nhờ đó trao đổi
hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sự phát triển của các nước. Nửa đầu thế kỷ XX, kim
ngạch buôn bán của thế giới tăng 2 lần, đến nửa sau thế kỷ XX, do cắt giảm hàng rào
quan thuế và phi quan thuế nên kim ngạch buôn bán của thế giới đã tăng 50 lần. Sự
phát triển mạnh mẽ thị trường toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa đã cho phép
các nước đang và chậm phát triển có thể tận dụng các nguồn lực của mình, nhất là
nguồn lực lao động dồi dào để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một số ngành công
nghiệp chế tạo và dịch vụ.
– Dưới tác động của quá trình TCH, những thành tựu của khoa học – công nghệ được
chuyển giao nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các nước đi sau
trong sự phát triển kinh tế có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học
– công nghệ để phát triển.
– Cùng với quá trình TCH KT, nguồn vốn đầu tư quốc tế tăng mạnh góp phần điều
hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện cho các nước tiếp cận được nguồn vốn
và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế có lợi cho
cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư. (Tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài năm 1997 gấp
800 lần năm 1914)
– TCH KT thúc đẩy sự cải cách sâu rộng các nền kinh tế quốc gia và sự hợp tác khu
vực để các chủ thể này có thể nâng cao vị thế cạnh tranh và phát triển được trong nền
KTTT thế giới.
– TCH làm cho mạng lưới thông tin và giao thông vận tải bao phủ toàn cầu góp phần
làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh, sự
giao lưu thuận tiện nhanh chóng…
– TCH KT mang lại lợi ích nhiều mặt cho các tầng lớp dân cư. Mọi người có điều kiện
tận hưởng các sản phẩm và dịch vụ mới, rẻ từ khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt những
người lao động ở các nước nghèo có cơ hội tiếp cận với thị trường lao động quốc tế,
tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế.
– Về mặt chính trị, quá trình TCH KT làm gia tăng tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia có lợi cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Tóm lại, dưới tác động của TCH KT, thế giới ngày nay trở thành một thế giới thống
nhất trong đa dạng. Các nền văn hóa giao thoa, con người ngày càng có điều kiện
hướng tới sự phát triển toàn diện. Cùng với TCH là xu thế khu vực hóa. Xu thế khu
vực hóa phản ánh sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia, khu vực
trong một thế giới đa dạng, trong đó sự hợp tác và liên kết quốc tế ngày càng tăng lên
nhưng cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, khu vực cũng rất gay gắt và quyết
liệt.
1.3.Tác động tiêu cực.
Những tác động tiêu cực của quá trình TCH KT bắt nguồn từ nguyên nhân cơ bản là
các nước công nghiệp phát triển, nhất là Mỹ hiện còn chiếm ưu thế trong nền kinh tế
thế giới, thao túng quá trình TCH KT, lợi dụng quá trình TCH KT để tăng cường bóc
lột các nước nghèo thu lợi nhuận độc quyền cao. Có thể nêu ra một số tác động tiêu
cực sau đây của quá trình TCH KT:
– TCH KT thông qua tự do hóa thương mại thường đem lại lợi ích lớn hơn cho các
nước công nghiệp phát triển vì sản phẩm của họ có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu
mã đẹp, do đó có sức cạnh tranh cao dễ chiếm lĩnh thị trường. Mặc khác, tuy nói là tự
do hóa thương mại song các nước công nghiệp phát triển vẫn áp dụng những hình
thức bảo hộ công khai (như áp dụng hạn ngạch) hoặc trá hình (như tiêu chuẩn lao
động, môi trường…). Tuy có chuyển giao công nghệ song các nước công nghiệp phát
triển thường không chuyển giao những thành tựu mới nhất mà thậm chí là chuyển giao
những công nghệ lạc hậu hoặc đã khấu hao hết giá trị vào các nước chậm phát triển.
Điều này tác động xấu đến sự phát triển kinh tế ở các nước chậm phát triển và dẫn đến
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ở các nước này.
– TCH KT tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị và an ninh quốc gia. Nó tạo ra
nguy cơ cho các nước chậm và đang phát triển bị lệ thuộc vào kinh tế, từ đó dẫn đến lệ
thuộc về chính trị, gây nguy hại đến chủ quyền dân tộc và an ninh quốc gia. Thông
qua con đường trao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ, cho vay theo hướng khuyến
khích tư nhân hóa, các thế lực đế quốc đứng đầu là Mỹ muốn áp đặt hệ tư tưởng tư sản
vào các nước khác, thực hiện “diễn biến hòa bình” thay đổi chế độ xã hội theo hướng
thân phương Tây. Đối với các nước XHCN, chúng tìm cách xóa bỏ chế độ XHCN và
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản…
Thông qua con đường kinh tế, Mỹ và các thế lực đế quốc tìm cách gây sức ép với
nhiều nước khác trong đó có các nước đi theo con đường XHCN về những vấn đề dân
chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…, dùng mọi hình thức để can thiệp vào công việc
nội bộ của nước đó.
– TCH KT làm trầm trọng thêm những bất công xã hội, làm sâu thêm hố ngăn cách
giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Những nước được hưởng lợi nhiều nhất
trong quá trình TCH KT là những nước có nền KTTT phát triển (Mỹ, EU, Nhật…),
những nước chịu nhiều thiệt thòi nhất trong quá trình TCH KT là những nước có nền
kinh tế đang và chậm phát triển, các yếu tố của KTTT chưa được hình thành đồng bộ.
Lợi thế so sánh luôn biến đổi phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước. Nước
nào có nền kinh tế càng kém phát triển thì lợi thế so sánh càng suy giảm. Đa số các
nước ĐPT chỉ có lợi thế so sánh bậc thấp như lao động rẻ, tài nguyên, thị trường.... Đó
là một thách thức lớn đối với các nước ĐPT. Nhưng TCH, KVH cũng mang lại cho
các nước ĐPT những cơ hội lớn mới, nếu biết vận dụng sáng tạo để thực hiện được
mô hình phát triển rút ngắn. Chẳng hạn, bằng lợi thế vốn có về tài nguyên, lao động,
thị trường, các ngành công nghiệp nhẹ, du lịch, dịch vụ.... các nước ĐPT có thể tham
gia vào tầng thấp và trung bình của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu với cơ cấu
kinh tế có các ngành sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu, cần ít vốn đầu tư,
công nghệ trung bình tiên tiến tạo ra những hàng hoá - dịch vụ không thể thiếu trong
cơ cấu hàng hoá - dịch vụ trên thị trường thế giới. Để làm được việc đó các nước ĐPT
có cơ hội tiếp nhận được các dòng vốn quốc tế, các dòng kỹ thuật - công nghệ mới và
kỹ năng quản lý hiện đại. Nhưng cơ hội đặt ra như nhau đối với các nước ĐPT, song
nước nào biết tận dụng nắm bắt được chúng thì phát triển. Điều đó phụ thuộc vào
nhân tố chủ quan, vào nội lực của mỗi nước.
Việc phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình TCH, KVH của các nước ĐPT là
nhằm tận dụng tự do hoá thương mại, thu hút đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
phát triển xã hội. Tỷ trọng mậu dịch thế giới trong tổng kim ngạch mậu dịch thế giới
của các nước ĐPT ngày một tăng (1985: 23%, 1997: 30%). Các nước ĐPT cũng ngày
càng đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế, tỷ trọng hàng công
nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (1985: 47%, 1998: 70%) và các
nước ĐPT đang nắm giữ khoảng 25% lượng hàng công nghiệp xuất khẩu trên toàn thế
giới.
2. Tác động của toàn cầu hoá lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục
Do toàn cầu hoá dựa trên động lực và sức mạnh của kinh tế tri thức nên tác động của
nó đối với những trí thức đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục
ngày càng tăng, ngày càng có tính chất trực tiếp. Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của
lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế tri thức đòi hỏi một mặt, tri thức không
ngừng được xã hội hoá, mặt khác, xã hội không ngừng được tri thức hoá. Chính vì
vậy, mối quan hệ tương tác giữa kinh tế tri thức với văn hoá, xã hội, giáo dục ngày
càng gắn bó. Mối quan hệ đó thúc đẩy thông qua tác động của toàn cầu hoá.
Tác động của toàn cầu hoá đối với những trí thức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, xã
hội, giáo dục đã đặt ra những vấn đề sau đây đòi hỏi nhận thức đúng:
a. Mối quan hệ giữa văn hoá phương Đông với văn hoá phương Tây. Đây là vấn đề
đang tranh luận ở nhiều nước với các quan điểm khác nhau. Không khó để nhận thấy
rằng, hầu như văn hóa phương Tây đã thành công trong việc sáp nhập đến các nước
châu Á thông qua các văn hóa sách báo, nghệ thuật, ẩm thực, cũng như hôn nhân. Bên
cạnh đó, một số nước lớn ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã len lỏi được vào
đời sống của người dân trên toàn thế giới. Những nét văn hóa đẹp thì không thể không
chấp nhận, nhưng quá trình tiếp nhận các nền văn hóa có thể sẽ làm mờ đi văn hóa
riêng của từng nước.
b. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong xã hội "hậu công nghiệp" khác trong xã
hội công nghiệp. Sự khác nhau tập trung ở hai vấn đề: con người trong mối quan hệ
với xã hội và với tự nhiên; con người phát triển toàn diện khác với con người chủ
nghĩa cá nhân. Vấn đề lối sống cá nhân hóa dường như không còn được chấp thuận và
rất khó để tồn tại. Một cá nhân phải biết chấp nhận những cái mới, những văn hóa
mới, những con người mới, những suy nghĩ mới tân tiến hơn để phát triển chính mình.
c. Đối với những vấn đề về lực lượng sản xuất mới, nền văn hoá mới, con người mới
nói trên thì người ta mong đợi nhiều sự phát triển nền giáo dục mới. Chính vì vậy mà
toàn cầu hoá đang gây ra sức ép mạnh mẽ đối với những trí thức hoạt động giáo dục,
đang tham gia quá trình cải cách giáo dục. Giáo dục không phải chỉ thay đổi những cái
bên ngoài, mà phải đào sâu vào gốc rễ. Giáo dục phải hiệu quả, phải đi sâu vào từng
lĩnh vực học tập, từng cá nhân. Người làm giáo dục phải biết lắng nghe, phải nhìn
nhận lại chính mình, và góp phần tạo nên những cuộc cách mạng giáo dục cho quốc
gia. Giáo dục trong toàn cầu hóa càng có nhiều ưu thế hơn, khi mà các nước đang phát
triển có thể dễ dàng tiếp nhận được những thành tựu giáo dục từ các nước phát triển.
d. Trong quá trình phát triển kinh tế tri thức và toàn cầu hoá còn đưa đến những biến
đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội dân cư. Trong giai đoạn quá độ hiện nay, cơ cấu xã hội
- giai cấp trong xã hội công nghiệp vẫn còn và đang biến đổi, nhưng một xã hội mới
đang dần hình thành do sự phát triển phân công lao động mới trong nền kinh tế tri
thức và toàn cầu hoá kinh tế. Những nét mới thấy được của cơ cấu xã hội đang hình
thành là:
- Giai cấp công nhân đang phát triển ở trình độ mới hình thành những người lao động
tri thức, có vai trò ngày càng tăng trong lao động sáng tạo và quản lý.
- Khoảng cách giữa lao động chân tay với lao động trí óc (do lịch sử sinh ra từ phân
công lao động cũ) đang được thu hẹp và mờ dần..
- Sự phân công lao động mới trong nền kinh tế tri thức được thúc đẩy bởi toàn cầu hoá
đã đưa đến hình thành tầng lớp trung lưu (hay tầng lớp hữu sản, không phải là vô sản
cũng không phải là tư sản).
Ở các nước đang phát triển kinh tế thị trường trong thời đại hiện nay đều hình thành
tầng lớp trung lưu. ở Trung Quốc đã có hơn 15% dân số thuộc tầng lớp này.Xu hướng
"dân giàu, nước mạnh" sẽ thể hiện ở một trong những tiêu chí là sự ra đời và phát triển
tầng lớp trung lưu như là con đẻ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai
đoạn kinh tế tri thức và toàn cầu hoá. Những công nhân, nông dân trí thức sẽ trở thành
một bộ phận ngày càng lớn của tầng lớp trung lưu. Đó là sự giải phóng lần thứ hai khi
công nông vượt ra khỏi tình trạng vô sản chuyển thành những người hữu sản văn
minh.
3. Tác động của toàn cầu hoá với chính trị.
Bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Trong giai đoạn tới,
hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn. Nhưng xung đột sắc tộc và tôn
giáo, nạn khủng bố, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, đặc biệt tranh chấp chủ quyền
biển đảo và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu
khác, như: đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên…đều ảnh
hưởng không nhỏ đến tất cả các nước trên thế giới. Đặc biệt là tình hình chính trị ở
các nước.
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc,
quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ
và sử dụng quyền lực nhà nước. Sự phân biệt giữa văn minh với dã man, tự do với tất
yếu đều gắn liền với nền chính trị của mỗi quốc gia. Từ xưa đến nay, sự thực hiện
chức năng của tất cả các lĩnh vực đều gắn liền với môi trường chính trị - xã hội lại do
những điều kiện lịch sử quy định, không thể từ mong muốn chủ quan.
Toàn cầu hóa làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Marx nhận xét "Với sự phát
triển của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới, sự đồng đều của sản
xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với nền sản xuất ấy thì
những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các nước cũng ngày
càng mất đi.".
Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên thế
giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm ra
một giải pháp thay thế cho hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái niệm
nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực trong
suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng giảm dần
do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang tính toàn cầu
ngày nay.
Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hoá dân chủ thể chế nào đó. Kiểu
toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu gọi mọi người
sống trên hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc liên quan đến
họ, mà không thông qua một bức màn "quốc tế".
Các tổ chức phi chính phủ muốn thay vào khoảng trống này, tuy nhiên họ thiếu tính
hợp pháp và thường thể hiện các tư tưởng đảng phái quá nhiều để có thể đại diện tất
cả công dân trên thế giới.
Vì phải theo dòng chảy toàn cầu hóa, nhiều quốc gia mở rộng vòng tay với những
nước khác trên thế giới, nên mọi hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại đều diễn ra êm
đẹp, các nước dường như lắng nghe nhau nhiều hơn. Nhưng điều quan trọng hơn cả,
không phải bất kì quốc gia nào cũng đều thành tâm khi bắt tay với nhau. Không ít các
quốc gia đang phát triển đã phải cắn răng chịu đựng hay mỉm cười cho qua những
hành động mà các nước ngoại bang gây ra trên đất nước mình, tất cả vì tinh thần hợp
tác hữu nghị, song phương cùng phát triển. Điển hình là dải đất hình chữ S phải gồng
lên lấy lại lãnh thổ bị người láng giềng ngang nhiên lấn chiếm dù đang trong thời kì
hòa bình.
Điều đáng quan tâm nhất, do môi trường chính trị - kinh tế khác nhau, nên hiện nay
vấn đề lưu động chất xám ngày càng tăng cùng với phát triển toàn cầu hoá. Trong đó
có vấn đề "chảy máu chất xám" của nhiều quốc gia
Tình trạng mất đi những người được đào tạo chuyên môn ở trong và ngoài nước được
người ta coi là "sự tàn phá đặc biệt" đối với quốc gia ở thời kỳ phát triển trong bối
cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt. Gần đây, tình trạng những người có chuyên môn tuy
không ra đi, nhưng không được sử dụng đúng hoặc phải chuyển nghề để kiếm sống
cũng được người ta coi là một "sự tàn phá bên trong".
Hiện nay, xu hướng phát triển bền vững đang ngày càng có tác động tích cực đến việc
cải thiện môi trường chính trị - xã hội cho phù hợp với nhu cầu nhân đạo hoá và nhân
văn hoá khoa học. Tuy nhiên, một số nhà quan sát khẳng định rằng toàn cầu hóa làm
suy yếu chính phủ các quốc gia không chỉ bằng cách thu hẹp các nguồn lực nằm dưới
sự quản lý của nhà nước để kiểm soát tình hình kinh tế xã hội mà còn bằng cách làm
giảm tính chính danh và quyền lực của chính phủ trong mắt công chúng.
V.Phản ứng xung quanh về vấn đề toàn cầu hóa.
Những người ủng hộ toàn cầu hoá dân chủ có thể được gọi là những người ủng hộ chủ
nghĩa toàn cầu. Họ cho rằng giai đoạn đầu của toàn cầu hoá là hướng thị trường, và sẽ
được kết thúc bởi giai đoạn xây dựng các thiết chế chính trị toàn cầu đại diện cho ý
chí của toàn thể công dân thế giới. Sự khác biệt giữa họ với những người ủng hộ chủ
nghĩa toàn cầu khác là họ không định nghĩa trước bất kỳ hệ tư tưởng nào để định
hướng ý chí này, mà để cho các công dân được tự do chọn lựa thông qua một tiến trình
dân chủ.
Những người ủng hộ thương mại tự do dùng các học thuyết kinh tế như lợi thế so sánh
để chứng minh thương mại tự do sẽ dẫn đến một sự phân phối tài nguyên hiệu quả
hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại.
Thương mại tự do sẽ cho những nhà sản xuất tại các nước một thị trường tiêu thụ rộng
lớn hơn dẫn đến lợi nhuận cao hơn. Đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tư
bản, từ đó đem lại lợi ích cho người lao động trên toàn thế giới; cũng như cạnh tranh
giữa nguồn nhân công trên toàn thế giới sẽ mang lại lợi ích cho các nhà tư bản và trên
hết là cho người tiêu thụ. Nói chung, họ cho rằng điều này sẽ dẫn đến giá thành thấp
hơn, nhiều việc làm hơn và phân phối tài nguyên tốt hơn.
Toàn cầu hoá đối với những người ủng hộ dường như là một yếu tố dẫn đến phát triển
kinh tế cho số đông. Chính từ điều này mà họ chỉ nhìn thấy trong sự truyền thông hoá
khái niệm "toàn cầu hoá" một cố gắng biện minh đầy cảm tính và không duy lý của
chủ nghĩa bảo hộ kinh tế. Những người ủng hộ chủ nghĩa tự do cá nhân và những
người ủng hộ chủ nghĩ tư bản tự do tuyệt đối cho rằng mức độ tự do cao về kinh tế và
chính trị dưới hình thức dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở phần thế giới phát triển sẽ làm
ra của cải vật chất ở mức cao hơn. Do vậy họ coi toàn cầu hoá là hình thức giúp phổ
biến nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Họ phê phán phong trào chống toàn cầu hoá chỉ
sử dụng những bằng chứng vụn vặt để biện minh cho quan điểm của mình, còn họ thì
sử dụng những thống kê ở quy mô toàn cầu.
Một trong những dẫn chứng này là tỉ lệ phần trăm dân chúng ở các nước đang phát
triển sống dưới mức 1 đôla Mỹ (điều chỉnh theo lạm phát) một ngày đã giảm một nửa
chỉ trong hai mươi năm[3]. Tuổi thọ gần như tăng gấp đôi ở các nước đang phát triển
kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai và bắt đầu thu hẹp khoảng cách với các nước
phát triển nơi ít có sự cải thiện hơn. Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã giảm ở các khu vực
đang phát triển trên thế giới[4]. Bất bình đẳng trong thu nhập trên toàn thế giới nói
chung đang giảm dần[5]. Nhiều người ủng hộ chủ nghĩa tư bản cũng phản đối Ngân
hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế với lý luận rằng những tổ chức này đều tham ô,
quan liêu do các nhà nước kiểm soát và cung cấp tài chính, chứ không phải các tập
đoàn kinh doanh. Nhiều khoản cho vay chỉ đến tay những lãnh đạo độc tài không thực
hiện bất kỳ một cải cách nào, rốt cuộc chỉ dân thường là những người phải trả những
khoản nợ này về sau.
Một số nhóm đặc biệt như các liên đoàn thương mại của thế giới phương Tây cũng
phản kháng sự toàn cầu hoá vì mâu thuẫn quyền lợi. Tuy nhiên, thế giới ngày càng
chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt qua khỏi quy mô biên giới quốc gia, nhất là
vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên, và như vậy phong trào được biết đến trước đây
với tên gọi phong trào chống toàn cầu hoá từ nay đã biến thành một phong trào chung
của các phong trào vì toàn cầu hoá; họ tìm kiếm, thông qua thử nghiệm, các hình thức
tổ chức xã hội vượt qua khỏi khuôn khổ nhà nước quốc gia và nền dân chủ đại diện.
Do đó, cho dù các lý lẽ của phe chống toàn cầu hoá lúc ban đầu có thể bị bác bỏ thông
qua các thực tế về quốc tế hoá như ở trên, song sự xuất hiện của một phong trào toàn
cầu là không thể chối cãi và do đó chúng ta có thể nói về một tiến trình thực sự hướng
tới một xã hội nhân bản ở quy mô toàn cầu của tất cả các Công bằng và khách quan
mà nói, toàn cầu hoá là một xu thế thể hiện sự tiến bộ trong quá trình vận động, phát
triển của xã hội loài người nói chung và nền kinh tế thế giới nói riêng, là kết quả tất
yếu do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, nhất là công
nghệ thông tin.
Về mặt kinh tế, toàn cầu hoá đã và đang đem đến những cơ hội mà các nước có thể tận
dụng để đẩy nhanh tốc độ phát triển. Bởi vì, toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ; đồng thời, thúc đẩy sự phân công lao động
trên phạm vi quốc tế, tạo điều kiện cho các quốc gia có thể phát huy tối đa những lợi
thế của mình thông qua hoạt động hợp tác thương mại và đầu tư quốc tế.
ề chính trị, văn hoá, xã hội nói chung, toàn cầu hoá cũng có những tác động tích cực
nhất định. Nó đã gắn kết các quốc gia, dân tộc làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế và do vậy, đã thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia phát triển theo hướng
đối thoại và hợp tác, làm giảm nguy cơ chiến tranh trên diện rộng…
Mặt khác, toàn cầu hoá còn là cơ hội để các dân tộc mở rộng giao lưu văn hoá, tiếp
thu những tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác, làm phong phú thêm cho nền văn
hoá của chính dân tộc mình; đồng thời, thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia để giải
quyết có hiệu quả những vấn đề mang tính toàn cầu, như ô nhiễm môi trường, tội
phạm quốc tế, bệnh tật hiểm nghèo, dân số, ma tuý, mại dâm, v.v.. Những tác động
tích cực, cơ bản đó của xu thế toàn cầu hoá đã thức tỉnh nhân loại về sự cần thiết phải
mở rộng hội nhập. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng mang lại những thách thức to lớn đối
với các nước, đặc biệt là các nước chậm phát triển. Điều này buộc người ta phải có sự
cảnh giác, thận trọng trước xu thế toàn cầu hoá. Thực tế là những năm vừa qua, các
hoạt động phản đối toàn cầu hoá diễn ra dưới nhiều hình thức khá đa dạng và ở những
mức độ rất khác nhau, từ những bài viết, ấn phẩm, diễn thuyết, hội nghị, biểu tình
thậm chí đến cả sử dụng bạo lực. Trong đó, những cuộc biểu tình của đông đảo các
tầng lớp xã hội từ nhiều nước trên thế giới diễn ra bên ngoài các cuộc hội nghị quốc tế
quan trọng đã trở thành hoạt động khá phổ biến.
Phản Đối Toàn Cầu Hoá
Những cuộc đấu tranh phản đối toàn cầu hoá đã chứng tỏ rằng, toàn cầu hoá như hiện
nay đang thực sự “có vấn đề” và nhân loại cần đến “một toàn cầu hoá khác”.
Lực lượng khởi xướng và tham gia các cuộc biểu tình chống toàn cầu hoá chủ yếu là
các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhóm xã hội, trong đó có cả những tổ chức
mang tính quốc tế và những tổ chức ở cấp quốc gia cùng với đông đảo nhân dân lao
động tiến bộ ở nhiều nước trên thế giới. Họ đại diện cho những nhóm lợi ích và có
những mối quan tâm khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực như nghiệp đoàn, giáo
dục, y tế, văn hoá, quyền phụ nữ, quyền các dân tộc thiểu số, tôn giáo, môi trường,
nhân quyền. Trong một số trường hợp, có cả các đảng chính trị đứng hậu thuẫn, thậm
chí được sự khuyến khích và hỗ trợ của chính quyền. Một tổ chức quốc tế chống toàn
cầu hoá đã được thành lập năm 2001 tại Porto Alegre (Braxin), đó là Diễn đàn xã hội
thế giới (WSF) – một đối trọng của tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). Nó được
xác định là một “diễn đàn quốc tế nhằm thúc đẩy quyền con người, công bằng xã hội
và phát triển bền vững” và do vậy, đã nhận được sự hưởng ứng ngày càng rộng rãi của
các tổ chức, cá nhân trên toàn thế giới. Chương trình hoạt động của tổ chức Diễn đàn
xã hội thế giới là thảo luận các phương án thay thế về kinh tế và xã hội nhằm thúc đẩy
quyền con người, công bằng xã hội và phát triển bền vững... Diễn đàn xã hội thế giới
phát triển như là kết quả tất yếu của một phong trào quốc tế đang lên, đòi để cho xã
hội công dân được đại diện trong các thiết chế tài chính quốc tế như IMF, WB và
WTO. Trong nhiều thập kỷ qua, các thiết chế này đã đưa ra những quyết định ảnh
hưởng đến đời sống của nhân dân toàn thế giới, nhưng lại không có chế độ báo cáo
công khai và không có sự tham gia dân chủ... Diễn đàn xã hội thế giới sẽ thảo luận các
vấn đề như xây dựng các chính sách kinh tế, thúc đẩy sự phát triển con người, kiến tạo
các chiến lược quốc tế cho việc phát triển các tổ chức cơ sở; đề xuất các kiến nghị đối
với các thiết chế quốc tế như IMF, WTO, WB; ảnh hưởng của các quốc gia đến các
cộng đồng địa phương; đề xuất các sáng kiến phát triển bền vững để xoá bỏ đói nghèo
và bảo vệ môi trường; chống phân biệt chủng tộc, bất bình về giới, bảo vệ đất đai và
văn hoá bản địa”.
Ông Mahathir Môhamad, trong bài diễn văn đọc tại một cuộc hội nghị ở Kuala
Lumper vào ngày 26 – 2 - 2001, kêu gọi cần phải xây dựng “một trật tự thế giới mới”
- một trật tự thế giới không chỉ mới mà còn công bằng hơn, hữu ích hơn, dịu dàng
hơn, tử tế hơn, vị tha hơn và tràn đầy lòng nhân ái. Theo ông, “trật tự thế giới ấy sẽ
quan tâm thật nhiều đến luân lý và đạo đức, đến tự do và độc lập, đến công bằng và sự
kính trọng lẫn nhau, đến nền dân chủ hữu ích và quyền con người toàn diện”. Công
cuộc toàn cầu hoá mới, theo ông, “phải được hoạch định một cách cẩn trọng. Việc
hoạch định phải tính tới tất cả mọi người sinh sống ở mọi ngóc ngách của thế giới...
Toàn cầu hoá phải được triển khai một cách chậm rãi và những nỗ lực lớn lao nhất
phải hướng về những khu vực kém phát triển nhất của thế giới”.
Tài liệu tham khảo:
1.
2.
3.
4.
5.