PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng đã có
truyền thống lâu đời trong các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Đặc
biệt trong những năm gần đây thì nghề nuôi tôm sú đã vô cùng phát triển, đóng
góp rất nhiều vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, mang lại sự phát triển cho
nền kinh tế và thu nhập cho người dân. Tuy vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
không phải là một “mỏ tôm” đóng góp nhiều nhất trong cả nước, nhưng rất có
tiềm năng và đã phát triển rất mạnh trong những năm trở lại đây. Ở các địa
phương đã phát triển và quy hoạch nhiều mô hình nuôi tôm đạt hiệu quả cao mà
lại phù hợp với người nghèo và ít vốn, giúp cho kinh tế của các hộ dần được cải
thiện. Năm 2009, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đưa diện tích nuôi tôm sú
lên 566.000 (tăng 27.000ha so năm 2008), tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Bạc
Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre... Năng suất cũng tăng lên
đáng kể, đồng thời giá tôm cũng được ổn định và lên cao, là một tín hiệu đáng
mừng cho nông dân.
Trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thì tỉnh Sóc Trăng luôn luôn
chiếm giữ một vị trí cao về năng suất cũng như sản lượng xuất khẩu. Đặc biệt là
huyện Vĩnh Châu hàng năm đều đóng góp rất nhiều vào tình hình chung của cả
tỉnh. Do huyện có vị trí địa lý và những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc
nuôi tôm sú phát triển, đạt hiệu quả cao. Đồng thời, trong những năm gần đây,
một số doanh nghiệp cũng như một số hộ cá thể trong huyện đã tiến hành nuôi
tôm sạch theo tiêu chuẩn GAP đã đạt được những kết quả khả quan. Bên cạnh
đó, tình hình tiêu thụ tôm sú cũng tăng mạnh, đầu ra của nông dân và đặc biệt là
doanh nghiệp nuôi tôm được đảm bảo.
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm sú lâu nay cũng không ít thăng trầm, bên cạnh
những mặt mạnh và được đó thì cũng tồn tại không ít những khó khăn và thiệt
hại có thể xuất hiện bất cứ lúc nào cả về những nguyên nhân khách quan lẫn
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-1-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
chủ quan. Các vấn đề về thời tiết, dịch bệnh, giá cả cùng những biến động khác
của thị trường luôn luôn tiềm ẩn và sẽ gây những hậu quả khó lường cho người
nông dân và cả nền kinh tế. Chúng ta vẫn còn nhớ vụ kiện bán phá giá tôm ở
Mỹ vào năm 2006 đã gây khó khăn cho các Doanh nghiệp xuất khẩu tôm và
trực tiếp là đến cuộc sống của hộ nuôi tôm như thế nào. Chính vì thế, đề tài “
Phân tích hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng”
được thực hiện nhằm xác định rõ những mặt mạnh và yếu để có thể đề ra những
giải pháp giúp người dân cũng như các doanh nghiệp nuôi tôm sú trong vùng có
thể giải quyết được một phần nào những khó khăn trên và phát triển một cách
bền vững ngành nghề của họ, tránh được những khó khăn tương tự như trên,
mang lại năng suất và hiệu quả cao hơn nữa, đóng góp vào GDP của cả nước,
nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như thu nhập của người dân, đồng thời góp
phần nâng cao ý thức và hiệu quả bảo vệ môi trường của nông dân.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu để thực hiện những mục tiêu sau đây:
1.2.1. Mục tiêu chung:
Phân tích hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc
Trăng, từ đó đề ra những giải pháp nhằm phát triển ngành nghề nuôi tôm sú và
đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ tôm ở huyện.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích thực trạng nuôi và tiêu thụ tôm sú ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh
Sóc Trăng.
- Phân tích những rủi ro trong quá trình nuôi tôm sú của nông hộ và doanh
nghiệp.
- Phân tích hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú sau thu hoạch trong huyện.
- Đề ra những giải pháp phát triển nghề nuôi tôm sú và đẩy mạnh hoạt
động tiêu thụ ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn tới.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-2-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
1.3. CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN
CỨU:
1.3.1. Các giả thuyết cần kiểm định:
- Giả thuyết 1: Tình hình nuôi tiêu thụ tôm sú ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh
Sóc Trăng đang ngày càng được đẩy mạnh nhưng còn nhiều bấp bênh bởi giá
bán và một số khó khăn, bất cập khác
- Giả thuyết 2: Nghề nuôi tôm sú ở huyện Vĩnh Châu vẫn còn chịu nhiều
rủi ro bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan cũng như chủ quan như: dịch
bệnh, thời tiết, giá cả, chi phí nuôi, chất lượng tôm giống, giá thức ăn và thuốc
thú y tăng cao những năm gần đây… Hoàn toàn chưa có sự can thiệp của nhà
nước, chưa có sự liên kết giữa người nuôi và các chủ vựa, các doanh nghiệp chế
biến để tạo ra một quy trình khép kín từ khâu sản xuất - tiêu thụ sản phẩm; các
tiêu chuẩn về chất lượng của các thị trường xuất khẩu khó tính cũng ảnh hưởng
đến tình hình tiêu thụ tôm sú của nông hộ và doanh nghiệp trên địa bàn.
- Giả thuyết 3: Hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú trên địa bàn còn chưa cao,
có khi còn bị thua lỗ, hệ thống mạng lưới kênh tiêu thụ còn chưa chặt chẽ.
- Giả thuyết 4: Để phát triển nghề bền vững, khai thác tốt và hiệu quả
tiềm năng nuôi tôm sú cần thiết phải quy hoạch vùng nuôi, cải tạo nguồn lao
động và nhân lực, phối hợp chặt chẽ các tác nhân trong kênh tiêu thụ và đẩy
mạnh sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa nông dân – doanh nghiệp – nhà nước.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm sú tại huyện Vĩnh Châu,
tỉnh Sóc Trăng là như thế nào?
- Câu hỏi 2: Những rủi ro nào đã ảnh hưởng đến việc nuôi tôm sú của
nông hộ và doanh nghiệp nuôi tôm trên địa bàn huyện?
- Câu hỏi 3: Hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú trên địa bàn huyện là ra sao?
Vì sao việc nuôi tôm sú còn bị ảnh hưởng nhiều bởi giá bán và mối quan hệ
giữa các tác nhân trong kênh phân phối là như thế nào?
- Câu hỏi 4: Để đẩy mạnh phát triển nghề nuôi tôm sú và hoạt động tiêu
thụ ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cần có những biện pháp gì?
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-3-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.4.1. Phạm vi về không gian:
Đề tài nghiên cứu tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
1.4.2. Phạm vi về thời gian:
Số liệu trong bài là số liệu từ năm 2006 - 2009.
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 05/2010.
1.4.3. Về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là những nông hộ và doanh nghiệp nuôi tôm sú, các
vựa ttom, công ty chế biến xuất khẩu, chợ bán lẻ, người tiêu dùng trên địa bàn
huyện.
Do hạn chế về thời gian thực hiện, đề tài chỉ tập trung phân tích và làm rõ
những nội dung sau:
- Phân tích tình hình nuôi và tiêu thụ tôm sú.
- Phân tích rủi ro ảnh hưởng đến quá trình nuôi tôm sú.
- Phân tích hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú
- Trên cơ sở đã phân tích, đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh tình hình sản
xuất và tiêu thụ tôm sú ở huyện.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.5.1. Phương pháp thu thập số liệu:
- Số liệu thứ cấp: đề tài sử dụng những số liệu thứ cấp của Sở Nông
Nghiệp, của các cơ quan thống kê, thông tin đáng tin cậy từ mạng Internet, sách
báo,… và các tài liệu khác có liên quan.
- Số liệu sơ cấp: thu thập số liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn trực tiếp
một số hộ và doanh nghiệp nuôi tôm sú, tham khảo ý kiến từ các chuyên gia, kỹ
sư nuôi tôm… tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
1.5.2. Phương pháp phân tích:
Với từng mục tiêu cụ thể khác nhau, sử dụng các phương pháp nghiên cứu
như sau:
- Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng nuôi và tiêu thụ tôm sú ở huyện Vĩnh
Châu, tỉnh Sóc Trăng. Sử dụng các phương pháp sau:
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-4-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
+ Thống kê mô tả:
+ Phương pháp biểu đồ để vẽ một số biểu đồ minh họa cho số liệu được
phân tích trong đề tài này.
+ Phương pháp ước lượng khoản tin cậy:
+ Phương pháp kiểm định giả thuyết:
+ Phương pháp so sánh:
- Mục tiêu 2: Phân tích các rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả
nuôi tôm sú của nông hộ và doanh nghiệp: sử dụng hàm rủi ro
- Mục tiêu 3: Phân tích hiệu quả nuôi và tiêu thụ tôm sú sau thu hoạch:
+ Phân tích chi phí – lợi ích (Cost Benefit Analysis - CBA):
+ Phương pháp xác định kênh phân phối :
- Mục tiêu 4: Đề ra những giải pháp phát triển nghề nuôi tôm sú và đẩy
mạnh hoạt động tiêu thụ tôm ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng trong giai
đoạn tới: Sử dụng ma trận SWOT kết hợp với các phương pháp đánh giá, định
lượng so sánh rồi đưa ra kết luận.
- Số liệu trong bài dựa vào các phương pháp so sánh, đánh giá với các
chỉ tiêu chuẩn, phân tích qua thời gian, kết hợp với thống kê trong từng lĩnh
vực. Từ các số liệu tương đối, quy ra số tuyệt đối về % và vẽ đồ thị.
Tất cả các số liệu trong bài dùng phần mềm WORD, EXCEL để xử lý.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-5-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
2.1.1. Một số khái niệm:
2.1.1.1. Khái niệm về nuôi trồng thủy sản:
Là thuật ngữ dùng để chỉ việc nuôi, trồng tất cả sinh vật có trong môi
trường nước. Tuy nhiên cũng có thể hiểu nuôi trồng thủ sản là tất cả những tác
động của con người có ảnh hưởng tới sinh vật và môi trường sống của sinh vật.
Nuôi trồng thủy sản là hoạt động lấy đối tượng tác động là những sinh
vật sống trong môi trường nước để tạo ra sản phẩm phục vụ con người. Nuôi
trồng thủy sản mang nhiều điểm giống với sản xuất nông nghiệp, tính mùa vụ
của nuôi trồng thủy sản thể hiện rất rõ rệt.
2.1.1.2. Khái niệm hộ sản xuất:
a) Hộ:
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn
ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó
bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công. Tại
cuộc Hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980,
các đại biểu nhất trí rằng: hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến
sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động khác.
Qua các điểm khác nhau về khái niệm “hộ” có thể nêu lên một số đặc
điểm cần lưu ý khi phân định “hộ”:
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung
huyết tộc.
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một cuộc thảo luận nào nghiêm
túc nào về khái niệm hộ và các phương pháp nghiên cứu hộ. Hầu như từ trước
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-6-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
tới nay người ta mặc nhiên thừa nhận hộ là “ gia đình”, kinh tế hộ là “ kinh
tế gia
đình”.
b) Hộ sản xuất:
Hộ sản xuất là những hộ làm những nghề thuộc lĩnh vực nông
nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp. Việc sản xuất hàng hóa của hộ chủ yếu dựa
vào các thành viên được xem là khoản thu nhập cho nông hộ. Quá trình sản
xuất hộ liên quan đến việc chuyển đổi các loại hàng hóa trung gian, thành
hàng hóa hoàn hảo. Họ thường sử dụng vốn và các dụng cụ của gia đình để
sản xuất cũng như lao động. Vì vậy, tổng giá trị hàng hóa tăng thêm của hộ
được gọi là tổng sản phẩm của hộ.
- Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất
kinh doanh, là chủ thể cho mọi quan hệ sản xuất.
- Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hộ sản xuất được hiểu là một gia
đình gồm một người làm chủ và các thành viên cùng sống chung trong hộ.
- Thực chất hộ gia đình ở nông thôn Việt nam là những người gắn bó
máu mủ huyết tộc .Người chủ hộ thường là cha hoặc mẹ và các thành viên là
các con trong gia đình đó.
- Hộ sản xuất ở nước ta giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông
nghiệp. Đặc điểm của hộ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam là gắn bó tính chất
truyền thống của cả hai mặt vật chất và tinh thần, có lợi cùng hưởng và có khó
khăn cùng gánh vác chia sẻ.
2.1.1.3. Các nguồn lực trong hộ:
a) Vốn:
Vốn được xem như là một yếu tố nhập lượng bao gồm tất cả các trang
thiết bị, máy móc được sử dụng trong quá trình sản xuất . Hơn nữa vốn còn
được thể hiện thông qua sản phẩm của những hoạt động sản xuất trước đó, mà
liên quan đến hoạt động sản xuất hiện tại . Nhìn chung, vốn được sử dụng kết
hợp với các yếu tố nhập lượng khác như lao động, năng lượng và những nguyên
vật liệu trong quá trình sản xuất ra một hoặc một số loại sản phẩm cụ thể nào
đó.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-7-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
Vốn được đo lường bằng giá trị mà chúng được sử dụng trong quá trình
sản xuất và được xem như là một thứ hàng hoá . Vì vậy trong mỗi giai đoạn sản
xuất sẽ xuất hiện một số chi phí liên quan đến việc sử dụng vốn như chi phí
khấu hao máy móc thiết bị và các khoản chi phí mang tính thời kỳ cho việc sử
dụng các nguồn lực như lãi suất.
b) Lao động:
Lao động là một nguồn lực cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào trong xã
hội nói chung cũng như trong nền kinh tế nói riêng. Phạm vi tham gia của lao
động vào trong các hoạt động sản xuất nhiều hay ít tuỳ thuộc và đặc điểm của
từng ngành nghề cụ thể cũng như đòi hỏi ngưòi lao động phải đáp ứng trình độ
nhất định.
Tuy nhiên, một trong những khó khăn trong việc đo lường giá trị của lao
động là xuất phát từ sự khác nhau về chất lượng lao động của cá nhân khác
nhau. Nhìn chung, với chất lượng lao động khác nhau thì sẽ tương ứng với mức
tiền lương khác nhau; và xuất hiện khái niệm gọi là nguồn nhân lực. Vì vậy,
khoản thu nhập của người lao động phải được bao gồm khoản thanh toán cho
việc sử dụng lao động và khoản thu nhập đối với nguồn nhân lực.
Những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo và trang bị trong quá khứ sẽ
trở thành yếu tố để xác định năng suất công việc hiện tại nhưng đòi hỏi những
kiến thức này phải được cập nhật trong suốt quá trình làm việc, nhằm tránh
trường hợp kiến thức không phù hợp với thực tế.
Vấn đề sử dụng vốn và lao động trong quá trình sản xuất kinh
tế
hộ: theo thuật ngữ kinh tế, vốn và lao động là hai nguồn lực sản xuất. Lao
động được tính bằng thời gian hoặc số người tham gia lao động, vốn được xem
như khoản tiền phải trả cho việc sử dụng các dịch vụ, mua nguyên vật liệu trang
trải chi phí trong quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là một quá trình được
xem như việc sử dụng các nguồn lực để chuyển đổi vật liệu hoặc những sản
phẩm dở dang thành sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh để phục vụ nhu cầu
của người tiêu dùng. Quá trình nuôi tôm cũng diễn ra như vậy từ những yếu
tố đầu vào trọng lượng hàng hóa, đó chính là những vật nuôi cung cấp sản
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-8-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
xuất cho toàn xã hội.
c) Đất đai:
Đất đai được xem như là một trong ba nguồn lực sản xuất. Giống như
lao động, đất đai cũng là một nguồn lực đầu vào không đồng nhất. Chất lượng
đất khác nhau phụ thuộc vào vị trí đặc điểm về địa lý... Vì vậy, có sự chênh lệch
về thanh toán cho việc sử dụng đất trong quá trình sản xuất, bao gồm chi phí
thuê đất để sản xuất. Hơn nữa, chất lượng của đất cũng ảnh hưởng đến phần nào
đến hiệu quả, năng suất của công nghệ được áp dụng trong sản xuất.
Bên cạnh các nguồn lực đầu vào vốn, lao động và đất đai, còn có các
nguồn lực đầu vào khác như: năng lượng, điện,... Mỗi yếu tố có đặc điểm riêng
mà chúng có thể trở thành nhân tố thiết yếu trong hoạt động sản xuất của hộ.
2.1.2. Một số vấn đề về tiêu thụ:
2.1.2.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm, là giai đoạn
làm cho sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất bước vào lưu thông, đưa sản phẩm
từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng.
2.1.2.2. Vai trò tiêu thụ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh. Có thể biểu diễn tiêu thụ sản phẩm trong quá trình sản xuất
kinh doanh theo sơ đồ sau:
Các yếu tố sản
xuất
Sản phẩm
Sản xuất
Tiêu thụ
Sơ đồ TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
KINH OANH
- Tiêu thụ sản phẩm bảo đảm doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu của
mình, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Tiêu thụ sản phẩm thực hiện được mục đích của sản xuất và tiêu dùng,
đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
-9-
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
- Tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân đối cung cầu,
đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng phương hướng và bước đi của kế hoạch
sản xuất cho giai đoạn tiếp theo.
2.1.2.3. Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp:
Những đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh
nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với sản
phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản. Những đặc điểm đó là:
- Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và
khu vực.
Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn chặt
với điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng. Lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối
của các vùng là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất kinh
doanh của cơ sở sản xuất kinh doanh và tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản
phẩm. Có sản phẩm chỉ thích ứng với một vùng, thậm chí tiểu vùng và lợi thế
tuyệt đối có được coi như là những đặc điểm mà ở các vùng khác, khu vực khác
không có.Đối với những loại sản phẩm khá phổ biến mà vùng nào có thì phải có
những hình thức tiêu thụ thích hợp.
- Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp tác động mạnh mẽ đến
cung – cầu của thị trường nông sản và giá cả nông sản. Sự khan hiếm dẫn đến
giá cả cao ở đầu vụ, cuối vụ, và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào chính vụ là
một biểu hiện của đặc điểm này. Việc chế biến, bảo quản và dự trữ sản phẩm để
đảm bảo cung cầu tương đối ổn định là một yêu cầu cần được chú ý trong quá
trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
- Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng, phong phú và trở thành nhu cầu tối
thiểu hàng ngày của mỗi người, với thị trường rất rộng lớn nên việc tổ chức tiêu
thụ sản phẩm phải hết sức linh hoạt. Sản phẩm cồng kềnh, tươi sống, khó bảo
quản chuyên chở xa, vì vậy cần tổ chức các chợ nông thôn, các cửa hàng lưu
động và nhiều hình thức linh hoạt để thuận tiện cho người tiêu dùng, hoặc sơ
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 10 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
chế trước khi đưa tiêu thụ, đồng thời phải sử dụng các phương tiện chuyên dùng
riêng khi vận chuyển, bảo quản.
- Một bộ phận lớn như nông sản, lương thực, thực phẩm được tiêu dùng
nội bộ hoặc với tư cách là tư liệu sản xuất, vì vậy phải tính đến nhu cầu đó một
cách cụ thể để tổ chức tốt việc tiêu thụ đối với nông sản được coi là hàng hóa
vượt ra ngoài phạm vi tiêu dùng của gia đình, của cơ sở sản xuất kinh doanh.
Như vậy những đặc điểm trên đây cần được tính đến trong việc tổ chức
quá trình tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp
2.1.2.4. Khái niệm và chức năng kênh phân phối:
a) Khái niệm:
Kênh phân phối được định nghĩa là tuyến đường giúp nhà sản xuất đưa
sản phẩm của họ đến tay người tiêu dùng hay người sử dụng công nghiệp một
cách hiệu quả.
Một kênh phân phối đầy đủ bao gồm các đối tượng sau:
+ Nhà sản xuất
+ Thành viên trung gian tham gia phân phối.
+ Người tiêu dùng
Hệ thống kênh phân phối gồm có:
+ Người cung cấp và người tiêu dùng cuối cùng
+ Hệ thống các thành viên trung gian phân phối
+ Cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển và tồn trữ
+ Hệ thống thông tin thị trường và các dịch vụ của hoạt động mua bán
Kênh Marketing có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ
người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nó cũng được coi như một
dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá khi chúng được mua bán qua các tổ
chức khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau là do xuất phát từ sự khác
nhau về quan điểm sử dụng. Người sản xuất có thể nhấn mạnh vào các trung
gian khác nhau cần sử dụng để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Vì vậy,
anh ta có thể định nghĩa kênh Marketing như là hình thức di chuyển sản
phẩm qua các trung gian khác nhau. Người trung gian như là người bán
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 11 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
buôn, bán lẻ - những người đang hy vọng họ có được dự trữ tồn kho thuận lợi
từ những người sản xuất và tránh các rủi ro liên quan đến chức năng này có
thể quan niệm dòng chảy quyền sở hữu như là cách mô tả tốt nhất kênh
Marketing. Người tiêu dùng có thể quan niệm kênh Marketing đơn giản như
là: “có nhiều trung gian đứng giữa họ và người sản xuất sản phẩm”. Cuối cùng
các nhà nghiên cứu khi quan sát các kênh Marketing hoạt động trong hệ thống
kinh tế có thể mô tả nó dưới dạng các hình thức cấu trúc và kết quả hoạt động.
Tóm lại, kênh Marketing là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và
các cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hoá từ người sản xuất đến
tay người tiêu dùng cuối cùng. Kênh Marketing là hệ thống các mối quan hệ
tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán. Kênh Marketing
là đối tượng tổ chức, quản lý như một đối tượng nghiên cứu để hoạch định các
chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Các kênh Marketing tạo nên hệ thống
thương mại phức tạp trên thị trường.
b) Chức năng kênh Marketing:
Các chức năng cơ bản của kênh Marketing là: mua, bán, vận chuyển,
lưu kho, tiêu chuẩn hoá và phân loại, tài chính, chịu rủi ro, thông tin thị
trường. Các chức năng này được thực hiện như thế nào và do ai làm có thể
rất khác nhau giữa các quốc gia và các hệ thống kinh tế, nhưng chúng cần
được thực hiện qua hệ thống Marketing.
- Chức năng vận tải có nghĩa là chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác.
- Chức năng lưu kho liên quan đến dự trữ hàng hoá đến khi có nhu cầu
thị trường.
- Tiêu chuẩn hoá và phân biệt liên quan đến sắp xếp hàng hoá theo
chủng loại và số lượng. Điều này làm cho việc mua và bán dễ dàng hơn bởi vì
giảm bớt được nhu cầu kiểm tra và lựa chọn.
- Chức năng tài chính cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết cho sản
xuất, vận tải, lưu kho, xúc tiến bán và mua sản phẩm. Chịu rủi ro giải quyết sự
không chắc chắn trong quá trình lưu thông tiêu thụ sản phẩm. Các công ty có
thể không chắc chắn sẽ có khách hàng muốn mua sản phẩm của họ. Các sản
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 12 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
phẩm cũng có thể bị hư hỏng
- Chức năng thông tin thị trường liên quan đến việc phân tích và phân
phối tất cả các thông tin cần thiết cho lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra các
hoạt động Marketing của tất cả các doanh nghiệp cả ở thị trường quốc tế.
2.1.2.5. Chi phí Marketing, lợi nhuận và biên tế Marketing của các
thành viên trong mạng lưới phân phối:
Tính toán chi phí marketing của từng thành viên tham gia kinh doanh.
So sánh chênh lệch giá mua vào bán ra (biên tế marketing) và chi phí
marketing để đánh giá hiệu quả về lợi nhuận kinh doanh.
Biên tế marketing = Giá bán TB – Giá mua TB
Lợi nhuận biên = Biên tế marketing của mỗi loại hình kinh doanh Chi phí marketing của mỗi loại hình kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận biên (%) = 100*Lợi nhuận biên/ Chi phí biên
2.1.3. Một số chỉ tiêu tính toán:
2.1.3.1. Chỉ tiêu về đánh giá chi phí đầu tư:
- Chi phí nguyên vật liệu trên diện tích: là khoảng giá trị tính bằng tiền
mà nông hộ phải chi cho các yếu tố: giống, thức ăn, thuốc xử lý và cải tạo trên
mỗi m2 ao nuôi tôm của mỗi nông hộ trong một vụ nuôi.
- Chi phí lao động trên diện tích: là khoảng giá trị tính bằng tiền nông hộ
đã phải chi trả để thuê lao động trong việc cải tạo ao, cho ăn, chăm sóc, thu
hoạch trên mỗi m2 ao nuôi trong mỗi vụ nuôi.
- Tổng chi phí trên diện tích: là khoảng giá trị tính bằng tiền mà nông hộ
phải chi trả cho tất cả các vấn đề phát sinh trên mỗi m2 ao nuôi trong suốt một
vụ nuôi tôm. Nó bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động, chi phí
khác…
- Diện tích canh tác trên hộ: là diện tích mà các hộ đã sử dụng vào canh
tác trong năm sản xuất vừa qua.
2.1.3.2. Chỉ tiêu về hiệu quả canh tác:
- Tổng thu nhập trên diện tích: là số tiền nông hộ thu được sau khi đã bù
đắp chi phí bỏ ra trên mỗi m2 ao nuôi trong một vụ nuôi.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 13 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
- Tỷ suất lợi nhuận: là số tiền lãi mà nông hộ thu được trên mỗi đồng chi
phí bỏ vào nuôi tôm trong vụ nuôi vừa qua.
- Chi tiêu bình quân hộ: là tất cả các giá trị tính bằng tiền mà nông hộ
phải bỏ ra để sinh hoạt mỗi tháng cho các khoản chi tiêu trong gia đình, không
xét đến yếu tố nhân khẩu trong nông hộ, bỏ qua nhu cầu lương thực thiết yếu là
gạo.
- Chi tiêu trên nhân khẩu: là các khoản giá trị tính bằng tiền mà mỗi
người trong hộ phải tiêu tốn trong một tháng, không xét đến yếu tố lương thực
thiết yếu. Đó là chỉ tiêu đánh giá chính xác được mức sống của các hộ.
2.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH:
2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu:
Cách thức chọn vùng số liệu nghiên cứu của đề tài là chọn lựa những
vùng trên địa bàn huyện có số lượng nông hộ và doanh nghiệp nuôi tôm sú và
các trung tâm đầu mối tiêu thụ lớn. Theo thống kê của niên giám thống kê
huyện Vĩnh Châu năm 2009 thì hiện tại sản lượng tôm sú nuôi của huyện chủ
yếu tập trung ở các xã, thị trấn như: thị trấn Vĩnh Châu, xã Vĩnh Hiệp, Khánh
Hòa, Hòa Đông, Vĩnh Phước,…Nơi đây tập trung đông các hộ và doanh nghiệp
nuôi tôm và là nguồn tôm nguyên liệu trọng điểm của huyện, các hộ và doanh
nghiệp nuôi có kinh nghiệm lâu năm giúp tiết kiệm thời gian phỏng vấn cũng
như nghiên cứu và số liệu mang tính đại diện cao hơn. Do đó các mẫu điều tra
chủ yếu tập trung ở các xã, thị trấn này. Bên cạnh đó, tuy tại địa bàn huyện
không có các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu nhưng nguồn tôm nguyên liệu
lại được vận chuyển trực tiếp đến các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thì tập
trung tại thành phố Sóc Trăng và các huyện lân cận như Mỹ Xuyên, Long Phú.
Cho nên về đối tượng nghiên cứu là công ty chế biến xuất khẩu thì tập trung
vào các công ty ở các địa phương trên.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu:
- Số liệu thứ cấp: được cung cấp chủ yếu từ các nguồn niên giám thống
kê, báo cáo, kế hoạch, sách báo, tài liệu đã được xử lý và trình bày về các kết
quả khảo sát về tình hình nuôi tôm sú của các nông hộ và doanh nghiệp trên địa
bàn huyện. Thêm vào đó, các thông tin thu thập trên internet trong thời gian qua
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 14 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
cũng được dùng để đánh giá thực trạng nuôi tôm, các nhân tố ảnh hưởng cũng
như quá trình tiêu thụ tôm của huyện.
- Số liệu sơ cấp: phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử
dụng để chọn các địa điểm khảo sát. Thị trấn Vĩnh Châu, xã Hòa Đông, Khánh
Hòa, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Phước, (phân tầng cấp 1) là 5 địa điểm tập trung nhiều
người nuôi tôm sú với diện tích, sản lượng nhiều nhất. Thành phố Sóc Trăng,
huyện Mỹ Xuyên, Long Phú là 3 địa điểm tập trung nhiều công ty chế biến xuất
khẩu.
Việc điều tra phỏng vấn được tiến hành trong tháng 4 năm 2010.
Phương pháp lẫy mẫu ngẫu nhiên được áp dụng để chọn hộ nuôi, vựa,
người bán lẻ, người tiêu dùng và công ty chế biến xuất khẩu tôm sú để phỏng
vấn trực tiếp trên địa bàn nói trên.
Tổng số quan sát dự kiến là 82 mẫu bao gồm: 30 hộ và 10 doanh nghiệp
tư nhân nuôi tôm (thị trấn Vĩnh Châu, xã Hòa Đông, Khánh Hòa, Vĩnh Hiệp,
Vĩnh Phước), 30 người tiêu dùng (thị trấn Vĩnh Châu), 5 nhà bán lẻ (thị trấn
Vĩnh Châu), 5 vựa tôm (thị trấn Vĩnh Châu), 2 công ty chế biến xuất khẩu
(thành phố Sóc Trăng).
Việc phỏng vấn gồm 5 mẫu câu hỏi dành cho các đối tượng: người nuôi
tôm, cơ sở thu mua tôm (vựa), nhà bán lẻ (chợ), người tiêu dùng, công ty chế
biến xuất khẩu. Quá trình phỏng vấn được tiến hành tại nhà, công ty, cơ sở
bán,… Cụ thể các đối tượng phỏng vấn được phân bổ theo bảng sau:
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 15 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
Bảng 2.1: Phân bổ các đối tượng phỏng vấn của nghiên cứu:
Đvt: mẫu phỏng vấn.
Đối tượng
Địa bàn
Người
Vựa
nuôi
Người
Người
Công ty
bán lẻ
tiêu dùng
chế biến
TT.Vĩnh Châu
10
5
5
30
-
Xã Hòa Đông
5
-
-
-
-
Xã Khánh Hòa
5
-
-
-
-
Xã Vĩnh Phước
5
-
-
-
-
Xã Vĩnh Hiệp
5
-
-
-
-
TP. Sóc Trăng
-
-
-
-
2
30
5
5
30
2
Tổng số
Phỏng vấn viên: sinh viên khoa kinh tế - quản trị kinh doanh trường đại
học Cần Thơ.
Các số liệu sau khi thu thập được xử lý theo các bước sau:
- Chuẩn bị dữ liệu:
+ Kiểm tra lỗi và thiếu sót của mẫu điều tra.
+ Sửa sai nếu có thể xảy ra các sai sót trên và đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn
tối thiểu về chất lượng dữ liệu như đúng đắn và ước lượng chính xác.
+ Đảm bảo dữ liệu thu thập được một cách chính xác, nhất quán với các thông
tin khác. Dữ liệu phải được đưa vào đồng nhất, đầy đủ và được sắp xếp để đơn
giản hóa việc mã hóa và nhập bảng.
- Mã hóa dữ liệu: dữ liệu mã hóa phải phù hợp với mục tiêu và vấn đề
nghiên cứu, bao quát mọi trường hợp, loại trừ lẫn nhau và rút ra từ một nguyên
tắc phân loại.
- Nhập dữ liệu
- Phân tích dữ liệu thông qua các công cụ phần mềm như: EXCEL,
WORD, STATA và phân tích bằng các phương pháp phù hợp.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 16 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu:
2.2.3.1. Mục tiêu 1, 2:
- Thống kê mô tả: thống kê mô tả là phương pháp tổng hợp các phương
pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế
bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin thu thập. Phương
pháp thống kê mô tả nhằm phân tích thực trạng nuôi tôm của nông hộ, đồng
thời là thực trạng tiêu thụ tôm sau khi thu hoạch của huyện. Các công cụ thống
kê được sử dụng để xử lý và phân tích số liệu như:
+ Bảng thống kê: là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin
đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết
quả đã nghiên cứu.
+ Xếp hạng theo tiêu thức: sử dụng phương pháp xếp hạng theo tiêu
thức để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tiêu thụ
sản phẩm.
+ Bảng phân phối tần số: (Frequency Analysic): là bảng tóm tắt dữ
lieuj được sắp xếp thành từng tổ khác nhau, dựa trên những tần số xuất hiện
của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu.
+ Phương pháp biểu đồ để vẽ một số biểu đồ minh họa cho số liệu được
phân tích trong đề tài này.
+ Phương pháp ước lượng khoản tin cậy:
+ Phương pháp kiểm định giả thuyết:
- Phương pháp so sánh: là phương pháp so sánh hai chỉ tiêu cùng loại
hay khác nhau nhưng có liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống
của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian.
+ Phương so sánh tuyệt đối: là hiệu số của hai chỉ tiêu, chỉ tiêu kỳ phân
tích và chỉ tiêu cơ sở.
+ Phương pháp so sánh tương đối: là tỉ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu kỳ
phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số
chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên sự tăng trưởng.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 17 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
Phương pháp so sánh nhằm đánh giá biến động số liệu về tình hình
nuôi tôm giữa các năm, sự tăng lên hay giảm xuống qua thời gian của các yếu
tố như: diện tích nuôi tôm, sản lượng, …
2.2.3.2. Mục tiêu 3:
+ Phân tích chi phí – lợi ích (Cost Benefit Analysis - CBA): Sử dụng
phương pháp phân tích chi phí lợi ích để tính toán các giá trị của tất cả các đầu
vào và đầu ra của quá trình sản xuất, so sánh giữa các chi phí mà nông hộ đầu
tư với thu nhập, lợi nhuận hay lợi ích mà nông hộ nhận được trong một vụ nuôi;
cũng như đánh giá hoạt động của các đối tượng trong kênh tiêu thụ tôm sú tại
huyện. Xem xét qua:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Nếu lợi nhuận > 0 thì có hiệu quả.
Nếu lợi nhuận < 0 thì không có hiệu quả.
Theo đúng quy trình của phương pháp phân tích chi phí lợi ích sẽ bao
gồm 10 bước. Tuy nhiên, do CBA là công cụ để đánh giá hiệu quả kinh tế nên
trong đề tài này CBA chỉ được sử dụng để đánh giá hiệu quả sản xuất của các
hộ nuôi tôm nên chỉ tập trung vào các bước quan trọng sau:
+ Phân tích chi phí sản xuất: bao gồm tất cả các chi phí phát sinh và cần
thiết phải bỏ ra cho quá trình sản xuất.
+ Phân tích lợi ích có được từ các hoạt động sản xuất và tiêu thụ của các
tác nhân trong kênh phân phối.
+ So sánh chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được trong quá trình sản xuất, từ đó
đưa ra các giải pháp nhằm tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi ích, mang lại hiệu
quả sản xuất cao nhất cho các tác nhân trong kênh.
+ Phương pháp xác định kênh phân phối : nhằm tìm ra các kênh phân
phối tôm sú từ người sản xuất đến người tiêu dùng và tính toán khối lượng tôm
được chuyển tải qua từng kênh. Phương pháp thống kê mô tả nhằm mô tả hoạt
động của các thành viên trong kênh; đồng thời các khái niệm về hệ số hiệu quả
marketing, biên tế marketing (marketing margin), chi phí và lợi nhuận
marketing được sử dụng để tính toán, so sánh giữa các tác nhân trong kênh và
đánh giá hiệu quả marketing của toàn hệ thống.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 18 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
Sơ đồ hệ thống kênh phân phối:
CÔNG TY
THỦY SẢN
XUẤT
KHẨU
NGƯỜI
NGƯỜI
CHỢ
SẢN
TIÊU DÙNG
XUẤT
CƠ SỞ THU
MUA NHỎ LẺ
Sử dụng phương pháp định lượng, so sánh các số liệu qua thời gian, kết
hợp với những thông tin chi tiết cụ thể rồi đưa ra kết luận.
2.2.3.3. Mục tiêu 4:
Thông qua những nguyên nhân, tồn tại từ những cơ hội, thách thức, điểm
mạnh, điểm yếu của việc nuôi và tiêu thụ tôm sú trong vùng từ ma trận SWOT
nhằm đưa ra các giải pháp để phát huy thế mạnh và tận dụng cơ hội, ngăn ngừa
các nguy cơ và khắc phục các điểm yếu. Nội dung phân tích ma trận SWOT:
+ Các mặt mạnh (S): Điều kiện thuận lợi, nguồn lực thúc đẩy góp phần để phát
triển tốt hơn. Nên tận dụng phát huy mặt mạnh này để phát triển.
+ Các mặt yếu (W): Các yếu tố bất lợi, những điều kiện không thích hợp, hạn
chế phát triển. Phải tìm cách khắc phục và cải thiện.
+ Các cơ hội (O): Những phương hướng cần được thực hiện hay những cơ hội
có được nhằm tạo điều kiện phát triển, ta cần phải tận dụng.
+ Các nguy cơ, đe dọa (T): Những yếu tố có khả năng tạo ra kết quả xấu, hạn
chế hoặc triệt tiêu sự phát triển.
Ma trận SWOT là công cụ kết hợp quan trọng. Qua đó giúp hình thành các
chiến lược khả thi có thể lựa chọn, nhằm khai thác tốt nhất các cơ hội từ bên
ngoài, giảm bớt hoặc tránh né các đe dọa, trên cơ sở phát huy các mặt mạnh,
khắc phục những mặt yếu.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 19 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
+ Phối hợp S-O: Phải sử dụng những điểm mạnh bên trong để tận dụng những
cơ hội bên ngoài.
+ Phối hợp W-O: Khắc phục yếu kém bên trong bằng cách tận dụng những cơ
hội đang có bên ngoài .
+ Phối hợp S-T: Phải sử dụng những mặt mạnh bên trong để khắc phục, phòng
trừ những đe dọa từ bên ngoài.
+ Phối hợp W-T: Nhằm giảm đi những yếu kém bên trong và tránh những mối
đe dọa bên ngoài.dựa vào các kết quả nghiên cứu trên đề ra các giải pháp kết
hợp với suy luận và dự báo kết quả.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 20 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
CHƯƠNG 3:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH
CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
3.1. THỰC TRẠNG NUÔI TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC
TRĂNG:
3.1.1. Sơ lược về huyện Vĩnh Châu:
3.1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên:
a) Vị trí địa lý: huyện Vĩnh Châu là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh
Sóc Trăng, có diện tích tự nhiên 462,6 km2, cách trung tâm thành phố Sóc
Trăng về phía Nam là 36km.
- Về tọa độ địa lý: 9022’ đến 9024’ vĩ độ Bắc, 106005’ đến 106042’ kinh độ
Đông.
- Về ranh giới địa lý: phía Đông và phía Nam giáp biển Đông, phía Tây
giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Bắc giáp huyện Mỹ Xuyên và Long Phú của tỉnh Sóc
Trăng.
b) Địa hình:
- Địa hình cao: diện tích 3.270 ha, chiếm 7,5% ở các khu dân cư và theo
trục Tỉnh lộ 38 (từ Lai Hòa đến Vĩnh Hải) chủ yếu là giồng cát.
.
- Địa hình trung bình: diện tích 15.830 ha, chiếm 36,6% phân bố chủ yếu
từ Lai Hòa đến Vĩnh Phước, thời gian ngập nước từ 4 – 6 tháng.
- Địa hình thấp: phân bổ đều khắp các xã, tập trung nhiều ở phía Bắc xã
Vĩnh Châu, Khánh Hòa và Hòa Đông với diện tích 18.420 ha, chiếm 39,8%.
- Địa hình trũng: diện tích 5.300 ha, chiếm 12,3% chủ yếu là bãi lầy ven
biển, đất ngập nước mặn quanh năm.
Với bờ biển dài hơn 43 km, có cửa sông Mỹ Thanh đổ ra biển Đông và
là vùng biển bồi, mức độ bồi tụ, lấn biển hàng năm khoảng 50 – 80 m tạo cho
huyện có lợi thế, tiềm năng lớn về kinh tế biển, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản.
c) Khí hậu – thời tiết – thủy văn:
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 21 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
- Khí hậu – thời tiết: Vĩnh Châu chịu ảnh hưởng nhiệt đới gió mùa và
chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 12 – 4; mùa mưa từ tháng 4 – 11
(theo tài liệu Trạm Khí tượng thủy văn Sóc Trăng).
+ Nhiệt độ trung bình năm 26,080C.
+ Độ bốc hơi: lượng bốc hơi bình quân năm 1.898 mm, cao nhất 3.156
mm (tháng 4) và thấp nhất là 59 mm (tháng 10).
+ Độ ẩm tương đối: trung bình năm 84%, cao nhất 89% và thấp nhất
77% (tháng 3).
+ Lượng mưa bình quân năm 1.846 m/m; Số ngày mưa bình quân trong
năm là 115 ngày.
+ Gió: Gió Đông Bắc từ tháng 12 – 4; Gió Tây Nam từ tháng 5 – 11.
Tốc độ gió trung bình năm 2,3 m/s; lớn nhất tháng 12 với 3,3 m/s. Mỗi năm
bình quân có từ 30 – 60 cơn giông.
+ Ánh sáng: số giờ chiếu sáng 7 giờ 40 phút/ngày; độ dài ngày trung
bình 10 giờ/ngày.
- Chế độ thủy văn: chế độ triều là bán nhật triều không đều; lúc triều
cường biên độ biến thiên từ 2,5 – 4,5 m, lúc triều kém biên độ biến thiên từ 1,5
– 2,5 m.
+ Biên độ lớn nhất khoảng 4m (tháng 12) sau đó giảm xuống 2,5 (tháng
3 – 4) rồi đạt 3,5 m (tháng 6 – 7) và xuống thấp còn 3 m (tháng 9 – 10).
+ Toàn huyện bị chi phối bởi nước mặn, mạnh nhất là sông Mỹ Thanh,
sông Cổ Cò đi Bạc Liêu bao quanh huyện và biển Đông;
+ Xâm nhập mặn là đặc điểm quan trọng của chế độ thủy văn của
huyện. Nguồn nước mặn theo thủy triều xâm nhập chủ yếu qua sông Mỹ Thanh.
Một đặc điểm khác là hầu như không bị ngập lũ hằng năm, đây là yếu tố thuận
lợi cơ bản để phát triển đa dạng hóa cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, thủy
sản.
d) Tài nguyên nước: nguồn nước ngọt chỉ có nước mưa và nước ngầm.
Đây là nguồn chủ yếu để phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Nguồn
nước mặn có từ Biển Đông là một ưu thế của huyện trong chiến lược phát triển
kinh tế thủy sản hiện nay và trong tương lai.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 22 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
e) Tài nguyên sinh vật, khoáng sản:
- Sinh vật biển: Theo số liệu điều tra của tổ chức FAO: trên phạm vi
vùng khu vực huyện Vĩnh Châu nói riêng, tỉnh Sóc Trăng nói chung có khoảng
35 loài tôm, cá có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là tôm thẻ, tôm sú, tôm đất, tép
bạc, cua biển, tôm gai …
+ Vùng ven biển: là môi trường thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, nhất
là các loài tôm nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Trữ lượng ước khoảng 20.000
tấn/năm.
+ Hải sản ngoài khơi: nguồn lợi cá biển trong vùng khoảng 450.000 tấn
(cá nổi 157.000 tấn và cá đáy 293.000 tấn) sản lượng khai thác cho phép trên
100.000 tấn/năm.
- Tài nguyên rừng: Rừng Vĩnh Châu thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn
ven biển, theo thống kê có khoảng 20 loài thực vật, phổ biến nhất là đước,
mắm, bần chua, dừa nước, chà là…
+ Rừng giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và bảo vệ môi
trường sinh thái ven biển, bảo vệ nguồn gen động thực vật quí hiếm vùng đất
ngập nước ven biển.
+ Thực hiện Dự án Bảo vệ và Phát triển những vùng đất ngập nước ven
biển Miền Nam Việt Nam. Đến hết năm 2005 diện tích rừng của Vĩnh Châu đạt
được 3.560 ha (trong đó rừng phòng hộ 3.351 ha). Ngoài ra, trồng cây phân tán
được 3,04 triệu cây.
- Khoáng sản: Nhìn chung tài nguyên khoáng sản trong vùng không
nhiều, trừ sét gạch ngói và cát xây dựng có khả năng khai thác phục vụ cho nhu
cầu tại chỗ.
f) Tiềm năng đất đai, thổ nhưỡng:
- Tình hình sử dụng đất qua các thời kỳ:
+ Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, tổng diện tích đất tự nhiên
toàn huyện là 47.313 ha, chiếm 14,3% diện tích toàn tỉnh. Trong đó đất sản xuất
nông lâm nghiệp, thủy sản và làm muối có 39.892 ha, chiếm 84,31%.
+ Cơ bản đất sản xuất đã được đăng ký, cấp giao cho các tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân quản lý sử dụng. Đến cuối năm 2005, đã đăng ký quyền sử
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 23 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
dụng đất được 33.614 hộ gia đình, tổ chức, cá nhân với 33.797 ha, đạt 84,7%
diện tích phải đăng ký; số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp 29.750
giấy, đạt 88,5% số hộ, tổ chức, cá nhân đã đăng ký.
+ Mức độ đầu tư và sử dụng khai thác tài nguyên đất đai trong thời gian
qua chưa thực sự đạt hiệu quả. Đặc biệt là yêu cầu về tính bền vững.
- Thổ nhưỡng:
Theo tài liệu thuyết minh bộ bản đồ thổ nhưỡng và tài liệu điều tra bổ
sung đất tỉnh Sóc Trăng năm 2005 phản ảnh điều kiện thổ nhưỡng Vĩnh Châu
như sau:
+ Nhóm đất giồng cát ven biển có 7.125 ha, chiếm 16 %.
+ Nhóm đất mặn nhiễm phèn có 27.604 ha, chiếm 61% diện tích với 12
loại đất .
+ Nhóm đất phèn nhiễm mặn có 10.526 ha, chiếm 23% diện tích với 9
loại đất .
Dựa theo cao trình và lý hóa tính của đất, có thể chia ra 5 loại như sau:
+ Đất cát trung tính: diện tích 3.548 ha, chiếm 7,5%, đất này nằm theo
các tuyến giồng cao ven biển chủ yếu dùng để trồng màu.
+ Đất mặn nhiều: diện tích 8.100 ha, chiếm 18,7%, phân bố ở các xã
Lai Hòa, Vĩnh Châu, Vĩnh Hải; đất này phù hợp trồng một vụ lúa và một vụ
màu.
+ Đất ngập mặn ven biển: diện tích 5.915 ha, chiếm 12,3% phân bố ở
vùng địa hình trũng thuộc vùng ven biển; đất này phù hợp dùng để trồng rừng
đước, mắm, làm muối và nuôi trồng thủy sản.
+ Đất mặn chua ít: diện tích 12.338 ha, chiếm 26,5%, phân bố chủ yếu
vùng các cửa sông rạch; đất này phù hợp dùng để trồng lúa và nuôi thủy sản.
+ Đất mặn chua nhiều: diện tích 16.465 ha, chiếm 34,8%, phân bố hầu
hết các xã trong huyện nhưng tập trung nhiều là xã Vĩnh Hiệp, Khánh Hòa,
Vĩnh Phước; đất này phù hợp dùng để trồng lúa và nuôi thủy sản.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 24 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NUÔI VÀ TIÊU THỤ TÔM SÚ Ở HUYỆN VĨNH CHÂU,
TỈNH SÓC TRĂNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông, lâm, thủy sản ở huyện
Vĩnh Châu năm 2008
Đvt: ha
Đất sx
Khu vực
nông
nghiệp
TT. Vĩnh
Đất
Đất
lâm nghiệp
thủy sản
Đất
Đất NN
làm
khác
muối
348,13
29,21
708,07
-
-
154,44
10,84
3.783,82
-
-
79,27
88,95
3.813,39
-
-
187,89
-
3.192,47
-
-
X.Vĩnh Hải
1.248,54
2.365,74
2.860,30
-
-
X. Lạc Hòa
515,77
231,23
3.004,72
-
-
1.529,71
308,02
1.979,12
-
-
987,23
210,10
3.132,96
123,58
15,05
X. Vĩnh Tân
689,73
165,88
3.365,71
124,07
-
X. Lai Hòa
893,42
149,99
3.325,39
235,62
-
6.634,13
3.559,96
29.165,95
483,27
15,05
Châu
X. Hòa Đông
X. Khánh
Hòa
X. Vĩnh Hiệp
X. Vĩnh
Châu
X. Vĩnh
Phước
Tổng số
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vĩnh Châu)
Nhìn vào bảng trên, chúng ta thấy được rằng tổng diện tích đất nuôi
trồng thủy sản là chiếm nhiều nhất (29.165,95 ha). Trong đó, ở khu vực xã
Khánh Hòa thì diện tích nuôi là nhiều nhất (3.813,39 ha). Đối với các lĩnh vữ
khác cũng có sự đồng đều tương đối.
GVHD: PGS.TS MAI VĂN NAM
- 25 -
SVTH: Cang Lê Hồng Ngọc