Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

TÌM HIỂU PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KHU vực tư NHÂN ở TỈNH TRÀ VINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (854.51 KB, 105 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KHU
VỰC TƯ NHÂN Ở TỈNH TRÀ VINH

Giáo Viên hướng dẫn:
Th.S. GVC. TRẦN THANH QUANG

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hòa Nhã
MSSV: 6086469
Lớp: ML0868A2
Năm sinh:1987

Trang 1


ĐỀ TÀI

PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH
A.MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài......................................................................................................2
2,Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài................................................................5
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. .............................................................................5
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu...................................................................6
5.Dự kiến đóng góp và kết cấu của luận văn....................................................................6


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ

SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT

TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC TƯ NHÂN
1.1. DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC TƯ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI
VỚI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN..............................................................7
1.1.2. Phân loại, đặc điểm của doanh nghiệp thuộc KVTN ........................................10
1.1.2.1.Doanh nghiệp tư nhân..................................................................................10
1.1.2.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn........................................................................11
1.1.2.3. Công ty cổ phần.........................................................................................13
1.1.2.4. Công ty hợp danh.......................................................................................13
1.1.3. Vai trò và thực trạng của doanh nghiệp thuộc KVTN đối với phát triển kinh tế- xã hội ở

Trang 2


nước ta...............................................................................................................14
1.1.3.1. Doanh nghiệp thuộc KVTN đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập
quốc dân, làm cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta................................................................................................15
1.1.3.2. Khơi dậy và phát huy các nguồn lực bên trong và bên ngoài đầu tư SXKD..............19
1.1.3.3. Thu hút và tạo việc làm; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta...................................................................................22
1.1.3.4. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh và hội nhập với thị trường khu vực và trên thế

giới....................................................................................................................25
1.1.3.5. Hình thành và phát triển đội ngũ doanh nhân cho đất nước...................................26
1.1.3.6. Là động lực để phát triển kinh tế. ...................................................................27
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG, QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC KVTN..................................27
1.2.1. Các yếu tố từ phía Nhà nước..........................................................................27
1.2.1.1. Môi trường pháp luật và môi trường kinh doanh. ...............................................27
1.2.1.2. Các chính sách của Đảng và Nhà nước............................................................29
1.2.1.3. Quản lý hành chính của Nhà nước.................................................................31
1.2.2. Các yếu tố từ bản thân doanh nghiệp và thị trường............................................32
1.2.2.1. Các yếu tố từ bản thân doanh nghiệp...............................................................32
1.2.2.2. Thị trường sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và thị trường các yếu tố sản xuất.................35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

THUỘC KVTN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH GIAI ĐOẠN TỪ
Trang 3


NĂM 2004 ĐẾN NAY.
2.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦATỈNH TRÀ
VINH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC KVTN
.............................................................................................................................
..........................................................................................................................36
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC KVTN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH TRÀ VINH TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY.......................49
2.2.1. Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp và cơ cấu, phân bố loại hình sản
xuất kinh doanh........................................................................................................49
2.2.1.1. Tình hình đăng ký kinh doanh.......................................................................49
2.2.1.2. Số lượng doanh nghiệp thuộc KVTN thực tế hoạt động trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. ....53

2.2.1.3. Phân bố loại hình sản xuất kinh doanh.............................................................56
2.2.2. Tình hình phát triển vốn của các doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
..........................................................................................................................58
2.2.3. Tình hình phát triển nhân lực .......................................................................62
2.2.4. Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KVTN.................................67
2.2.5. Tình hình quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc KVTN..........................72
2.2.6. Trình độ kỹ thuật – công nghệ và quản lý của các doanh nghiệp thuộc KVTN.........76
2.3. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC KHU VỰC TƯ
NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY....................78
2.3.1. Những kết quả đạt được...............................................................................78
2.3.2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế............80
2.3.2.1. Những khó khăn, hạn chế............................................................................80
2.3.2.2. Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế......................................................80

Trang 4


CHƯƠNG III: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NHẰM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KVTN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
TRÀ VINH
1.

3.1. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KVTN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH..........................................................................87
3.1.1. Mục tiêu tổng quát phát triển tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới ảnh hưởng đến sự phát triển
của doanh nghiệp thuộc KVTN..............................................................................88
3.1.2. Mục tiêu phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN trong giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn
đến năm 2020......................................................................................................89
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC KVTN TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH TRÀ VINH.......................................................................................90
3..3. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆPTHUỘC
KVTN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH...........................................................92
3.3.1. Một số giải pháp về phía quản lý nhà nước....................................................92

3.3.1.1. Hoàn thiện quy trình triển khai thực hiện pháp luật và các chính sách của Trung ương, địa
phương đối với doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn Tỉnh Trà Vinh..............................92
3.3.1.2. Hoàn thiện việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc KVTN trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh..............................................................................................93
3.3.1.3. Hoàn thiện công tác tổ chức ĐKKD đối với doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà
Vinh...................................................................................................................96
3.3.1.4. Hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp thuộc KVTN
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.........................................................................................98
3.3.1.5. Hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực đối với doanh nghiệp
thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.....................................................................103
3.3.1.6. Hoàn thiện việc xây dựng chính sách hỗ trợ về KHCN, KHKT...........................105

Trang 5


3.3.1.7. Cải cách hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến doanh nghiệp thuộc KVTN....107
3.3.1.8. Đổi mới công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn
tỉnh Trà Vinh.......................................................................................................109
3.3.2. Một số giải pháp về phía doanh nghiệp và xã hội..............................................109
3.3.2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh và tự đổi mới trong quá trình hội nhập....................109
3.3.2.2. Củng cố và phát triển mạnh các hiệp hội ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội doanh
nhân trẻ.............................................................................................................111
3.3.2.3. Tăng cường sự liên doanh, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp.......................113
3.3.2.4. Chủ doanh nghiệp cần chủ động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp
mình.................................................................................................................113

C. KẾT LUẬN..................................................................................................114
TÀI LỆU THAM KHẢO........................................................................................116

Trang 6


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kinh tế tư
nhân (KTTN), trong đó có doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân (KVTN) đã được thừa
nhận và phát triển rộng khắp trên cả nước. Thực tế, doanh nghiệp thuộc KVTN đang
dần chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp thuộc khu vực
này đang có những bước phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng lẫn số lượng, chiếm tỷ lệ ngày
càng cao trong cơ cấu kinh tế - xã hội ở nước ta.

Các doanh nghiệp thuộc KVTN có một khả năng thích ứng cao và có khả năng
tạo được “sức bật” cho nền kinh tế nước nhà. Thực tế cho thấy, chỉ trong vòng hai
năm, sau hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế trên thế giới nổ ra năm 2008, nhiều
doanh nghiệp có bề dày kinh nghiệm hàng trăm năm, vốn lớn đến hàng trăm tỷ USD
cũng phải chấp nhận thua cuộc với “cơn sóng dữ dội” này. Ở Việt Nam, không ít tập
đoàn, tổng công nghiệp công ty lớn của Nhà nước phải lao đao, nhiều đơn vị đứng
trước bờ vực phá sản. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì trong khủng
hoảng, tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ trụ lại được chiếm tới trên 90%, và đây cũng là
tỷ lệ phổ biến ở các nước phát triển. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các
doanh nghiệp thuộc KVTN lại có hiệu quả đầu tư cao hơn rất nhiều so với doanh
nghiệp khu vực Nhà nước và doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh
thu trên tổng tài sản của các doanh nghiệp thuộc KVTN cũng cao hơn các doanh
nghiệp thuộc khu vực khác; Nếu so sánh về doanh thu thì trong 1 tỷ đồng tài sản,
doanh nghiệp thuộc KVTN sẽ tạo ra được 1,18 tỷ đồng doanh thu, còn các doanh
nghiệp thuộc khu vực Nhà nước chỉ tạo ra được 0,80 tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư

nước ngoài tạo ra 0,89 tỷ đồng doanh thu.[33, tr. 1 – 2]
Với những kết quả đạt được, doanh nghiệp thuộc KVTN đã góp phần giải
phóng sức sản xuất, huy động các nguồn lực để phát triển đất nước, thực hiện công
nghiệp nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
(SXKD), tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị xã hội cho đất nước.Bên cạnh những thành công đáng ghi nhận đó, doanh nghiệp
thuộc KVTN ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Điều đó thể hiện ở

Trang 7


quy mô nhỏ, vốn đầu tư SXKD ít, công nghệ, khoa học kỹ thuật (KHKT) lạc hậu, trình
độ quản lý yếu kém, khả năng cạnh tranh thấp,… Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực
này gặp không ít khó khăn trong việc điều hành và phát triển doanh nghiệp của mình
theo kịp với sự phát triển của xã hội.
Tỉnh Trà Vinh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Trà
Vinh là điểm đầu tư trong chiến lược phát triển của Chính phủ, thực hiện quyết
định 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày
30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp, Thông tư liên tịch số
05/2011/TTLT-BKHĐT ngày 31/3/2011 và công văn số 4695/BKHĐT-PTDN ngày
21/7/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kế hoạch phát triển doanh nghiệp tư
nhân giai đoạn 2011-2015.... Với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5
năm đạt 11,36%, cao hơn 1,24% so với giai đoạn 2001 – 2005 là 10,02%. Ước tính
giá trị tổng sản phẩm bình quân trên địa bàn năm 2010 tăng gấp 2 lần so với năm
2005. Cơ cấu kinh tế đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp - thương
mại, dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao. Nhìn chung, việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo ngành đã diễn ra theo hướng giảm dần tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư Nghiệp, tăng dần tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ. Thu
nhập bình quân đầu người tăng bình quân 10,14%, đến năm 2010 đạt 13,65 triệu
đồng.[12, tr.10-11]. Các doanh nghiệp tư nhân không chỉ góp phần đáng kể vào
GDP của tỉnh mà còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội đang tồn đọng như:
giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho một

số bộ phận người dân, thu hẹp khoảng cách nông thôn với thành thị,…
Tỉnh Trà Vinh là nơi có nhiều tiềm năng để cho các doanh nghiệp có thể khẳng
định được vị thế của mình. Thực hiện chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, tỉnh Trà Vinh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trong và
ngoài nước, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện thuận
lợi và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp thuộc KVTN, nhằm
khơi dậy và phát huy các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của từng doanh
nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của nước nhà. Hiện nay, doanh
nghiệp thuộc KVTN tỉnh Trà Vinh vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về thực trạng phát triển cũng như mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát

Trang 8


triển; Những đóng góp của các doanh nghiệp thuộc KVTN cho tỉnh trong thời gian qua
còn nhiều hạn chế, một số doanh nghiệp còn gặp không ít khó khăn về nhiều mặt. Với
tiềm năng sẵn có thì các doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh vẫn
chưa phát huy hết được khả năng, tiềm năng vốn có của nó. Vì thế, việc nghiên cứu
thực tế hoạt động của các doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh để rút
ra những nguyên nhân của những kết quả, cũng như những tồn tại yếu kém, từ đó rút
ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của loại hình doanh
nghiệp này là tất yếu khách quan và cấp bách.
Vì những lẽ trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Phát triển doanh nghiệp thuộc
khu vực tư nhân ở tỉnh Trà Vinh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp đại học chuyên
ngành Sư phạm Giáo dục Công dân. Hy vọng với đề tài này sẽ giúp cho tôi hiểu thêm
về sự phát triển của doanh nghiệp thuộc KVTN ở Việt Nam nói chung và sự phát triển
của doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh nói riêng. Đồng thời cũng
với mong muốn góp một phần sức mình vào sự đóng góp ý kiến cho tỉnh nhà trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển doanh nghiệp thuộc
KVTN, luận văn làm rõ thực trạng phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN ở tỉnh Trà
Vinh hiện nay; Đồng thời, đưa ra những luận cứ khoa học để xác định những mục tiêu,
phương hướng, các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN ở
tỉnh Trà Vinh trong thời gian sắp tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm rõ mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển
doanh nghiệp thuộc KVTN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa
bàn tỉnh Trà Vinh thời kỳ từ năm 2004 đến 2010, từ đó đánh giá những kết quả đạt

Trang 9


được và những khó khăn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế đó
trong quá trình phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
- Xác định mục tiêu và đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đến năm 2015. Đưa ra
những kết luận nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc cần phải phát triển doanh
nghiệp thuộc KVTN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh để tạo động lực để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Trà Vinh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu về những vấn đề cơ sở lý luận, thực trạng, mục tiêu, phương
hướng và giải pháp để phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN ở tỉnh Trà Vinh.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển doanh nghiệp thuộc KVTN với bốn
loại hình tổ chức theo quy định của Luật Doanh nghiệp là: Doanh nghiệp tư nhân,
Công nghiệp ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Công ty hợp danh.

Về thời gian từ năm 2004 đến nay; xác định mục tiêu, đề xuất phương hướng và
các giải pháp đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp
logic, tổng kết thực tiễn để tiếp cận vấn đề, các phương pháp thống kê, so sánh, phân
tích, tổng hợp…
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
bảng biểu, biểu đồ, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển doanh nghiệp thuộc khu vực tư
nhân.

Trang 10


Chương II: Thực trạng phát triển doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân ở Trà
Vinh giai đoạn từ năm 2004 đến nay.
Chương III: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển doanh nghiệp tư
nhân ở tỉnh Trà Vinh.

B. NỘI DUNG

CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT

TRIỂN DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC TƯ NHÂN
1.1. DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN

Trước khi đưa ra khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN cần phải làm rõ khái

niệm doanh nghiệp.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và nghiên cứu kinh tế Pháp, “Doanh nghiệp
là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất và
dịch vụ để bán” [ 13, tr.6].
Theo Kinh tế học Vi mô, “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt được lợi nhuận tối đa và đạt được
hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất” [20, tr.8]
Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học năm 2001 của Nhà xuất bản Từ điển Thuật ngữ
Bách khoa lại đưa ra định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được
thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những
chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành” [20, tr.8]
Tại khoản 1 điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2005 (đã được sửa đổi bổ sung năm
2009) ghi rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao

Trang 11


dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh” [21, tr.6]
Theo nghĩa rộng nhất, “doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có chức năng SXKD
hàng hóa, dịch vụ một cách hợp pháp, theo nhu cầu của thị trường, nhằm đạt được lợi
nhuận hoặc hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa” [32 tr.242].
Các tiêu chí để nhận diện doanh nghiệp gồm:
- Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở - doanh nghiệp phải là một thể nhân hoặc
pháp nhân có tư cách pháp lý độc lập, có các quyền và nghĩa vụ độc lập, có năng lực
pháp lý và năng lực hành vi tham gia các hoạt động kinh tế và pháp lý liên quan.
- Tính pháp lý của doanh nghiệp - doanh nghiệp phải được đăng ký chính thức,
được phép hoạt động và tiến hành các hoạt động theo chế độ và thủ tục pháp lý của
một quốc gia cụ thể.
- Tính mục đích của doanh nghiệp là thu lợi nhuận tối đa (đối với các doanh

nghiệp kinh doanh) hoặc đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất (đối với một số doanh
nghiệp đặc biệt dạng công ích hoặc dạng đặc thù do Chính phủ chỉ định). Tiêu chí này
giúp phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức phi lợi nhuận.
Việc nhìn nhận doanh nghiệp thuộc KVTN có nhiều quan niệm khác nhau
Có quan niệm cho rằng, các doanh nghiệp thuộc KVTN trong nước, bao gồm các
hợp tác xã (HTX) nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Quan điểm này
hiểu doanh nghiệp thuộc KVTN theo nghĩa rộng, bao quát cả HTX nông nghiệp và phi
nông nghiệp. Quan niệm này xuất phát từ quan niệm cho rằng, các HTX được tổ chức
dựa trên đóng góp của các xã viên với tư cách là chủ thể tư nhân, do vậy, tài sản của
HTX xét đến cùng thuộc khu vực sở hữu tư nhân. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức và nguyên
tắc hoạt động của doanh nghiệp thuộc KVTN khác hẵn với HTX.
Quan điểm khác cho rằng, doanh nghiệp thuộc KVTN đồng nghĩa với khái niệm
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quan điểm này xem xét doanh nghiệp thuộc KVTN
bao gồm những doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước. Đó là những doanh
nghiệp thuộc khu vực KTTN và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quan điểm

Trang 12


này hiểu doanh nghiệp thuộc KVTN bao gồm các doanh nghiệp ngoài sở hữu khu vực
nhà nước. Các hiểu này đúng về bản chất nếu xét theo sở hữu, nhưng dẫn đến việc
hiểu khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN quá rộng, không cho thấy được sự khác biệt
giữa doanh nghiệp thuộc KVTN trong nước với các HTX và doanh nghiệp tư nhân
(DNTN) nước ngoài. Ở Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI vẫn tiếp tục xác định
khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế riêng. Do
đó không thể hiểu doanh nghiệp thuộc KVTN theo nghĩa rộng như vậy.
Cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý hay tài liệu nào đưa ra khái niệm
cụ thể về doanh nghiệp thuộc KVTN. Nói đến doanh nghiệp thuộc KVTN là để phân
biệt với doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước, với HTX và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Như vậy, thực chất ở đây là đề cập đến vấn đề sở hữu.

Có thể hiểu doanh nghiệp thuộc KVTN là tất cả các loại hình doanh nghiệp được
thành lập và sản xuất kinh doanh dựa trên sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu hỗn
hợp. Đặc trưng mang tính bản chất của các doanh nghiệp thuộc KVTN là nó sử dụng
đồng vốn của các chủ thể cá nhân, với mục đích được hưởng kết quả kinh doanh.
Về hình thức pháp lý, doanh nghiệp thuộc KVTN cũng có những hình thức pháp
lý chung như các doanh nghiệp khu vực khác, đó là công ty TNHH, công ty cổ phần,
công ty hợp danh. Tuy nhiên, có một hình thức pháp lý đặc trưng chỉ có ở khu vực
doanh nghiệp này đó là DNTN.
Căn cứ vào khái niệm doanh nghiệp và những quan điểm khác nhau về doanh
nghiệp thuộc KVTN. Luận văn rút khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN. “Doanh
nghiệp thuộc KVTN là tổ chức kinh tế và cá nhân kinh doanh trong nước dựa trên sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (hoặc vốn) có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh (ĐKKD) theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích hoạt động sản xuất, kinh doanh”.
1.1.2. Phân loại, đặc điểm doanh nghiệp thuộc KVTN

Theo hình thức pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2009), căn cứ vào khái niệm doanh nghiệp thuộc KVTN được rút ra ở trên, doanh
nghiệp thuộc KVTN bao gồm các loại hình sau:

Trang 13


1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân

“DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. DNTN không được phát
hành bất cứ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN”
[21 , tr.160]
Từ khái niệm trên cho thấy, DNTN có 3 đặc điểm cơ bản sau:

- DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp là người
bỏ vốn ra đầu tư và thành lập, làm chủ và trở thành chủ sở hữu duy nhất nên chủ doanh
nghiệp có toàn quyền quyết định về mọi vấn đề của doanh nghiệp như: lựa chọn ngành
nghề kinh doanh, tuyển dụng lao động; tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động
SXKD của doanh nghiệp; Chủ doanh nghiệp quyết định quy mô, phương thức hoạt
động quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời họ
phải tự chịu trách nhiệm đến cùng về các quyết định của mình mà không có sự san sẻ
hay hạn chế trách nhiệm đối với các khoản nợ hay nghĩa vụ tài sản khác. Với những
đặc điểm như thế, nên loại hình DNTN phát huy được năng lực sáng tạo của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Chủ DNTN là người tự quản lý doanh nghiệp của mình hoặc cũng có thể thuê
người khác quản lý, điều hành doanh nghiệp. Điều này là do nhận thức mới về sở hữu
trong đó quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh có thể thống nhất trong một chủ
thể hoặc có sự tách biệt tương đối giữa các chủ thể khác nhau, do đó, có thể vừa khai
thác có hiệu quả nguồn vốn, vừa phát huy năng lực sáng tạo của nhiều nhà quản lý
SXKD. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình nước ta hiện nay khi nhiều người có
trình độ quản lý giỏi nhưng không có điều kiện để tự thành lập doanh nghiệp.
−DNTN chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Hay nói cách khác, chủ thể
DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh
nghiệp, là người hưởng toàn bộ lợi nhuận khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt nên họ

Trang 14


cũng sẽ phải chịu trách nhiệm đến cùng về các khoản nợ phát sinh nếu doanh nghiệp
làm ăn thua lỗ hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh.
1.1.2.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn


Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp, trong đó các thành viên công nghiệp ty
góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp, chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm
vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (đã được chỉnh sửa, bổ sung năm 2009) thì
Công ty TNHH được chia làm hai loại: Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công
ty TNHH một thành viên.
Mục I, Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi rõ:
“1. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:
a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không được vượt
quá năm mươi;
b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vốn vào doanh nghiệp;
c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại điều
43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp.
2. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
ĐKKD.
3. Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần.” [21 , tr.38]
Mục II, Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi rõ:
“1. Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá
nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công nghiệp ty trong phạm
vi số vốn điều lệ của công ty.

Trang 15


2.Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy
chứng nhận ĐKKD.
3. Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần”. [21 ,

tr.66]
1.1.2.3. Công ty cổ phần

Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 ghi rõ:
“1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của luật doanh
nghiệp.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
ĐKKD.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn” [21,
tr.80]
1.1.2.4. Công ty hợp danh

Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005 ghi rõ:
“1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công nghiệp ty, cùng nhau
kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành
viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

Trang 16


b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;

c) Thành viên góp vốn chỉ chị trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã góp vào công ty.
2. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
ĐKKD.
3. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.” [21, tr.147]
Trách nhiệm về tài sản của công ty hợp danh bao gồm: trách nhệm của thành
viên hợp danh và trách nhiệm của thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh có nghĩa
vụ liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ của công
ty. Chính vì chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn mà khả năng rủi ro đối với các
thành viên hợp danh là rất cao, vì về nguyên tắc, dù chưa hưởng được một chút lợi
nhuận nào thì thành viên hợp danh vẫn có thể phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các
khoản nợ của công nghiệp ty. Còn đối với thành viên góp vốn thì chỉ chịu trách nhiệm
hữu hạn bằng số vốn góp công ty.
Như vậy, ngoài những đặc điểm chung, mỗi loại hình doanh nghiệp thuộc
KVTN nêu trên đều có những đặc điểm riêng về tổ chức, tính pháp lý và quản trị. Đặc
điểm chung bao trùm của doanh nghiệp thuộc KVTN là tính chất sở hữu tư nhân đối
với doanh nghiệp gắn liền với quyền thụ hưởng lợi nhuận và trách nhiệm vật chất đối
với hoạt động của doanh nghiệp. Chính đặc điểm này tạo nên động lực phát triển kinh
doanh của các doanh nghiệp thuộc KVTN mạnh hơn khu vực DNNN và HTX.
1.1.3. Vai trò và thực trạng của doanh nghiệp thuộc KVTN đối với phát triển kinh tếxã hội ở nước ta

Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã trải qua 25 năm, Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã được thực
hiện 20 năm, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt, đặc biệt là
trong phát triển kinh tế - xã hội. Sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc KVTN dần
chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp thuộc KVTN ở Việt

Trang 17



Nam đã dần đứng vững, chiếm lĩnh thị trường nội địa và cạnh tranh cao với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Các doanh nghiệp thuộc khu vực này cũng đã góp phần
tích cực và quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân. Điều đó được
thể hiện qua tỷ lệ phần trăm cơ cấu GDP ngày càng tăng (đóng góp 48% vào GDP năm
2010, so với năm 2006 là 45,6%), số lượng lao động, việc làm và những đóng góp tích
cực vào quá trình phân phối thu nhập, giảm bớt được sự phát triển không đồng đều
giữa thành thị và nông thôn. Mặt khác, các doanh nghiệp thuộc KVTN đã sử dụng và
khai thác hiệu quả các nguồn lực: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn, KHCB, tay
nghề truyền thống,… Sự tăng trưởng về số lượng kể cả chất lượng của các doanh
nghiệp thuộc khu vực này rất mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, xuất khẩu, mở
rộng thị trường, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút nguồn nhân lực,…
Về cơ bản, vai trò của doanh nghiệp thuộc KVTN được thể hiện ở các khía cạnh
sau:
1.1.3.1. Doanh nghiệp thuộc KVTN đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng kinh tế, gia
tăng thu nhập quốc dân, làm cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
doanh nghiệp thuộc KVTN ở nước ta trong thời gian qua phát triển với một tốc độ rất
nhanh và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Trong một thập niên vừa qua, số lượng doanh nghiệp thuộc KVTN thực tế đang
hoạt động ở nước ta liên tục tăng nhanh. Cụ thể: (phụ lục 1.1)
Các doanh nghiệp thuộc KVTN không chỉ tăng lên theo thời gian về số
lượng mà còn tăng lên về quy mô nguồn vốn và hiệu quả SXKD. Sự phát triển với tốc
độ nhanh chóng như vậy có thể thấy, trong những năm qua, các doanh nghiệp thuộc
khu vực ngoài nhà nước (trong đó có sự góp phần của các doanh nghiệp thuộc KVTN)
đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nước (NSNN). Điều đó được thể
hiện cụ thể qua bảng sau: (phụ lục 1.2)
Thông qua các số liệu trên cho thấy, các doanh nghiệp thuộc KVTN đóng góp


Trang 18


vào ngân sách nhà nước qua các năm có sự gia tăng rõ rệt. So với năm gốc trước đó,
năm 2001 các doanh nghiệp thuộc khu vực này đóng góp vào NSNN tăng 15,3%, năm
2002 tăng 70,4%, năm 2003 tăng 35,2%, năm 2004 tăng 40%, năm 2005 tăng 26,8%,
năm 2006 tăng 12,8%, năm 2007 tăng 73, 84%, năm 2008 tăng 58,5%.
Nếu so sánh 3 loại hình doanh nghiệp (DNNN, doanh nghiệp ngoài nhà nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) thì có thể thấy rõ được hiệu quả SXKD của
các doanh nghiệp ngoài nhà nước (trong đó có các doanh nghiệp thuộc KVTN). Điều
đó thể hiện qua bảng sau: (phụ lục 1.3)
Qua bảng trên có thể thấy, các chỉ tiêu về quy mô của loại hình doanh nghiệp
ngoài nhà nước (trong đó có doanh nghiệp thuộc KVTN) so sánh tỷ trọng giữa 2 năm
2000 và 2008 thì đều tăng (nhất là về doanh thu), trong khi đó 2 loại hình doanh
nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì các chỉ tiêu này luôn
biến động (tăng, giảm). Mặc khác, doanh thu năm 2008 giữa 3 loại hình doanh nghiệp
này thì doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm đến 48%, trong khi đó doanh nghiệp nhà
nước chỉ có 31% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 21%. Trong khi đó,
năm 2008 vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước lại rất thấp: 35% (DNNN là
47%). Kể cả giá trị tài sản của doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng thấp hơn nhiều so
với DNNN. Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước, có sự
góp phần của doanh nghiệp thuộc KVTN luôn có triễn vọng và trở thành động lực cho
sự phát triển của nền kinh tế.
Nhìn chung, Khu vực KTTN đã góp phần tích cực vào hội nhập kinh tế quốc tế,
đóng góp khoảng 50% kinh ngạch xuất khẩu của cả nước (không kể xuất khẩu dầu
thô). Một số doanh nghiệp thuộc KVTN có kim ngạch xuất khẩu lớn hoặc đầu tư ra
nước ngoài, sản phẩm có thương hiệu, uy tín. [14, tr 458]. Sự đóng góp của các khu
vực KTTN nói chung, doanh nghiệp thuộc KVTN nói riêng ngày càng tăng. Các
doanh nghiệp này không ngừng tăng về số lượng, quy mô nguồn vốn và chất lượng sản

phẩm, điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp thuộc khu vực này hoạt động SXKD ngày
càng có hiệu quả; năng lực về vốn, KHCN, trình độ quản lý của các doanh nghiệp
thuộc KVTN được nâng lên; đội ngũ doanh nghiệp dần trưởng thành cả về số lượng và
chất lượng, thích ứng với cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Các

Trang 19


doanh nghiệp thuộc KVTN ngày càng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước, đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu
nhập quốc dân, làm cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
1.1.3.2. Khơi dậy và phát huy các nguồn lực bên trong và bên ngoài đầu tư SXKD

Doanh nghiệp thuộc KVTN là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn
trong dân, đây là nguồn vốn còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác nhiều. Theo
ước tính, vốn đầu tư nhân có thể chiếm đến 70% vốn đầu tư toàn xã hội.
Trong những năm qua, khu vực KTTN, trong đó các có các doanh nghiệp thuộc
KVTN đã thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư để phát triển. Tốc độ tăng vốn đầu tư của
khu vực ngoài nhà nước khá nhanh (trong đó chủ yếu là KTTN), giai đoạn 2001 –
2008 tăng bình quân 18,8%. Năm 2009, KVTN chiếm 39,5% tổng sản phẩm xã hội,
Quy mô vốn đầu tư trên một doanh nghiệp liên tục tăng. [14, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr 458]. Do môi trường đầu tư thuận lợi nên các doanh nghiệp thuộc KVTN
ngày càng tăng về quy mô số lượng, nguồn vốn, tài sản cố định,... Đặc biệt là sau
nhiều lần hoàn thiện và sửa đổi, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đi vào hoạt động
thì số lượng nguồn vốn tăng lên đáng kể. Điều đó được thể hiện rõ qua bảng sau: (phụ
lục 1.4)
Qua bảng số liệu cho thấy, nguồn vốn bình quân trên 1 doanh nghiệp của các
loại hình doanh nghiệp thuộc KVTN lên tục tăng đều lên qua các năm. Trong đó,
nguồn vốn bình quân của loại hình Công ty Cổ phần tư nhân là chiến tỷ trọng cao nhất.

Hiện nay, nguồn vốn này vẫn liên tục tăng nhanh do Việt Nam ngày càng hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước và quốc tế được mở rộng nên các doanh
nghiệp thuộc KVTN tranh thủ tận dụng được thời cơ đầu tư, nâng cao hiệu quả SXKD,
nâng cấp nguồn vốn đầu tư để mở rộng đầu tư SXKD. Chính vì thế nên lợi nhuận trên
vốn SXKD của các doanh nghiệp thuộc KVTN cũng dần được cải thiện: (phụ lục 1.5)
Lợi nhuận trên vốn SXKD của các doanh nghiệp thuộc KVTN trong những
năm qua có những biến đổi nhất định, có sự gia tăng như không ổn định, do bị ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố. Tuy nhiên, do tiếp cận được nhiều nguồn lực nên các doanh

Trang 20


nghiệp cũng dần khắc phục được tình trạng bất ổn định đó. Dần dần, các doanh nghiệp
cũng đã phát huy được nguồn lực bên trong và bên ngoài vào SXKD. Điều đó thể hiện
qua sự gia tăng nguồn vốn SXKD của các doanh nghiệp thuộc KVTN qua các năm,
được thể hiện qua bảng số liệu sau: (phụ lục 1.6)
Qua bảng số liệu trên cho thấy tốc độ phát triển nguồn vốn của các doanh
nghiệp thuộc KVTN vô cùng mạnh, chiếm tỷ trọng cao trong tổng số doanh nghiệp
thuộc khu vực ngoài nhà nước (chiếm 79% năm 2008), tăng gấp 22,99 lần so với năm
2000. Trong đó, nguồn vốn của Công ty Cổ phần tư nhân chiếm nhiều nhất trong tổng
số nguồn vốn của doanh nghiệp thuộc KVTN, và có tốc độ tăng năm 2008 gấp 45,17
lần so với năm 2000, trong khi đó Công ty THNH tư nhân tăng 17,65 lần, DNTN tăng
9.08 lần, Công ty hợp danh tuy chiếm tỷ lệ nguồn vốn ít nhất nhưng tốc độ phát triển
nguồn vốn tăng gấp 25,6 lần so với năm 2000.
Nhìn chung, các doanh nghiệp thuộc KVTN đang dần từng bước khắc phục
những khó khăn, tranh thủ những thời cơ để không ngừng khơi dậy và phát huy nội
lực, ngoại lực để tập trung, huy động nguồn vốn vào tiến hành mở rộng quy mô
SXKD.
1.1.3.3. Thu hút và tạo việc làm; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta


Vấn đề giải quyết việc làm mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong quá trình phát
triển kinh tế của đất nước. Không những thế, giải quyết việc làm giúp cải thiện được
nhiều vấn đề chính trị, xã hội của đất nước. Đặc biệt là trong quá trình xây dựng đất
nước trong thời kỳ hiện nay. Hàng năm, Việt Nam luôn gia tăng về lực lượng lao động
tuy nhiên để giải quyết được việc làm cho người lao động đang là vấn đề nan giải cho
chính phủ. Doanh nghiệp thuộc KVTN đã đóng góp một phần quan trọng trong việc
giải quyết vấn đề này. Trong những năm qua, số lượng lao động tại các doanh nghiệp
thuộc KVTN liên tục gia tăng, điều đó cho thấy doanh nghiệp khu vực này thu hút
được nhiều lao động, tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động trên cả nước. (phụ
lục 1.7)
Nhìn vào bảng số liệu cho thấy, số lượng lao động tại các doanh nghiệp thuộc

Trang 21


KVTN có sự gia tăng tuy nhiên không ổn định qua các năm. Đến thời điểm năm 2008
doanh nghiệp thuộc KVTN đã giải quyết được 3.920.381 lao động, tăng 4,92 lần so
với năm 2000. Trong đó, Công ty TNHH tư nhân là loại hình doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động nhất, chiếm 56,57% (năm 2008), tiếp đó đến Công ty Cổ phần tư nhân,
chiếm 28,97%, DNTN chiếm 14,45%.
Mặc dù số lượng lao động của các doanh nghiệp liên tục tăng lên nhưng số lao
động bình quân trên một doanh nghiệp của các doanh nghiệp thuộc KVTN vẫn giữ ở
mức ổn định qua các năm. Điều đó có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau: (phụ lục 1.8)
Bên cạnh đó, doanh nghiệp thuộc KVTN còn đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc giải quyết những vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam. Các doanh nghiệp này góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
nói chung và cho người lao động tại doanh nghiệp nói riêng. Thu nhập của người lao
động trong các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện qua các năm. Điều đó được thể
hiện rõ qua bảng sau: (Phụ lục 1.9)

Nhìn vào mục tỷ lệ gia tăng (%) qua các về thu nhập của người lao động tại các
doanh nghiệp thuộc KVTN cho thấy, tỷ lệ gia tăng hằng năm luôn cao (>30% và
<48%), tuy nhiên sự gia tăng này không ổn định qua các năm. Tỷ lệ gia tăng này tương
đối cao điều đó chứng tỏ, các doanh nghiệp thuộc KVTN giải quyết được một vấn đề
rất quan trọng đó là đảm bảo thu nhập cho người lao động, nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người dân. Ngoài ra, doanh nghiệp thuộc KVTN còn có vai trog quan trọng
trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, chuyển
dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn và thành thị, giữa nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ,... góp phần thay đổi diện mạo cho nền kinh tế nước nhà.
1.1.3.4. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh và hội nhập với thị trường
khu vực và trên thế giới

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cơ cấu kinh tế ở
nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với xu thế, vận
động khách quan của nền kinh tế thế giới, Đặc biệt, cơ cấu ngành nghề, sản phẩm của
KTTN có nhiều thay dổi. KTTN đóng góp ngày càng tăng vào giá trị tổng sản phẩm

Trang 22


công nghiệp. Xuất hiện thêm nhiều ngành nghề, sản xuất mới đa dạng, phong phú, đáp
ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động có sự đóng góp rất lớn của các doanh
nghiệp thuộc KVTN. Bởi vì, các doanh nghiệp thuộc KVTN hoạt động trong lĩnh vực
ngành công nghiệp và dịch vụ nhiều nên làm cho tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng
lên; có khả năng ứng dụng những thành tựu KHCN vào SXKD làm cho trình độ sản
xuất của nền kinh tế được nâng cao. Điều đó làm cho số lượng và chất lượng sản phẩm
trong nước có khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập và mở rộng thị trường xuất
khẩu. Nhiều doanh nghiệp thuộc KVTN còn đóng vai trò tích cực trong việc xuất khẩu
hàng hóa. Nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao đều do doanh nghiệp thuộc KVTN

sản xuất.
Trước đây, trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất đều do khu vực
kinh tế quốc doanh đảm nhận. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, trừ một số ít các
lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước giữ vai trò độc quyền, còn phần lớn các lĩnh vực
SXKD, các doanh nghiệp thuộc KVTN đều tham gia với mức độ ngày càng lớn. Nhiều
ngành nghề chiếm tỷ trọng khá cao như: sản xuất lương thực thực phẩm; bán lẻ hàng
hóa, hàng tiêu dùng; nuôi trồng thủy sản,... Sự phát triển phong phú, đa dạng các
ngành nghề, các loại sản phẩm – dịch vụ, các hình thức kinh doanh của doanh nghiệp
thuộc KVTN đã tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế khác đứng vững trong xu thế hội nhập.
1.1.3.5. Hình thành và phát triển đội ngũ doanh nhân cho đất nước

Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt
là trong những năm trở lại đây, là sự trưởng thành nhanh chóng của đội ngủ doanh
nhân, doanh nghiệp Việt Nam với khoảng 180.000 doanh nghiệp chính thức hoạt động
trên cả nước với đội ngũ doanh nhân khổng lồ, doanh nhân Việt Nam dần đã khẳng
định rõ được vai trò của “đội tiên phong” trên mặt trận kinh tế làm giàu cho đất nước,
cho xã hội.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc KVTN trong thời gian
qua đã xây dựng được một đội ngũ doanh nhân hoạt động trên tất cả các ngành, lĩnh

Trang 23


vực của nền kinh tế, với số lượng và trình độ ngày càng tăng lên.
1.1.3.6. Là động lực để phát triển kinh tế

Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) xác định “KTTN là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN” [8, tr57]Tiếp đến Đại hội

Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “KTTN có vai trò quan trọng, là
một trong những động lực của nền kinh tế” [9, tr83]Trong văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ XI của Đảng cũng nêu rõ “KTTN là động lực để phát triển kinh tế” và cần phải
“hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN,...” [11, tr 74, 209]
Thực tiễn chứng minh các doanh nghiệp thuộc KVTN ngày càng có vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm cho xã hội. mỗi năm, Việt
Nam phải tạo ra 1- 1,2 triệu việc làm mới, hơn 90% là số lao động do KVTN tạo ra.
Xét trong toàn bộ số lao động thì DNNN chỉ chiếm 4,3%. Điều này cho thấy vai trò
của doanh nghiệp thuộc KVTN lớn như thế nào. Một con số khác, như đóng góp vào
tổng thu nhập quốc nội thì doanh nghiệp thuộc KVTN và doanh nghiệp có đầu tư nước
ngoài đóng góp gần 70% GDP. Sản lượng công nghiệp của 2 khu vực này đóng góp
trên 80%, đó là chưa nói đến lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì hầu như doanh nghiệp
chiếm gần như toàn bộ.
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
THUỘC KVTN
1.2.1. Các yếu tố từ phía Nhà nước
1.2.1.1. Môi trường pháp luật và môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh trong nước còn nhiều khó khăn và thiếu bình đẳng. Tình
trạng này kéo dài đã lâu nhưng chậm khắc phục, khiến cho môi trường kinh doanh
luôn là thách thức lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp. Trong môi
trường kinh doanh của nước ta hiện nay, trở ngại lớn nhất của các doanh nghiệp thuộc
KVTN ở các mặt sau:
Thứ nhất, việc gia nhập thị trường tuy đã được cải thiện nhiều do đã có Luật

Trang 24


Doanh nghiệp và được chỉnh sửa bổ sung nhiều lần cho phù hợp nhưng vẫn còn đòi
hỏi chi phí cao và thời gian. Do vậy, vẫn còn khó khăn cho nhiều người, nhiều vùng

khi muốn thành lập doanh nghiệp mới.
Thứ hai, còn những rào cản lớn về pháp lý hành chính trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật và chính sách của nước ta còn những nhược
điểm: thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu ổn định, tổ chức thực hiện thực thi kém
hiệu quả. Nhiều vướn mắc của doanh nghiệp trong lĩnh vực thanh tra, kiểm tra, thuế,
phí, hải quan, đất đai,… kéo dài lâu, chậm giải quyết.
Thứ ba, các doanh nghiệp thuộc KVTN tiếp cận các nguồn lực rất khó khăn và
tốn kém. Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài lại được tiếp cận dễ dàng hơn, với những điều kiện ưu đãi và
chi phí thấp hơn nhiều.
Thứ tư, chi phí kinh doanh ở nước ta khá cao so với các nước trong khu vực.
Điều này gây ra hạn chế khả năng sinh lời, làm giảm động lực và nguồn lực trong
kinh doanh, cản trở nhiều người vào hoạt động thương trường hoặc tích lũy thêm vốn
đầu tư mới.
Thứ năm, thiếu hệ thống dịch vụ và tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp. Hệ thống dịch
vụ phát triển kinh doanh, hệ thống tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp rất cần thiết đối với
các doanh nghiệp thuộc KVTN, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thách thức của môi trường kinh doanh quốc tế trong tiến trình hội nhập. Là nước
đi sau, doanh nghiệp thuộc KVTN khi tham gia sâu vào thị trường thế giới gặp không
ít trở ngại trong quan hệ với cộng đồng kinh doanh trên thế giới.
Một là, môi trường kinh doanh quốc tế chứa đựng nhiều điều kiện không thuận
lợi cho các nước đang phát triển như ở nước ta. Sự bất công, bất bình đẳng không
những không giảm mà còn có chiều hướng tăng lên trên nhiều lĩnh vực. Các công ty
lớn, công ty đa quốc gia nắm quyền chi phối thị trường đã tìm cách lái thị trường thé
giới theo chiều hướng của họ.
Hai là, nước ta là nước đang phát triển, luôn gặp sức ép đòi hỏi phải mở cửa thị

Trang 25



×