TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
N¢NG CAO ĐỜI SỐNG KINH TẾ NGƯỜI CÓ C¤NG VỚI
CÁCH MẠNG TẠI TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
Chuyªn ngành: Sư phạm gi¸o dục c«ng d©n
M· ngành: 52140204
Giảng viªn hướng d ẫn :
Ts- Gvc. Lª Duy Sơn
Sinh viªn thực hiện:
Nguyễn Văn Bảo
Mssv: 6086442
Khãa: 34
1
Cần thơ 5/2012
MC LC
PHN M U:
1. Lý do chn ti ....................................................................................................................... 1
2. Mc ích v nhim v ca ti .............................................................................................. 2
4. i tng v phm vi nghiên cu ca ti ........................................................................... 2
5. Phng pháp nghiên cu ti ................................................................................................ 2
6. Kt cu ca Lun vn ................................................................................................................ 2
PHN NI DUNG :
Chng 1: NHNG VN Lí LUN V NÂNG CAO I SNG KINH T CHO
NGI Có CÔNG VI CáCH MNG ....................................................................................... 3
1.1 S cn thit v nâng cao i sng kinh t cho ngi có công vi cách mng..................... 3
1.2 Nâng cao i sng người có công với cách mạng là cơ sở, điều kiện góp phần giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế xã hội và các vấn đề phát triển của tỉnh An Giang ................ 13
Chng 2: THC TRNG I SNG KINH T NGI Có CÔNG VI CáCH MNG
TNH AN GIANG THI GIAN QUA .................................................................................. 15
2.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của ngi có công với cách mạng ở tỉnh An Giang ............. 15
2.2 Tình hình thc hin các chính sách nâng cao i sng kinh t ngi có công vi cách
mng trên a bàn tnh An Giang ( 2005- 2011) ....................................................................... 21
Chng 3: NHNG GII PHáP CH YU NHM NÂNG CAO I SNG KINH T
I VI NGI Có CÔNG VI CáCH MNG TNH AN GIANG THI GIAN TI . 30
3.1. Hon thin h thng vn bn, chính sách i vi ngi có công vi cách mng ............ 30
3.2. Xây dng môi trng thun li, to iu kin ngi có công vi cách mng tham
gia sn sut, tng thu nhp .......................................................................................................... 34
3.3. Lm tt công tác qun lý i tng, thc hin tt các chính sách, ch i vi
ngi có công vi cách mng ..................................................................................................... 36
3.4. Lm tt công tác xã hi hóa, chm lo i sng kinh t i vi ngi có công vi cách
mng ............................................................................................................................................. 42
3.5. Nâng cao vai trò ca h thng chính tr ca tnh trong vic t chc thc hin các
chính sách i vi ngi có công gn vi vic xây dng, thc hin các chng trình phát
trin kinh t, vn hoá, an sinh xã hi .......................................................................................... 44
KT LUN .................................................................................................................................. 48
DANH MC TàI LIU THAM KHO..................................................................................... 49
2
Mở đầu
1. Lý do chọ đề tài.
Người có công là bộ phận hết sức đặc thù của xã hội Việt Nam. Bởi vì không đâu như
ở Việt Nam, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước diễn ra
trong một thời gian rất dài và vô cùng ác liệt đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề về sức
người và sức của. Trong đó, người có công là lực lượng chủ yếu chịu nhiều hy sinh mất
mát. Người có công đa phần những người khó khăn về kinh tế, là những người cần được
Nhà nước xã hội chăm lo một cách đặc biệt. Vì vậy, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
đối với người có công không chỉ là sự đền ơn đáp nghĩa và không chỉ là trách nhiệm của
Đảng, nhà nước, mà còn là trách nhiệm của cộng đồng và của toàn xã hội.
Thực hiện đạo lý truyền thống của dân tộc Uống nước nhớ nguồn Đền ơn đáp
nghĩa những năm qua Đảng bộ tỉnh An Giang đã thực hiện nhiều chính sách, chế độ và tổ
chức vận động toàn dân, toàn quân chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần đối với thương
binh, gia đình liệt sỹ và người có công, giải quyết có hiệu quả những tồn đọng về chính
sách sau chiến tranh, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tăng thêm
lòng tin đối với Đảng, nhà nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực đời sống kinh tế của người có
công ngày càng được quan tâm và có cải thiện đáng kể, hệ thống chính sách với các chế
độ trợ cấp, đãi ngộ từng bước được điều chỉnh, việc tổ chức sản xuất - việc làm được quan
tâm thích đáng, việc cải thiện nhà ở được đầu tư triển khai ở nhiều cấp, các chương trình
chăm sóc người có công được xã hội và cộng đồng quan tâm và đã có những kết quả to lớn
góp phần cải thiện cuộc sống đối với người có công... Đến nay, đa số gia đình chính sách
có cuộc sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đời sống của một bộ phận không nhỏ
thương bệnh binh, thân nhân liệt sỹ còn nhiều khó khăn, nhất là đối tượng ở nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng trước đây. Tình hình đó đòi hỏi
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang phải tiếp tục làm tốt hơn công tác chăm
sóc, tiếp tục nâng cao mức sống, đảm bảo đời sống của họ ngày một tốt hơn.
3
Để góp phần nâng cao hơn nữa đời sống kinh tế của người có công với cách mạng ở
tỉnh An Giang. Tôi đã chọn đề tài : Nâng cao đời sống kinh tế người có công với cách
mạng tại tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mc ớch v nhim v ca ti
Mc ớch ca ti :
- Khái quát về thực trạng đời sống kinh tế của người có công với cách mạng tại tỉnh
An Giang, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp mang tính khả thi nhằm góp phần nâng cao
hơn nữa đời sống kinh tế người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh An Giang trong
thời gian tới.
Nhim v ca ti:
t c mc tiờu núi trờn, lun vn cú nhng nhim v sau
- Làm rõ những vấn đề lý luận về nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công
với cách mạng.
- Phân tích thực trạng đời sống kinh tế của người có công với cách mạng trên địa bàn
tỉnh An giang.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao đời sống kinh tế đối với
người có công với cách mạng tỉnh An giang trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ca ti:
Đối tượng của đề tài này là : Đời sống kinh tế của người có công với cách mạng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là : Đời sống kinh tế của người có công với cách
mạng ở tỉnh An Giang từ năm 2005 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu luận văn
Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ luận văn đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp
nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, logic và lịch sử, lý luận liên hệ với thực tiễn,.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung luận
văn gồm 3 chương 9 tiết.
4
Chương 1 :
Những vấn đề lý luận Về NÂNG CAO đời sống kinh tế cho người có
công với cách mạng
1.1 Sự cần thiết về nâng cao đời sống kinh tế cho người có công với cách mạng.
1.1.1. Khái niệm công bằng xã hội.
Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử. Trong mỗi giai đoạn phát triển của nhân
loại, con người có quan niệm và đánh giá khác nhau về công bằng xã hội phù hợp với địa
vị, lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội đó. Chính vì vậy khi đề cập
đến công bằng xã hội Ph.ăng-ghen viết: Công bằng của những người Hy Lạp và La Mã
là sự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi
hỏi phải xoá bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công [12, tr.273].
Từ điển Bách khoa Việt Nam viết về công bằng xã hội: Công bằng xã hội là phương
thức đúng đắn nhất để thỏa mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội,
các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ những khả năng hiện thực của những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định. Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt
đối trong chừng mực mà mâu thuẩn giữa nhu cầu của con người và khả năng hiện thực của
xã hội còn chưa được giải quyết. Bởi vậy, mỗi thời đại lại có những đòi hỏi riêng về công
bằng xã hội.
Tư tưởng về công bằng xã hội được đặt ra rất sớm trong lịch sử nhân loại. Khi tư duy
đạt đến trình độ nhất định, con người đã biết đặt mình trong mối quan hệ với tự nhiên, với
người khác và với xã hội. Có so sánh mới thấy sự hơn thua, cao thấp, được mất giữa người
này với người khác, giữa cá nhân với xã hội. Có thể nói so sánh là khởi điểm của tư tưởng
công bằng. Xã hội càng phát triển thì tư tưởng về công bằng càng phát triển.
ở xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người sinh hoạt và lao động mang tính cộng
đồng nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Xã hội này tồn tại trên nguyên tắc cùng làm cùng
hưởng. Do sản xuất hết sức thấp kém làm cho sản phẩm lao động quá ít ỏi chỉ đảm bảo
cho sự tồn tại của cộng đồng ở mức tối thiểu, do vậy sản phẩm đó phải được chia đều cho
mọi thành viên trong cộng đồng. Như vậy ở thời kỳ này công bằng xã hội là phương thức
để đảm bảo cho sự tồn tại của cộng đồng nguyên thuỷ - phương thức tối ưu và duy nhất.
5
Sự công bằng ở thời kỳ này đồng nhất với chủ nghĩa bình quân. ở cuối thời kỳ cộng sản
nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất phát triển của cải làm ra không những đủ nuôi sống
cộng đồng mà còn có tích luỹ. Chính phần của cải dư thừa nầy đủ kích thích cho sự nẩy
sinh xung đột về lợi ích của những người trong cộng đồng. Tư hữu, giai cấp và nhà nước ra
đời làm cho công bằng xã hội bị vi phạm ở mức độ văn minh hơn. Cuộc đấu tranh giai
cấp diễn ra ngày càng gay gắt và công bằng xã hội trở thành một trong những nội dung
chính trị của cuộc đấu tranh đó.
Trong các thời đại khác nhau, con người đều quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội
và đã có nhiều nhận thức đánh giá giải quyết khác nhau:
Pla-tôn (427-437, trước Công nguyên) là một trong những nhà triết học kiệt xuất thời
cổ đại. Trong học thuyết triết học của mình, Pla- tôn cho rằng: xã hội được chia làm ba
hạng người tương ứng với ba phần của linh hồn con người. Nhà nước xuất hiện từ sự đa
dạng của nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thoả mãn
nhu cầu ấy. Vì vậy trong xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, và do đó
không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người được. Công lý là ở chỗ mỗi hạng
người làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình, nói một cách
khác là phải biết phận mình.
A-rixtốt (384-322 trước công nguyên) bộ óc bách khoa toàn thư của triết học Hy Lạp
cổ đại. Ông cho rằng, việc phân chia giai cấp và địa vị giai cấp là một trật tự tự nhiên.
Công bằng là sự đối xử ngang nhau, bình đẳng chỉ với những người trong cùng một giai
cấp. Còn những người ở các giai cấp khác nhau thì không thể có chung một sự công bằng.
Đó chính là lẽ đương nhiên, là sự công bằng của tự nhiên.
T. Hốp-xơ (1588-1679) là nhà triết học đại biểu cho chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ
XVII. Vấn đề trung tâm trong học thuyết của ông là lạm bàn về xã hội và nhà nước, Hốpxơ cho rằng: con người là giống nhau, nghĩa là theo tạo hóa, con người phải bình đẳng,
phải được hưởng sự công bằng. Nhưng do lòng tham lam ích kỷ và dục vọng của bản thân
nên không thể có sự bình đẳng và công bằng với nhau được. Từ sự phân tích đó ông chỉ ra:
để đi đến sự hoà hợp, công bằng giữa con người với con người thì phải có một lực lượng
đứng lên trên dàn xếp các lợi ích cá nhân, đó là Nhà nước. Như vậy Hốp-xơ đã có tư tưởng
6
duy vật về các hiện tượng xã hội. Tuy nhiên ông không thấy được nhà nước cũng mang
bản chất giai cấp của nó, trong xã hội có đối kháng giai cấp, nhà nước không thể nào thiết
lập được sự công bằng chung cho toàn xã hội.
Can- tơ (1724-104), người thiết lập nền triết học cổ điển Đức, ông có những đóng
góp hết sức to lớn vào tư tưởng công bằng xã hội. Theo ông, công bằng xã hội bao gồm
công bằng về bảo hộ, công bằng trong trao đổi và trong phân phối. Trong đó công bằng
trong phân phối là quan trọng nhất. Theo ông, trạng thái không pháp luật là một xã hội
không công bằng về phân phối, thông thường gọi nó là trạng thái tự nhiên. Đối lập với trạng
thái tự nhiên là trạng thái văn minh, bởi vì xã hội này xây dựng trên sự công bằng về phân
phối. Tư tưởng của Can-tơ về công bằng sau này được nhiều người chấp nhận và vận dụng.
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như Xanh- xi-mông người (Pháp), Pu -riê
(người Pháp) và Owen (người Anh) đã phê phán xã hội đương thời được xây dựng trên nền
tảng tư hữu - nguyên nhân của mọi bất công xã hội. Đồng thời, đề ra việc xây dựng một xã
hội mới mà trong đó nguyên tắc tối cao là mọi người đều phải lao động, mọi người đều
được hưởng thụ như nhau, xoá bỏ hết mọi đặc quyền, đặc lợi, xây dựng một xã hội công
bằng. Xã hội công bằng là điều kiện để đem đến sự công bằng cho tất cả các thành viên.
Tuy nhiên, mô hình xã hội mà các ông xây dựng ngay từ đầu đã biến thành những điều
không tưởng (cả lý luận và thực tiễn).
Như vậy, vấn đề công bằng xã hội được đề cập trong suốt quá trình lịch sử của
nhân loại, nó phản ánh sự đấu tranh của các giai cấp về quyền sỡ hữu về tư liệu sản
xuất, tổ chức và quản lý sản xuất, xã hội, phân phối và sử dụng sản phẩm lao động. Các
nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại đã trình bày những quan niệm khác nhau về công
bằng xã hội mặc dù chưa đầy đủ và chưa hệ thống. Song những quan niệm đó là tiền đề
lý luận quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội cho các nhà tư
tưởng sau này.
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội.
Bằng việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của các nhà triết học trước đó, trên
nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng, Các Mác, Ph.Ăng- ghen và V.I.Lênin đã giải
quyết một cách triệt để các vấn đề về tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong học thuyết của
mình các ông đã bàn nhiều về công bằng xã hội.
7
Khi phân tích chủ nghĩa tư bản, Các Mác đã chỉ ra rằng: sự tăng trưởng kinh tế trong
chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với quá trình tăng cường bóc lột giai cấp công nhân, do vậy
sự tăng trưởng đó, về bản chất không dẫn đến công bằng xã hội được. Phương thức phân
phối trong chủ nghĩa tư bản là bất hợp lý, bởi nó không dựa vào sức lao động, mà căn cứ
vào tài sản, vào lượng vốn. Và kết quả của những phương thức này là: nhà tư bản ngày
càng giàu lên trên sự đau khổ và nghèo đói của những người lao động, người công nhân.
Từ sự phân phối không công bằng đó đã làm cho những mâu thuẫn xã hội nẩy sinh và
ngày càng trở nên gay gắt. Các Mác đã chỉ ra rằng phương thức phân phối tư bản chủ
nghĩa đó sẽ mất đi khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá ngày
càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất trong phương thức tư bản chủ nghĩa trở nên gay gắt đến mức bùng nổ cách mạng
xã hội xã hội chủ nghĩa, để mở ra một thời đại mới. Trong thời đại mới đó tư liệu sản xuất
sẽ được công hữu hoá và phương thức phân phối sản phẩm sẽ hợp lý hơn, công bằng xã
hội sẽ được đảm bảo. Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô-ta Các Mác đã chỉ ra
những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không
phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái
lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó một
xã hội về mọi phương diện: kinh tế, đạo đức, tinh thần, còn mang dấu vết của xã hội cũ mà
nó đã lọt lòng ra[13,tr.33]. Do đó, theo Các Mác, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa người lao
động làm việc theo năng lực của bản thân và được nhận lại phần vừa đúng cái mà anh ta
đã đóng góp cho xã hội sau khi đã trừ đi số lao động cần thiết để duy trì phát triển sản
xuất và quỹ phúc lợi xã hội. Đây là một nguyên tắc mang tính công bằng trong chủ nghĩa
xã hội. Bởi vì, theo nguyên tắc này tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau
trong việc tham gia vào quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau.
Nguyên tắc phân phối trên đây được coi là công bằng. Tuy nhiên Các Mác cũng chỉ rõ
rằng trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa
loại trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng
nhất định giữa các thành viên trong xã hội và với một công việc ngang nhau và do đó, với
một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế người này vẫn
8
lĩnh hơn người kia, người nầy vẫn giàu hơn người kia [12, tr.35], do vậy, Muốn tránh tất
cả những thiếu sót ấy thì quyền phải không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng [13,
tr.35]. Đây vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của phân phối theo lao động, một thiếu sót
không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. V.I. Lênin trong
một số tác phẩm của mình cũng đã đề cập đến vấn đề công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã
hội, ông cho rằng Như thế là trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà
người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội), pháp quyền tư sản chưa bị xoá bỏ hoàn
toàn, mà chỉ bị xoá bỏ một phần, chỉ bị xoá bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách mạng
kinh tế đã được hoàn thành, nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất thôi. Pháp quyền
tư sản thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân. Chủ nghĩa xã hội biến tư
liệu sản xuất thành tài sản chung [11, tr.116]. Đặc biệt V.I. Lênin chú ý đến công bằng
trong phân phối lao động Người nào không làm thì không có ăn: nguyên tắc xã hội chủ
nghĩa ấy được thực hiện: Số lượng lao động ngang nhau, thì hưởng số lượng sản phẩm
ngang nhau, nguyên tắc xã hội chủ nghĩa này cũng đã được thực hiện [11, tr.116].
Như vậy, theo Các Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin thì trong chủ nghĩa xã hội, công
bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế đóng vai trò là cơ sở và quyết định các lĩnh vực khác
như : văn hoá, xã hội,... cụ thể là về phương diện quan hệ giữa cống hiến (thực hiện nghĩa
vụ) và hưởng thụ (được hưởng quyền lợi). Trong chủ nghĩa xã hội công bằng cơ bản là làm
nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, sản phẩm được phân phối theo nguyên tắc làm theo
năng lực hưởng theo lao động. Công bằng xã hội mà các nhà kinh điển chỉ ra ở đây là
công bằng xã hội mang tính tương đối, còn nhiều hạn chế, nó chỉ tồn tại ở một giai đoạn
thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì, xã hội mới này chỉ là giai đoạn quá độ từ chủ
nghĩa tư bản- một xã hội bất công bằng, bất bình đẳng sang xã hội cộng sản chủ nghĩamột xã hội có một sự công bằng tuyệt đối. Do vậy, công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã
hội còn nhiều khiếm khuyết. Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai
đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra,
sau những cơn đau đẻ kéo dài. Quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và sự
phát triển của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định [13, tr.35-36]. Quan niệm về công
bằng trong chủ nghĩa xã hội sẽ bị thay đổi cùng với sự tự mất đi của chủ nghĩa xã hội để
ra đời một xã hội cao hơn- xã hội cộng sản chủ nghĩa. Sự mất đi sớm hay muộn tuỳ thuộc
9
vào sự phát triển của sản xuất, sự phát triển của xã hội. Do vậy công bằng xã hội là một
khái niệm mang tính lịch sử, nó có thể biến đổi, ra đời và mất đi. Theo các ông, để xã hội
đạt được công bằng thực sự, một cách tuyệt đối chỉ khi con người không còn lệ thuộc vào
phân công lao động nữa, lúc đó khoảng cách giữa lao động trí óc và lao động chân tay
được rút ngắn tối đa, lao động không còn là phương tiện để sinh sống nữa mà là một nhu
cầu hoạt động và phát triển. Khi đó cá nhân được phát triển một cách toàn diện, sản xuất
xã hội sẽ có sự tiến bộ vượt bậc chưa từng có trong lịch sử, của cải trở nên dư thừa chỉ khi
đó người ta mới có thể vượt hẳn khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội
mới có thể ghi trên lá cờ của mình: Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu [13, tr.36].
Như vậy, theo chủ nghĩa Mác: Trong giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản, mặc dù chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất đã được thiết lập, song phương thức phân phối tương ứng
đó vẫn chưa đạt tới sự công bằng thật sự. Đó mới chỉ là một bước tiến bộ nhất định bước
đầu về công bằng xã hội. Điều quan trọng là cùng với chế độ công hữu thì sản xuất càng
phát triển, mọi cá nhân phải có cơ hội phát huy mọi tiềm năng để vươn tới sự ngang nhau
về năng lực, điều kiện, cơ hội, khi đó mới có thể đạt được sự công bằng tuyệt đối.
1.1.2 Nâng cao đời sống kinh tế cho người có công với cách mạng là một trong
những nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo công bằng xã hội.
Để đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn phải
tính đến nhiều cống hiến khác cho xã hội. Đó là những đóng góp về tài năng, sức lực, xương
máu cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Trong đó, đặc biệt là sự cống hiến của người có
công với cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước.
Một trong những đặc thù lớn nhất của nước ta là chiến tranh kéo dài: chống thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ, kẻ thù biên giới phía Bắc và Tây Nam. Bên cạnh đó còn có lực lượng tham
gia quân tình nguyện giúp các nước bạn Lào, Campuchia trong cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc. Chính vì vậy đã có nhiều gia đình, nhiều đồng bào chiến sỹ, nhiều vùng đất đã không tiếc
công sức, tiền của, máu xương cống hiến cho sự nghiệp cách mạng góp phần thực hiện nhiệm
vụ cao cả. Ngày nay, bước vào guồng quay của kinh tế thị trường thì chính họ là những người
bị thiệt thòi nhất bởi họ không còn sức lao động do nêu đơn, thương tật, già yếu, khó khăn về
vốn, họ rơi vào nhóm nghèo của xã hội, Bởi vậy, thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện
hiện nay không thể không tính đến sự cống hiến trong quá khứ của những thế hệ người đã
10
kinh qua chiến tranh... Việc thực hiện chính sách nhân đạo, phong trào làm việc thiện, phong
trào đền ơn đáp nghĩa, thành lập quỹ xoá đói giảm nghèo... là trách nhiệm của toàn xã hội, là
sự đền ơn đáp nghĩa chứ tuyệt nhiên không phải là sự ban ơn. Trong điều kiện hiện nay còn có
sự bất bình đẳng trong thu nhập, việc thực hiện phân phối thông qua phúc lợi xã hội có tác
dụng giảm bớt sự bất bình đẳng đó.
Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đặt mục tiêu tiến bộ và
công bằng xã hội lên trên hết, coi đó là mục tiêu của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội,
ngược lại phát triển kinh tế xã hội là vì mục tiêu đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, vì tự do,
hạnh phúc của con người.
Mặc dù chính sách ưu đãi người có công đã được thực hiện gần 6 thập kỷ qua, nhưng
cho đến ngày nay cũng chưa có một văn bản nào nêu rõ khái niệm người có công. Tuy
nhiên, qua các quy định tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công, tôi xin nêu ra
khái niệm người có công như sau:
Theo nghĩa rộng: Người có công là những người thuộc một dân tộc nào đó, tự
nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước. Họ có những
đóng góp, những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc. Người
có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác,
miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc. ở đây có thể thấy rõ những
tiêu chí cơ bản của người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích
dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc
lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất
nước.
Như đã nêu trên, phạm trù người có công rất rộng, trong phạm vi của luận văn này,
tôi chỉ tập trung vào những đối tượng là người có công với cách mạng trong cuộc kháng
chiến chống pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam. Như vậy, khái niệm người
có công ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp. Người có công hiểu theo nghĩa hẹp này như sau:
Người có công là những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ...
có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng, trong các
cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được cơ quan, tổ chức có thẩm
11
quyền công nhận. Như vậy, ở khái niệm này, người có công là những người tham gia hoặc
giúp đỡ cách mạng mà hy sinh xương máu hoặc một phần thân thể của mình hoặc cống
hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các cơ quan có thẩm quyền công
nhận.
Các loại đối tượng người có công:
Theo quy định hiện hành, các đối tượng có công có nhiều loại, trong phạm vi của
luận văn, chỉ nêu những đối tượng có công theo nghĩa hẹp đã trình bày trên. Những đối
tượng có công này được quy định trong Pháp lệnh ưu đãi người có công số
26/2005/PLUBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định số
54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ, bao gồm:
Thương binh: Là những quân nhân, công an nhân dân vì chiến đấu, hoặc trực tiếp
chiến đấu; bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại
thương tích thực thể; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm hoặc dũng cảm thực
hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh, dũng cảm cứu người,
cứu tài sản của nhà nước, nhân dân, làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà bị thương tật, mất sức lao động từ 21% trở lên.
Những người không thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (công an nhân dân, quân đội
nhân dân), trong khi làm những nhiệm vụ trên đây mà bị thương suy giảm khả năng lao
động từ 21% trở lên thì được hưởng chính sách như thương binh.
Bệnh binh: Là những quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả
năng lao động từ 41% trở lên do chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; hoạt động ở
địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; làm nghĩa vụ quốc tế; dũng cảm làm công
việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng an ninh khi xuất ngũ về với gia đình
Liệt sỹ: Là những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của nhà nước, của nhân dân được Nhà nước tặng
bằng Tổ quốc ghi công trong khi: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp
đấu tranh chính trị, binh vận với địch có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt
động kháng chiến bị địch bắt tù đày tra tấn nhưng không chịu khuất phục, kiên quyết đấu
tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục hy sinh; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu
12
tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm hoặc phục vụ
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của nhà nước của nhân
dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn kinh tế có
điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn; Thương binh chết vì vết thương tái phát.
Thân nhân liệt sỹ: Là những người thân thiết, ruột thịt hoặc có công nuôi dưỡng liệt
sỹ trước khi hy sinh, như:
Vợ (hoặc chồng) của liệt sỹ. Chỉ xác định là những người kết hôn hợp pháp với liệt
sỹ trước khi liệt sỹ hy sinh và quan hệ hôn nhân còn tới thời điểm liệt sỹ hy sinh và được
báo tử (hợp pháp ở đây được hiểu là có đăng ký kết hôn hoặc được tổ chức, đoàn thể có
thẩm quyền công nhận).Trong trường hợp liệt sỹ có nhiều vợ (trước khi có luật hôn nhân
gia đình) mà thực tế đã được thừa nhận thì những người vợ đó cũng được công nhận là
thân nhân liệt sỹ.
Con liệt sỹ: Là những người như: con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú, được pháp
luật thừa nhận..
Cha mẹ đẻ của liệt sỹ: Là những người thực sự nuôi dưỡng liệt sỹ như con khi liệt sỹ
còn nhỏ tuổi trong một khoảng thời gian nhất định nào đó (theo quy định hiện hành của
nước ta, thì thời gian nuôi dưỡng tối thiểu là 10 năm khi liệt sỹ còn dưới 16 tuổi hoặc tối
thiểu là 5 năm trong điều kiện hết sức đặc biệt).
Qua cách phân loại này có thể thấy thân nhân liệt sỹ có thể là người có quan hệ
huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng được pháp luật thừa nhận. Những
người nầy tuy không phải trực tiếp là người có công, nhưng có quan hệ trực tiếp với người
có công nên cũng là đối tượng chính của Pháp lệnh ưu đãi.
Những người tham gia hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến. ở Việt Nam,
do đặc điểm lịch sử, qua các thời kỳ cách mạng có những người tham gia hoạt động cách
mạng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau và họ cống hiến khả năng, công sức cho sự
nghiệp cách mạng trong các thời kỳ đó. Những người này là những người có công với đất
nước, bao gồm:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động
cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước ngày 19 tháng 8 năm 1945; Anh hùng
13
lực lượng vũ trang; Anh hùng lao động, là người được nhà nước tuyên dương anh hùng vì
có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc trong lao động sản
xuất phục vụ chiến đấu.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có chồng, con hoặc bản thân đã cống
hiến hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Người hoạt động trong thời kỳ kháng chiến là người tham gia kháng chiến được nhà
nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương tổng kết thành tích kháng chiến.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, mà
trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm
tay sai cho địch.
Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử
dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.
Người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng: Cuộc cách mạng ở Việt Nam là cuộc
cách mạng toàn dân, toàn diện. Trong cuộc cách mạng này, có nhiều người, nhiều gia đình
dưới các góc độ và mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ sự nghiệp cách
mạng nói chung hoặc giúp đỡ những người hoạt động cách mạng nói riêng (lãnh tụ, cán
bộ cách mạng...) trong lúc khó khăn nguy hiểm được nhà nước tặng Kỷ niệm chương Tổ
quốc ghi công hoặc Bằng Có công với Nước hoặc Huân chương kháng chiến. Những sự
giúp đỡ này có thể là:
Cho mượn hoặc hiến nhà cho cách mạng để làm kho tàng, địa điểm họp hoặc làm
trụ sở cách mạng v. v...
Nuôi dấu cán bộ cách mạng; sản xuất cung cấp vũ khí, lương thực cho cách mạng
v.v...
Như vậy, người có công là những người đã hy sinh xương máu hoặc cống hiến lớn
lao cho sự nghiệp của dân tộc. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân phải có trách nhiệm chăm
lo đời sống cho người có công, nhưng trước hết trách nhiệm đó thuộc về nhà nước. Nhà
nước là người đại diện cho giai cấp, cho dân tộc, nên nhà nước phải có trách nhiệm bảo
đảm quyền lợi đối với người có công.
Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc xây dựng và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Chính sách đối với
14
người có công là chính sách đặc biệt, thực hiện chính sách người có công sẽ góp phần
nâng cao đời sống kinh tế người có công. Nhất là khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung
bao cấp sang cơ chế thị trường nếu chúng ta không có một thể chế chính trị vững vàng,
một cơ chế chính sách đúng đắn, một hệ thống chính sách phù hợp thì người có công
những người chịu đựng hy sinh mất mác lại là những người phải chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Một mặt, nhà nước thông qua tổ chức chức năng của mình (mà ở đây là Bộ Lao độngThương binh & Xã hội) hoạch định các chính sách ưu đãi đối với người có công, trình
lên các cơ quan thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ) thông qua bằng các văn bản pháp
luật, tạo cơ sở để hỗ trợ, cải thiện, nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công.
Mặt khác, nhà nước bằng các bộ máy của mình, các bộ ngành, địa phương triển khai
thực hiện các chính sách đối với người có công đưa chính sách vào cuộc sống. Ngoài ra
nhà nước còn động viên, khuyến khích ủng hộ, và tham gia phát động các phong trào
tạo ra sức mạnh tổng hợp về nguồn lực ở cộng đồng dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội
trong việc thực hiện chính sách, nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công.
Song, để nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công không chỉ là trách nhiệm
của nhà nước mà còn là trách nhiệm của cộng đồng xã hội. Cộng đồng xã hội với tư cách
là người hưởng thụ những thành quả của sự nghiệp của dân tộc, trong đó có sự đóng góp
công lao, sức lực, cả sự hy sinh thân thể và xương máu của bao thế hệ người tham gia để
làm cho sự nghiệp của dân tộc đơm hoa thơm, kết quả ngọt, để đất nước được độc lập tự
do. Vì lẽ đó, cộng đồng xã hội quan tâm đến lợi ích vật chất tinh thần đối với người có
công, góp phần nâng cao đời sống kinh tế người có công ngang bằng với mức sống xã hội
là vừa là trách nhiệm vừa là sự đền ơn đáp nghĩa của thế hệ hôm nay đối với các thế hệ cha
anh, những người đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì nền độc lập tự do của
Tổ quốc.
1.2 Nâng cao đời sống người có công với cách mạng là cơ sở, điều kiện góp phần giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế- xã hội và các vấn đề phát triển của tỉnh An Giang.
Như phần trên đã đề cập, người có công là một bộ phận sức khỏe kém, bởi họ đã
cống hiến sức lực, một phần thân thể, tuổi thanh xuân của mình cho đất nước, vì vậy hoàn
cảnh, đời sống vật chất và tinh thần của họ đa phần rất khó khăn, nhất là trong tình hình
hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo quy luật của nền kinh tế thị trường,
15
nẩy sinh nhiều khó khăn mới, nhất là trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu nhập, nhà ở,...
Tỉnh An Giang là một tỉnh có số lượng đối tượng có công đông chiếm chiếm trên 15%
tổng số hộ trên toàn tỉnh. Việc giải quyết tốt các chính sách xã hội đối với người có công
có một ý nghĩa hết sức quan trọng không những về chính trị mà còn tạo ra môi trường
kinh tế - xã hội lành mạnh, góp phần ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội.
Xét về ý nghĩa chính trị, người có công phải được nhà nước và xã hội ghi nhận công
lao và có chính sách đãi ngộ, đó là đạo lý truyền thống của dân tộc, uống nước phải nhớ
nguồn, không những thế hệ hôm nay mà con cháu mai sau ghi nhớ công ơn của những anh
hùng liệt sỹ, thương bệnh binh, đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc vì nền độc lập
tự do của đất nước.
Xét dưới góc độ kinh tế xã hội, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của người có
công, là nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội trong sự nghiệp phát triển toàn diện của tỉnh An Giang thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá hiện đại hoá; thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh
tế bền vững trong những năm tới.
Tóm lại, công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử nhưng công bằng xã hội là một tất
yếu, là vấn đề quan trọng của vấn đề phân phối trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Nâng
cao đời sống kinh tế đối với người có công là một trong những nhiệm vụ để thực hiện công
bằng xã hội. Việc nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công cách mạng là trách
nhiệm của nhà nước và toàn xã hội; là cơ sở, điều kiện góp phần giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội và các vấn đề phát triển của tỉnh An Giang nói riêng và toàn xã hội nói
chung trong thời gian tới.
16
Chương 2:
thực trạng đời sống kinh tế người có công với cách mạng ở tỉnh
An Giang thời gian qua
2.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của người có công với cách mạng ở tỉnh An Giang.
2.1.1 Thực trạng việc làm và các hoạt động kinh tế của người có công với cách mạng.
Vấn đề việc làm là vấn đề nổi cộm nhất trong thực trạng đời sống người có công
ở tỉnh An Giang .
Do đặc điểm nguồn lao động trên địa bàn tỉnh hàng năm tăng nhanh và vẫn ở
mức độ cao, hàng năm có khoảng 12.000 lao động bước vào độ tuổi lao động, dẫn đến
sự dư thừa lao động ngày càng lớn. Sự dư thừa này còn luôn tăng lên do tinh giảm biên
chế, sắp xếp lại lao động từ các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, bộ đội phục viên
xuất ngũ, sinh viên tốt nghiệp, lao động mất đất sản xuất trong quá trình đô thị hoá,
công nghiệp hoá,.... làm cho số người thất nghiệp và chưa có việc làm trên địa bàn tỉnh
khá lớn mà khả năng giải quyết việc làm còn hạn chế. Mỗi năm bình quân tỉnh An
Giang chỉ giải quyết được khoảng 5 - 8 nghìn chỗ việc làm, mà chủ yếu tập trung vào
17
lứa tuổi thanh niên [23, tr.6]. ở nông thôn số người thực sự không có việc làm không
cao nhưng tình trạng bán thất nghiệp là phổ biến. Tình trạng độc canh vẫn còn, vì vậy
lao động nông nghiệp vẫn chỉ sử dụng hết 1/3 số thời gian làm việc, không có việc làm
sẽ tạo ra những vấn đề xã hội phức tạp: An ninh trật tự, tệ nạn xã hội v.v...trong cộng
đồng dân cư, xã hội. Điều này cho thấy vấn đề giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh
vẫn là vấn đề gay gắt và nó ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của đối tượng có công,
bởi lẽ như đã nêu, họ là những người yếu thế do cạnh tranh trên thị trường lao động, do
sức khỏe, do tình trạng thương tật, bệnh tật, do trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp
vụ...
Mặc dù trong điều kiện áp lực rất lớn về vấn đề việc làm xã hội nói chung, nhưng
nhờ có các chính sách đối với đối tượng người có công trong độ tuổi lao động đa số họ
đã có được những việc làm nhất định. Tuy nhiên, do đặc thù về sức khoẻ và trình độ
văn hoá, chuyên môn họ chỉ làm những công việc giản đơn. ở nông thôn hầu hết
thương binh, bệnh binh làm công việc trong trồng trọt và chăn nuôi (60 -70%), còn ở
thành thị đa số họ làm trong các ngành, các công việc buôn bán và dịch vụ.
Đối với gia đình liệt sỹ cũng có tình trạng tương tự, mặc dù đã được ưu tiên, được
sự giúp đỡ nhưng do điều kiện chung và hoàn cảnh riêng, các gia đình liệt sỹ cũng có
nhiều vấn đề trong việc làm. ở nông thôn gia đình liệt sỹ chủ yếu làm nông nghiệp,
còn ở thị xã, thị trấn, các gia đình liệt sỹ chủ yếu là buôn bán, dịch vụ ...
Bên cạnh những hạn chế về sức khoẻ, thương tật, bệnh tật, việc tạo việc làm cho
người có công đã khó khăn càng khó khăn hơn khi yêu cầu mở mang ngành nghề, tổ
chức sản xuất cần phải có vốn, mà vốn đối với người có công là vấn đề nan giải. Ngoài
ra, còn có những khó khăn khác như thiếu kinh nghiệm kinh doanh, thiếu lao động kỹ
thuật...
Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua
tỉnh An Giang đã có sự hỗ trợ, giúp đỡ nhất định đối với những người có công trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự giúp đỡ chủ yếu là tạo điều kiện cho vay vốn, miễn
18
giảm thuế, cấp ruộng đất phù hợp cho các đối tượng sản xuất nông nghiệp, giúp đỡ về
mặt bằng sản xuất.
Mặc dù có sự ưu tiên, giúp đỡ nhưng so với nhu cầu của người có công thì vẫn
chưa đáp ứng được. Hơn nữa An Giang là tỉnh có số đối tượng có công đông, còn rất
khó khăn nên ảnh hưởng của sự giúp đỡ này còn hạn chế, tác động nhiều đến việc nâng
cao đời sống của người có công.
2.1.2. Thực trạng về thu nhập đời sống của người có công
Người có công là đối tượng ưu đãi đặc biệt của Nhà nước và được cộng đồng
thường xuyên giúp đỡ, góp phần cải thiện đời sống các đối tượng có công mà biểu hiện
về vật chất là nâng cao đời sống đối tượng có công. Người có công có nhiều nguồn thu
nhập khác nhau từ trợ cấp thương tật, trợ cấp tuất, trợ cấp người có công và các loại trợ
cấp xã hội khác. Các loại trợ cấp này gần đây đã được sửa đổi, được nâng lên góp phần
đáng kể trong thu nhập của người có công. Một số loại trợ cấp được ban hành theo
Nghị định 147/2005/NĐ-CP của Chính phủ, như sau: [ 2, tr.3,4,5 ]
- Trợ cấp thương tật cho thương binh:
+ Mức thấp nhất:
239.000 đồng
+ Mức cao nhất:
1.140.000 đồng
- Trợ cấp bệnh tật cho bệnh binh:
+ Mức thấp nhất:
374.000 đồng
+ Mức cao nhất:
912.000 đồng
- Trợ cấp lão thành cách mạng:
+ Diện thoát ly:
400.000đồng
+ Diện không thoát ly:
680.000 đồng
- Trợ cấp cán bộ Tiền Khởi nghĩa:
370.000 đồng
- Trợ cấp tuất đối với thân nhân 1 liệt sỹ:
355.000 đồng;
19
- Trợ cấp tuất thân nhân 2 liệt sỹ trở lên:
600.000 đồng
- Trợ cấp nuôi dưỡng đối với thân nhân liệt sỹ: 600.000 đồng.
- Trợ cấp Bà mẹ Việt Nam anh hùng (còn sống): 600.000 đồng (không kể phụ cấp).
- Trợ cấp Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động trong kháng chiến :
300.000 đồng.
- Trợ cấp người có công giúp đỡ cách mạng.
+ Trước tháng 8/1945: mức hàng tháng: 355.000 đồng; mức nuôi dưỡng: 600.000
đồng)
+ Người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến (mức trợ cấp hàng tháng là
210.000 đồng; mức nuôi dưỡng là 600.000 đồng.
- Trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến bị nhiểm chất độc hoá học:
+ Không còn khả năng lao động : 593.000 đồng.
+ Suy giảm khả năng lao động : 374.000 đồng
Ngoài chế độ trợ cấp ưu đãi của nhà nước, người có công còn các hoạt động sản
xuất kinh doanh, đã mang lại nguồn thu đáng kể cho gia đình và bản thân người có
công.
Qua khảo sát đời sống của thương binh và gia đình liệt sỹ ở một số vùng kinh tế ở
An Giang cho thấy, bình quân thu nhập 1 tháng của một thương binh vào khoảng
500.000 đồng và thu nhập của một gia đình liệt sỹ khoảng 600.000 đồng - 650.000
đồng. Trong tổng số thu nhập các loại trợ cấp chiếm xấp xỉ 40-50%; trong khi đó các
nguồn thu nhập từ các nguồn kinh tế khác chiếm trên 50%.
Với thu nhập chưa phải là cao so với dân cư nói chung (chỉ đạt 50-60%) so với
thu nhập chung của dân cư) cuộc sống của người có công ở tỉnh An Giang còn gặp
nhiều khó khăn. Thu nhập của họ chỉ đủ chi cho những chi tiêu cần thiết cho bản thân
và gia đình như ăn, mặc, ở. Trong khi như đã nêu, các đối tượng có công thường là
những người sức khoẻ kém, ốm đau, bệnh tật nhiều, do vậy họ rất cần chi tiêu cho việc
khám chữa bệnh, chi mua thuốc men... Qua khảo sát các đối tượng có công ở các vùng
20
kinh tế trên địa bàn tỉnh cho thấy, chi cho ăn của các đối tượng nầy chiếm gần 70% và
chi cho khám chữa bệnh chiếm từ 10-15% trong tổng chi tiêu. Cơ cấu chi tiêu như vậy
cho thấy các đối tượng và gia đình đối tượng có công ở An Giang còn là người nghèo.
Bởi theo các chuyên gia kinh tế và theo thống kê ở các nước cũng như trên phạm vi cả
nước, những nước có mức phát triển cao thì việc chi cho ăn chỉ chiếm 1/3 trong tổng
chi tiêu của họ. Còn mức chi cho ăn chiếm trên 50% trong tổng chi tiêu là biểu hiện
mức sống dân cư còn thấp. Chi cho ăn uống của nước ta trên 60% tổng chi tiêu. Trong
tình trạng chung đó, đời sống đối tượng người có công tỉnh An Giang trong thời gian
gần đây tuy có được cải thiện nhưng còn khó khăn. Vì vậy, nếu không có sự giúp đỡ
của nhà nước, cộng đồng và xã hội, thì chỉ với các loại trợ cấp của nhà nước thôi sẽ
không thể đưa đời sống của người có công trên địa bàn tỉnh lên được.
Một điều lưu tâm trong việc thực hiện chính sách đối với người có công trên địa
bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay, đó là sự phân hoá giàu nghèo. Kinh tế thị trường
đang tạo ra sự năng động trong nền kinh tế của đất nước nói chung và của tỉnh nói
riêng, đồng thời cũng tạo ra sự phân hoá, phân cực giàu nghèo. Dân cư nói chung đã có
một tỷ lệ đáng kể do biết làm ăn, năng động trong cơ chế thị trường đã giàu lên nhanh
chóng, đồng thời một bộ phân dân cư khác do không biết làm ăn, hoặc bị rũi ro nào đó
không thể cạnh tranh trên thị trường đã bị nghèo đi, thậm chí bị bần cùng hóa. Đối với
các đối tượng người có công, mặc dù mức độ chưa sâu sắc nhưng đã có sự phân hoá
nhất định. Qua khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có mức
sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú chiếm 93,15%,
hộ gia đình có mức sống dưới trung bình chiếm 4,35%, hộ gia đình thuộc dạng hộ
nghèo chiếm 2,5%. Tuy nhiên, vẫn có một số hộ gia đình còn khó khăn. Mục tiêu đề ra
là phải ngày càng tăng tỷ lệ đối tượng có công giàu lên ngày càng nhiều. Thực hiện các
chương trình chăm sóc người có công, góp phần nâng cao mức sống người có công
trên địa bàn tỉnh, trong những năm qua, nhiều phong trào đã được hình thành và phát
triển sâu rộng, được mọi tầng lớp dân cư, mọi tổ chức kinh tế xã hội tham gia nhiệt
tình và có những tác động sâu sắc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có
công, như phong trào Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa...
2.1.3 Đánh giá chung về thực trạng đời sống người có công tỉnh An Giang.
21
Qua những phân tích trên có thể rút ra một số nhận xét chung về thực trạng đời sống
của người có công trên địa bàn tỉnh An Giang như sau:
Về mặt sức khoẻ, yếu tố cần thiết nhất trong lao động sản xuất công tác và học
tập của con người thì đối với người có công trong những năm tháng hào hùng của tuổi
trẻ, hay trong những năm tháng họ dồi dào sinh lực nhất, họ có mặt ở những nơi chiến
trường ác liệt, nơi khó khăn gian khổ, bị tù đày, nơi bị rãi chất độc hoá học... nên hiện
tại sức khoẻ của đại bộ phận sức khoẻ giảm sút, suy yếu. Những đối tượng như Lão
thành cách mạng, thương binh, bệnh binh hầu như sức khoẻ rất kém, phải chịu nhiều
thiệt thòi, khó có thể chăm sóc, bù đắp hồi phục so với mức bình thường.
Về hoàn cảnh và điều kiện sống của người có công hiện tại cũng không thuận
lợi. Gia đình đông, số người tham gia hoạt động kinh tế thấp. Một bộ phận người có
công tuổi già hiện sống cô đơn, hoàn cảnh nhiều khó khăn. Một bộ phận không nhỏ
cần có sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần thường xuyên của cộng đồng.
Trên 70% người có công sống ở nông thôn, miền núi, vùng căn cứ cách mạng,
vùng kháng chiến cũ. Tuy trong những năm qua cùng với việc thực hiện những chính
sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của cộng đồng, đời sống của người có công
có cải thiện, được nâng lên một bước, song hiện tại điều kiện sống và hoàn cảnh sống
của khá đông người có công cần thiết phải được quan tâm chăm sóc, hỗ trợ hơn nữa
của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội.
Về mặt lao động - sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống, do hạn chế về sức
khoẻ, trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ thuật ngành nghề nên đối tượng
người có công trên địa bàn tỉnh ít có điều kiện mở rộng hoặc phát triển sản xuất kinh
doanh. Họ chủ yếu làm những công việc đơn giản, thu nhập thấp, chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp (ở nông thôn) hoặc buôn bán nhỏ, dịch vụ (ở thị xã, thị trấn). Một tỷ lệ
đáng kể người có công còn tuổi lao động nhưng không có việc làm hay làm việc không
ổn định. Vì một mặt, do không có vốn để sản xuất kinh doanh; mặt khác là do tình
trạng sức khoẻ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không có cơ hội cạnh tranh, tìm kiếm
việc làm.
22
Đối với bộ phận có hoạt động sản xuất kinh doanh thì các hoạt động còn hạn chế.
Khó khăn chủ yếu vẫn là thiếu vốn, thiếu lao động, thiếu kinh nghiệm và kiến thức
quản lý kinh doanh...
Về thu nhập, do đời sống của bản thân và gia đình còn nhiều khó khăn nên các
đối tượng người có công tỉnh An Giang, ngoài khoản trợ cấp của nhà nước, họ còn phải
làm nhiều việc để có thêm thu nhập. Nguồn thu nhập của họ, trừ trợ cấp của nhà nước,
còn nguồn từ sản xuất kinh doanh, là nguồn thu nhập đáng kể. Tuy vậy, mức thu nhập
không cao, chỉ đạt khoảng 60% thu nhập của dân cư cùng cộng đồng, trong khi người
có công có rất nhiều khoản chi. Nhìn chung thu nhập của người có công chưa đảm bảo
cho những chi dùng tối thiểu như ăn ở, mặc, học hành. Khi thu nhập thấp thì khả năng
tích luỹ, tiêu dùng cũng không cao. Khi mức thu nhập thấp thì tất yếu cuộc sống sẽ gặp
khó khăn, dẫn đến một bộ phận không nhỏ người có công có mức sống thấp trong một
thời gian dài còn chiếm tỷ lệ đáng kể.
Đời sống hoạt động văn hoá tinh thần của người có công cách mạng tỉnh An
Giang là vấn đề đáng quan tâm. Đời sống hoạt đông văn hoá tinh thần là hệ quả tất yếu
của đời sống vật chất. ở trên khi nói đến điều kiện sức khoẻ, lao động sản xuất, công
tác học tập, thu nhập, mức sống,... của người có công hạn chế, do đó, đời sống vật chất
của họ có những khó khăn, không thuận lợi, do vậy mà đời sống và hoạt động văn hoá
của người có công cũng ở một tình trạng tương tự. Những hoạt động văn hoá như nghĩ
mát, tham quan, du lịch, thưởng thức văn hoá, nghệ thuật, tham gia hoạt động thể dục,
thể thao... đối với người có công ở mức rất hạn chế. Hay nói đúng hơn ở lĩnh vực văn
hoá tinh thần của người có công còn chưa được cải thiện, nếu không nói là không đáng
kể.
Nhiều năm qua, với phong trào Đền ơn đáp nghĩa, Uống ước nhớ nguồn, các
đối tượng người có công đã nhận được sự giúp đỡ nhiều mặt của Nhà nước và cộng
đồng xã hội. Đó là sự giúp đỡ về điều kiện tổ chức sản xuất, kinh doanh, về lao động
việc làm, về nhà ở, đất ở, về y tế, giáo dục... Những hoạt động xây nhà tình nghĩa, tặng
nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
được quan tâm và có hiệu quả và ý nghĩa rất lớn, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống
23
với người có công cách mạng trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, về diện và mức độ, những sự
giúp đỡ quý báu nầy cũng chưa đủ đáp ứng đầy đủ nhu cầu cuộc sống của người có
công và gia đình của họ. Thực trạng đời sống người có công tỉnh An Giang đã và đang
đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đối với các cấp uỷ đảng, chính quyền, cộng đồng xã hội
tiếp tục có sự quan tâm và có những hình thức, biện pháp mới nhằm góp phần nâng cao
hơn nữa đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người có công trong tình hình mới.
2.2. Tình hình thực hiện các chính sách nâng cao đời sống kinh tế người có công với
cách mạng trên địa bàn tỉnh An Giang( từ năm 2005 - 2011).
Qua hơn 06 năm thực hiện pháp lệnh số 26/2005/PL - UBTVQH 11 ngày
29/6/2005 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về ưu đãi người có công với cách
mạng (có hiệu lực từ ngày 01/10/2005) và các Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng
dẫn thi hành, An Giang đã xác nhận và giải quyết chế độ trợ cấp ưu đãi cho hơn 8.900
đối tượng có công, cụ thể như sau:
Đề nghị truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 13 bà mẹ, nâng
tổng số bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu lên 262 bà mẹ. Hiện nay, có 24
bà mẹ còn sống được các cơ quan, Doanh nghiệp trong tỉnh nhận phụng dưỡng đến
cuối cuộc đời.
Tổng số liệt sỹ được xác nhận là 24 hồ sơ, nâng tổng số hồ sơ quản lý lên gần
10.000 hồ sơ ( kể cả hồ sơ nhập tỉnh).
Tiếp nhận mới 46 hồ sơ thương binh do quân đội bàn giao và xác nhận mới 01 hồ
sơ người hưởng chính sách như thương binh, nâng tổng số thương binh đã xác nhận
trên 5.500 người (hiện nay có trên 3.500 người đang hưởng trợ cấp).
Hồ sơ bệnh binh tiếp nhận từ Quân đội và Công an chuyển đến trên 320 người
(hiện nay có trên 220 người đang hưởng trợ cấp).
Xác nhận được 59 người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 (cán bộ
Lão thành cách mạng), nâng tổng số lên 107 người được công nhận và xác nhận được
16 người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước ngày Tổng khởi nghĩa
24
ngày19 tháng Tám năm 1945 ( cán bộ tiền khởi nghĩa ), nâng tổng số 48 người được
công nhận.
Xác nhận và giải quyết trợ cấp một lần cho 545 người hoạt động cách mạng, hoạt
động kháng chiến bị địch bắt tù, đày (nâng tổng số lên 800 người được giải quyết ) và
668 người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ
Quốc tế được tặng thưởng Huân chương, Huy chương các loại ( nâng tổng số được giải
quyết lên hơn 4.700 người).
Xác nhận và giải quyết trợ cấp cho 2.632 người có công giúp đỡ cách mạng,
trong đó có: 836 người được hưởng Huân chương kháng chiến và 1.799 người được
tặng Huy chương kháng chiến, nâng tổng số người có công giúp đỡ cách mạng được
xác nhận và giải quyết trợ cấp đến nay trên 15.000 người. Hiện có trên 3.700 người
được tặng Huân chương kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng.
Xác nhận và chi trả trợ cấp một lần cho 732 thân nhân người hoạt động cách
mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày và người hoạt động kháng chiến giải
phóng dân tộc đã chết trước ngày 01/01/1995. Nâng tổng số được giải quyết lên trên
6.500 người.
Xác nhận và giải quyết trợ cấp cho 220 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm
chất độc hóa học và 41 con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học. Nâng tổng số lên 272
người được giải quyết (có 182 người hoạt động kháng chiến và 90 con đẻ của họ đang
hưởng trợ cấp hàng tháng).
Thẩm định và trình ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh sách chi trả trợ cấp một
lần đối với 1.180 người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa
được hưởng chính sách của Đảng và nhà nước theo quyết định số 290/2005/QĐ - TTg
ngày 08/11/2005 và quyết định số 188/2007/QĐ- TTg ngày 06/12/2007 của Thủ tướng
chính phủ.
Xét duyệt, cấp Sổ ưu đãi Giáo dục - đào tạo cho 2.060 đối tượng và thẩm định,
cấp sổ theo dõi trợ cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cho 799 đối tượng đủ
điều kiện hưởng.
25