Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

Con người với sự nghiệp đổi mới của đảng trong giai đoạn hiện nay ở việt nam (2)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (489.8 KB, 59 trang )

GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ khi đất nước
bước vào công cuộc đổi mới, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề con người. Phát triển con người là mục tiêu cao
cả nhất của toàn nhân loại, đó là làn sóng văn minh thứ ba đang đưa loài người tới
một kỉ nguyên mới, mở ra bao khả năng để họ tìm ra những con đường tối ưu đi tới
tương lai. Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con
người tại Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Đảng
ta đã đề ra và thông qua Nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn
diện với tư cách là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đó là con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về
thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Phát triển con người Việt Nam toàn diện - đó cũng chính là động lực, là mục
tiêu nhân đạo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặc biệt với sự nghiệp
đổi mới của Đảng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam mà chúng ta đang từng bước
tiến hành. Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì
chất lượng người lao động là nhân tố quyết định. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì một nước đang còn ở tình trạng
kém phát triển như nước ta không thể không xây dựng một chính sách phát triển lâu
bền, có tầm nhìn xa trông rộng, phát triển con người, nâng cao dần chất lượng của
người lao động.


Trong quá trình đổi mới của đất nước Đảng ta luôn đặt mục tiêu phát triển
con người là điều kiện tiên quyết, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội. Do đó, để
Trang 1


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

góp phần tìm hiểu và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng cũng như vị trí của con
người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của Đảng. Tác giả quyết định chọn nội
dung: “Con người với sự nghiệp đổi mới của Đảng trong giai đoạn hiện nay ở
Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Trên cơ sở phân tích và làm rõ vai trò, phẩm chất, sức mạnh, trí
tuệ của con người Việt Nam với công cuộc đổi mới của Đảng. Từ đó, nêu ra những
phương hướng và giải pháp phát triển con người trong sự nghiệp đổi mới của Đảng
ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên luận văn giải quyết những nhiệm vụ
sau:
Hệ thống hoá các quan điểm về con người qua các trào lưu Triết học. Từ đó,
khái quát và làm rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về con người.
Phân tích vai trò, phẩm chất, sức mạnh, trí tuệ của con người Việt Nam với
công cuộc đổi mới của Đảng.
Nêu ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát triển con người trong
sự nghiệp đổi mới của Đảng ở Việt Nam hiện nay
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong luận văn này tác giả đi sâu làm rõ một số nội dung quan trọng, đề tài
nghiên cứu:

Quan điểm về con người qua các trào lưu Triết học; tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phẩm chất, truyền thống, vai trò phẩm chất con người Việt Nam qua các kỳ
Đại hội và sức mạnh của con người Việt Nam hướng vào mục tiêu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Phương hướng và giải pháp phát triển con người trong sự nghiệp đổi mới của
Đảng ở Việt Nam hiện nay.

Trang 2


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Trong quá trình nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời luận văn cũng sử dụng kết quả nghiên cứu và
thống kê về sự phát triển của con người Việt Nam với sự nghiệp đổi mới của Đảng.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng
những phương pháp cơ bản:
Phương pháp logic và lịch sử
Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp
Phương pháp đối chiếu và so sánh
Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, luận văn gồm 3
chương 7 tiết.


Trang 3


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI.
1.1. Quan điểm về con người qua các trào lưu Triết học.
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của
thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài
khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà
nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý trên các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết
học, xã hội học, ...Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không
ngừng nghiên cứu về nó, mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với
sự hiểu biết và làm lợi cho con người.
Trong lịch sử phát triển loài người, các thời kỳ khác nhau có rất nhiều quan
điểm khác nhau về con người. Trong lịch sử triết học trước Mác, vấn đề con người
vẫn chưa được giải đáp một cách thực sự khoa học, không những chủ nghĩa duy tâm
mà cả chủ nghĩa duy vật trực quan, siêu hình cũng không nhận thức đúng về con
người. Mặc dù vậy những quan điểm khác nhau về con người trong lịch sử triết học
đã đạt được những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người đề cao lý tính,
xác lập các giá trị nhân bản học hướng con người tới tự do. Và quan điểm về con
người được giải quyết một cách khác nhau qua các trào lưu Triết học sau:
1.1.1. Quan điểm về con người trong triết học Phương Đông.
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương
Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người.

Trong hệ thống triết học Ấn Độ được hình thành từ rất sớm. Đạo Jaina – một
trong ba hệ thống triết học không chính thống (tà giáo) cho rằng con người gồm thể
xác và linh hồn bất tử. Thế xác là nơi hạn chế khả năng vô tận của linh hồn. Muốn
Trang 4


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

giải phóng linh hồn toàn năng thoát khỏi sự hạn chế, ràng buộc bởi ham muốn, nhục
dục thể xác và thế giới vật chất, người ta phải tu luyện đạo đức: không sát sinh,
không bạo lực, khổ hạnh đến mức không một mảnh vải che thân. Nếu Phật giáo cho
rằng: đời là bể khổ thì phái Jaina phân biệt: sống ác mới là khổ, còn sống lâu theo
điều thiện sẽ có hạnh phúc.
Trong triết học Phật giáo lấy con người làm trung tâm của hệ thống giáo lý
song con người trong Phật giáo vẫn là con người trừu tượng, phi lịch sử. Phật giáo
cho rằng con người được cấu thành bởi yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh),
ngay bản thân sự tồn tại của con người chẳng qua cũng là “ngũ uẩn”, 5 yếu tố hợp
lại: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (ý thức thúc đẩy hành
động) và thức (ý thức). Theo Phật giáo, các sự vật hiện tượng cũng như con người là
không có thực, đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô. Vì vậy, cuộc
đời con người khi sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ, thác mới là nơi hạnh phúc vĩnh
cửu. Với quan niệm “đời là bể khổ”, nước mắt của loài người nhiều hơn bốn biển.
Phật giáo giải thích nguồn gốc sâu xa mọi nỗi khổ của con người là do “vô minh” và
“dục vọng”. Con người chỉ có thể đạt đến Niết bàn, nơi có chân hạnh phúc khoái lạc,
bằng cách diệt trừ dục vọng, khắc phục vô minh, từ bỏ tham, sân, si. Đây chính là
nguyên nhân thúc đẩy bánh xe sinh tử luân hồi. Vì vậy, muốn chấm dứt đau khổ,
người ta phải trừ khử gốc rễ chính của nó là ái dục và vô minh, từ bỏ tham, sân, si
trong cuộc sống. Diệt trừ đau khổ là hướng tới Niết bàn, sự giải thoát cuối cùng khỏi

mọi ràng buộc sinh tử, mọi phiền não ám ảnh. Mục đích cuối cùng của Phật giáo là
tìm cách giải thoát khỏi vòng “luân hồi”, “nghiệp báo”, đưa chúng sinh thoát khỏi bể
khổ luân hồi bất tận – Niết bàn. Phật nói: “Này các đệ tử, ta nói cho mà biết, nước
ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy đây cũng chỉ có một vị là vị giải
thoát” [11, tr.91]. Luận điểm nhân sinh quan Phật giáo mang tính nhân dân được thể
hiện ở chỗ nêu cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ” tức là quyền lực thể hiện sự giải
thoát cho mọi “chúng sinh”.
Tuy nhiên, trong triết học Phật giáo về con người thể hiện thiếu căn cứ khoa
học. Một mặt, thấy được nỗi thống khổ của con người song mặt khác lại chưa lý giải
Trang 5


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

được nỗi thống khổ của con người và nguyên nhân của những nỗi thống khổ của con
người đó là trong quan hệ xã hội, do áp bức của giai cấp thống trị. Phật giáo cũng
không thấy được sức mạnh cải tạo tự nhiên và xã hội của con người, không chỉ ra
được con đường giải phóng cho con người, cho xã hội mà Phật giáo chỉ khuyên con
người thoát ly đấu tranh, nhẫn nhục, chịu đựng, xa lánh đời sống hiện thực.
Trong triết học Trung Hoa cổ đại: Cùng với triết học Ấn Độ, triết học Trung
Hoa cổ đại cũng tập trung vào vấn đề con người làm trung tâm và xã hội, thể hiện
một màu sắc nhân văn và sự tu dưỡng đạo đức, coi trọng hành vi cá nhân, hướng tới
sự thống nhất hài hòa giữa vũ trụ và xã hội. Từ đây về sau, có thể nói “con người” là
đối tượng nhận thức cơ bản, chủ yếu của triết học Trung Hoa cổ đại. Chỉ từ “con
người”, người ta mới xem xét vũ trụ, thế giới ngoài con người và cũng từ việc giải
quyết vấn đề “số phận con người”, “vận mệnh con người” triết học mới có thể đi tới
mục tiêu nhận thức của mình và giải quyết vấn đề “tồn tại người” là mục tiêu hiện
thực của triết học. Một số quan điểm về con người trong triết học Trung Hoa cổ đại:

Khổng Tử (tên Khâu, tự Trọng Ni, 551 - 479 TCN), là người khai sáng ra học
thuyết Nho giáo, nhà tư tưởng vĩ đại của Trung hoa thời cổ đại. Ông cho rằng “mệnh
trời” như một lực lượng có ý chí chi phối vận mệnh của con người và xã hội, không
có gì xảy ra trong đời sống xã hội lại không do sự áp đặt của mệnh trời. Rằng, trời
quyết định sự thành bại trong hoạt động cũng như cuộc sống của con người. Khổng
Tử khuyên mọi người nên phục tùng ý chí của trời và coi việc hiểu biết nó như một
điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện, quan niệm đó dẫn đến thuyết “
sống chết có mạng, giàu sang tại trời” [20, tr.33].
Khổng Tử sống trong thời kỳ mà xã hội Trung Quốc có sự loạn lạc, chiến
tranh liên miên, chư hầu nổi loạn. Vì thế, ông mơ tưởng khôi phục lại trật tự xã hội
theo kiểu nhà Chu, đó là xã hội có trật tự tôn ti, từ thiên tử đến các chư hầu lớn nhỏ,
quý tộc, bình dân, ai có phận nấy, có quyền lợi và nghĩa vụ sống hòa hảo với nhau,
giữ chữ tín với nhau, không xâm phạm nhau, một xã hội mọi người trên dưới đều
yêu thương theo phận vị của mình. Xã hội mà ông mơ ước là một xã hội trong đó
quan hệ giữa con người với con người là tốt đẹp: cha hiền con thảo, anh tốt em
Trang 6


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

ngoan, chồng biết điều, vợ nghe lẽ phải, bề trên rộng rãi bề dưới kính thuận, vua
nhân tôi trung. Muốn vậy, con người phải được giáo dục, phải học Lễ để biết kính
thờ cha mẹ, trung với vua và vợ chồng anh em bạn bè, biết cách đối xử với nhau cho
phải đạo, biết biểu lộ tình cảm với nhau trong những hoàn cảnh khác nhau sao cho
không xa rời nhân nghĩa.
Trong hệ thống quan điểm của Khổng Tử, chữ “Nhân” được ông đề cập với ý
nghĩa sâu rộng nhất. Chữ “Nhân” trong triết học Khổng Tử bao hàm nhiều mặt trong
đời sống con người và chỉ đức tính tốt của con người. Đạo làm người có hàng ngàn

hàng vạn điều nhưng chung quy chỉ là những điều tốt đối với mình và đối với người.
Theo quan niệm của Khổng Tử gốc của chữ “Nhân” là hiếu lễ, bao gồm các tiêu
chuẩn đạo đức khác: trung hiếu, thật thà, khiêm tốn,… Tự trách mình hơn trách
người, biết yêu thương người đáng yêu, ghét người đáng ghét hay nói cách khác đó
là đạo làm người. Tình thương được gọi là lòng nhân ái, nhân đạo dựa trên cơ sở
theo hai nguyên tắc: “Cái gì mình mong muốn thì cũng mong muốn cho người khác”
và “mình lập thân bằng cách giúp người lập thân” [11, tr.114]. Vì vậy, theo ông để
trở thành người nhân, người hoàn thiện thì từ vua đến thường dân ai ai cũng phải tu
thân làm gốc, ai ai cũng phải học để trở thành người tốt, học để tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ, đó chính là đường đi của người quân tử. Tiểu nhân cũng phải
học, song cái học của tiểu nhân để phục dịch và tuân lệnh kẻ cầm quyền, “dân không
có khả năng hiểu được nghĩa lý sâu xa” [20, tr.36].
Mạnh Tử (tên là Kha, tự là Tử Dư, 372 - 289TCN) phát triển tư tưởng “thiên
mệnh” của Khổng Tử và đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở nhân học của
Khổng Tử, đề ra thuyết “tính thiện”. Theo Mạnh Tử “bản tính con người là thiện” và
ông đưa ra ba căn cứ để lý giải: thứ nhất, con người ta ai cũng có lòng trắc ẩn (biết
xót thương), lòng tu ố (biết hổ thẹn), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi
(biết phải trái). Thứ hai, đã là loài người thì ai ai cũng đều có chung cái mầm thiện
vốn có và cũng đều các quan năng do Trời phú cho mỗi người để nhận biết, phân
biệt phải trái, tốt xấu như nhau vì tính là cái chung cái bản chất của mỗi loài. Thứ ba,
tính thiện của con người ta bắt nguồn từ “tâm” của mỗi con người. “Tâm” là cái chủ
Trang 7


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

thể trong tinh thần, là cái thần linh trời phú cho ta, là cơ quan để để suy nghĩ, để
phân biệt phải trái, thiện ác để ứng đối với vạn sự, nên còn gọi là “lương tâm”. Tâm

ta nhờ có “lương năng” và “lương tri” mà tự biết được nhân, nghĩa, lễ, trí. Tâm là cái
chủ đạo điều khiển mọi hành vi. Ông khẳng định, con người không cần phải tìm
chân lý ở ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét nội tâm của mình, biết được
cái tính của mình là biết được cái tính của trời. Vậy nên, để giữ gìn, không làm tổn
hại đến thiên tâm Trời phú cho con người phải tồn tâm, dưỡng tính.
Tuân Tử (tên Huống, tự là Khanh, 315 - 230TCN) – nhà triết học duy vật kiệt
xuất trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại, là người phát triển truyền thống trọng
lễ của Nho giáo, nhưng trái với Khổng Tử và Mạnh Tử, ông cho con người vốn
“tính ác”. Trong quan niệm triết học về con người, ông cho rằng con người là sản
phẩm cao nhất của tự nhiên: “nước, lửa” chỉ có “khí”, nhưng không có sinh mệnh;
“cây cỏ” có sinh mệnh nhưng không có tri giác; loài “cầm thú” có “tri giác” nhưng
không có khuôn phép đạo đức và tổ chức xã hội; loài người không những có “khí”,
mà còn có “sinh mệnh, có tri giác và có khuôn phép đạo đức, tức lễ nghĩa. Không
có lực lượng siêu nhiên thần bí chi phối đời sống tinh thần con người. Hình thể con
người có trước, sau đó mới sinh ra ý thức, tinh thần.
Tóm lại, con người trong triết học phương Đông mang màu sắc duy tâm, có
pha trộn tính duy vật chất phác trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, chưa lý
giải một cách khoa học về con người.
1.1.2. Quan điểm về con người trong triết học Phương Tây
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tư
duy triết học, khẳng định con người là tinh hoa tinh túy nhất của tạo hóa, con người
được nhìn nhận với tính chất cá thể. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng
nên một nền triết học hết sức phong phú và đa dạng.
Hêraclit (520 – 460 TCN) là nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, một
trong những nhà sáng lập ra phép biện chứng trên lập trường duy vật cho rằng: con
người được hòa đồng vào chính thể thống nhất là vũ trụ mà không có sự tha hóa của
con người ra khỏi chỉnh thể ấy. Lửa không những là nguồn gốc sản sinh ra mọi vật
mà còn là cái sản sinh ra linh hồn. Khi quan sát thế giới, Hêraclit đã có những quan
Trang 8



GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

điểm mang tính biện chứng, rằng mọi vật trong thế giới luôn luôn vận động, thay
đổi và phát triển không ngừng. Trong con người có hai mặt đối lập là lửa và cái ẩm
ướt, lửa sinh ra linh hồn. Nếu người nào đó có nhiều yếu tố lửa thì người ấy là
người tốt vì tâm hồn người ấy khô ráo, sạch sẽ. Còn người nào có nhiều yếu tố ẩm
ướt là người xấu. Tuy nhiên, khi nhìn nhận xã hội của con người, ông không khỏi
có những hạn chế do đứng trên lập trường của tầng lớp chủ nô – quý tộc để xem xét,
nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
Platôn (427 – 347 TCN) là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ
đại. Vấn đề con người là đề tài cơ bản xuyên suốt toàn bộ thế giới quan của Platôn.
Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết về “ý niệm”.
Ông đối lập giữa thể xác và linh hồn, coi thể xác chỉ là chỗ trú ngụ, nhà tù của linh
hồn. Con người chết đi, linh hồn bất tử được giải thoát khỏi thể xác và trở về với thế
giới ý niệm. Thể xác của con người được cấu thành từ bốn yếu tố: lửa, nước, không
khí và đất. Còn linh hồn là sản phẩm của linh hồn vũ trụ, là cái tồn tại vĩnh viễn.
Con người nhận thức chân lý bằng sự nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn về những
cái đã quên trong quá khứ. Mặc dù quan niệm của Platôn về con người mang tính
duy tâm, song ông vẫn có công lao lớn trong việc nghiên cứu các vấn đề ý thức xã
hội và vai trò của nó trong việc hình thành nhân cách và ý thức của con người.
Như vậy, vấn đề con người đã được xem xét, giải quyết theo quan niệm duy
tâm hay duy vật trong tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học thời kỳ
này đã xây dựng nên nền triết học hết sức phong phú, đa dạng, đánh dấu trong lịch
sử tư tưởng nhân loại một bước ngoặt nhân bản độc đáo. Vấn đề con người trong
triết học Hy Lạp cổ đại tuy chưa hoàn chỉnh nhưng chúng ta có thể xem nó là sự
khơi nguồn cho một tư duy mới về con người và là động lực, phương hướng cho
triết học, khoa học Phương Tây trong hơn hai thập niên qua.

Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ xem con người là sản phẩm của thượng đế
sáng tạo ra và mọi số phận, nỗi buồn, niềm tin của con người đều do thượng đế sắp
đặt. Trí tuệ của con người thấp hơn trí tuệ anh minh, sáng suốt của thượng đế. Con
người trở lên bất lực, yếu ớt trước cuộc sống nhưng lại an ủi phải bằng lòng với
cuộc sống tạm bợ trên trần thế vì đó chỉ là quãng đường hành hương đi tìm hạnh
Trang 9


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

phúc ở thế giới bên kia. Và điều đó đã dẫn đến hậu quả là con người bị thủ tiêu ý
chí đấu tranh, không thể vượt qua mọi gian khổ để giải thoát chính bản thân mình.
Triết học thời kỳ phục hưng – cận đại: Đây là thời kỳ ca ngợi con người, giải
phóng con người, tự do cá nhân, chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giải phóng người
lao động khỏi chế độ phong kiến, khỏi sự nô dịch của tôn giáo thời kỳ này đã áp đặt
con người. Các nhà duy vật trong thời kỳ này đã có những bước tiến mới trong
nghiên cứu con người và các nhà triết học đã cho rằng: con người là từ động vật mà
ra chứ không phải là do thần linh hay thượng đế tạo ra. Linh hồn là năng lực của
cảm giác và suy nghĩ của con người.
Triết học Cổ điển Đức: Quan niệm triết học cổ điển Đức nhìn chung đề cao
vai trò của con người, làm cho tư tưởng về con người trong triết học phương Tây có
một sự phát triển mới về chất và các nhà triết học nổi tiếng như Hêghen, Phơbách.
Hêghen (1770 – 1831) với cách nhìn của nhà duy tâm khách quan ông cho
rằng con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự ý thức
của con người đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao
nhất trong đời sống con người. Heghen cho rằng: tư duy và trí tuệ của con người chỉ
có thể hình thành và phát triển để đạt được đến “tuyệt đối” trong quá trình nhận
thức và cải tạo thế giới để biến tự nhiên từ cái đối lập với con người trở thành cái

của mình và đồng nhất với mình. Ông coi con người vừa là chủ thể nhưng đồng thời
lại là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử nhân loại.
Phơbách (1804 – 1872) là một đại biểu xuất sắc và cũng là nhà triết học duy
vật nổi tiếng của nền triết học cổ điển Đức. Quan điểm duy vật nhân bản là nét nổi
bật trong triết học của Phơbách vì ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, coi
vấn đề con người là trung tâm, cốt lõi, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống. Đối lập
với Hêghen – người coi toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là hiện thân của tinh thần
tuyệt đối được hiểu như một lực lượng siêu nhiên. Phơbách cho rằng con người
không phải là nô lệ của Thượng đế hay “tinh thần tuyệt đối” mà là sản phẩm của tự
nhiên, là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Con người theo ông là một sinh vật
có hình thể vật chất, ở trong không gian và thời gian, là “cái gương của vũ trụ” mà
thông qua đó giới tự nhiên ý thức và nhận thức chính bản thân mình. Con người –
Trang 10


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

đó không phải là một lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra hiện thực, mà là sản phẩm
cao quý nhất của tạo hóa, là những con người bằng xương bằng thịt. Và ông còn đặc
biệt đề cao năng lực trí tuệ của con người với tính cách là những cá thể người.
Những quan niệm của Phơbách về con người nhìn một cách tổng quát có thể
nói rằng: Phơbách đã đem lại cho nhân loại một cách nhìn mới mẻ về chính bản
thân mình. Các nhà triết học duy tâm Đức đều khẳng định vai trò và vị trí trung tâm
của con người, nhưng chưa có ai chứng minh được nguồn gốc đích thực của nó.
Trái lại Phơbách đã đưa ra những quan điểm về con người hoàn toàn mới mẻ: con
người cũng như xã hội loài người là một thực thể, một bộ phận của tự nhiên và là
kết quả của quá trình phát triển của tự nhiên đem lại. Tuy nhiên, ông cũng chưa thấy
được vai trò của các điều kiện kinh tế xã hội đã hàng ngày tác động đến con người

và sự phát triển của xã hội loài người như vốn có của nó. Triết học duy vật của
Phơbách là một trong những nguồn gốc lý luận vững chắc của chủ nghĩa Mác sau
này.
1.1.3. Quan điểm về con người trong Triết học Mác – Lênin:
Như trên chúng ta đã tìm hiểu trước khi học thuyết Mác ra đời có rất nhiều
quan điểm khác nhau về con người và sự ra đời, phát triển của triết học Mác đã làm
thay đổi một cách căn bản quan điểm nghiên cứu về con người và đây chính là nét
nổi bật trong triết học Mác – Lênin thể hiện tính nhân văn sâu sắc.
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.
Vấn đề bản tính sinh vật – xã hội của con người đã được đề cập đến trong một
số tư tưởng triết học trước Mác, tuy nhiên vẫn còn dè dặt chưa đầy đủ và các nhà
triết học vẫn không sao làm nổi bật lên bản chất con người một cách hoàn chỉnh và
khoa học. Và một câu hỏi đã được đặt ra: thể xác con người hay xã hội, cái nào trong
hai yếu tố ấy là quan trọng hơn? Đến khi triết học Mác – Lênin, trên cơ sở những căn
cứ khoa học mới làm sáng tỏ câu hỏi trên.
Triết học Mác xít khẳng định vấn đề con người chỉ được giải đáp một cách
đầy đủ và đúng nhất khi nó xuất phát từ quan niệm thống nhất biện chứng giữa hai
nhân tố, trong đó cái xã hội là cái quyết định chi phối cái sinh học, cơ sở sinh học là
Trang 11


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển của xã hội. Như chúng ta đã biết, mỗi ngành
khoa học khác nhau có những nghiên cứu về con người trên những phương diện đặc
thù của nó nhưng trong triết học thì cách giải thích khoa học và toàn diện nhất bản
chất về con người là: Bản chất con người mang từ tính xã hội nhưng trên cơ sở nền
tảng của cái sinh học. Mác đã đưa ra luận điểm: “Trong tính hiện thực của nó, bản

chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [18, tr.46]. Ở đây chúng ta phải
hiểu bản chất con người không phải là cái gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến,
mà bản chất con người là cái gì đó được hình thành nên hay bộc lộ ra trong cuộc
sống của nó. Trong cuộc sống, bằng hoạt động của bản thân, con người phải chịu tác
động của các quan hệ xã hội và nhờ đó con người hội nhập vào các quan hệ đó và
góp phần củng cố phát triển các quan hệ đó. Toàn bộ tồn tại khách quan xung quanh
con người tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội (quan hệ chính trị,
quan hệ sản xuất,…). Ngược lại, con người cũng có tác động trở lại vào tồn tại khách
quan (môi trường sinh sống, môi trường tự nhiên,…). Con người bao giờ cũng cùng
với những người khác (nhóm, cộng đồng, giai cấp,…) lao động, học tập, vui chơi,
đấu tranh xây dựng. Và chính trong quá trình lao động, học tập,…con người thiết lập
nên các mối quan hệ xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, vạch
ra bản chất của con người từ quan hệ xã hội nhưng không tuyệt đối hóa mặt xã hội
trong con người mà cho rằng con người là thực thể thống nhất của mặt sinh học và
mặt xã hội.
Mặt sinh học là toàn bộ quá trình sinh lý diễn ra trong con người như: hô hấp,
bài tiết, biến dị, di truyền, cùng với những quá trình sinh lý xảy ra cũng giống như ở
một số sinh vật có tổ chức cơ thể tiến hóa cao. Chẳng hạn, quy luật trao đổi chất giữa
cơ thể với môi trường, di truyền,..
Mặt xã hội là các phẩm chất xã hội của con người được hình thành và phát
triển từ các mối quan hệ xã hội trong hoạt động lao động, ngôn ngữ, giao tiếp,…Nói
rằng con người có tính xã hội đó là bởi bản thân hoạt động sản xuất của con người là

Trang 12


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan


hoạt động mang tính xã hội. Trong hoạt động sản xuất con người không thể tách khỏi
xã hội và chính tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con người khác con vật.
Do đó, mặt sinh học và mặt xã hội của con người thống nhất với nhau trong
sự vận động của bản chất con người. Mặt sinh học là tiền đề, là điều kiện của mặt xã
hội vì dĩ nhiên con người không thể xuất hiện nếu không có mặt sinh học. Nếu thiếu
mặt sinh học thì mặt xã hội không thể tồn tại và biểu hiện ra được. Song, mặt sinh
học trong con người bị biến đổi, chi phối bởi mặt xã hội nên mang tính xã hội. Mác
đã cho rằng: “Thông qua tính xã hội, tính tự nhiên được thay đổi về chất và thường
gắn liền với quá trình biển đổi của con người về mặt tự nhiên…” [20, tr.223]. Chúng
ta dễ thấy trong quan hệ với cái sinh học, cái xã hội đóng vai trò khép kín, một mặt
hạn chế cái sinh học, làm cái sinh học có tính xã hội, không còn là cái sinh học thuần
túy. Mặt khác, nó lại tạo ra khoảng trống rộng lớn làm cái sinh học phát triển hơn
nữa, thể hiện tốt nhất khả năng của mình trong quan hệ với cái xã hội.
Với quan điểm coi con người là một thực thể sinh học – xã hội, triết học Mác
- Lênin đã khắc phục được cả hai khuynh hướng sai lầm trong vấn đề con người:
hoặc là đề cao mặt tự nhiên (sinh học), không thấy vai trò quyết định của mặt xã hội
hoặc là giản đơn con người, tuyệt đối hóa việc giải thích bản chất con người chỉ hoàn
toàn bằng khả năng kinh tế, văn hóa,…mà không đếm xỉa đến các yếu tố sinh học,
không thấy được tiền đề tự nhiên – mặt sinh học của con người. Như thế, khoa học
về con người dựa trên sự nhận thức đúng đắn bản chất của nó đòi hỏi phải xem xét
con người trong sự thống nhất, liên hệ, tác động qua lại giữa mặt sinh học và mặt xã
hội, trong đó mặt xã hội chi phối và thể hiện ra bằng tư cách chủ thể của con người
trong xã hội và đó cũng là vấn đề có ý nghĩa to lớn trong công tác giáo dục với mục
đích vì con người, phục vụ con người. Bởi vì, “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử
nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” [20, tr.23].
Con người là sản phẩm là chủ thể của lịch sử.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố
hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà
hơn nữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử.

Trang 13


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

Thông qua hoạt động sản xuất vật chật con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch
sử của xã hội loài người.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con
người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới
hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn là chủ thể của lịch
sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con
người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục ... cái học thuyết ấy quên rằng
chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần
phải được giáo dục” [12, tr.472]. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên,
Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của
chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng
làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó
diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại,
con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con
người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [12,
tr.473].
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác
động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển
của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên.
Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú
thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con
người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản

thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con
người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội.
Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt
động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với
mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì
cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử
xã hội loài người. Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong
Trang 14


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Một trong những vấn đề có tính chất
cốt lõi của việc nghiên cứu con người trong triết học Mác - Lênin là việc xác định
vai trò tích cực của con người với tư cách là sản phẩm là chủ thể của lịch sử. Trong
triết học Mác cũng chỉ ra rằng: không chỉ hoàn cảnh tạo ra con người mà chính con
người cũng tạo ra hoàn cảnh sao cho phù hợp với nhu cầu, lợi ích, mục đích của
mình. Mác nói rằng: “Xã hội sản xuất ra con người với tính cách con người như thế
nào thì cũng sản xuất ra con người như thế”.
1.2. Tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về con người.
1.2.1. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người.
Hồ Chí Minh không nói lý luận nhiều về con người. Người không dùng
những thuật ngữ mà những người dân bình thường khó hiểu hoặc không hiểu nổi.
Có nhà nghiên cứu nước ngoài đã nhận xét, Hồ Chí Minh là người lý giải mọi vấn
đề lớn bằng một thứ ngôn ngữ rất bình dị, đã làm cho mọi vấn đề khó hiểu trở thành
dễ hiểu đối với mọi người dân Việt Nam. Người đã hóa thân vào quần chúng, nâng
trí tuệ của quần chúng lên ngang tầm nhiệm vụ cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác Lênin. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải
quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn,
được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư
tưởng của Người. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện. Con người
không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, theo Người phải: làm
cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần
đi. Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp
trong con người.
Ngay khi nước ta vừa giành được độc lập sau bao năm nô lệ, Người đã
khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình
đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những
quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Trang 15


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh con người được nhìn nhận vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Tư tưởng đó được
thể hiện rõ trong lý luận của Người về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Trong kháng chiến, Người nhấn mạnh là cần phải xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân, phát huy tính sáng tạo của quần chúng nhân dân để kháng
chiến và kiến quốc. Trong xây dựng xã hội chủ nghĩa bao giờ Người cũng coi trọng
những yếu tố khách quan vì những yếu tố này luôn gắn liền và tác động đến con
người. Người khẳng định: Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trước tiên
cần phải có con người xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người vừa hồng vừa
chuyên, có phẩm chất đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;

phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân và ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng
như: ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
Hồ Chí Minh luôn hướng về con người với tấm lòng yêu thương, trân trọng.
Người có niềm tin rất lớn vào con người. Người đã từng nói: “Hiền dữ phải đâu là
tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Lòng tin đó được hình thành ở Người từ
những ngày cắp sách đến trường và phát triển lên trong thời gian bôn ba tìm đường
cứu nước. Niềm tin đó càng được khẳng định khi Người bắt gặp chủ nghĩa Mác Lênin vì đó chính là con đường để giải phóng của chúng ta. Người đã thâm nhập
vào thế giới của những con người dưới đáy xã hội, tìm hiểu họ và cũng ở nơi đó,
Người càng hiểu sâu sắc bản chất thật sự của khẩu hiệu mị dân mà bọn thực dân
đang hô hào trên các nước thuộc địa: Tự do, bình đẳng, bác ái, càng tin vào con
người, tin vào quần chúng bao nhiêu thì tình thương yêu của Người đối với họ càng
to lớn bấy nhiêu. Càng yêu dân, Người càng chăm lo đến nâng cao dân trí, chống
giặc dốt, xóa nạn mù chữ, phát triển giáo dục vì Người từng khẳng định rằng: Một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Người ước mong dân tộc ta phải sánh vai với các
cường quốc năm châu, đất nước đẹp giàu, nhân dân no ấm. Tin ở dân, dựa vào dân,
tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy
mọi năng lực của dân, tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư
tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trang 16


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách là cá nhân, vừa là
thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá
nhân hài hoà, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người,
nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước.

Rộng nữa là cả loài người” [9, tr.17]. Tư tưởng đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao
giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách
xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm
đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích
cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu
như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính
tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Con người, với tư cách là những cá
nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng
dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người, Người yêu thương con
người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao
động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu
nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi". Người có một niềm
tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí
Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm..
Nếu như tư tưởng của Hồ Chí Minh: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân thì các nhà Nho
phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù
cũng chủ trương “khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở
chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện
mục đích "trị nước", "bình thiên hạ". Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí
Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một
quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của
quần chúng nhân dân.

Trang 17


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng


SVTH: Đoàn Thị Loan

Tư tưởng về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá
nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân
với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt
đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải
phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm
cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận
điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng
thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân.
Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một
sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp
cách mạng ấy.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động. Quan điểm về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư
tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối
lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình
Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục
được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung
tâm trong "chiến lược phát triển toàn diện"; đang là động lực của công cuộc xây
dựng xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người.
Kế thừa truyền thống của dân tộc xem con người là vốn quý, Đảng ta luôn
đặt con người ở vị trí hàng đầu. Từ khi có đường lối đổi mới, con người Việt Nam
được phát huy lên một tầm cao mới. Con người là trung tâm của mọi sự phát triển.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặt


Trang 18


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển chính là lấy con người làm tiền đề
và điều kiện cơ bản để đi vào công cuộc đổi mới của đất nước.
Sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay đang đặt ra những vấn đề mới mẻ về
con người Việt Nam: làm thế nào để phát huy hết tiềm năng của con người vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội để đưa đất nước tiến lên là một đất nước hiện đại,
văn minh; làm thế nào để từng bước đem lại hạnh phúc cho mỗi con người ngay từ
ngày hôm nay ?. Đó là vấn đề Đảng, Nhà nước, toàn dân phải quan tâm. Con người
là sản phẩm của xã hội nhưng chính hoạt động của con người đã sáng tạo nên xã
hội. Sự hình thành và phát triển con người gắn liền với sự hình thành và phát triển
xã hội trong mọi thời đại
Từ năm 1986 trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất
nước, cùng với việc đề ra những đường lối kinh tế, chính trị, xã hội để đưa sự
nghiệp đổi mới đến thắng lợi Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra nhằm “phát triển
con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục đích của cách mạng, của sự
nghiệp đổi mới đất nước”. Để thực hiện mục tiêu đó Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn
mạnh: Phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, nhằm phát triển con người toàn
diện, xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và
tiến bộ giữa con người với con người trong sản xuất và đời sống, để từ đó làm tăng
gấp bội sự phát triển về kinh tế - xã hội. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự
nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã rất chú ý đến vấn đề

con người trong đường lối chiến lược cách mạng của mình. Quan tâm đến con
người, phát huy sức mạnh của con người để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,
giải phóng con người là sự nghiệp cao cả của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi
trọng con người bởi vì con người là vốn quý nhất. Cuộc chiến đấu và chiến thắng
của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cũng như trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chung quy là thắng lợi của con người. Trong Hội
nghị lần thứ tư Khóa VII cho rằng: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh
phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta”.
Trang 19


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

Cùng với những quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đảng ta có
những nhận thức đúng đắn và ngày càng rõ hơn về nhân tố con người, thể hiện tập
trung nhất ở quan điểm coi con người là nguồn vốn quý giá nhất; nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của con người, phát triển toàn diện con người là mục tiêu cao
nhất; do vậy, sự phát triển con người nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ cao cả nhất của Đảng, Nhà nước và toàn bộ hệ
thống chính trị.
Kế thừa các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây
dựng con người mới trong thời kỳ cách mạng trước đây, Đại hội VI (1986) của
Đảng có những nhận thức về chiến lược xây dựng con người với chiến lược phát
triển đất nước trong thời kỳ mới, Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ: “Chính sách xã hội
bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người; điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo
dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, ... Cần thể hiện
đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính
sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức

là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước của Đại hội VII năm 1991, Đảng đã chỉ
ra: trong điều kiện hiện thời cần xây dựng con người theo tiêu chuẩn của một nhân
cách công dân “Đó là con người có ý thức, có sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn
hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”.
Đất nước ta đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xuất phát
từ quan điểm khoa học của học thuyết Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng nước ta
để đề ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên cơ sở
nâng cao ý thức tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân
tộc đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp
thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, Đảng ta đã đặt con người vào địa vị chủ thể của
sự nghiệp xây dựng chế độ mới và nền kinh tế mới, nền văn hóa mới. Vì vậy, đòi
hỏi con người phải có tính tự giác cao biểu hiện ở tinh thần sáng tạo, nhạy cảm nắm

Trang 20


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

bắt được những điều kiện thuận lợi mà thời đại đã tạo ra để đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng chậm phát triển và tiến kịp trào lưu hiện đại hóa trên thế giới.
Chăm lo xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta. Hội
nghị Trung ương lần thứ tư Khóa VII (1993) đã ra năm nghị quyết quan trọng: Nghị
quyết về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ trong những năm trước mắt; Nghị
quyết về sự nghiệp giáo dục – đào tạo; Nghị quyết về những vấn đề cấp bách của sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; Nghị quyết về chính sách dân số và

kế hoạch hóa gia đình; Nghị quyết về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Đây là
lần đầu tiên Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết tập trung vào chủ đề xây dựng
con người và phát huy vai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Trong sự quan tâm đến chiến lược xây dựng và phát triển con người nói
chung, Đảng ta đặc biệt chú trọng tới công tác thanh niên. Nghị quyết Trung ương
lần thứ tư Khóa VII nhấn mạnh: công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc,
là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Đúng như Bác
Hồ đã nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người”, vì vậy, vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược
phát huy nhân tố và nguồn lực con người.
Hội nghị Trung ương năm khóa VII của Đảng (1998) đã xác định nhiệm vụ
xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính
cụ thể sau: có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống
lành mạnh, nếp sống văn minh; lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp;
thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ
và thể lực.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai năm 1996 và Hội nghị lần thứ năm năm
1998 khoá VIII đều nhấn mạnh đến những phẩm chất cơ bản của con người mới mà
chúng ta cần xây dựng để phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Đó là những con người phát triển toàn diện cả về đức và tài, phát triển
về thể lực và trí tuệ đạo đức, thẩm mỹ, có kỹ năng lao động giỏi, có ý chí và bản
Trang 21


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều cần nhấn mạnh là chúng ta phải quan

tâm nhiều hơn nữa đến giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức, phẩm chất và nâng cao
tính công dân cho đội ngũ lao động mới tạo điều kiện để họ thực hiện đầy đủ quyền
lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân với chế độ xã hội chủ nghĩa, trước nhân
dân, dân tộc và thời đại. Cần kế thừa và phát huy những giá trị của dân tộc, đồng
thời phê phán những yếu tố lạc hậu, tiêu cực tạo môi trường thuận lợi để xây dựng
và phát triển con người.
Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 11/12/1998 đã ghi rõ: “Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện có đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ,
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Hội nghị Trung ương mười Khóa IX (2004), trong lĩnh vực giáo dục – đào
tạo, Đảng ta nhấn mạnh: “Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm,
nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp
sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai mỗi
người và tiền đồ của đất nước; bồi dưỡng ý thức và năng lực phát huy giá trị văn
hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.
Đối với Việt Nam, trong quá trình đổi mới hơn 20 năm qua theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Quan điểm xuyên suốt của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam
là: lấy con người làm trung tâm, phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh tế
gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển
và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và
giáo dục; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng
cao dân trí, tăng cường giáo dục và đào tạo con người, bảo vệ và cải thiện môi
trường.

Trang 22


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng


SVTH: Đoàn Thị Loan

Chương 2:
CON NGƯỜI VIỆT NAM VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG
2.1. Con người Việt Nam với những phẩm chất và truyền thống.
2.1.1. Phẩm chất con người Việt Nam.
Phẩm chất của con người Việt Nam được thể hiện rất nhiều trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước và được Hồ Chí Minh khái quát thành những phẩm chất
chung, cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới. Nói cách khác, đó là
những phẩm chất chung nhất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam.
Yêu thương con người. Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp
với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua
nhiều thế kỷ cùng với việc thể nghiệm của chính bản thân mình qua hoạt động cách
mạng thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định: Yêu thương con người là một trong
những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của con người Việt Nam.
Tình yêu thương con người là một tình cảm rộng lớn, trước hết là dành cho
người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột. Tình yêu thương đó thể
hiện ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh là: Làm cho đất nước được độc lập, nhân
dân được tự do, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Tình yêu thương
con người còn thể hiện trong mối quan hệ bạn bè, đồng chí và mọi người trong quan
hệ hàng ngày. Tình cảm này nó đòi hỏi mỗi người phải luôn chặt chẽ, nghiêm khắc
với mình, độ lượng với người khác, phải có thái độ tôn trọng con người.
Tình thương yêu con người trong Tư tưởng Hồ Chí Minh còn được thể hiện
đối với những người có sai lầm khuyết điểm nhưng đã nhận rõ khuyết điểm sai lầm
và cố gắng sửa chữa, kể cả những người lầm đường lạc lối đã hối cải, kể cả đối với
kẻ thù đã bị thương, bị bắt hoặc đã quy hàng.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là những phẩm chất đạo đức gắn
liền với hoạt động hàng ngày của con người. Đối với mỗi người phẩm chất này có
hay không có nhiều hay ít đều được thể hiện qua hoạt động thực tiễn, trong đời công

Trang 23


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

cũng như đời tư, trong sinh hoạt cũng như trong công việc người đó làm, cương vị
người đó đảm nhiệm.
Cần: Tức là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có
năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ
lại, không dựa dẫm. Và mọi người phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là
nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta.
Kiệm: Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với
Kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì
làm chừng nào xào chừng ấy. Ngày xưa Khổng Tử đã nói: Người sản xuất nhiều,
người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ. Tiết kiệm
không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng
không nên tiêu. Khi có một việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc
thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng … Việc đáng tiêu mà không
tiêu là bủn xỉn, dại dột, chứ không phải là kiệm. Và trong đó người lãnh đạo phải
hết sức tiết kiệm. Trong đó có tiết kiệm thời giờ, tiết kiệm là phải kiên quyết chống
xa xỉ.
Liêm: Là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng.
Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ
hủ hóa. Chỉ có 1 thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Đó là đạo đức cách
mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ
đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân
tộc, của loài người.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trời có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có

bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, thì con người mà nhất là người cán bộ lãnh đạo
có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một mùa không thể thành trời, thiếu một
phương không thể thành đất, thiếu một trong bốn đức trên không thể thành người
lãnh đạo. Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên thân
là bất Liêm. Như xã hội hiện nay đang xuất hiện không ít người như vậy.
Chính: Là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn,
đứng đắn tức là tà. Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính. Một người Cần, Kiệm,
Trang 24


GVHD: Th.s Nguyễn Đại Thắng

SVTH: Đoàn Thị Loan

Liêm, nhưng còn phải có Chính mới là hoàn toàn. Siêng năng (Cần), tần tiện
(Kiệm), trong sạch (Liêm), Chính (Thiện).
Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai
hạng: Người Thiện và người Ác.
Trong xã hội tuy có trăm công nghìn việc. Song những việc ấy có thể chia
làm 2 thứ: Việc Chính và việc Tà.
Làm việc Chính là người Thiện
Làm việc Tà là người Ác.
Chính cũng có nghĩa là gần với chân lý, là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho
nhân dân, cái gì trái lại là không phải chính, không phải là chân lý. Ra sức để phục
vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tức là phục tùng chính nghĩa, là chân lý.
Chí công vô tư: Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với
việc”. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì
mình nên đi sau”; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đối lập với “chí công
vô tư” là “dĩ công vô tư”’ đó là điều mà đạo đức mới đòi hỏi phải chống lại [13,
tr.351]. Chí công vô tư, về thực chất là nối tiếp Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Có khi Hồ
Chí Minh coi cần kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau. Cần mà
không kiệm thì chẳng khác nào “gió vào nhà trống”, “nước đổ vào chiếc thùng
không đáy”, “làm chừng nào xào chừng ấy”, rốt cuộc “không lại hoàn không” [13,
tr.352]. Còn kiệm mà không cần thì sản xuất được ít, không đủ dùng, không có tăng
thêm, không có phát triển. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược
lại đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện
được cần, kiệm, liêm, chính.
Vì vậy, bồi dưỡng phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư sẽ làm
cho con người vững vàng trước mọi thử thách: “Giàu sang không thể quyến rũ,
nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” [13, tr.352]. Nhưng
đây là vấn đề rất phức tạp, nói dễ làm khó, và trong cuộc sống vẫn thường hay vi
phạm. Bởi vì nó đụng chạm đến nhiều mặt lợi ích cá nhân, tập trung nhất là chức,

Trang 25


×