Tài liệu thi luật hàng hải 2018
1 nếu xảy ra đâm va giữa hai tàu thuyền trưởng phải làm gì?
a tiến hành giám định ngay những hư hỏng tổn thất
b. làm kháng nghị hàng hải
c. làm báo cáo về sự cố
d. thông báo ngay cho người môi giới
2. tìm ý sai những quy định khi làm thủ tục vào VN
A. thông báo tàu đến, chậm nhất 8h trc khi tàu đến vùng đón chạm hoa tiêu
b. các loại tàu thuyền việt nam có tổng dung tích từ 500gp trở lên đều phải dừng lại tại vùng đón trả hoa tiêu
c. xác báo tàu thuyền đến cảng biển chậm nhất 2h trước khi tàu thuyền đến vùng đón trả hoa tiêu
d. chậm nhất 2h kể từ khi nhận được thông báo tàu đã đến giám đốc cảng vụ hàng hải có trách nhiệm chỉ định vị trí
neo đâu tàu thuyền
3. tìm ý sai tiêu chuẩn thải rác ngoài vùng đặc biệt
a. cấm thải chất dẻo( gồm dây thừng lưới đánh cá và túi đựng rác bằng chất dẻo)
b. cách bờ 25 hải lý trở lên các vật liệu kê chèn và gói nổi được
c. cách bờ 15 hải lý trở lên thức ăn thải k được mài or nghiền
d. cách bờ 3 hải lý trở lên thức ăn thải được mài or nghiền
4. tìm ysai những quy định khi làm thủ tục vào cảng vn
a. các tàu thuyền nc ngoài có tổng dung tích từ 100ct trở lên đều phải dừng tại trạm đón trả hoa tiêu
b. chậm nhất 02h kể từ khi tàu đã đến giám đốc cảng vụ có trách nhiệm chịu trách nhiệmđậu bến cho tàu
c. thông báo tàu đến chậm nhất 8h trước khi tàu dự kiến đến đón trả hoa tiêu
d. xác báo tàu thuyền đến cảng biển chậm nhất 2h trước khi tàu dự kiến đón trả hoa tiêu
5. tìm ý sai trách nhiệm dân sự
A trong quá trình sửa chữa tàu của mình
B nếu không chứng minh được mình không có lỗi gây ra tổn thất hoặc thiệt hại đó
C trong quá trình thuê tàu
D chủ tàu có trách nhiệm bồi thường dân sự đối với các tổn thất hoặc thiệt hại gây ra cho người khác
6. tìm ý sai kiểm soát thải dầu từ khu vực buồng máy của các tàu: ngoài vùng đặc biệt tàu trở chỉ được thải dầu khi:
A tàu phải có hệ thống theo dõi và kiểm soát thải dầu pdn
b. hàm lượng dầu trong dòng thải k quá 15 ppm
c nước lẫn dầu đáy tàu phải ở buồng bơm hàng hoặc được chộn lẫn
d tàu dầu đang hành trình
7 tìm ý sai mức giới hạn trách nhiệm dân sự chủ tàu
A giới hạn trách nhiệm đối với người cứu hộ không hoạt động trên nguoi cuu ho k hoat dong tren tien nao dc tính
tuong duong vs 1 tau 1500gt
B các giới hạn trách nhiệm được áp dụng cho tổng giá trị, các khiếu lại phát sinh trong cùng 1 vùng riêng biệt
C mức giới hạn trách nhiệm dân sự được chuyển đổi thành tiền usd theo tỷ giá thanh toán
D dung tích toàn phần GT của tàu biển được xác định theo công ước quốc tế về đo dung tích tàu biển năm 1969
8 tìm ý sai các loại nhật kí trên tàu
A nhật kí boong ( hàng hải)
B nhật kí theo dõi chi tiết
C nhật kí vô tuyến điện
D nhật kí GMMDSS
9. tìm ý sai các loại giấy chứng nhận an toàn do đăng kiểm vn cấp theo lệnh quốc gia
A giấy chứng nhận phân cấp
B giay chung nhận an toàn thiết bị
C giấy chứng nhận đăng kí
D giấy chứng nhận ngăn ngừa ô nhiễm dầu
10 tìm ý sai khi làm thủ tục rời cảng việt nam những giấy tờ phải nộp cho các cơ quan có thẩm quyền
A bản khai chung
B danh sách khách lên thăm tàu
C danh sách thuyền viên
D bản khai dự trữ của tàu nộp cho hải quan cửa khẩu
11. tysai cac loai giấy chứng nhận an toàn do dkiem vn cấp theo công ước quốc tế
A giấy chung nhan an toàn thiết bị
B giấy chứng nhận an toàn kết cấu
C giấy chứng nhận đài tàu
D giấy chung nhận dung tích quốc tế 1969
12. tìm ý sai khi xảy ra va chạm với các đối tượng cố định thuyền trưởng phải
A nếu tàu bị đe dọa cầm dữ thì cần phải yêu cầu họ cam kết chịu trách nhiệm về hậu quả của việc dữ tàu
B ngay sau khi va chạm phải chuẩn bị các văn kiện pháp lý như kháng nghị hàng hải báo cáo ..vv
C xác định mức độ tổn thất ngay sau khi va chạm bằng cách giám định
D ủy quyền cho chính quyền hàng hải đại diện và bảo vệ quyền lợi
13. tìm ý sai kiểm soát tàu dầu từ khu vực két hàng , khu vực chở dầu: ngoài vùng đặc biệt và cách bờ trên 50 hải
lý , tàu chở dầu chỉ được thải dầu khi
A đang hành trình
B tốc độ thải dầu tức thời không quá 30 lit trên 1 hải lý
C tổng trọng lượng dầu được thải ra không vượt quá 1/15000( đối vs tàu dầu mới) or 1/30000 đối với tàu dầu hiện
có tổng lượng dầu hàng được trở trên tàu trước khi đến đó ( dầu căn)
D tàu phải có hệ thống theo dõi và kiểm soát dầu đối với các két lắng .
13 -1 TÌM Ý SAI vùng nội thủy
A bao gồm vùng đảo bao, hồ vịnh cửa sông cảng biển vùng vịnh tàu thuyền
B các quốc gia vùng đảo không được vạch những đường khép kín để vạch định gianh giới của mình
C là các vùng nước nằm bên trong đường cơ sở
D bao gồm các vùng nước đáy biển , lòng đất dưới đáy biển và trên biển các vùng vịnh và các hòn đảo lịch sử
14. tìm ý sai nhiệm vụ của môi giới hàng hải
A môi giới trong việc bảo hiểm hàng hải lai dắt thuê mướn thuyền viên xếp dỡ hàng hóa
B môi giới và làm dịch vụ đối với hàng quá cảnh việt nam bằng tàu biển
C môi giới trong việc mua bán tàu nhận ủy thác giao nhận tàu
D môi giới cho chủ hàng chủ tàu trong việc liên quan tranh chấp hàng hải
15. tìm ý sai khi đưa tàu vào khai thác thuyền trưởng có trách nhiệm
A nắm vững tình hình diễn biến thời tiết trong khu vực tàu đi qua, Lập kế hoạch chuyến đi
B kiểm tra việc xếp dỡ hàng hóa theo sơ đồ hàng hóa
C thay đổi thuyền viên mà không thông qua sự chấp thuận của chủ tàu
D ít nhất 2h trc khi tàu dời cảng phải biết được toàn bộ công việc chuẩn bị của tàu .
Cuốn luật biển, bộ luật hàng hải 2015 thong tutruc danh thuyen vien ttu đón trả hao tiêu, thông ra vào cảng.
16. tàu A là tàu thuyền máy đang hành trình trên hướng 180® trong điều kiện tầm nhìn xa tốt quan sát thấy tàu B ở
phương vị 300® khoảng cách 3 Nm, tàu B chạy cùng hướng tàu A:
A. Tàu B không được gây trở ngại cho tàu A
B. tàu A không được gây trở ngại cho tàu B
C. tàu A phải giảm tốc độ để nhường đường cho tàu B
D. tàu A giữ nguyên hướng đi và tốc độ.
17. trường hợp hai tàu đi đối hướng ( trong tầm nhìn thấy nhau):
A. cà hai tàu giữ nguyên hướng và tốc độ tiếp tục hành trình.
B. nếu tồn tại nguy cơ va chạm cả hai tàu đổi hướng sang trái để tránh nhau mạn phải.
C. nếu tồn tại nguy cơ va chạm cả hai tàu đổi hướng sang phải để tránh nhau mạn trái.
D. cả hai tàu đổi hướng sang phải 1 góc ít nhất là 30®.
18. hai tàu đi cắt hướng nhau trong tầm nhìn xa tốt.
a. tàu nào nhìn thấy tàu kia bên mạn trái của mình thì phải nhường đường.
b. tàu nào nhìn thấy tàu kìa bên mạn phải của mình thì phải nhường đường.
c nếu có nguy cơ va chạm, cả hai tàu đồng thời đổi hướng qua bên phải.
d. tàu nào nhìn thấy tàu kia bên mạn trái của mình thì phải giữ nguyên hướng và tốc độ.
19.
Tàu thuyền được nhường đường là( trong tầm nhìn thấy nhau)
A.
B.
C.
D.
E.
Tàu thuyền đi đối hướng với tàu chủ
Tàu thuyền chạy vượt tàu thuyền khác
Tàu thuyền bị vượt.
Tàu thuyền chạy cắt hướng bên mạn phải một tàu thuyền khác.
Cả hai đáp an c và d
20.tàu a là tàu thuyền máy đang hành trình trên hướng 000® trong điều kiện tầm nhìn xa tốt quan sát thấy tàu b ở
phương vị 005® khoảng cách 7Nm, tàu b chạy 180®.
A. tàu a phải nhường đường cho tàu b
b. tàu b phải nhường đường cho tàu a.
c, hai tàu cùng đổi hướng sang trái để tránh nguy cơ va chạm.
d, hai tàu cùng đổi hướng sang phải để tránh nguy cơ va chạm.
21. tàu a là tàu thuyền máy đang hành trình trên hướng 000* trong điều kiện tầm nhìn xa tốt, quan sát thấy tàu b ở
phương vị 055* khoảng cách 7NM, tàu b chạy 270*.
A tàu b phải ngường đường cho tàu a
B tàu a phải nhường đường cho tàu b.
C hai tàu cùng đổi hướng sang phải để tránh nguy cơ va chạm.
d hai tàu cùng đổi hướng sang trái để tránh nguy cơ va chạm.
22. tàu thuyền phải nhường đường là ( trong tầm nhìn thấy nhau).
A tàu thuyền đi đối hướng với tàu chủ.
B tàu thuyền chạy vượt tàu thuyền khác.
C tàu thuyền bị vượt.
D tàu thuyền quan sát thấy tàu mục tiêu chạy cắt hướng bên mạn phải tàu mình.
23. hành động tránh tàu phải nhưởng đường.
A tàu đổi hướng san phải để tránh nguy cơ va chạm.
B tàu giảm tốc độ thậm chí stop máy để tránh nguy cơ va chạm.
C điều động tàu hợp lý nhường đường cho tàu có quyền phần đường.
D giữ nguyên hướng và tốc độ hành trình.
24. hành động tránh của tàu được nhường đường
A giữ nguyên hướng và tốc độ hành trình, tang cường cảnh giới.
B nếu xét thấy tàu phải nhường đường không có hành động gì thì có thể tự mình hành động tránh nguy cơ va chạm
trước mắt. hành động tránh càng xa tàu mục tiêu càng tốt.
C nếu xét thấy hành động đơn thuần của tàu phải nhường đường không đủ an toàn để tránh nguy cơ va chạm thì
cyng4 phải có biện páp tốt nhất tránh sự đâm va.
25. tàu thuyền máy đang hành trình phải nhường đường cho :
A tàu thuyền mất khả năng điều động, tàu thuyền bị mớn nước khống chế.
B tàu thuyền hạn chế khả năng điều động, tàu thuyền đánh cả, tàu thuyền buồm.
C tàu thuyền chạy bằng cả buồm và máy.
26. tàu thuyền buồm phải nhường đường:
A tàu thuyền chạy bằng cả buồm và máy.
B tàu thuyền mất khả năng điều động, tàu thuyền bị hạn chế khả năng điều động.
C tàu thuyền lai kéo và tàu thuyền máy đang hành trình.
D tàu thuyền đánh cá, tàu thuyền bị khống chế bởi mới nước.
Thủ tục Tàu thuyền Việt Nam hoạt động tuyến nội địa vào cảng biển (B-BGT006138-TT)
1. Trình tự thực hiện:
a) Nộp hồ sơ TTHC:
- Chậm nhất 08 giờ trước khi tàu dự kiến đến cảng biển người làm thủ tục phải gửiThông báo tàu đến theo
mẫu cho Cảng vụ hàng hải nơi tàu đến. Việc thông báo tàuthuyền đến cảng biển được miễn thực hiện đối với cá
c tàu thuyền sau đây:
+ Phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, tàu cá và tàu quân sự của Việt Nam;
+ Tàu thuyền khác đến cảng biển trong các trường hợp sau đây:
* Cấp cứu thuyền viên, hành khách trên tàu;
* Tránh bão;
* Chuyển giao người, tài sản, tàu thuyền đã cứu được trên biển;
* Khắc phục hậu quả sự cố, tai nạn hàng hải;
* Các trường hợp cấp thiết khác.
- Chậm nhất 02 giờ trước khi tàu dự kiến đến vùng đón trả hoa tiêu,
người
làm
thủ
tục phải xác báo cho Cảng vụ hàng hải biết chính xác thời gian tàu đến. Trường hợp có người
ốm, người chết, người cứu vớt được trên biển hoặc có người trốn trên tàu, trong lần xác báo cuối
cùng phải thông báo rõ tên, tuổi, quốc tịch, tình trạng bệnh tật, lý do tử vong và các yêu cầu liên
quan
khác. Việc xác báo tàu thuyền đến cảng biển không ápdụng đối với các tàu thuyền được
miễn thực hiện việc Thông báo tàu đến.
Chậm nhất là
02 giờ, kể từ khi tàu đã vào neo đậu tại cầu cảng hoặc 04 giờ kể từ khitàu đã vào neo đậu tại các
vị trí khác trong vùng nước cảng, người làm thủ tục nộp hồsơ để làm thủ tục
cho tàu thuyền Việt Nam hoạt động tuyến nội địa vào cảng biển tại
Trụsở chính hoặc Văn phòng đại diện Cảng vụ hàng hải,
b) Giải quyết TTHC:
- Cảng vụ hàng hải tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ; nếu hồ sơ không đầy đủ thì trả lại hồ sơ và hướng dẫ
n tổ chức, cá nhân hoàn thiện lại hồ sơ;
- Chậm
nhất
01 giờ,
từ khi người làm thủ tục nộp và xuất trình đủ giấy tờ theo quyđịnh, Cảng vụ hàng hải làm
tục cho tàu vào cảng biển; Trường hợp không chấpthuận phải trả lời bằng
bản và nêu rõ lý do;
kể
thủ
văn
2. Cách thức thực hiện:
- Gửi Thông báo tàu đến, xác báo tàu đến, hồ sơ, giấy tờ của tàu thuyền bằng Fax, khai báo điện
tử, nộp trực tiếp hoặc thông qua hệ thống bưu chính.
3. Thành phần, số lượng hồ sơ:
a) Thành phần Hồ sơ:
- Đối với tàu biển:
+ Các giấy tờ phải nộp bao gồm (bản chính):
* 01 Bản khai chung theo mẫu;
* 01 Danh sách thuyền viên theo mẫu;
* 01 Danh sách hành khách (nếu có) theo mẫu;
* Giấy phép rời cảng.
+ Các giấy tờ phải xuất trình bao gồm (bản chính):
* Giấy chứng nhận đăng ký tàu thuyền;
* Các giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật của tàu theo quy định;
* Sổ thuyền viên;
* Chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên theo quy định.
- Đối với các loại tàu thuyền khác, giấy tờ phải nộp và xuất trình thực hiện theo quy định pháp
luật có liên quan.
b) Số lượng hồ sơ: 01 (bộ).
4. Thời hạn giải quyết:
- Chậm nhất 01 giờ, kể từ khi người làm thủ tục đã nộp, xuất trình đủ các giấy tờ theo quy định.
5. Đối tượng thực hiện TTHC: Tổ chức, cá nhân.
6. Cơ quan thực hiện TTHC:
a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Cảng vụ hàng hải hoặc Văn phòng đại diện Cảng vụ hàng
hải;
b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được ủy quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không
có;
c) Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Cảng vụ hàng hải, Văn phòng đại diện Cảng
vụ hàng hải;
d) Cơ quan phối hợp (nếu có): Không có.
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI
MỤC A. THỦ TỤC XIN ĐẾN CẢNG ĐỐI VỚI TẦU THUYỀN NƯỚC NGOÀI
Điều 11. Tầu thuyền nước ngoài khi vào hoạt động tại các cảng biển Việt Nam, quá cảnh Việt
Nam để đến nước thứ ba hoặc hoạt động tại các khu vực hàng hải của Việt Nam đều phải xin cấp
phép theo trình tự sau đây:
a) Tầu thuyền nước ngoài dùng vào mục đích vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách phải xin
phép Cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam ít nhất ba ngày trước khi dự kiến đến vị trí đón trả hoa
tiêu và sau khi đã được cấp phép phải thông báo cho Giám đốc Cảng vụ có liên quan, chậm nhất
12 giờ trước khi tầu dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu.
b) Tầu thuyền nước ngoài không dùng vào mục đích vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách phải
xin phép Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ít nhất 7 ngày trước
khi dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu; sau khi đã được cấp phép phải thông báo cho Cục trưởng
Cục Hàng hải Việt Nam chậm nhất 48 giờ trước khi tầu dự kiến đón trả hoa tiêu.
c) Riêng đối với loại tầu thuyền nước ngoài nói tại điểm a của điều này mà có trọng tải toàn phần
dưới 150 DWT thì được miễn thủ tục xin cấp phép và chỉ có trách nhiệm thông báo cho Giám
đốc Cảng vụ có liên quan chậm nhất 6 giờ trước khi tầu dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu.
d) Trong tờ khai xin phép cho tầu phải ghi rõ: tên tầu, hô hiệu; nơi đăng ký; quốc tịch; tên chủ
tầu; loại tầu; tổng dung tích toàn phần; mớn nước; chiều dài đường nước thiết kế; mục đích xin
vào Việt Nam; dự kiến thời gian và địa điểm xin nhập cảnh.
Điều 12. Tầu thuyền nước ngoài cũng có thể được miễn thủ tục xin cấp phép đến cảng trong
những trường hợp đặc biệt sau đây:
a) Tầu thuyền nước ngoài đã được cấp phép vào hoạt động tại Việt Nam quá cảnh Việt Nam đến
nước thứ ba và lại quay trở lại trong vòng 12 tháng sau khi rời khỏi Việt Nam, thì không phải
làm thủ tục xin cấp phép như quy định tại Điều 10, mà chỉ cần thông báo cho giám đốc Cảng vụ,
chậm nhất 12 giờ trước khi đến vị trí đón trả hoa tiêu.
b) Hiệp định hàng hải được ký kết giữa Việt Nam với nước mà tầu mang cờ quốc tịch quy định
miễn thủ tục xin cấp phép đến cảng.
c) Thuyền trưởng bắt buộc phải đưa tầu thuyền vào neo đậu tạm thời tại vùng nước cảng và các
vùng nước khác vì những lý do khẩn cấp vượt quá khả năng tự khắc phục của tầu thuyền đó như:
- Xin cấp cứu cho thuyền viên, hành khách trên tầu.
- Tránh bão.
- Khắc phục hậu quả sự cố, tai nạn hàng hải.
Trong những trường hợp nói trên, thuyền trưởng phải nhanh chóng tìm mọi cách liên lạc với
Cảng vụ hoặc các nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam nơi gần nhất. Đồng thời, có nghĩa
vụ chứng minh rằng hành động của mình là thật sự cần thiết và hợp lý. Mọi hành vi lạm dụng
quy định nói trên sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Điều 13. Việc cấp phép cho tầu có thể do chủ tầu, Đại diện chủ tầu hoặc Đại lý của chủ tầu trực
tiếp thực hiện.
Điều 14. Tầu thuyền quân sự nước ngoài và các loại tầu thuyền nước ngoài khác đến Việt Nam
theo lời mời chính thức của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm thủ tục xin vào
Việt Nam theo quy định riêng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này, nhưng vẫn phải
thực hiện các quy định vào cảng và rời cảng nói theo Quy chế này.
MỤC B. THỦ TỤC VÀO CẢNG VÀ RỜI CẢNG
Điều 15.
1. Tất cả các loại tầu thuyền, không phân biệt lớn nhỏ, quốc tịch và mục đích sử dụng chỉ được
phép hoạt động tại vùng nước cảng biển hoặc khu vực hàng hải ở Việt Nam, nếu có đủ điều kiện
an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các điều kiện khác do luật định.
2. Tất cả các loại tầu thuyền chỉ được tiến hành các hoạt động bốc dỡ hàng hoá hoặc nhận, trả
hành khách tại những cảng biển đã được Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chính thức công bố
là thương cảng.
Điều 16. Các tầu thuyền nước ngoài và các tầu thuyền Việt Nam có tổng dung tích toàn phần từ
200 GRT trở lên đều phải dừng lại tại vị trí đón trả hoa tiêu chờ lệnh của Giám đốc cảng vụ cho
phép đi vào vùng nước cảng. Chỉ sau khi Giám đốc Cảng vụ cho phép thì các tầu thuyền này mới
được vào neo đậu tại vị trí do Cảng vụ chỉ định trong vùng nước cảng hoặc đi qua thuỷ diện
cảng.
Giám đốc Cảng vụ có thể căn cứ vào tình hình thực tế để miễn, giảm điều kiện nói trên cho một
số loại tầu thuyền có tổng dung tích toàn phần dưới 200 GRT, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến
khả năng an toàn hàng hải ở khu vực đó.
Điều 17.
1. Thuyền trưởng các tầu có tổng dung tích toàn phần từ 200 GRT trở lên có nghĩa vụ thông báo
cho Cảng vụ biết về việc tầu thuyền của mình sẽ đến cảng theo trình tự sau đây:
a) Chậm nhất 6 giờ trước khi dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu phải thông báo cho Cảng vụ biết
về:
- Tên tầu, nơi đăng ký, quốc tịch, hô hiệu và loại tầu.
- Số lượng thuyền viên, hành khách trên tầu của họ.
- Tên cảng ghé cuối cùng.
- Chiều dài toàn phần, mớn nước mũi và lái.
- Loại và số lượng cần cẩu của tầu .
- Số lượng, khối lượng và tính chất hàng hoá.
- Các chỉ dẫn và thông tin khác về hàng hoá nguy hiểm, hàng siêu trường hoặc siêu trọng có ở
trên tầu.
- Tên người bảo hiểm và nơi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu, nếu
là tầu chở dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ và các loại hàng nguy hiểm khác.
b) 4 giờ trước khi tầu dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu phải thông báo về tình hình sức khoẻ của
những người trên tầu và xác báo cho Cảng vụ biết về thời gian chính xác sẽ đến vị trí đón trả hoa
tiêu.
Trong trường hợp có người ốm, người chết ở trên tầu, thì trong lần xác báo cuối cùng này cũng
phải thông báo rõ tên, tuổi, quốc tịch, tình trạng bệnh tật, lý do tử vong và các yêu cầu có liên
quan khác.
2. Các quy định tại khoản 1, Điều 17 có thể được miễn, giảm đối với một số loại tầu thuyền có
tổng dung tích toàn phần dưới 200 RGT và các xà lan không tự hành, thuyền chèo tay hoặc các
phương tiện thuỷ tương tự khác, nếu Giám đốc Cảng vụ xét thấy cần thiết.
3. Thuyền trưởng các tầu biển chạy bằng năng lượng nguyên tử không hạn chế tổng dung tích
toàn phần (GRT) đều phải thông báo rõ cho Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam biết về việc Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam đã cấp phép cho tầu đến hoạt động tại Việt Nam, Chậm nhất 48 giờ
trước khi tầu bắt đầu đi vào lãnh hải của Việt Nam.
Điều 18.
1. Cảng vụ có trách nhiệm chỉ định vị trí neo đậu cho tầu trong vùng nước cảng, chậm nhất là 2
giờ, kể từ khi nhận được thông báo là tầu đã đến vị trí đón trả hoa tiêu.
2. Cảng vụ căn cứ vào loại tầu, cỡ tầu, loại hàng hoá và đề nghị của Giám đốc Cảng biển để chỉ
định cho tầu vị trí neo đậu, cập tầu, cập mạn, làm hàng... Chỉ có Giám đốc Cảng vụ mới có
quyền thay đổi vị trí đã được chỉ định cho tầu.
Điều 19. Tuỳ theo tình hình cụ thể các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm làm thủ tục cho tầu vào
cảng sẽ quyết định và thông báo cho tầu về nơi, thời điểm làm thủ tục, nhưng không được muộn
quá 2 giờ, kể từ khi Cảng vụ thông báo là tầu đã đến vị trí đón trả hoa tiêu.
Điều 20. Khi làm thủ tục vào Cảng, thuyền trưởng phải chuẩn bị sẵn sàng các loại giấy tờ sau
đây:
a) Các loại giấy tờ phải xuất trình:
- Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển hoặc Chứng thư quốc tịch của tầu.
- Giấy chứng nhận mạn khô quốc tế; giấy chứng nhận khác về khả năng an toàn đi biển và phòng
ngừa ô nhiễm môi trường của tầu, do cơ quan đăng kiểm tầu biển có thẩm quyền cấp.
- Giấy phép sử dụng đài tầu.
- Giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế của thuyền viên và hành khách.
- Giấy chứng nhận diệt chuột hoặc miễn diệt chuột.
- Lược khai hàng quá cảnh hoặc tạm nhập để tái xuất; các giấy chứng nhận miễn dịch có liên
quan đến loại hàng đó.
- Hộ chiếu thuyền viên hoặc sổ thuyền viên và hộ chiếu của hành khách.
- Bằng hoặc các giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền trưởng, máy trưởng, đài
trưởng, lái trưởng ca nô cứu sinh và của các sĩ quan trưởng ca.
- Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu, nếu là tầu vận chuyển dầu mỏ, chế
phẩm dầu mỏ hoặc các hàng hoá nguy hiểm khác.
- Giấy phép của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép tầu chạy bằng năng lượng nguyên tử
vào hoạt động tại Việt nam.
- Giấy phép hoạt động nghề cá, nếu là tầu đánh bắt hải sản đã được Bộ Thuỷ sản Việt Nam cho
phép đánh bắt hải sản trên các vùng biển Việt Nam.
- Tờ khai ngoại hối hoặc Sổ hành lý của thuyền viên, nếu là tầu nước ngoài hoặc tầu biển Việt
Nam đi từ nước ngoài về.
b) Các giấy tờ phải nộp:
- Giấy phép rời cảng cuối cùng 1 bản
- Các giấy chứng nhận miễn dịch 1 bản
- Giấy chứng nhận miễn khử trùng hàng hoá 1 bản
- Tờ khai tầu đến 2 bản (theo mẫu)
- Tờ khai sức khoẻ 2 bản (theo mẫu)
- Lược khai hành lý cá nhân 1 bản (theo mẫu)
- Sơ đồ hàng hoá và lược khai hàng hoá 5 bản ( theo mẫu)
- Lược khai hàng hoá nguy hiểm 5 bản ( theo mẫu)
- Tờ khai về các loại trang thiết bị và dụng cụ sử dụng trong thời gian tầu lưu tại cảng 5 bản (theo
mẫu)
- Tờ khai về các kho dự trữ của tầu 5 bản (theo mẫu)
- Tờ khai kiểm dịch động vật hoặc thực vật 1 bản (theo mẫu)
- Danh sách thuyền viên 5 bản (theo mẫu)
- Danh sách hành khách hoặc những người khác đi trên tầu 5 bản (theo mẫu)
- Tờ khai lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm dự trữ của tầu 1 bản (theo mẫu)
- Đơn xin phép đi bờ của thuyền viên và hành khách 1 bản (theo mẫu)
Điều 21.
1. Khi làm thủ tục rời cảng, thuyền trưởng phải chuẩn bị sẵn sàng các loại giấy tờ sau đây:
a) Các giấy tờ phải xuất trình:
- Các chứng từ thanh toán hoặc các chứng từ khác đủ để chứng minh việc tầu đã thanh toán mọi
khoản nợ có liên quan và thực sự có đủ điều kiện an toàn đi biển cần thiết.
- Hộ chiếu thuyền viên hoặc sổ thuyền viên và hộ chiếu của hành khách.
- Các chứng chỉ chuyên môn của thuyền trưởng, máy trưởng, đài trưởng, lái trưởng ca nô cứu
sinh và của các sĩ quan trưởng ca.
b) Các giấy tờ phải nộp :
- Các loại giấy phép do Cảng vụ hoặc các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước tại
cảng đã cấp cho tầu, thuyền viên, hành khách của tầu trong thời gian tầu lưu tại cảng (để thu
hồi).
- Tờ khai tầu đi 2 bản (theo mẫu)
- Lược khai hàng hoá trên tầu 3 bản (Theo mẫu)
- Lược khai hành lý cá nhân 1 bản (theo mẫu)
- Tờ khai sức khoẻ 1 bản (theo mẫu)
- Danh sách thuyền viên, hành khách 5 bản (theo mẫu)
Chậm nhất 6 giờ trước khi tầu rời cảng, thuyền trưởng phải nộp cho Cảng vụ "tờ khai tầu đI".
Điều 22.
1. Tầu chỉ được phép rời cảng sau khi đã hoàn tất các thủ tục cần thiết và đã có lệnh cho rời cảng
của Giám đốc Cảng vụ.
2. Giám đốc Cảng vụ chỉ được phép cho tầu rời cảng nếu tầu đã có đủ các điều kiện an toàn đi
biển và hoàn thành mọi thủ tục do pháp luật Việt Nam quy định.
3. Giám đốc Cảng vụ chỉ được phép không cho tầu rời cảng trong những trường hợp sau đây:
- Tầu thực sự không đủ các điều kiện an toàn đi biển cần thiết liên quan đến vỏ tầu, trang thiết bị
của tầu, định biên, khả năng chuyên môn thuyền bộ, lương thực - thực phẩm và nhiên liệu dự trữ
của tầu.
- Trọng tải thực tế cao hơn giới hạn mạm khô cho phép; tầu nghiêng hơn 08 độ trong trạng thái
nổi tự do; vỏ tầu thực sự không kín nước.
- Tầu chở hàng rời, ngũ cốc hoặc hàng siêu trường, siêu trọng, hàng nguy hiểm, hàng xếp trân
bong mà chưa có đủ biện pháp phòng hộ thích đáng, phù hợp với nguyên tắc vận chuyển những
loại hàng đó.
- Phát hiện các nguy cơ đe doạ sự an toàn của tầu, người và hàng hoá ở trên tầu.
- Tầu chưa thanh toán các khoản cảng phí, tiền phạt và các khoản tiền khác.
- Đã có lệnh bắt giữ hàng hải tầu hoặc hàng hoá ở trên tầu theo quyết định của Toà án có thẩm
quyền hoặc lệnh bắt giữ tầu của cơ quan có thẩm quyền khác.
- Tầu thực sự chưa được sửa chữa, bổ sung các điều kiện an toàn hàng hải theo yêu cầu của Cảng
vụ, Thanh tra an toàn hàng hải hoặc của cơ quan đăng kiểm tầu biển.
Điều 23.
1. Thuyền trưởng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cần thiết để các nhân viên Công vụ Việt Nam
thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả các thủ tục cho tầu vào hoặc rời cảng.
2. Mọi mệnh lệnh của Giám đốc Cảng vụ về hoạt động của tầu khi ra vào, di chuyển vị trí trong
cảng đều phải được thực hiện chính xác và đầy đủ.
Nếu sau khi nhận được mệnh lệnh của Giám đốc Cảng vụ mà xét thấy không đủ điều kiện để
thực hiện ngay, thì thuyền trưởng có trách nhiệm báo cáo cho Cảng vụ biết và thực hiện mệnh
lệnh mới của Giám đốc Cảng vụ.
3. Trong trường hợp đã được phép rời cảng, mà tầu vẫn còn lưu lại cảng quá 24 giờ, thì dù với
bất cứ lý do gì tầu vẫn phải làm thủ tục rời cảng.
4. Thuyền trưởng hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về việc tầu vào hoặc rời cảng chậm trễ do lỗi
của chính mình hay do lỗi của những người dưới quyền gây ra.
Điều 24. Trong trường hợp tầu chỉ tạm thời lưu lại cảng trong khoảng thời gian không quá 6 giờ
thuyền trưởng phải thông báo cho Giám đốc Cảng vụ biết. Giám đốc Cảng vụ phải phối hợp với
các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước hữu quan bố trí cho tầu làm thủ tục vào và
rời cảng cùng một lúc.
Điều 25. Nghiêm cấm những người ở trên tầu giao dịch với bất cứ ai ngoài hoa tiêu và các nhân
viên công vụ đang làm thủ tục ở trên tầu trước khi tầu làm xong thủ tục vào cảng hoặc sau khi đã
làm xong thủ tục rời cảng.
MỤC C. CHẾ ĐỘ HOA TIÊU
Điều 26.
1. Tất cả các loại tầu thuyền nước ngoài không phân biệt lớn nhỏ và tầu biển Việt Nam có dung
tích toàn phần từ 1000 RGT trở lên bắt buộc phải có hoa tiêu Việt Nam dẫn đường khi vào, rời
cảng, di chuyển trong vùng nước cảng hoặc các vùng hoa tiêu bắt buộc khác ở Việt Nam, và phải
trả hoa tiêu phí theo biểu giá hiện hành.
2. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, Giám đốc Cảng vụ có thể quyết định miễn hoa tiêu cho những
thuyền trưởng Việt Nam nào đã có bằng hoa tiêu hàng hải Việt Nam phù hợp với cấp tầu và vùng
hoa tiêu mà tầu đang hoạt động, nếu bản thân thuyền trưởng cam kết tự dẫn tầu an toàn.
3. Thuyền trưởng tầu biển Việt Nam có dung tích toàn phần dưới 1000 GRT cũng có thể yêu cầu
hoa tiêu dẫn đường, nếu xét thấy cần thiết.
Điều 27.
1. Yêu cầu xin hoa tiêu phải được thông báo cho Cảng vụ và Công ty Hoa tiêu chậm nhất là 8
giờ trước khi dự kiến đón hoa tiêu lên tầu.
2. Nếu sau khi hoa tiêu mà muốn thay đổi giờ đón hoa tiêu hoặc huỷ bỏ việc xin hoa tiêu, thì
phải thông báo cho Cảng vụ và Công ty Hoa tiêu ít nhất 6 giờ trước khi dự kiến đón hoa tiêu lên
tầu.
Hoa tiêu chỉ có trách nhiệm chờ đợi tại địa điểm đã được thoả thuận muộn nhất là 5 giờ, kể từ
khi dự kiến đón hoa tiêu lên tầu, nếu quá thời hạn này thì việc xin hoa tiêu được coi như là đã bị
huỷ bỏ và chủ tầu phải trả tiền chờ đợi của hoa tiêu theo biểu phí hiện hành.
3. Chậm nhất là 1 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu xin hoa tiêu, Công ty Hoa tiêu có liên quan
phải xác báo lại cho thuyền trưởng tầu xin hoa tiêu hoặc đại lý của Chủ tầu về địa điểm, thời gian
dự kiến hoa tiêu sẽ lên tầu.
MỤC D. CÁC QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI, NEO ĐẬU, CẬP TẦU, CẬP
MẠN
Điều 28. Khi hoạt động trong vùng nước cảng biển, luồng dành cho tầu biển hoặc khu vực hàng
hải khác của Việt Nam, tầu biển, tầu sông và tất cả các loại phương tiện thuỷ khác đều phải chấp
hành các quy tắc phòng ngừa va chạm tầu thuyền trên biển hiện hành.
Điều 29. Mọi hoạt động hàng hải của các loại tầu thuyền trong vùng nước cảng biển hoặc khu
vực hàng hải khác, kể cả việc đi qua mà không neo đậu lại cảng đều được đặt dưới sự quản lý,
giám sát của Cảng vụ.
Không có lệnh của Cảng vụ, không một tầu biển hoặc phương tiện thuỷ nào có chiều dài đường
mớn nước từ 20 mét trở lên được phép neo đậu, cập cầu, cập mạn, di chuyển vị trí hoặc tiến hành
các hoạt động tương tự khác ở trong các khu vực của luồng ra vào cảng, thuỷ diện trước cầu cảng
và các khu vực hạn chế khác do Giám đốc Cảng vụ quy định.
Điều 30. Khi thực hiện các hoạt động trong vùng nước cảng biển và các khu vực hàng hải khác,
tất cả các thuyền trưởng phải chú ý thực hiện nghiêm chỉnh các quy định sau đây:
a) Phải chấp hành đầy đủ các lệnh điều động tầu của Giám đốc Cảng vụ và luôn luôn duy trì liên
lạc với Cảng vụ trên kênh liên lạc đã được thông báo;
b) Chủ động để tránh va chạm với các tầu thuyền hoặc công trình, thiết bị khác;
c) Chấp hành đầy đủ các quy định hiện hành ở khu vực có liên quan về tốc độ qua luồng, dấu
hiệu cảnh báo, chế độ cảnh giới và các quy định khác. Đặc biệt phải chủ động di chuyển với một
tốc độ an toàn hợp lý khi đi qua các khu vực đang có hoạt động ngầm dưới nước; hoạt động nạo
vét luồng lạch, thả phao tiêu, trục vớt cứu hộ; hoạt động nghề cá; hoặc khi đi qua các tầu thuyền
khác đang neo đậu, làm man-nơ ở khu vực đó;
d) Không đi qua dưới các đường dây điện cao thế, trong luồng hẹp hoặc các khu vực có hạn chế
khác ngoài các giờ quy định;
e) Máy neo và các thiết bị tương tự khác phải luôn luôn ở trong trạng thái sẵn sàng để có thể thực
hiện nhanh chóng các mệnh lệnh của thuyền trưởng;
f) Cấm không được rê neo, kéo neo ngầm dưới nước khi hoạt động trong luồng, kênh đào, trừ
trường hợp khẩn cấp cần phải làm như vậy để hạn chế trớn của tầu, tránh xẩy ra tai nạn.
Điều 31. Thuyền trưởng hoặc người chỉ huy các tầu thuyền chuyên dùng để nạo vét luồng, thả
phao tiêu, đo đạc hoặc máy đóng cọc, cần cẩu nổi và các thiết bị công trình khác phải xin phép
Cảng vụ trước khi tiến hành các hoạt động chuyên môn tại vùng nước cảng biển và khu vực hàng
hải có liên quan. Trong khi hoạt động phải duy trì những dấu hiệu cảnh báo cần thiết và chấp
hành mọi chỉ dẫn của Cảng vụ.
Điều 32.
1. Các tầu thuyền chỉ được phép neo đậu và cập tầu ở những vị trí mà Cảng vụ chỉ định, không
được tự ý thay đổi vị trí hoặc quay trở, gây nguy hiểm cho các tầu thuyền khác.
2. Khi bị trôi dạt hoặc bị thay đổi vị trí neo đậu do các nguyên nhân khách quan khác đều phải
tiến hành ngay các biện pháp xử lý thích hợp và thông báo cho Cảng vụ biết.
3. Khi neo đậu phải chủ động tính toán các đường neo, lỉn cho phù hợp với địa hình, cấu tạo chất
đáy, dòng chảy, mật độ tầu thuyền ở xung quanh để luôn bảo đảm an toàn, ngay cả khi có sự thay
đổi về dòng chảy hoặc hướng gió.
4. Khi tầu đã neo đậu an toàn, động cơ chính của tầu phải luôn luôn được duy trì ở trong trạng
thái sẵn sàng hoạt động khi cần thiết. Trên mặt boong, lái, mũi và mạn tầu phải có đèn chiếu sáng
vào ban đêm hoặc khi tầm nhìn bị hạn chế. Tuỳ theo thời điểm trong ngày hoặc thời tiết, phải
duy trì đủ các dấu hiệu cảnh báo bằng đèn, tín hiệu hoặc âm hiệu phù hợp.
5. Các phương tiện thuỷ không tự hành và các phương tiện thuỷ thô sơ khác chỉ được neo đậu ở
khu vực dành riêng và luôn luôn phải có người trực để sẵn sàng hành động khi cần thiết.
Điều 33. Sau khi có thông báo của Cảng vụ về kế hoạch điều tầu vào cầu, các cảng mà tầu sẽ
vào, phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để cho tầu cập cầu, và làm hàng an toàn. Cụ thể
như sau:
- Bố trí để cầu trống, không có phương tiện nào khác gây cản trở cho việc cập tầu. Chiều dài của
phần cầu dự kiến để cho tầu cập cầu phải lớn hơn chiều dài đường nước thiết kế của tầu ít nhất là
20m.
- Cầu phải được chiếu sáng chu đáo về ban đêm và không có bất cứ một vật gì ở trên mặt cầu có
thể gây trở ngại, gây nguy hiểm cho việc cập tầu hoặc các hoạt động bình thường khác của tầu và
thuyền viên.
- Cảng phải bố trí công nhân buộc, cởi dây lành nghề để phục vụ. Các cọc bích phải được chuẩn
bị chu đáo, sao cho các động tác buộc, cởi dây có thể được tiến hành một cách nhanh chóng và
an toàn. Tại các vị trí buộc, cởi dây phải duy trì dấu hiệu cảnh báo phù hợp (cờ đỏ ban ngày - đèn
đỏ ban đêm)
- Việc chuẩn bị cầu tầu phải được hoàn tất ít nhất 1 giờ trước khi tàu dự kiến cập cầu, nếu là tầu
đi từ biển vào hoặc 30 phút trước khi tầu chuyển dịch vị trí ở trong cảng.
Điều 34. Thuyền trưởng phải sử dụng các loại dây thích hợp khi neo tầu hoặc giữ chắc bằng các
thiết bị chuyên dùng. Không được buộc dây lên các dầm, khung, hoặc các kết cấu khác không
phải là nơi quy định để buộc tầu, trừ trường hợp được Giám đốc Cảng vụ hoặc Giám đốc Cảng
cho phép.
Điều 35.
1. Việc bố trí nơi tầu vào cập tầu, cập mạn, dịch chuyển cầu, hoặc neo đậu, chuyển tải do bộ phận
điều độ của cảng sắp xếp, nhưng phải được Cảng vụ chấp thuận.
2. Cảng vụ chỉ được phép bố trí cho các tầu cập mạn nhau với sự thoả thuận của các thuyền
trưởng liên quan trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
Các tầu biển có tổng dung tích toàn phần từ 1000 GRT trở lên được cập hàng hai. Các loại tầu
thuyền khác được cập hàng ba nhưng không được cản trở các hoạt động bình thường trong luồng
và thuỷ diện cảng. Giám đốc Cảng vụ cũng có thể căn cứ vào điều kiện bảo đảm an toàn hàng hải
tại chỗ để sắp xếp cho tầu cập mạn khác với quy định này.
- Các tầu thuyền có kích thước lớn hơn không được cập mạn với loại tầu thuyền có kích thước
nhỏ hơn từ phía bên ngoài.
- Giữa các loại tầu thuyền cập mạn nhau phải bố trí quả đệm, cầu thang đi lại chắc chắn và buộc
dây đúng quy cách.
- Trong bất kỳ trường hợp nào, các loại tầu thuyền không phải là tầu cấp nước, cấp dầu, cấp thực
phẩm, tầu hoa tiêu, tầu chữa cháy hoặc các tầu phục vụ tương tự khác cũng không được cập mạn
tầu chở khách.
Điều 36.
1. Trong thời gian neo đậu, cập tầu, cập mạn tại cảng, thuyền trưởng phải bố trí thuyền viên cảnh
giới chu đáo, sẵn sàng đối phó với việc trôi neo, đứt dây buộc tầu hoạc khi các dây buộc tầu quá
căng hay quá chùng. Đồng thời, phải luôn duy trì máy móc, trang thiết bị cứu sinh- cứu hoả,
phương tiện cấp cứu dự phòng trong trạng thái sẵn sàng hoạt động.
Trên tầu phải luôn luôn duy trì 2/3 thuyền bộ (khi neo đậu hay cập mạn tại cầu cảng) hoặc 1/3
thuyền bộ (khi neo đậu ở các khu vực ngoài cầu cảng) có đủ các chức danh phù hợp để có thể
điều động tầu hoặc đối phó với các trường hợp khẩn cấp.
2. Giám đốc Cảng vụ có trách nhiệm thông báo cụ thể cho thuyền trưởng biết về tính chất địa thuỷ văn, đặc điểm bão tố và các biện pháp phòng ngừa cần thiết ở khu vực mà tầu hoạt động.
3. Trong trường hợp có bão, các tầu thuyền đều phải nhanh chóng di chuyển đến khu vực tránh
bão do Giám đốc Cảng vụ quy định.
Điều 37.
1. Cứu trợ người và tầu thuyền bị nạn là nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi phương tiện hiện
đang có ởtrong cảng.
2. Khi phát hiện tai nạn hoặc nguy cơ sẩy ra tai nạn thì người phát hiện phải lập tức phát tín hiệu
xin cấp cứu và tiến hành ngay các biện pháp phòng ngừa phù hợp, cứu người, hạn chế tổn thất.
3. Giám đốc Cảng vụ có quyền huy động mọi lực lượng, trang thiết bị của cảng và của các tầu
hiện có trong cảng để cứu trợ người và tầu thuyền bị nạn. Tất cả mọi người liên quan có nghĩa vụ
chấp hành mọi mệnh lệnh, yêu cầu của Giám đốc Cảng vụ trong hoạt động cứu trợ tai nạn cho
tầu hoặc người ở trên tầu.
4. Việc sử dụng các trang thiết bị cứu sinh của tầu vào mục đích khác chỉ được tiến hành sau khi
Giám đốc Cảng vụ đồng ý.
Điều 38. Thuyền trưởng có nghĩa vụ báo cáo cho Giám đốc cảng vụ biết về các tai nạn, sự cố
hàng hải của tầu mình hoặc sự cố, tai nạn hàng hải do mình phát hiện được; tường trình đầy đủ
về việc đâm va, mất neo, làm rơi hàng hoá và các đồ vật khác xuống biển, nếu chúng có thể trở
thành chướng ngại vật hoặc các hư hỏng, sai lệch của hệ thống đèn biển, phao tiêu - báo hiệu
hàng hải ở trong vùng nước cảng và phụ cận, nếu phát hiện được.
Điều 39. Khi có tai nạn xảy ra, thuyền trưởng và các tầu thuyền có liên quan phải tổ chức ngay
lập tức việc tìm kiếm, cứu nạn những người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và
khẩn trương tiến hành các biện pháp cần thiết để cứu tầu, hàng hoá.
Tàu thuyền bị thiệt hại nhẹ hơn phải cứu trợ tầu thuyền bị thiệt hại nặng hơn, cho dù lỗi gây ra
tai nạn không phải là của mình.
Điều 40.
1. Ngay sau khi tai nạn xảy ra, Giám đốc Cảng vụ phải tổ chức xác định vị trí vật thể bị chìm,
đắm và đặt báo hiệu cảnh báo.
2. Chủ sở hữu các tầu, thuyền, đồ vật bị chìm, đắm hoặc bị rơi xuống vùng nước cảng có nghĩa
vụ trục vớt ngay sau khi bị chìm đắm, nếu chúng gây ra trở ngại cho các loại hoạt động hàng hải
hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Trong trường hợp, Chủ sở hữu không tiến hành trục vớt hoặc không hoàn thành việc trục vớt
trong thời hạn do Cục trưởng Cục hàng hải quy định hoặc do Giám đốc Cảng vụ quy định theo
sự uỷ nhiệm của Cục trưởng Cục Hàng hải, thì giám đốc Cảng vụ phải tổ chức việc trục vớt.
Ngoài việc phải thanh toán đầy đủ chi phí trục vớt, đặt báo hiệu, thanh thải, chủ sở hữu các vật
nói trên còn bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.
MỤC E. CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRẬT TỰ - VỆ SINH
Điều 41.
1. Khi hoạt động trong vùng nước cảng, tầu thuyền nước ngoài phải treo cờ Việt Nam ở trên đỉnh
cột cao nhất và có thể nhìn thấy từ mọi phía từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn.
Riêng đối với các tầu thuyền Việt Nam, Vị trí treo cờ là cột lái của tầu.
2. Vào ngày Quốc khánh của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và khi có người đứng đầu
Nhà nước đến thăm cảng, theo yêu cầu của Cảng vụ, tất cả các tầu thuyền đang neo đậu ở trong
cảng đều phải treo cờ lễ.
3. Tầu thuyền nước ngoài khi muốn treo cờ lễ, cờ tang, kéo còi trong các dịp nghi lễ của mình
cũng phải thông báo Cảng vụ trước.
4. Giám đốc Cảng vụ có thể miễn trách nhiệm treo cờ cho một số phương tiện thuỷ thô sơ khi
hoạt động trong vùng nước cảng biển.
5. Quy định nói tại khoản 1 Điều này đối với tầu quân sự nước ngoài đến thăm Việt Nam theo lời
mời chính thức của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng theo quy chế
khác của Chính phủ Việt Nam.
Điều 42.
1. Cầu thang lên, xuống tầu phải luôn luôn được chiếu sáng và điều chỉnh phù hợp với mớn nước
của tầu theo từng thời điểm trong ngày, bảo đảm chắc chắn không gây nguy hiểm cho người sử
dụng. ở đầu cầu thang phải có người trực gác thường xuyên, phía dưới cầu thang phải có lưới
bảo hiểm. Cầu thang phải có tay vịn và được trang bị phao cứu sinh theo đúng quy định hiện
hành.
2. Trên các dây buộc tầu phải luôn luôn duy trì các thiết bị chắn chuột có hiệu quả.
Điều 43. Tất cả các loại tầu thuyền lớn, nhỏ khi vào hoạt động trong vùng nước cảng phải ghi rõ
tên, số hiệu, nơi đăng ký theo quy định hiện hành.
Điều 44. Khi tầu thuyền đang neo đậu trong vùng nước cảng biển, cấm các hành vi sau đây;
a) Kéo còi hay dùng còi điện hay loa điện để thông tin, trừ trường hợp để phát tín hiệu xin cấp
cứu hoặc kéo còi chào theo lệnh của Cảng vụ;
b) Nạo ống khói hoặc xả khí đen;
c) Cọ rửa hầm hàng, mặt boong;
d) Bơm sả các loại nước bẩn, cặn bẩn, chất thải, dầu hoặc hợp chất có dầu và các loại chất độc
hại khác ra Cảng;
e) Vứt, đổ rác hoặc các đồ vật khác từ tầu xuống nước hoặc cầu Cảng;
f) Để bừa bãi các trang thiết bị, tài sản của tầu hoặc của thuyền viên ở trên mặt cầu cảng;
g) Gõ rỉ, sơn tầu làm nhiễm bẩn môi trường hoặc khi Cảng vụ chưa cho phép;
h) Tiến hành các việc sửa chữa, thử máy, thửa còi khi chưa được Cảng vụ cho phép;
i) Sử dụng trang thiết bị cứu sinh - chữa cháy vào các mục đích không phù hợp;
k) Bơi lội hoặc làm huyên náo ở trong cảng.
Điều 45.
1. Tất cả các tầu biển hoạt động trong cảng phải thực hiện chế độ đổ rác, bơm xả nước bẩn và
nước dằn tầu theo quy định của Cảng vụ.
Các cảng phải chuẩn bị phương tiện để tiếp nhận rác, nước bẩn của tầu và được thu phí dịch vụ.
2. Nghiêm cấm các tầu khi hoạt động trong vùng nước cảng và các khu vực hàng hải ở Việt Nam
xả trực tiếp nước bẩn, cặn dầu hoặc đổ rác xuống nước.
Điều 46.
Việc tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, diễn tập quân sự trong vùng nước cảng biển và khu vực
lân cận chỉ có thể được tiến hành sau khi Giám đốc Cảng vụ hữu quan cho phép.
Điều 47.
1. Tất cả các tàu thuyền không có đủ điều kiện do pháp luật quy định đều không được tiến hành
hoạt động vận chuyển người, hành lý ở trong vùng nước cảng hoặc vận chuyển quá số lượng
người, khối lượng hàng hoá đã được quy định.
2. Việc cắm đăng đáy, chà đánh bắt hải sản và các hoạt động nghề cá tương tự khác, mà có thể
gây trở ngại cho hoạt động của các tầu thuyền trong vùng nước cảng biển phải được giám đốc
Cảng vụ cho phép sau khi đã thoả thuận với cơ quan quản lý Nhà nước chuyên trách về hoạt
động nghề cá ở địa phương về vị trí, số lượng, khẩu độ các thiết bị đánh bắt hải sản nói trên.
Điều 48.
1. Trước khi tiến hành các hoạt động bốc dỡ, xếp hàng hoá, sửa chữa tàu, thuyền trưởng có trách
nhiệm kiểm tra và chuẩn bị chu đáo các điều kiện bảo hộ lao động cần thiết.
Đặc biệt, phải chuẩn bị đầy đủ ánh sáng, phương tiện bốc dỡ, xếp hàng hoá của tầu và tổ chức
hướng dẫn việc sử dụng cho công nhân.
2. Thuyền trưởng chỉ được phép cho đóng nắp hầm hàng hoặc cho người xuống hầm hàng sau
khi đã kiểm tra và bảo đảm chắc chắn không có tình trạng bất chắc xẩy ra.
3. Trong quá trình làm hàng, nếu phát hiện thấy những dấu hiệu không an toàn, thuyền trưởng
hoặc người điều hành hoạt động bốc dỡ, xếp hàng hoá phải đình chỉ công việc để xử lý.
4. Khi xẩy ra tai nạn lao động ở trên tầu, thuyền trưởng phải nhanh chóng tổ chức cấp cứu người
bị nạn, tiến hành các biện pháp cần thiết để hạn chế hậu quả xấu tiếp theo và phải thông báo ngay
cho Cảng vụ.
Điều 220. Các khiếu nại hàng hải áp dụng giới hạn trách nhiệm dân sự
1. Khiếu nại về chết, bị thương hoặc các tổn hại khác về sức khoẻ con người; mất mát, hư hỏng
đối với tài sản, kể cả hư hỏng công trình cảng, vùng neo đậu, luồng hàng hải, hệ thống trợ giúp
hàng hải, đã xảy ra trên tàu biển hoặc có liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển hoặc hoạt
động cứu hộ và những tổn thất là hậu quả phát sinh từ các hoạt động đó.
2. Khiếu nại về tổn thất là hậu quả từ việc chậm trễ trong quá trình vận chuyển hàng hoá, hành
khách và hành lý bằng đường biển.
3. Khiếu nại về những tổn thất khác là hậu quả từ vi phạm quyền lợi ngoài hợp đồng đã xảy ra có
liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển hoặc hoạt động cứu hộ.
4. Khiếu nại về việc trục vớt, di chuyển, phá bỏ hoặc làm vô hại tàu biển bị chìm đắm, phá huỷ
hoặc bị bỏ lại, kể cả các tài sản hiện còn hoặc đã từng ở trên tàu.
5. Khiếu nại về việc di chuyển, tiêu huỷ hoặc làm cho vô hại hàng hoá vận chuyển trên tàu biển.
6. Khiếu nại của người không phải là người chịu trách nhiệm dân sự về những biện pháp mà
người này đã thực hiện để ngăn ngừa hoặc hạn chế các tổn thất mà người chịu trách nhiệm dân
sự có quyền giới hạn trách nhiệm của mình và những tổn thất phát sinh thêm từ việc thực hiện
các biện pháp đó.
Điều 221. Các khiếu nại hàng hải không áp dụng giới hạn trách nhiệm dân sự
1. Khiếu nại về tiền công cứu hộ hoặc chi phí đóng góp tổn thất chung.
2. Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm dầu.
3. Khiếu nại về thiệt hại do ô nhiễm phóng xạ hạt nhân.
4. Khiếu nại của những người làm công cho chủ tàu, cho người cứu hộ mà nhiệm vụ của họ có
liên quan đến hoạt động của tàu biển hoặc đến hoạt động cứu hộ; khiếu nại của những người thừa
kế của họ, những người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc của người khác được quyền
khiếu nại tương tự, nếu theo luật điều chỉnh hợp đồng lao động giữa chủ tàu hoặc người cứu hộ
với những người này, chủ tàu hoặc người cứu hộ không được phép giới hạn trách nhiệm dân sự
đối với những khiếu nại đó hay chỉ được giới hạn trách nhiệm dân sự ở mức cao hơn so với mức
giới hạn quy định tại Điều 222 của Bộ luật này.
Điều 222. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự
1. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải trong trường hợp chết, bị
thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ xảy ra cho hành khách và mất mát, hư hỏng hành lý được
vận chuyển bằng đường biển áp dụng theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.
2. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải khác trong trường hợp chết, bị
thương hoặc tổn hại khác về sức khoẻ xảy ra cho những người không phải là hành khách được
quy định như sau:
a) 167.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển đến 300 GT;
b) 333.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển từ trên 300 GT đến 500 GT;
c) Đối với tàu biển từ trên 500 GT thì ngoài quy định tại điểm b khoản này áp dụng cho 500 GT
đầu tiên, giới hạn trách nhiệm sẽ được tính thêm như sau: 500 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ
GT thứ 501 đến GT thứ 3.000; 333 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ GT thứ 3.001 đến GT thứ
30.000; 250 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ GT thứ 30.001 đến GT thứ 70.000; 167 đơn vị tính
toán cho mỗi GT, từ GT thứ 70.001 trở lên.
3. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự đối với các khiếu nại hàng hải khác được quy định như sau:
a) 83.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển không quá 300 GT;
b) 167.000 đơn vị tính toán đối với tàu biển từ trên 300 GT đến 500 GT;
c) Đối với tàu biển từ trên 500 GT thì ngoài quy định tại điểm b khoản này áp dụng cho 500 GT
đầu tiên, giới hạn trách nhiệm sẽ được tính thêm như sau: 167 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ
GT thứ 501 đến GT thứ 30.000; 125 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ GT thứ 30.001 đến GT thứ
70.000; 83 đơn vị tính toán cho mỗi GT, từ GT thứ 70.001 trở lên.
4. Trường hợp tổng số tiền được tính theo khoản 2 Điều này không đủ để trả cho các khiếu nại
hàng hải đó thì tổng số tiền được tính theo khoản 3 Điều này sẽ được sử dụng để trả cho những
khoản tiền thiếu đối với khiếu nại hàng hải theo khoản 2 Điều này và khoản tiền thiếu này được
tính theo tỷ lệ tương ứng với các khiếu nại hàng hải khác tại khoản 2 Điều này.
5. Khiếu nại hàng hải quy định tại khoản 3 Điều này liên quan đến thiệt hại xảy ra đối với các
công trình cảng, vùng neo đậu, luồng hàng hải, hệ thống trợ giúp hàng hải được ưu tiên giải
quyết trước.
6. Giới hạn trách nhiệm đối với người cứu hộ không hoạt động trên một tàu biển nào hoặc chỉ
hoạt động trên chính tàu biển mà người đó đang cung cấp các dịch vụ cứu hộ hoặc liên quan đến
nó được tính tương đương với một tàu 1.500 GT.
7. Các giới hạn trách nhiệm quy định tại Điều này được áp dụng cho tổng giá trị các khiếu nại
phát sinh trong cùng một vụ việc riêng biệt.
8. Mức giới hạn trách nhiệm dân sự quy định tại Điều này được chuyển đổi thành tiền Việt Nam
theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán.
9. Tổng dung tích là dung tích toàn phần (GT) của tàu biển được xác định theo Công ước quốc tế
về đo dung tích tàu biển năm 1969.
Điều 7. Nhiệm vụ của thuyền trưởng
Thuyền trưởng là người có quyền chỉ huy cao nhất ở trên tàu. Thuyền trưởng có nhiệm vụ sau
đây:
1. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi giao, nhận tàu:
a) Việc bàn giao tàu phải được tiến hành trực tiếp giữa thuyền trưởng nhận tàu và thuyền trưởng
giao tàu;
b) Khi giao, nhận tàu phải bàn giao chi tiết về phần vỏ tàu, các máy móc, trang thiết bị, tài sản,
toàn bộ các hồ sơ, tài liệu, tiền mặt và phải lập bản thống kê từng hạng mục;
c) Thuyền trưởng nhận tàu yêu cầu thuyền trưởng giao tàu cho biết về cấu trúc đặc biệt, tính
năng kỹ thuật, khả năng khai thác và kế hoạch tiếp tục hoàn thành. Thuyền trưởng giao tàu yêu
cầu các sỹ quan phụ trách từng bộ phận báo cáo bằng văn bản về tình hình mọi mặt của bộ phận
mình và bản kê tài sản của tàu. Thuyền trưởng nhận tàu cùng với đại phó, máy trưởng và máy hai
tiến hành kiểm tra, tìm hiểu tình trạng thực tế của tàu;
d) Thời gian bắt đầu và kết thúc việc bàn giao phải được ghi vào biên bản, hai bên cùng ký tên và
phải ghi vào nhật ký hàng hải. Biên bản bàn giao tàu phải được lập thành 04 bản: 01 bản gửi cho
chủ tàu, 01 bản lưu lại tàu và 02 bản cho bên giao và bên nhận;
đ) Thuyền trưởng giao tàu phải họp toàn thể thuyền viên để giới thiệu thuyền trưởng nhận tàu và
thông báo cụ thể thời gian chuyển giao quyền điều hành cho thuyền trưởng mới.
2. N hiệm vụ của thuyền trưởng khi đưa tàu vào khai thác hoặc ngừng khai thác:
a) Thực hiện theo lệnh của chủ tàu để đưa tàu vào khai thác, ngừng khai thác hoặc sửa chữa hay
giải bản;
b) Trước mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải có những biện pháp nhằm bảo đảm an toàn và an
ninh cho người, tàu và hàng hoá trên tàu, kể cả vật tư kỹ thuật, nhiên liệu, nước ngọt, lương thực,
thực phẩm của tàu;
c) Phân công cụ thể cho đại phó và máy trưởng tiến hành chuẩn bị mọi mặt để tàu khởi hành an
toàn đúng giờ quy định;
d) Kiểm tra việc chuẩn bị hải đồ, các tài liệu hàng hải khác liên quan đến toàn bộ chuyến đi của
tàu;
đ) Nắm vững tình hình diễn biến thời tiết trong khu vực tàu sẽ đi qua, lập kế hoạch chuyến đi và
vạch hướng đi trên hải đồ có tính toán đầy đủ ảnh hưởng của các điều kiện địa lý, khí tượng thuỷ văn hàng hải và các yếu tố khác;
e) Kiểm tra việc xếp dỡ hàng hóa theo sơ đồ hàng hóa bảo đảm số lượng và chất lượng của hàng
hóa. Đặc biệt, chú ý xếp dỡ và vận chuyển hàng rời, hàng nguy hiểm trên tàu; tận dụng dung tích
và trọng tải của tàu nhưng phải đảm bảo tính ổn định và an toàn của tàu;
g) Ít nhất 02 giờ trước khi tàu rời cảng phải biết được tình hình công việc chuẩn bị của tàu, kiểm
tra sự có mặt của thuyền viên và những người khác còn ở trên tàu;
h) Trường hợp có thuyền viên của tàu vắng mặt, để bảo đảm cho tàu xuất phát đúng giờ, thuyền
trưởng phải kịp thời thông báo cho giám đốc cảng vụ, chủ tàu nếu tàu đậu ở các cảng trong nước
hoặc thông báo cho đại lý, cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam nếu tàu đậu
ở cảng nước ngoài biết họ tên, chức danh và thời gian đi bờ của thuyền viên đó. Đồng thời, phải
áp dụng mọi biện pháp để thuyền viên này kịp trở về tàu hoặc đón tàu ở cảng sắp đến, nếu sự
vắng mặt của thuyền viên đó không ảnh hưởng đến an toàn của tàu;
i) Thường xuyên duy trì công tác bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô
nhiễm môi trường.
3. N hiệm vụ của thuyền trưởng khi tàu hành trình:
a) Thuyền trưởng phải đảm bảo đủ và đúng về số lượng thuyền viên và hành khách đã khai báo
trong danh sách thuyền viên và hành khách;
b) Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch chuyến đi đã lập; thường xuyên kiểm tra chế độ trực ca
buồng lái, bảo đảm tàu đi theo tuyến đường đã lập trong kế hoạch chuyến đi và ban hành các
mệnh lệnh cho sỹ quan trực ca khi cần thiết;
c) Ngoài thuyền trưởng không ai có quyền thay đổi hướng đi đã định. Trường hợp có nguy cơ va
chạm hoặc để tránh tình huống nguy hiểm bất ngờ hay có người rơi xuống nước thì sỹ quan trực
ca boong có quyền thay đổi hướng đi của tàu nhưng sau đó phải báo ngay cho thuyền trưởng;
d) Khẩn trương có mặt ở buồng lái khi sỹ quan trực ca boong đề nghị và có mặt thường xuyên ở
buồng lái khi tàu hành trình trong luồng hẹp, eo biển, kênh đào, gần bờ, khi ra vào cảng, trong
các khu vực nguy hiểm, khi thời tiết xấu, tầm nhìn xa bị hạn chế hoặc qua những khu vực có mật
độ phương tiện thủy cao. Trong các trường hợp nói trên, thuyền trưởng phải áp dụng các biện
pháp thích hợp, chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng thả neo và phải thông báo cho buồng máy biết để
sẵn sàng thực hiện điều động khi cần thiết;
đ) Khi gặp các tảng băng trôi, các chướng ngại vật và các nguy hiểm trực tiếp khác đối với tàu
hoặc khi gặp bão nhiệt đới, gặp nhiệt độ không khí xuống dưới 0oC cùng với gió mạnh gây ra
đóng băng trên thượng tầng kiến trúc của tàu hay khi gặp gió cấp 9 hoặc trên cấp 9 mà chưa nhận
được tin báo bão thì thuyền trưởng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để xử lý tình huống
một cách thích hợp nhằm đảm bảo an toàn cho người, tàu và hàng hoá trên tàu; đồng thời, thông
báo ngay những diễn biến nói trên với các tàu thuyền xung quanh, chủ tàu và cơ quan có thẩm
quyền đầu tiên mà tàu có thể liên lạc được;
e) Trường hợp tàu đi vào vùng có băng do tàu phá băng dẫn đường, thuyền trưởng phải chấp
hành sự hướng dẫn của thuyền trưởng tàu phá băng và kịp thời có các khuyến nghị với tàu phá
băng để bảo đảm an toàn hành trình cho tàu của mình;
g) Hàng ngày phải kiểm tra và ký xác nhận nội dung các loại nhật ký theo quy định;
h) Thường xuyên duy trì công tác bảo đảm an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô
nhiễm môi trường.
4. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có hoa tiêu dẫn tàu:
a) Khi tàu hành trình ở vùng hoa tiêu bắt buộc thì phải sử dụng hoa tiêu dẫn tàu theo quy định.
Tại những vùng hoa tiêu không bắt buộc, nếu thấy cần thiết thì thuyền trưởng vẫn có quyền sử
dụng hoa tiêu để bảo đảm an toàn;
b) Bảo đảm an toàn trong việc đón trả hoa tiêu lên tàu và rời tàu, bố trí nơi nghỉ, ăn uống cho hoa
tiêu và tạo điều kiện thuận lợi cho hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ;
c) Trước khi hoa tiêu thực hiện nhiệm vụ, thuyền trưởng thông báo cho hoa tiêu biết về tính năng
điều động, tình trạng máy móc, thiết bị của tàu và những thông tin cần thiết khác nhằm tạo điều
kiện cho hoa tiêu có thể chủ động xử lý khi dẫn tàu;
d) Phải có mặt ở buồng lái để kịp thời xử lý các tình huống, tăng cường cảnh giới và chuẩn bị
neo ở vị trí sẵn sàng thả neo. Trường hợp cần thiết phải vắng mặt ở buồng lái, thuyền trưởng phải
giới thiệu cho hoa tiêu biết sỹ quan được mình uỷ quyền thay thế;
đ) Việc sử dụng hoa tiêu dẫn tàu không miễn giảm nghĩa vụ điều khiển của thuyền trưởng.
Thuyền trưởng phải có biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống có thể
xảy ra nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tàu;
e) Trường hợp hoa tiêu xử lý tình huống thiếu chính xác hoặc không hợp lý, thuyền trưởng phải
kịp thời đình chỉ hành động đó của hoa tiêu và yêu cầu hoa tiêu phải có hành động phù hợp để
bảo đảm an toàn hành trình của tàu. Trường hợp cần thiết, thuyền trưởng có quyền yêu cầu thay
thế hoa tiêu.
5. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có người rơi xuống nước:
Trường hợp có người rơi xuống nước, thuyền trưởng phải kịp thời áp dụng các biện pháp có hiệu
quả để tìm cứu người bị nạn, đồng thời thông báo cho chủ tàu hoặc người quản lý tàu, người khai
thác tàu, Đài thông tin duyên hải, Trung tâm tìm kiếm cứu nạn hàng hải, Cảng vụ hàng hải, các
cơ quan chức năng liên quan nơi gần nhất, thông báo cho các tàu thuyền khác đang hành trình
gần khu vực đó tìm kiếm và cứu nạn; chỉ được phép cho tàu rời khỏi khu vực có người rơi xuống
nước khi đã cố gắng tìm kiếm nhưng xét thấy không còn hy vọng trừ trường hợp gây nguy hiểm
nghiêm trọng cho tàu biển và những người khác trên tàu. Thời gian và các biện pháp đã tiến hành
tìm cứu phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
6. Nhiệm vụ của thuyền trưởng trong tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ:
a) Khi nhận được tín hiệu cấp cứu hoặc khi phát hiện có tàu bị nạn, thuyền trưởng có nhiệm vụ
nhanh chóng điều động tàu đến cứu nạn, nếu việc cứu nạn không gây nguy hiểm nghiêm trọng
cho tàu và thuyền viên của mình. Thời gian, vị trí tàu bị nạn và lý do đến hoặc không đến cứu
nạn phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
b) Khi cứu hộ tàu bị nạn, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp an toàn và có hiệu quả để
cứu người. Việc cứu tàu, hàng hoá và tài sản khác chỉ được tiến hành khi có sự thoả thuận của
thuyền trưởng tàu bị nạn theo hợp đồng cứu hộ. Trường hợp vì lý do nào đó mà thuyền trưởng
tàu bị nạn không thể ký hợp đồng cứu hộ thì ít nhất phải có sự thoả thuận bằng lời hay bằng vô
tuyến điện hoặc bằng tín hiệu trông thấy được của thuyền trưởng tàu bị nạn. Các hình thức thoả
thuận này phải được ghi vào nhật ký hàng hải;
c) Khi gặp tàu không có người, nếu điều kiện cho phép thì thuyền trưởng phải tổ chức kéo tàu đó
vào cảng gần nhất và thông báo chính quyền cảng hoặc Cảng vụ hàng hải, chủ tàu hoặc người
quản lý tàu, người khai thác tàu và cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam ở
nước đó biết. Trường hợp không thể lai dắt được thì ghi vào nhật ký hàng hải vị trí của tàu đó,
nguyên nhân không thực hiện được việc lai dắt và phải thông báo cho chính quyền cảng hoặc
Cảng vụ hàng hải gần nhất.
7. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tàu gặp nạn, đâm va:
a) Trường hợp xảy ra đâm va với tàu khác, thuyền trưởng phải yêu cầu thuyền trưởng tàu đó
thông báo cho mình biết tên, số hiệu, số IMO, cảng đăng ký, cảng xuất phát, cảng ghé, cảng đến
của tàu và tên chủ tàu. Đồng thời, thông báo cho tàu đó biết những thông tin nói trên của tàu
mình và báo cho chủ tàu, người khai thác tàu, cảng vụ hàng hải nơi gần nhất. Nếu xét thấy tàu
mình có khả năng và điều kiện cho phép thì phải có trách nhiệm cứu tàu bị nạn, trước hết là cứu
người;
b) Sau khi xảy ra tai nạn, đâm va, thuyền trưởng phải kịp thời lập biên bản về diễn biến xảy ra sự
cố, nêu rõ sự thiệt hại của mỗi bên có xác nhận của thuyền trưởng tàu đó và các bên hữu quan.
Đồng thời, tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ tai nạn theo quy định của pháp luật;
c) Trường hợp tàu mình gặp nạn mà không còn khả năng cứu được và bắt buộc phải bỏ tàu,
thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp để cứu người và tổ chức mang theo nhật ký hàng hải,
nhật ký máy, nhật ký thông tin vô tuyến, hải đồ khu vực bị nạn, tiền và các hồ sơ, tài liệu cần
thiết khác của tàu;
d) Nếu tàu mình bị tai nạn mà cần thiết có sự cứu trợ thì thuyền trưởng phải dùng mọi biện pháp
yêu cầu tàu khác cứu giúp, nhưng trước hết phải yêu cầu sự cứu trợ của các tàu mang cờ quốc
tịch Việt Nam;
đ) Nếu được tàu khác cứu giúp, thuyền trưởng có nhiệm vụ chỉ huy thuyền viên, hành khách của
tàu mình thực hiện nghiêm chỉnh quy định của tàu đó;
e) Thuyền trưởng phải thực hiện báo cáo đầy đủ về các sự cố hàng hải xảy ra với tàu mình theo
quy định.
8. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi bỏ tàu:
a) Khi bỏ tàu, thuyền trưởng phải tổ chức đưa người xuống xuồng cứu sinh theo thứ tự ưu tiên:
trẻ em, phụ nữ có thai, người ốm, người già, phụ nữ và người khuyết tật;
b) Khi bỏ tàu, thuyền trưởng vẫn phải chịu trách nhiệm trong việc tổ chức tìm kiếm và cứu hành
khách (nếu có), thuyền viên đang bị mất tích và áp dụng các biện pháp cần thiết để đưa những
người còn lại đến nơi an toàn và về nước, nếu tàu bị tai nạn ở nước ngoài;
c) Thuyền trưởng phải là người rời tàu cuối cùng.
9. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi có bệnh nhân trên tàu :
a) Trường hợp trên tàu có bệnh nhân nhưng không có đủ khả năng cứu chữa người lâm bệnh,
thuyền trưởng có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để nhận được sự giúp đỡ về y tế, kể cả phải đưa
tàu vào cảng gần nhất và phải báo ngay cho chính quyền cảng và chủ tàu hoặc người quản lý,
người khai thác tàu;
b) Trường hợp thuyền trưởng lâm bệnh nặng hoặc bị tai nạn bất ngờ thì tạm thời trao lại quyền
chỉ huy tàu cho đại phó và báo cáo chủ tàu, người khai thác tàu biết để có biện pháp giải quyết
kịp thời; đồng thời, báo cáo cho cơ quan đại diện ngoại giao có thẩm quyền của Việt Nam tại
nước đó biết nếu tàu ở nước ngoài và phải ghi vào nhật ký hàng hải.
10. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tàu vào, rời cảng, neo đậu:
a) Khi tàu hoạt động trong lãnh hải hoặc neo đậu ở cảng và các khu vực neo đậu tại Việt Nam
hoặc nước ngoài, thuyền trưởng phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước
quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật
của nước đó;
b) Trước và trong khi làm thủ tục tàu đến, trong và sau khi làm thủ tục tàu rời cảng, không được
cho thuyền viên của tàu giao tiếp với người khác, trừ các trường hợp thật cần thiết;
c) Trường hợp xảy ra tranh chấp có liên quan đến tàu hoặc thuyền viên bị bắt giữ, thuyền trưởng
phải kịp thời lập kháng nghị hàng hải và phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao có
thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó và chủ tàu hoặc người quản lý tàu, người khai thác biết để
có biện pháp can thiệp;
d) Khi tàu đậu trong cảng, thuyền trưởng phải tổ chức áp dụng các biện pháp phòng cháy, chữa
cháy nhằm đảm bảo an toàn cho người, tàu và hàng hoá;
đ) Khi tàu hành trình ở những khu vực chưa quen biết hoặc tầm nhìn xa bị hạn chế hay gần khu
vực có nhiều vật chướng ngại thuyền trưởng có quyền yêu cầu các sỹ quan khác phải có mặt ở vị
trí để thực hiện nhiệm vụ;
e) Phải có mặt ở buồng lái khi điều động tàu thuyền ra, vào cảng hoặc cập, rời cầu cảng, khu neo
đậu. Khi tàu neo đậu ở các khu vực mà các điều kiện an toàn hàng hải không đảm bảo, thuyền
trưởng phải thường xuyên có mặt ở tàu. Nếu phải vắng mặt trên tàu thì yêu cầu đại phó ở lại tàu
để thay mặt mình xử lý kịp thời những tình huống có thể xảy ra;
g) Trước khi thuyền trưởng vắng mặt trên tàu phải có chỉ thị cụ thể công việc cho đại phó hay sỹ
quan trực ca boong ở lại tàu; đối với những việc quan trọng phải được ghi rõ trong nhật ký hàng
hải và thông báo cho sỹ quan trực ca boong biết địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của mình trong
thời gian vắng mặt trên tàu;
h) Hàng ngày phải kiểm tra và ký xác nhận nội dung các loại nhật ký theo quy định;
i) Kết thúc mỗi chuyến đi, thuyền trưởng phải lập báo cáo gửi chủ tàu, hoặc người quản lý tàu,
người khai thác tàu về tình hình chuyến đi và kết quả việc thực hiện kế hoạch khai thác tàu.
11. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi tàu chở khách:
Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hành khách, thuyền viên, hàng
hoá, hành lý và tài sản trên tàu; tổ chức huấn luyện cứu sinh, cứu hoả, cứu thủng tàu cho thuyền
viên và tổ chức hướng dẫn cho hành khách làm quen, sử dụng phương tiện cứu sinh, cứu hoả và
các thiết bị an toàn khác.
12. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi nhận tàu đóng mới:
Khi nhận tàu đóng mới, thuyền trưởng có nhiệm vụ tổ chức nhận bàn giao cụ thể về vỏ tàu, máy
móc, toàn bộ trang thiết bị kỹ thuật, các hồ sơ kỹ thuật, tài sản, dụng cụ sinh hoạt. Việc nhận và
bàn giao tàu phải được lập biên bản có ký xác nhận của bên giao và thuyền trưởng bên nhận. Tổ
chức cho thuyền viên làm quen với tàu để nhanh chóng đưa tàu vào khai thác an toàn.
13. Nhiệm vụ của thuyền trưởng khi sửa chữa tàu:
a) Duyệt các hạng mục sửa chữa do đại phó, máy trưởng lập và báo cáo chủ tàu quyết định;
b) Báo cáo xin ý kiến chủ tàu về mọi sửa đổi, bổ sung với các hạng mục sửa chữa nếu thấy cần
thiết và chỉ sửa đổi, bổ sung hạng mục sửa chữa khi được sự đồng ý của chủ tàu;
c) Trong thời gian tàu ở nơi sửa chữa thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm
an toàn cho tàu và thực hiện đúng nội quy của nơi sửa chữa; cùng với đại phó, máy trưởng và các
bên liên quan tiến hành kiểm tra vỏ tàu, hệ thống van thông biển, chân vịt, bánh lái và lập biên
bản xác nhận hiện trạng của chúng. Công việc này cũng phải được thực hiện lại trước khi tàu rời
nơi sửa chữa và có xác nhận của cơ quan đăng kiểm;
d) Tổ chức kiểm tra, giám sát về tiến độ, chất lượng sửa chữa, bảo đảm an toàn lao động và tổ
chức cho thuyền viên thực hiện tốt các công việc tự sửa chữa, tự bảo quản trong thời gian tàu sửa
chữa;
đ) Khi hoàn thành việc sửa chữa tàu, tổ chức nghiệm thu từng phần về các hạng mục sửa chữa,
bảo đảm chất lượng, tránh gây thiệt hại cho chủ tàu.
14. Nhiệm vụ trực ca của thuyền trưởng:
a) Nếu trên tàu không bố trí chức danh phó ba thì thuyền trưởng phải đảm nhiệm ca trực của phó
ba;
b) Nếu trên tàu không bố trí chức danh phó hai và phó ba thì nhiệm vụ của chức danh đó do
thuyền trưởng và đại phó đảm nhiệm theo sự phân công của thuyền trưởng.
1. Nội thủy (Internal waters)
1.1. Xác định phạm vi:
“Nội thủy” (còn gọi “vùng nước nội địa”) là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở
(baseline) để tính chiều rộng của lãnh hải (nói tắt là “đường cơ sở”) và giáp với bờ biển. Đường
cơ sở này do quốc gia ven biển quy định vạch ra. Từ đó trở vào gọi là nội thủy, từ đó trở ra gọi là
lãnh hải.
1.2. Quy chế pháp lý:
Vùng nước nội thủy về mặt pháp lý đã nhất thể hóa với lãnh thổ đất liền nên có chế độ pháp lý
đất liền, nghĩa là đặt dưới chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia ven biển. Tàu
thuyền nước ngoài muốn vào ra nội thủy phải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ
của nước đó. Nước ven biển có quyền không cho phép.
Những năm gần đây, nhiều nước ven biển có khuynh hướng mở rộng nội thủy bằng cách xác
định đường cơ sở của nước mình, để từ đó mở rộng nội thủy và lãnh hải. Theo Tuyên bố ngày
12-5-1977 của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là
những đường thẳng gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu,
Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị). Trên đường cơ sở này, có điểm là mỏm đất
liền nhô ra biển như điểm A8 (mũi Đại Lãnh, Phú Yên) cách xa bờ 74 hải lý; có điểm cách xa bờ
hơn 80 hải lý… Trong khi đó Tuyên bố ngày 15-5-1996 của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa thì đường cơ sở tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa)
gồm 28 điểm nối liền các điểm nhô ra nhất là các đảo, đá, bãi cạn thuộc quần đảo. Tuyên bố
“đường yêu sách lưỡi bò” đã gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực biển Đông, trực tiếp
xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Vì Hoàng Sa vốn là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và
Trung Quốc vạch đường cơ sở như vậy đương nhiên coi vùng nước bên trong các đảo nhỏ thuộc
quần đảo Hoàng Sa là nội thủy của Trung Quốc, không quốc gia nào có quyền qua lại.
2. Lãnh hải (Territorial sea)
2.1. Xác định phạm vi:
Lãnh hải là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là
đường biên giới quốc gia trên biển.
Công ước quốc tế về Luật biển 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển là
12 hải lý tính từ đường cơ sở. Điều 3 Công ước nêu rõ: “Mỗi quốc gia có quyền định chiều rộng
của lãnh hải đến một giới hạn không quá 12 hải lý từ đường cơ sở được xác định phù hợp với
công ước này”. Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cũng quy định: “Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở
phía ngoài đường cơ sở” (điểm 1).
2.2. Quy chế pháp lý:
Quốc gia ven biển cũng có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, song không tuyệt
đối như nội thủy. Nghĩa là quyền của quốc gia ven biển được công nhận như ở lãnh thổ của mình
(về lập pháp, hành pháp và tư pháp), trên các lĩnh vực phòng thủ quốc gia, cảnh sát, thuế quan,
đánh cá, khai thác tài nguyên, đấu tranh chống ô nhiễm, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên các
tàu thuyền nước ngoài có “quyền đi qua không gây hại (right of innocent passage)”, cụ thể là
nước khác có quyền đi qua vùng lãnh hải của nước ven biển mà không phải xin phép trước nếu
họ không tiến hành bất kỳ hoạt động gây hại nào như sau đây:
– Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven
biển.
– Luyện tập, diễn tập với bất kỳ loại vũ khí nào.
– Thu thập tin tức tình báo gây thiệt hại cho nước ven biển.
– Tuyên truyền nhằm làm hại đến nước ven biển.
– Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện quân sự.
– Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của nước ven biển.
– Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng.
– Đánh bắt hải sản.
– Nghiên cứu, đo đạc.
– Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc.
– Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.
(theo Điều 19 Công ước về Luật biển 1982).
IV. CÁC VÙNG BIỂN QUỐC GIA VEN BIỂN CÓ QUYỀN CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI
PHÁN
Đây là ba vùng biển nằm ngoài lãnh hải, bao gồm vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa.
1. Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous zone):
1.1. Xác định phạm vi:
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải. Phạm vi của
vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở. Điều 33 Công ước về Luật
biển năm 1982 quy định: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở
dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”. Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ngày 12-5-1977 cũng nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp
với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng của lãnh hải Việt Nam” (điểm 2).
1.2. Quy chế pháp lý:
Vì vùng này đã nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, nên quốc gia ven
biển chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chế trong một số lĩnh vực nhất định đối với các tàu
thuyền nước ngoài mà thôi. Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (Điều 33) quy
định trong vùng tiếp giáp, quốc gia ven biển có thể tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết
nhằm để ngăn ngừa những vi phạm đối với luật lệ về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư; đồng
thời trừng phạt những vi phạm đã xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình. Riêng đối
với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ, Điều 303 Công ước về Luật biển 1982 quy định mọi
sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của
quốc gia ven biển thì đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia
đó và quốc gia đó có quyền trừng trị.
2. Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive economic zone):
2.1. Xác định phạm vi:
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi
rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý
bên trong vùng đặc quyền kinh tế nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý.