BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ANOUXAY KEOBOUNPHAN
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC- SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ LÀO VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự
Mã số
: 60380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CAO THỊ OANH
HÀ NỘI- 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học
Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Hình sự đã
tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình sau đại
học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng viên,
TS. Cao Thị Oanh, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan
tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm…
HỌC VIÊN
ANOUXAY KEOBOUNPHAN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo
quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật Hà Nội xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
ANOUXAY KEOBOUNPHAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
CHCND Lào
: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
CHXHCN Việt Nam
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
TTĐK
: Tình tiết định khung
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÀO
5
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác
5
1.2. Quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Lào
10
1.3. Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác
14
1.4. Các trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác theo quy định của pháp luật hình sự Lào
20
1.5. Hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác theo pháp luật hình sự Lào
24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
26
CHƯƠNG 2. TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÀO VÀ VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
28
2.1. So sánh các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
29
2.2. So sánh các trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác
37
2.3. So sánh về khung hình phạt áp dụng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác
52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
56
CHƯƠNG 3. KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA
NGƯỜI KHÁC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÀO
57
3.1. Một số kinh nghiệm được rút ra từ việc so sánh tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Lào và Việt Nam
57
3.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác được trong pháp luật hình sự Lào
60
KẾT LUẬN
69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
72
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tình hình tội phạm ngày nay đang diễn ra vô cùng phức tạp với số lượng vụ án
và số lượng bị cáo ngày càng tăng cao. Bên cạnh các tội phổ biến về an toàn giao
thông đường bộ thì các tội gây tổn hại đến sức khỏe con người cũng ngày càng tăng
cao. Điển hình trong đó là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
người khác. Theo thống kê xét xử sơ thẩm của TANDTC về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tại Việt Nam, trong năm 2007 có tới
5527 vụ, 8496 bị cáo; năm 2008 có 5418 vụ, 8365 bị cáo; năm 2009 có 6049 vụ, 9592
bị cáo; năm 2010 có 5758 vụ, 9213 bị cáo [8], năm 2011 có 6272 vụ, với 9952 bị cáo,
năm 2012 là 6851 vụ với 11659 bị cáo, năm 2013 là 6876 vụ với 11538 bị cáo [9]. Số
vụ án điểm hoặc xét xử lưu động ở mức khá cao năm 2007 là 359 vụ, năm 2008 là 420
vụ, năm 2009 là 497 vụ, năm 2010 là 537 vụ [8]. Tỷ lệ phạm tội này ở Lào cũng tương
tự như vậy. Theo thống kê của Bộ Công an Lào cho thấy, số lượng bị cáo và vụ án cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngày càng gia tăng,
trong đó năm 2011 là 5120 vụ với 7238 bị cáo, năm 2012 là 5830 vụ với 9312 bị cáo,
năm 2013 là 6211 vụ án với 8357 bị cáo [32]. Tỷ lệ số bị cáo trên số vụ án gần bằng
1,5 bị cáo trên vụ cho thấy các trường hợp phạm tội này thường có đồng phạm. Điều
này cho thấy, vấn đề tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác ngày càng báo động, đòi hỏi phải thực hiện một cách đồng bộ và quyết liệt
hơn nữa các giải pháp phòng ngừa tội phạm.
Trong thời gian gần đây tại Việt Nam cũng như Lào có các vụ cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gây xôn xao dư luận, đặc biệt như
vụ án vợ chồng Huỳnh Thanh Giang - Mã Ngọc Thơm hành hạ cháu Hào Anh [20]; vụ
án bà Trần Thị Thu là cô ruột của cháu Trần Thanh Lực dùng cây sát nóng khoảng 14g
gây ra thương tật cho Bé Lực “theo chẩn đoán của Bệnh viện Đa khoa huyện Cái Lậy,
bé Lực bị bỏng độ 1-2 ở vùng trán, má trái, thái dương trái, cằm trái và cẳng tay trái,
mỗi vết bỏng có chiều dài 2-4 cm”[20]. Những vụ án này xảy ra không chỉ gióng lên
hồi chuông cảnh báo về tình hình tội phạm mà còn đặt ra yêu cầu cần xem xét lại quy
định pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác đã đủ tính nghiêm khắc, răn đe, trừng phạt đối với loại tội phạm này hay chưa.
2
Nghiên cứu cho thấy kể từ khi BLHS Việt Nam năm 1999 cũng BLHS Lào sửa
đổi năm 2005 có hiệu lực, chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên cơ sở so sánh pháp luật
hai nước. Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về dấu hiệu pháp lý, TTĐK
tăng nặng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
ở cả hai nước. Xuất phát từ thực tiễn đã đến lúc sửa đổi Điều 90 BLHS Lào năm 2005
về tội cố ý gây thương tích mà tác giả quyết định chọn đề tài “Tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác - so sánh giữa pháp luật hình sự
Lào và Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một tội
xảy ra thường xuyên trong cuộc sống, chiếm tỷ lệ cao và diễn biến vô cùng phức tạp.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều đề tài nhiên cứu một cách nghiên cứu chuyên
sâu và tổng quát về tội phạm này. Trước khi BLHS Việt Nam 1999 có hiệu lực thì có
một số công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Nga “Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam và đấu tranh
phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Thanh Hóa” (Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 1997). Từ khi BLHS Việt Nam năm 1999 có
hiệu lực đến nay (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác được cấu tạo lại theo hướng lấy tỷ lệ thương tật làm căn cứ xác định TNHS đối
với người phạm tội) thì mới chỉ có một khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn
Hương Mạnh “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trong luật hình sự Việt Nam – lý luận và thực tiễn” (Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà
Nội, năm 2011) cùng một số bài viết chuyên ngành. Ở Lào cũng chỉ có một vài bài báo
chuyên ngành về Điều 90 BLHS Lào 2005 mà chưa có một công trình nghiên cứu tổng
thể nào về tội phạm này. Đặc biệt nghiên cứu cho thấy kể từ khi BLHS Việt Nam năm
1999 có hiệu lực cũng như BLHS Lào sửa đổi năm 2005 chưa có một công trình
nghiên cứu tổng thể về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên cơ sở so sánh pháp luật hai nước.
Như vậy có thể thấy các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập một cách tản mạn,
thiếu hệ thống về tội cố ý gây thương ích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác. Một vấn đề đặt ra là cần thiết phải có một công trình nghiên cứu một cách đầy
3
đủ, tòan diện, hệ thống về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên phương diện so sánh luật hình sự Việt Nam và Lào để rút ra một số
kinh nghiệm tham khảo nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Lào về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích làm sáng rõ một cách toàn
diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác của pháp luật Lào, trên cơ sở đó so sánh với pháp luật
Việt Nam để rút ra một số kinh nghiệm, từ đó tìm ra những giải pháp sửa đổi bổ sung,
hoàn thiện pháp luật hình sự Lào về loại tội phạm này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Nghiên cứu pháp luật hình sự Lào về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác qua các thời kỳ kể từ khi
thành lập nhà nước CHDCND Lào cho đến nay; làm sáng tỏ định nghĩa các dấu hiệu
pháp lý cũng như các trường hợp định khung tăng nặng và hệ thống hình phạt dành
cho tội này; (ii) So sánh các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác giữa pháp luật hình sự Lào và pháp luật hình sự Việt
Nam; (iii) Nghiên cứu đánh giá các kinh nghiệm mà pháp luật Việt Nam để lại, các
hạn chế trong pháp luật hình sự Lào và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của Lào.
4. Đối tượng và phạm vi nghên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về các quy định về tội cố ý gây
thương tích trong pháp luật hình sự Lào và pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các nội dung trong tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 90 BLHS
Lào năm 2005 và Điều 104 BLHS Việt Nam năm 1999 dưới góc độ luật hình sự.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như Đảng
cộng sản Lào về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt. Trên cơ sở những
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, so sánh,
4
tổng hợp,… để đưa ra một cách chọn lọc các tri thức khoa học đóng góp cho nền khoa
học hình sự nước nhà.
6. Những đóng góp mới
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện đầy đủ, có hệ thống về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên cơ sở so
sánh pháp luật hình sự của Việt Nam và Lào kể từ khi BLHS Việt Nam năm 1999
cũng như BLHS Lào năm 2005 có hiệu lực pháp luật đến nay. Luận văn đưa ra những
phân tích, đánh giá sâu sắc về cấu thành tội phạm và TTĐK tăng nặng của tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác giữa pháp luật hình sự Lào
và pháp luật hình sự Việt Nam. Qua đó, luận văn đưa ra hướng giải quyết trong các
trường hợp chưa thống nhất về cách nhận thức dẫn đến áp dụng pháp luật không đồng
bộ trên phạm vi cả nước, đồng thời cũng đưa ra các kiến nghị nhằm khắc phục những
quy định chưa hợp lý, giúp hoàn thiện pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác theo pháp luật hình sự Lào
Chương 2: So sánh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trong pháp luật hình sự Lào và Việt Nam
Chương 3: Kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự
Lào
5
CHƯƠNG 1
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC
KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÀO
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
1.1.1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác
Con người là vốn quý của xã hội, là nguồn lao động chính phục vụ xã hội, thúc
đẩy xã hội phát triển tiến lên. Sức khỏe có ý nghĩa quan trọng đối với con người, việc
bảo vệ sức khỏe con người là nhiệm vụ quan trọng của mỗi Nhà nước trên toàn thế giới.
Nhà nước CHDCND Lào cũng đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm mục đích bảo vệ sức
khỏe cho nhân dân, tạo điều kiện sống tốt nhất cho nhân dân. Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
của con người là nhiệm vụ chung của toàn xã hội của nhiều cơ quan, ban hành. Trong
lĩnh vực pháp luật việc bảo vệ sức khỏe con người được thể hiện rõ ràng trong các văn
bản luật do các cơ quan nhà nước hoặc do các cơ quan hữu trách ban hành.
Trong Hiến pháp năm 2003 của CHDCND Lào đã quy định “công dân có quyền
bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự và nhân phẩm” [33]. Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất do Quốc hội ban hành,
nó là cơ sở cho các ngành luật khác cụ thể hóa hơn các quy định của nó. Cùng với các
ngành luật khác, Luật hình sự cũng góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe
của nhân dân. Với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân… chống
mọi hành vi phạm tội, Luật hình sự bảo vệ sức khỏe con người bằng cách trừng trị mọi
hành vi phạm tội xâm phạm đến sức khỏe con người. Việc đưa tội “Cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” vào chương II – “Các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người” sau chương “Các tội chống lại an
ninh quốc gia và trật tự xã hội” ở phần cụ thể - “Phần các tội phạm” cho thấy sự quan
tâm của Nhà nước Lào đến việc bảo vệ sức khỏe con người. Tội “cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được quy định tại Điều 90 BLHS nước
CHDCND Lào năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLHS Lào năm 2005) là hành vi gây ra
thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của con người, hành vi phạm tội này là việc
6
tác động vào thân thể của con người gây ra sự tổn thương hoặc tổn hại đến sức khỏe của
người đó. Người phạm tội thực hiện hành vi gây thương tích với lỗi cố ý.
Cũng giống như pháp luật hình sự của nhiều nước, BLHS Lào năm 2005 không
định nghĩa thế nào là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Cách định nghĩa
thứ nhất cho rằng, “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn
thương khác” [21; tr.412]; Cách định nghĩa thứ hai cho rằng, “Cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho
người khác bị thương hoặc tổn hại sức khỏe” [12; tr.137]. Khoa học pháp lý hình sự
Lào cũng có quan điểm gần giống những quan điểm trên. Tuy nhiên, các định nghĩa trên
vẫn còn những điểm chưa phù hợp bởi lẽ các cách định nghĩa này đều không đề cấp đến
năng lực TNHS, độ tuổi chịu TNHS, cũng như tính trái pháp luật của hành vi cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác.
Bởi vậy, trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại Điều 6 - “định nghĩa về
tội phạm”, Điều 7 - “cơ cấu của tội phạm” của BLHS Lào năm 2005 cũng như trên cơ sở
phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác, chúng tôi có thể khái quát định nghĩa tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội có ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây ra thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm
thực hiện và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS [4; tr.8].
1.1.2. Đặc điểm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy
định là một loại tội phạm. Do đó, nó mang đầy đủ các đặc điểm chung của tội phạm, đó
là: tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi, tính chịu hình phạt.
1.1.2.1. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất, quyết
định những dấu hiệu khác của tội phạm [21; tr.51], bởi nó là thuộc tính và là nội dung
7
của tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy định là tội phạm và phải chịu TNHS vì bản thân
nó có “tính nguy hiểm”.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe
doạ gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Đây là các quan hệ xã hội gắn liền với
lợi ích của Nhà nước, mọi công dân và toàn xã hội và khi bị xâm hại, có thể làm ảnh
hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội. Những quan hệ xã hội đó được
quy định rất cụ thể tại Khoản 1, Điều 6 BLHS Lào hiện hành. Bất kỳ một hành vi vi phạm
các chuẩn mực chung của xã hội nào cũng có tính nguy hiểm, có nghĩa là có khả năng gây
ra hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, so với các hành vi vi phạm
khác, tội phạm có tính nguy hiểm “đáng kể” hơn cả. Ví dụ, hành vi chửi mắng ông bà, cha
mẹ… bị xem là hành vi vi phạm đạo đức, mà chưa phải là tội phạm vì mức độ nguy hiểm
vẫn còn hạn chế, chưa “đáng kể”. Trong trường hợp hành vi chửi mắng này diễn ra một
cách liên tục, kèm theo những hành vi đối xử tàn ác về vật chất, tinh thần đối với ông bà,
cha mẹ… dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm
thì hành vi đó bị coi là tội phạm. Bởi vì, trong trường hợp đó, tính nguy hiểm cho xã hội
của hành vi đã “đáng kể”. Cũng như vậy, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác có tính nguy hiểm đáng kể bởi nó xâm phạm vào khách thể mà
Nhà nước quan tâm bảo vệ đó chính là sức khỏe của con người. Điều này được khẳng
định tại Khoản 1, Điều 6 BLHS Lào năm 2005 “Tất cả các hành vi hành động hoặc
không hành động được coi là nguy hiểm cho hệ thống chính trị, kinh tế hoặc xã hội của
CHDCND Lào, tài sản của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân, đến tính mạng, sức khỏe,
tinh thần hoặc quyền tự do của công dân, anh ninh quốc gia, trật tự công cộng theo quy
định của Luật hình sự hoặc trong các Luật khác của CHDCND Lào để xác định hình phạt
hình sự bị coi là hành vi phạm tội”. Tội này được thực hiện với hành vi hành động như
đấm đá, tát, chém hoặc không hành động gây hậu quả nạn nhân bị thương tật, hoạt động
khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống của người bị hại. Như vậy, hành vi phạm tội này đã
xâm hại trực tiếp đến quan hệ xã hội quan trọng mà Nhà nước phải bảo vệ, đó là “tính
mạng, sức khỏe, tài sản của con người”, nên tính nguy hiểm cho xã hội của tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác là rất “đáng kể”.
1.1.2.2. Tính trái pháp luật hình sự của tội phạm
Khoản 2, Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp Quốc khẳng định:
“không ai bị kết án về một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế
8
không quy định là tội phạm” [24]. Vì vậy, tính trái pháp luật hình sự là một dấu hiệu
được quy định trong Luật hình sự của tất cả các nước trên thế giới. Theo Luật hình sự
Lào, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi nó được quy định trong
phần các tội phạm của BLHS của CHDCND Lào. BLHS Lào thể hiện rất rõ điều này
khi khẳng định “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu
TNHS” (Điều 2 BLHS Lào năm 2005). Tính trái pháp luật hình sự theo cách hiểu của
pháp luật hình sự Lào hiện hành là hành vi phạm tội trái với quy định của BLHS.
Nghĩa là khi BLHS quy định một hành vi nào đó bị cấm mà người phạm tội thực hiện
hành vi đó hoặc ngược lại, khi BLHS quy định hành vi đó phải được làm thì người
phạm tội không làm hoặc làm không hết trách nhiệm và khả năng của mình.
Như vậy, tại Điều 90 BLHS Lào năm 2005 quy định về việc trừng phạt các hành
vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà người phạm tội
có những hành vi vi phạm phù hợp với nội dung quy định tại Điều 90 BLHS Lào 2005
thì bị xem là trái pháp luật hình sự. Quy định tính trái pháp luật hình sự là một dấu
hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối phòng, chống tội
phạm được thống nhất, đảm bảo quyền dân chủ của công dân không bị vi phạm bởi
hành vi tuỳ tiện mà còn thúc đẩy các cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật
theo sát với sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Tính trái pháp luật hình
sự tuy là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lý nhưng vẫn có tính độc lập tương đối và có
ý nghĩa quan trọng. Nếu chỉ coi trọng dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
thì sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện trong xử lý hình sự.
1.1.2.3. Tính có lỗi của tội phạm
Luật hình sự Lào không chấp nhận hình thức quy tội khách quan, tức là không
chấp nhận quy tội đối với một người khi chỉ căn cứ vào hành vi nguy hiểm cho xã hội
của họ mà không xem xét hành vi đó có lỗi hay không. Hay nói cách khác, tội phạm
phải là hành vi tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan,
tội phạm là hành vi gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Về mặt
chủ quan, hành vi phạm tội đó phải được kiểm soát bởi ý thức và ý chí của người thực
hiện nó. Có nghĩa là, một hành vi bị coi là tội phạm khi về mặt khách quan đã gây ra
hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và về
chủ quan là có lỗi. Theo quan điểm thống nhất của lý luận Luật hình sự, lỗi là thái độ
chủ quan của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu
9
quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý [21; tr.55]. Lỗi của hành vi cố ý
gây thương tích là lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp.
Hoạt động tâm lý của con người được hình thành theo một quá trình từ nhu cầu,
động cơ, mục đích, nhận thức các điều kiện khách quan, lựa chọn thực hiện hành vi. Hoạt
động này luôn có sự tham gia của nhận thức và ý chí. Vì vậy, bất kỳ hành vi nào được
biểu hiện ra thế giới khách quan cũng có sự thúc đẩy của một động cơ nào đó, nhằm đạt
mục đích nhất định (ngoại trừ những hành vi được thực hiện bởi người đã mất những
chức năng này). Cho nên, hành vi của con người, dù được quyết định bởi các điều kiện
khách quan nhưng đó là một quá trình diễn ra rất phức tạp, không chỉ đơn thuần phụ thuộc
vào các điều kiện khách quan đó mà còn chịu ảnh hưởng của nhận thức và ý chí, với tư
cách là những yếu tố độc lập tương đối và không kém phần quan trọng, mặc dù, suy cho
cùng, nhận thức và ý chí cũng được quyết định bởi các yếu tố khách quan nhất định. Do
đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một khi được
thực hiện thì đó không phải là sự phản ứng trực diện của con người đối với hoàn cảnh mà
là sự tương tác giữa điều kiện khách quan và bản thân người phạm tội. Vì vậy, TNHS phải
là hệ quả tất yếu của quá trình tương tác đó. Nói cách khác, người thực hiện hành vi gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác chỉ có thể phải chịu hình phạt khi
hành vi đó có tính có lỗi. Ở đây, người phạm tội có thể lựa chọn thực hiện hay không thực
hiện hành vi để gây thương tích cho người khác, nhưng người phạm tội đã lựa chọn hành
động, thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự và có mong muốn hoặc bỏ mặc hậu quả xảy
ra, do vậy hành vi phạm tội quy định tại Điều 90 BLHS năm 2005 có tính có lỗi.
1.1.2.4. Tính chịu hình phạt của tội phạm
Về bản chất, một hành vi bị coi là tội phạm bởi vì về nội dung nó có tính nguy
hiểm cho xã hội và về hình thức nó trái pháp luật hình sự, có tính có lỗi và vì nó là tội
phạm nên mới phải chịu hình phạt. BLHS Lào dù không đề cập đến dấu hiệu này trong
định nghĩa tội phạm nhưng lý luận Luật hình sự Lào, thì có đề cập và cho rằng tính trái
pháp luật là dấu hiệu bên ngoài của tội phạm và có tính quy kết kèm theo các dấu hiệu
khác của tội phạm. Bởi vì, mặc dù tính chịu hình phạt không phải là dấu hiệu bên
trong của tội phạm nhưng nó là dấu hiệu biểu hiện hệ quả tất yếu của tội phạm, chỉ có
tội phạm mới có thể chịu hình phạt, và ngược lại, một hành vi dù nguy hiểm cho xã
hội nhưng không phải là tội phạm thì không thể có đặc điểm này.
10
Tính chịu hình phạt được xem là dấu hiệu của tội phạm bởi nó là một thuộc tính
khách quan của tội phạm. Mọi hành vi khác không phải là tội phạm thì không có nguy
cơ đe doạ bị áp dụng hình phạt. Phải nhìn nhận như thế mới thấy được mối liên hệ
giữa tội phạm và hình phạt, hình phạt luôn gắn liền với tội phạm và chỉ có thể áp dụng
hình phạt đối với người có hành vi phạm tội. Ở đây, người phạm tội đã có hành vi cố ý
gây thương tích gây hậu quả là nạn nhân bị tổn hại sức khỏe nên phải chịu TNHS về
hành vi phạm tội mà mình gây ra.
1.2. Quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Lào
1.2.1. Giai đoạn trước khi Bộ luật hình sự Lào năm 2005 được ban hành
Xuất phát từ tiến trình lịch sử phát triển của Nhà nước Lào, tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mặc dù là một hành vi khá phổ biến
trong lịch sử, nhưng đến tận sau năm 1975, CHDCND Lào mới có một văn bản pháp
luật chính thức về vấn đề này.
Trước khi hình thành nhà nước Ai Lao, nước Lào bị sự xâm chiếm và cai trị của
Miến Điện, người Xiêm. Pháp luật được áp dụng vào thời kì này chính là Bộ Luật của
Miến điện. Sau đó, trong thời kỳ Pháp thuộc, các quan hệ xã hội tại Lào chịu sự điều
chỉnh của pháp luật Pháp. Chính vì vậy, thời kì thuộc Pháp, tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được điều chỉnh theo BLHS Pháp.
Song, những quy định này lại nhằm bảo vệ cho giai cấp cầm quyền ở Đông Dương lúc
bấy giờ chứ không phải bảo vệ con người một cách công bằng [28; tr.10]. Do đó, thực
tế thời kỳ này dù có nhiều vụ việc hình sự về vấn đề này, song lại ít có cơ quan có
thẩm quyền hay tòa án nào thụ lý và giải quyết.
Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương
đã giành được thắng lợi to lớn, đặc biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt
Nam, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Sau khi dành được độc lập,
chính quyền cách mạng Lào còn non trẻ đã vấp phải sự chống đối của thù trong, giặc
ngoài. Thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước Lào một lần nữa. Trước
sự can thiệp của thực dân Pháp và các lực lượng thù địch khác, đất nước Lào tạm thời
bị chia cắt thành hai khu vực. Khu vực thuộc quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào
và khu vực giải phóng Neo -Lào – hắcxạt (thuộc quyền quản lý của Mặt trận dân tộc
yêu nước Lào). Chính phủ liên hiệp đầu tiên, do Hoàng tử Souvanna Phouma lãnh đạo
11
được thành lập năm 1957 [28;tr.30]. Tuy nhiên, Chính phủ liên hiệp sụp đổ năm 1958 vì
sức ép của Hoa Kỳ. Năm 1960, Chính phủ liên hiệp thứ hai ra đời, nhưng Chính phủ này
không có thực quyền. Đến năm 1973, theo tinh thần Hiệp ước Viêng – Chăn ngày 21
tháng 02 năm 1973 được ký kết giữa Chính phủ Vương quốc Lào và Mặt trận yêu
nước Lào, Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời ra đời. Với những biến động đó khiến
cho pháp luật Lào nói chung cũng như pháp luật hình sự Lào nói riêng không được hình
thành một cách hệ thống. Chính phủ liên hiệp mới chỉ ban các Sắc lệnh nhằm giải quyết
những vấn đề bức thiết nhất chứ chưa ban hành một hệ thống pháp luật quan trọng nhằm
điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội Lào lúc bấy giờ.
Sau khi đất nước được giải phóng, Nhà nước CHDCND Lào ra đời. Từ đây, Lào
xây dựng nhà nước dưới sự viện trợ của Liên Xô cũng như Việt Nam, và tham khảo các
kinh nghiệm pháp luật của các nước để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất
[29;tr.50]. Thời kì đầu, do chưa xây dựng kịp thời và hoàn chỉnh pháp luật, để đảm bảo
công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ trật tự an ninh mà Nhà nước Lào phải tạm
thời sử dụng một số quy phạm pháp luật của chế độ cũ một cách có chọn lọc. Điều này
được khằng định tại Sắc lệnh số 50 ngày 06/01/1976 quy định: “Việc sử dụng các quy
phạm pháp luật của chế độ cũ chỉ trong trường hợp khẩn cấp và phải phù hợp với chế độ
chính trị mới”. Sau một thời gian khá dài, cơ quan lập pháp của Nhà nước Lào chưa hề
ban hành được một quy phạm nào điều chỉnh hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác. Cho đến năm 1980, để điều chỉnh các quan hệ hình sự nói
chung, CHDCND Lào đã ban hành Pháp lệnh hình sự năm 1980, Pháp lệnh này chủ yếu
quy định về các loại tội an ninh quốc gia, các loại tội về xâm phạm sức khỏe, danh dự con
người được đề cập nhưng rất ít ỏi, trong đó chỉ sử dụng các thuật nhữ pháp lý đơn giản
như “đánh người thành thương tật”. Mặc dù còn ít ỏi và thiếu sót, song các quy định của
Pháp lệnh hình sự 1980 đã trở thành kim chỉ nam cho những họat động xét xử của Nhà
nước Lào thời kì bấy giờ để xét xử kịp thời những hành vi phạm tội gây thương tích. Ví
dụ, Điều 13 của Pháp lệnh này quy định trách nhiệm pháp lý đối với người có hành vi
xâm phạm sức khỏe người khác như: “Đánh người bị thương bị phạt tù từ ba tháng đến
ba năm tù, hoặc phạt tiền từ 10.000 kip đến 50.000 kip” hay “Đánh người bị thương vào
trường hợp nghiêm trọng có thể bị phạt đến 10 năm tù” [31]. Những quy định đó mặc dù
rất đơn giản nhưng đã điều chỉnh một cách tổng quát về hành vi cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, Pháp lệnh hình sự năm 1980 lại quy định
12
chưa cụ thể, gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng pháp luật, nên đến thời kì này, hình thức
án lệ vẫn được áp dụng trong thực tiễn xét xử. Hơn nữa, hành vi về xâm phạm sức khỏe
con người bị quy định vụn vặt rời rạc trong các văn bản khác nhau như Chỉ thị số 15/1981
ngày 15/7/1981 của TANDTC về việc hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh hình sự 1980 cũng
gây ra sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản trên với BLHS.
Do yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, việc cần thiết ra đời một
BLHS quy định những hành vi phạm tội và đường lối xử lý chúng là tất yếu. Tình hình tội
phạm phát triển theo hướng gia tăng về số lượng, tính chất của mỗi vụ án ngày càng nguy
hiểm. Vấn đề áp dụng những văn bản trước đây vào công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm không còn phù hợp nữa. Để phục vụ hoạt động xét xử các tội phạm cần thiết phải có
một BLHS quy định cụ thể rõ ràng các loại tội phạm. Nắm bắt được yêu cầu trên, Lào đã
tiến hành học tập tham khảo kinh nghiệm các nước, đặc biệt khi Việt Nam ban hành
BLHS năm 1985. Từ đó, ngày 09/01/1990 Chủ tịch nước CHDCND Lào Phoumy
Vongvichit đã kí Nghị định Ban hành BLHS Lào năm 1990. BLHS Lào năm 1990 gồm
hai phần là Phần Chung và Phần Tội phạm với 166 điều luật, quy định một cách tổng quát
và khá toàn diện các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự điều chỉnh. Tuy nhiên, khi áp
dụng trên thực tế cho thấy BLHS năm 1990 có khá nhiều thiếu sót, ví dụ như các quy định
về “cơ sở của TNHS”, “Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ
nước CHDCND Lào” hay “định nghĩa tội phạm”, “cơ cấu tội phạm”, “phân loại tội
phạm” lại không được đề cập đến trong BLHS mà lại được quy định trong Nghị quyết số
01/1991/HĐTP ngày 19/4/1991 của Hội đồng thẩm phán TANDTC của Lào, điều này gây
khó khăn cho việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trên thực tế. Sau 10 năm áp
dụng, đến ngày 10 tháng 4 năm 2001, Quốc hội nước CHDCND Lào đã thông qua Nghị
quyết số 06/NA về việc sửa đổi một số quy định của BLHS năm 1990, mà cụ thể là bãi bỏ
Điều 7 Phần chung, Điều 51, Điều 62 Phần riêng nhưng vẫn không bổ sung các thiếu sót
của BLHS 1990 đã gây khó khăn cho thực tiễn xét xử.
Tuy nhiên, lần đầu tiên trong lịch sử khoa học hình sự pháp lý nước Lào, tội “cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được quy định cụ
thể trong BLHS 1990 tại Điều 90 cùng với một số văn bản hướng dẫn áp dụng như
Nghị định số 02/HĐTP ngày 20/11/1993 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hướng
dẫn Điều 90 BLHS, Công văn số 02/TATC ngày 12/2/1995 của TANDTC về hướng
dẫn xác định mức độ nghiêm trọng trong các tội xâm phạm sức khỏe người khác. Điều
13
90 BLHS Lào năm 1990 được sử dụng trong thực tiễn xét xử có hiệu quả hơn đối với
công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm xâm hại đến sức khỏe của người khác,
tránh được một số sai lầm trong việc định tội danh của tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
1.2.2. Giai đoạn sau khi Bộ luật hình sự Lào năm 2005 được ban hành
Sau một thời gian áp dụng, các quy định của BLHS Lào năm 1990 đã bộc lộ nhiều
thiếu sót, nhiều quy định nằm trong các văn bản khác nhau, gây khó khăn cho việc áp
dụng để xét xử các hành vi tội phạm trên thực tế. Do vậy, BLHS Lào đã được sửa đổi,
bổ sung theo Nghị định số 142/PO ngày 08 tháng 01 năm 2005 của Chủ tịch nước
CHDCND Lào. BLHS năm 2005 đã bổ sung thêm 16 điều luật mới, trong đó bổ sung
các quy định quan trong về cơ sở xác định trách nhiệm hình sự, tội phạm, và sửa đổi, bổ
sung các quy định trong phần tội phạm một cách cụ thể chi tiết hơn. Đối với Điều 90
BLHS Lào đã được sửa đổi như sau:
“Điều 90. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác:
1. Bất kỳ người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác thì bị phạt tù từ ba tháng đến một năm tù và bị phạt tiền từ 100.000 kip đến
500.000 kip
2. Trong trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc phạm tội có tổ chức,
người phạm tội bị phạt tù từ một năm đến năm năm tù và bị phạt tiền từ 500.000 Kip
đến 1.500.000 Kip.
3. Trường hợp phạm tội gây ra hậu quả gây cố tật nặng dẫn đến trở thành người thực
vật hoặc là chết, thì người phạm tội bị phạt tù từ năm đến mười năm tù và bị phạt tiền
từ 700.000 Kip đến 3.000.000 Kip
4. Bất kỳ cố gắng nào để thực hiện một hành vi phạm tội cũng phải bị trừng phạt”.
Như vậy, có thể thấy, Điều 90 của BLHS Lào năm 2005 được quy định khá giống
với Điều 109 BLHS Việt Nam năm 1985 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác. Điều luật này đã đưa ra được các trường hợp phạm tội cũng như
hình phạt được áp dụng. Đặc biệt, BLHS năm 2005 của Lào đã dự trù thêm trường hợp
người phạm tội đang thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa gây ra hậu quả thì cũng phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện. Quy định này có ý nghĩa giáo dục răn đe
đối với những trường hợp người phạm tội đang cố gắng tìm kiếm các cơ hội, sửa soạn
công cụ phương tiện, hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện hành vi tội phạm.
14
Việc quy định được một điều luật điều chỉnh một cách toàn diện, cụ thể về tội cố ý gây
thương tích đã góp phần không nhỏ trong công tác xét xử tội phạm cố ý gây thương tích
hiện nay tại Lào, giúp Tòa án ra những phán quyết chính xác, đúng người đúng tội.
Đồng thời, để hướng dẫn cụ thể hơn về việc áp dụng trong thực tiễn xét xử,
TANDTC đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn Điều 90 BLHS Lào năm 2005, cũng
như Thông tư hướng dẫn về tình tiết phạm tội nghiêm trọng…Những văn bản này đã góp
phần hoàn thiện cụ thể hơn những vấn đề mà BLHS năm 2005 còn quy định chung chung.
1.3. Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
1.3.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, việc nghiên cứu nó giúp
cho hoạt động xét xử được đúng đắn, nó giúp cho những nhà hoạt động tư pháp biết
được tội phạm đã xâm phạm loại quan hệ xã hội nào mà Luật hình sự bảo vệ. Khách
thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác được xác
định khá dễ dàng.
Hiến Pháp Lào năm 2003 quy định “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” [33]. Quan hệ
nhân thân với tư cách là khách thể của tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác” là khách thể loại. Trong BLHS nước CHDCND Lào các nhà làm
luật đã sắp xếp các chương trong Bộ luật theo khách thể loại. Tội “cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” tác động và gây thiệt hại vào khách thể
loại quy định tại Chương II - phần Tội phạm của BLHS Lào năm 2005. Chương này quy
định các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Như
vậy, khách thể trực tiếp của loại tội này là sức khỏe của người khác. Đây là nhũng trường
hợp người phạm tội bằng hành vi của mình đã gây thiệt hại cho sức khỏe người khác chứ
không phải cho sức khỏe của chính họ. Nếu người phạm tội tự gây thương tích cho mình
hoặc tự gây tổn hại cho sức khỏe của mình thì không được coi là phạm tội này.
Sức khỏe của con người được tổ chức y tế thế giới WHO định nghĩa như sau: “Sức
khỏe là tình trạng thoải mái của con người về các mặt thể lực, tinh thần và xã hội”. Từ
định nghĩa này chúng ta có thể thấy Nhà nước bảo vệ cho sức khỏe của công dân bằng
pháp luật, ở đây là việc Nhà nước bảo đảm cho mọi người dân được sống trong tình trạng
thoải mái không bị xâm hại tới thể lực bởi các hành vi phạm tội. Khách thể của tội phạm
15
quy định tại Điều 90 BLHS Lào năm 2005 là sức khỏe của con người hay nói cách khác là
tình trạng thoải mái về mặt thể lực của con người. Các mặt tinh thần theo định nghĩa của
WHO không phải là khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà là khách thể của tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác được
quy định tại các Điều 94, Điều 95 BLHS Lào năm 2005.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gây thiệt hại
cho khách thể là sức khỏe của con người. Tội phạm tác động trực tiếp lên thân thể con
người gây thiệt hại, vậy đối tượng cố ý gây thương tích là con người. Con người là nhân
tố tạo nên xã hội, là chủ thể của nhiều quan hệ xã hội. Bất cứ hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại sức khỏe nào tác động lên cơ thể con người gây ra những thiệt hại nhất
định làm biến đổi đời sống bình thường của một con người đều bị xử lý theo luật hình sự.
1.3.2. Mặt khách quan của tội phạm
Tội phạm là một dạng hoạt động của con người nên nó bao giờ cũng được thể
hiện ra ngoài thế giới khác quan, tồn tại bên ngoài cuộc sống mà con người có thể
nhận thức được. Mặc khách quan là yếu tố cấu thành tội phạm không thể thiếu được vì
không có nó sẽ không có các yếu tố khác. Một ý định phạm tội chưa được thể hiện ra
bên ngoài thế giới khách quan thì chưa phải là tội phạm, dẫn đến không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu mặt khách quan là rất cần thiết.
Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp những biểu hiện sau:
- Hành vi (khách quan) nguy hiểm cho xã hội;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội công cụ, phương
tiện, thủ đoạn phương pháp địa điểm phạm tội).
Một hành vi phạm tội xảy ra thì việc đầu tiên người ta phải định tội danh cho tội
phạm đó. Căn cứ đầu tiên để định tội danh cho một tội phạm đó là mặt khách quan.
Mặt khách quan với tầm quan trọng là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình cấu
thành tội phạm được thể hiện rõ ràng ra thế giới khách quan. Dấu hiệu hành vi và một
số dấu hiệu khác trong cấu thành tội phạm cơ bản là dấu hiệu bắt buộc. Khi một tội
phạm xảy ra, đầu tiên người ta sẽ đối chiếu hành vi của tội phạm với hành vi được mô
tả trong điều luật của tội phạm trong BLHS để định cho tội phạm đó.
Hành vi khách quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác cũng rất đa dạng. Hành vi phạm tội này biểu hiện dưới nhiều hình
16
thức khác nhau. Hậu quả thiệt hại gây ra đối với sức khỏe con người cũng rất nhiều loại
như có thể gây tổn hại cho sức khỏe hoặc mang thương tật. Công cụ phạm tội cũng rất
phong phú từ những công cụ thô sơ đơn giản đến những công cụ có mức sát thương cao.
Dấu hiệu đầu tiên và cơ bản nhất trong mặt khách quan là dấu hiệu hành vi gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Người phạm tội bằng hành vi
của mình tác động lên thân thể người khác gây ra thiệt hại cho sức khỏe của họ. Như trên
đã nói, hành vi của tội phạm này rất đa dạng, nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức, mà
điểm chung chính là dùng sức mạnh vật chất. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được thực hiện thông qua hành
động hoặc không hành động. Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới dạng hành
động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường
đối tượng tác động của tội phạm, xâm phạm quyền nhân thân của con người, qua việc
người phạm tội nghĩa là người phạm tội làm một việc mà pháp luật nghiêm cấm không
được làm nhằm biến đổi tình trạng bình thường của sức khỏe người khác như có thể dùng
tay để đấm, tát, dùng chân để dẫm đạp lên thân thể nạn nhân hoặc dùng các loại vũ khí
hay súc vật (như dùng gậy, gạch đá, dao, mã tấu, dùng chó để cắn, dùng bọ cạp để đốt…).
Hành vi phạm tội cũng có thể được thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, là hình thức của hành vi
khách quan làm biến đổi tình trạng bất bình thường đối tượng tác động của tội phạm, xâm
phạm quyền nhân thân của con người, qua việc chủ thể tội phạm không làm một việc mà
pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều kiện để làm, như bác sỹ cố ý không cấp
cứu người bệnh hoặc có thể do người phạm tội dùng sức ép nào đó bắt người bị hại phải
tự gây thương tích cho mình như bắt cắt một bộ phận nào đó trên cơ thể nạn nhân, hay bắt
chặt ngón tay hay phải bắt uống thuốc trụy thai… Ví dụ: Tại Xiêng Khoảng, do Tinut có
quan hệ bất chính với vợ mình là Nouna, nên Khuphan bắt Tinut phải tự cắt thịt
mình…Nếu không Khuphan sẽ cho những biện pháp gây cho Tinut “đau đớn” hơn nhiều.
Về hậu quả, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác là
tội phạm cấu thành vật chất, nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc
trong mặt khác quan của cấu thành tội phạm này. Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra cho xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Người phạm
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng hành vi
của mình tác động tác động lên thân thể con người gây ra thiệt hại về thể chất. Những
17
thiệt hại này có thể là những thương tật trên cơ thể làm mất chức năng một số bộ phận
nào đó (què tay, cụt chân, chột mắt). Hậu quả nguy hiểm cho xã hội với tư cách là một
dấu hiệu pháp lý của mặt khách quan đã phản ánh trung thực tính nguy hiểm của hành
vi phạm tội, nó có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn xét xử cũng như là dấu hiệu để định
tội, định khung hình phạt, định mức hình phạt cho người có hành vi phạm tội này.
Khi nghiên cứu mặt khách quan của một tội phạm cụ thể ngoài việc xem xét những
dấu hiệu nguy hiểm chúng ta cần xem xét mọi quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Một người chỉ chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu giữa hành vi khách quan
đã thực hiện của họ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội có quan hệ nhân quả với nhau. Vấn
đề quan hệ giữa hành vi và hậu quả cũng được đặt ra đối với tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe. Trong thực tiễn xét xử tội này đã gặp nhiều trường hợp phức tạp
việc đánh giá hậu quả có phải do hành vi phạm tội gây ra hay không cần phải có sự hỗ trợ
của cơ quan chuyên môn, có trường hợp nạn nhân đã mang thương tích từ trước, thương
tích này không phải là hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích nhưng trong quá trình điều
trị thương tích này có trong kết luận của bác sĩ điều trị dẫn đến việc tòa án có thể xét xử
nặng hơn cho bị cáo. Do vậy, cần phải có một kết luận chính xác khác đó là hội đồng
giám định y khoa để bản án đối với bị cáo đúng đắn hơn, công bằng hơn. Như vậy, khi
hành vi là nguyên nhân và hậu quả là kết quả thì hành vi phải xảy ra trước và hậu quả xảy
ra sau, về mặt thời gian.
1.3.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Từ định nghĩa về tội phạm, có thể thấy, tội phạm là thể thống nhất giữa mặt
khách quan và mặt chủ quan. Nếu mặt khách quan là biểu hiện ra bên ngoài thế giới
khách quan như: hành vi nguy hiểm, hậu quả nguy hiểm, công cụ, phương tiện… thì
mặt chủ quan là những hoạt động tâm lý bên trong của kẻ phạm tội. Hoạt động của con
người là họat động có ý chí. Hành vi là sự lựa chọn quyết định xử sự của chủ thể. Mặt
khách quan là yếu tố tồn tại trong suốt quá trình của mặt khách quan.
Hoạt động tâm lý bên trong của chủ thể phạm tội có nhiều tội nội dung khác
nhau, những nội dung thuộc mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa về mặt hình sự là
những nội dung trả lời các câu hỏi sau:
- Điều gì thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội?
(Động cơ);
18
- Người phạm tội đặt được điều gì khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội?
(Mục đích);
- Lý chí và ý chí của người phạm tội đối với biểu hiện bên ngoài của tội phạm
như thế nào? (Lỗi).
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các yếu tố: Động cơ, mục đích và lỗi. Trong
những yếu tố này lỗi là yếu tố bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi cấu thành tội
phạm. Động cơ, mục đích trong một số cấu thành tội phạm là dấu hiệu bắt buộc còn
nói chung động cơ mục đích được quy định là TTĐK của một số cấu thành tội phạm.
Trong luật hình sự Lào, nguyên tắc có lỗi được coi là một nguyên tắc cơ bản, lỗi
không thể thiếu (là dấu hiệu bắt buộc) trong bất cứ một cấu thành tội phạm nào. Một người
phải chịu TNHS không phải chỉ vì đã có hành vi khách quan mà còn vì có yếu tố lỗi trong
việc thực hiện hành vi khách quan đó. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể phạm tội đối với
hành vi của mình và gây hậu quả do nó gây ra. Trong một trường hợp cụ thể, vào hoàn cảnh
nhất định, chủ thể của hành vi gây thiệt hại có nhiều khả năng để lựa chọn cho một xử sự
phù hợp với xã hội nhưng chủ thể lại lựa chọn quy định và thực hiện xử sự gây thiệt hại cho
xã hội. Lỗi phản ánh thái độ tiêu cực của người phạm tội đối với xã hội. Trong tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì ngay tội danh này đã phản
ánh dấu hiệu lỗi. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là
tội mà dấu hiệu trong mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là lỗi cố ý.
Điều 9 BLHS Lào năm 2005 quy định “cố ý phạm tội: tội cố ý là hành vi được
thực hiện với nhận thức rõ hành tính chất nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó,
nhưng vẫn thực hiện hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để cho hậu quả đó xảy
ra”. Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,
khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là
nguy hiểm, nó tất yếu gây ra hậu quả cho con người nhưng người phạm tội mong
muốn hậu quả đó xảy ra hoặc để mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Lỗi cố ý gồm hai hình thức lỗi: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý
trực tiếp, là lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành
vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong
muốn hậu quả xảy ra [21; tr.139]. Khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với lỗi trực tiếp tức là,
người phạm tội nhìn thấy trước hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và hậu quả
19
gây thiệt hại cho sức khỏe của con người tất yếu sẽ xảy ra nhưng nó phù hợp với mong
muốn của người phạm tội. Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước
hậu quả do hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả
xảy ra [21; tr.142]. Cố ý gián tiếp có thể hiểu là hậu quả nguy hiểm cho xã hội không
phải mục đích chính của người phạm tội và không phải là điều họ mong muốn, mà vì
một mục đích khác, tuy nhiên người phạm tội vẫn có ý thức để mặc hậu quả đó xảy ra.
Trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với lỗi
cố ý gián tiếp thì hậu quả gây thiệt hại cho sức khỏe nạn nhân nằm ngoài mong muốn
của người phạm tội. Việc gây ra thương tật cho nạn nhân không phải là mục đích của
hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
1.3.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm không thể là một tổ chức, một pháp nhân mà chỉ có thể là
một con người cụ thể. Nhưng không phải bất kỳ ai cũng có thể trở thành chủ thể của
tội phạm chỉ những người có đủ điều kiện nhất định để có lỗi khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm. Những người có đủ điều
kiện để có lỗi, để có thể trở thành tội phạm là người:
- Có năng lực TNHS;
- Đạt độ tuổi nhất định (theo quy định pháp luật).
Người có năng lực TNHS khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả
năng điều khiển được hành vi ấy. Một người thực hiện hành vi phạm tội trường hợp
không có năng lực TNHS thì không phải là chủ thể của tội phạm, vì họ không thể nhận
thức được hành vi nguy hiểm của mình và không có khả năng điều khiển được hành vi đó.
Khoản 1, Điều 54 BLHS năm 2005 quy định “Người phạm tội khi trong tình trạng rối
loạn tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình thì không phải chịu TNHS, đối với người này sẽ áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh, chẳng hạn như được gửi đến bệnh viên tâm thần hoặc các trung tâm
chăm sóc y tế cụ thể”. Vấn đề khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi đặt ra
để xem xét năng lực TNHS của người thực hiện hành vi. Tức là xem xét khi thực hiện
hành vi phạm tội người đó có mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi không.
Người có năng lực TNHS để có thể trở thành chủ thể của tội phạm phải đạt ở độ
tuổi nhất định theo quy định của pháp luật hình sự. Theo Khoản 4, Điều 7 BLHS Lào