BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS. TS. NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI - 2015
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ
Bộ luật Lao động
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng Dân sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng Hình sự
TAND
Tòa án nhân dân
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 7
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn .......................................... 7
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................ 7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN
1.1. Hoạt động xét xử của Tòa án - Khái niệm và đặc điểm ....................... 8
1.1.1. Khái niệm hoạt động xét xử của Tòa án .......................................... 8
1.1.2. Đặc điểm hoạt động xét xử của Tòa án ........................................... 11
1.2. Các nguyên tắc xét xử của Tòa án ..................................................... 15
1.3. Thẩm quyền xét xử của Tòa án .......................................................... 22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
2.1. Khái quát về Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ............................... 25
2.2. Những thành tựu trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội ...................................................................................................... 30
2.3. Những hạn chế, bất cập trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội ..................................................................................... 36
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập .......................................... 40
2.4.1. Nguyên nhân khách quan ................................................................ 40
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan ................................................................... 44
2
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY
3.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, cán bộ,
công chức của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ................................... 46
3.2. Nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức trong Tòa .............. 50
3.3. Nâng cao chất lượng công tác tranh tụng tại Tòa ............................... 53
3.4. Nâng cao chất lượng công tác nội bộ của Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội ........................................................................................................... 57
3.5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay ............................. 59
3.6. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật
cho người dân ........................................................................................... 62
KẾT LUẬN ............................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 68
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thành phố Hà Nội - trung tâm kinh tế, văn hóa,
chính trị của cả nước - đã đạt được nhiều thành quả quan trọng về mọi mặt.
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định; an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững; kỷ cương văn minh đô thị có nhiều tiến bộ… Cùng với
sự phát triển của thành phố, hoạt động của ngành tòa án nhân dân cũng có
nhiều biến đổi. Đặc biệt, số lượng cũng như chất lượng xét xử các loại án đạt
kết quả cao góp phần tích cực vào công cuộc ngăn ngừa và phòng chống tội
phạm. Chỉ riêng năm 2011, trong công tác xét xử, toàn ngành Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội giải quyết được 20.480 vụ/21.104 vụ án, đạt tỷ lệ 97%.
Trong đó, TAND thành phố Hà Nội đã thụ lý hơn 2800 vụ án, giải quyết hơn
2600 vụ, đạt tỷ lệ trên 90%. Số vụ án còn lại chủ yếu là mới thụ lý và đang
tiếp tục được giải quyết theo pháp luật. Nhìn chung, công tác xét xử ở Tòa
đảm bảo đúng pháp luật, chất lượng xét xử cao hơn rõ rệt, góp phần vào việc
đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như giải quyết các tranh chấp trong xã
hội…
Tuy nhiên, hoạt động xét xử của TAND thành phố Hà Nội vẫn còn gặp
phải nhiều sai sót, vướng mắc như: vẫn còn án bị hủy, thiếu sót trong việc thu
thập chứng cứ không đầy đủ, còn để hồ sơ quá hạn luật định; hay trong quá
trình lập hồ sơ các vụ, việc dân sự còn nhiều đơn khiếu nại, tố cáo; Thẩm
phán khi xét xử còn thiếu vô tư, không khách quan…
Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết cần đặt ra là phải nâng cao hơn nữa hiệu
quả công tác xét xử, cần có những giải pháp hợp lý, cụ thể nhằm cải thiện
những vướng mắc còn gặp phải, góp phần đẩy mạnh việc thực hiện các mục
tiêu chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo Nghị quyết số 49-NQ/TW
4
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra cũng như để giải quyết nhanh
chóng, kịp thời, chính xác các loại vụ án, phòng, chống các loại tội phạm
đang ngày càng gia tăng và có tính phức tạp cao như hiện nay. Để hiểu rõ
thực trạng hoạt động xét xử của TAND thành phố Hà Nội thời gian qua, tìm
ra những ưu điểm, hạn chế của hoạt động này, xác định nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa
chính là lý do của việc nghiên cứu đề tài: “Hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xét xử là một trong những hoạt động trọng tâm và quan trọng mà các
Tòa án luôn luôn coi trọng và cố gắng thực hiện tốt. Cùng với sự phát triển
của đất nước, Tòa án các cấp luôn phấn đấu nâng cao hiệu quả hoạt động xét
xử, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, ổn định an ninh, trật tự an
toàn xã hội. Chính vì thế, việc nghiên cứu về hoạt động xét xử của Tòa án để
tìm ra những biện pháp đúng đắn, hữu hiệu góp phần cải thiện những điểm
còn thiếu sót, hạn chế trong công tác này đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học. Có thể kể đến một số công trình sau:
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Thành Dương: “Đổi mới tổ chức và
hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” đề cập
đến chức năng, vai trò, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND ở
nước ta theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Đồng thời, Luận án cũng làm
rõ thực trạng tổ chức, hoạt động của TAND và những nội dung cơ bản về đổi
mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Huyên: “Thẩm quyền của
Tòa án các cấp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”. Luận án nghiên cứu một
cách toàn diện, hệ thống về thẩm quyền của TAND các cấp. Trong đó, tác giả
5
đã nêu lên được các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của TAND các
cấp: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như thực tiễn áp dụng
và vấn đề hoàn thiện, bảo đảm thực hiện các quy định đó.
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Bình: “Thẩm quyền của
Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính” cơ bản đề
cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành
chính của Tòa án.
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đặng Công Cường: “Vai trò của Tòa án
trong Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa” xem xét về vị trí, vai trò của
Tòa án trong Nhà nước Pháp quyền, bên cạnh đó Luận văn cũng đề cập đến
vai trò, tổ chức và hoạt động của Tòa án ở Việt Nam.
- Khóa luận tốt nghiệp đại học của Ngô Thị An: “Nâng cao hiệu quả
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay”. Khóa luận
đề cập sơ lược về tổ chức TAND trong các kiểu nhà nước trong lịch sử nhân
loại, quan điểm của Đảng ta về Tòa án và TAND theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, Khóa luận cũng lên thực trạng hoạt
động xét xử của TAND nói chung cũng như những yêu cầu và nội dung cơ
bản để nâng cao hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.
- Bài viết của PGS. TS Trần Văn Độ: “Bản chất của tranh tụng tại
phiên tòa” trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 năm 2004, nghiên cứu và
khẳng định phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất tố
tụng nói chung và xét xử nói riêng. Qua đó thấy được tranh tụng là nguyên tắc
quan trọng trong hoạt động xét xử. Bài viết cũng đề cập đến hệ thống các bảo
đảm về mặt pháp lý, về tổ chức cũng như về cơ sở vật chất để đảm bảo cho
nguyên tắc tranh tụng được thực hiện đầy đủ trong tố tụng nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án.
6
- Bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12 năm 2004 của tác giả
Lê Văn Thảo: “Nâng cao kỹ năng xét xử vụ án hình sự”. Bài viết này đã nêu
lên một số vấn đề về nâng cao kỹ năng xét xử vụ án hình sự của các Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân như: kỹ năng điều khiển phiên tòa; kỹ năng thẩm
vấn; thái độ của các thành viên Hội đồng xét xử; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
pháp luật, nghiệp vụ xét xử và phẩm chất cần thiết cho Hội thẩm nhân dân…
Các công trình trên về cơ bản đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau
như lịch sử phát triển, vị trí, vai trò, thẩm quyền xét xử, tổ chức và hoạt động
của Tòa án. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập riêng đến
vấn đề lý luận về hoạt động xét xử của Tòa án một cách có hệ thống cũng như
đề cập đến các khía cạnh tổng thể trong công tác xét xử của Tòa án về mọi
lĩnh vực. Đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu và đánh giá toàn diện
về hoạt động xét xử của TAND thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
như công trình này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về hoạt động
xét xử của Tòa án, đánh giá thực trạng hoạt động xét xử của TAND thành phố
Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng
xét xử của Tòa hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Xây dựng khái niệm hoạt động xét xử của Tòa án, làm rõ các đặc
điểm, nguyên tắc xét xử và thẩm quyền xét xử của Tòa án.
+ Đánh giá thực trạng hoạt động xét xử của TAND thành phố Hà Nội
thời gian qua.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử của
TAND thành phố Hà Nội hiện nay.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động xét
xử của Tòa án và đánh giá thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội thời gian qua.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật, vận dụng quan điểm về tư pháp và cải cách tư pháp của Đảng
Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê tư pháp…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã xây dựng được một cách khái quát một số vấn đề lý luận
về hoạt động xét xử của Tòa án.
Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội thời gian qua và đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án. Vì thế, luận văn sẽ có thể là tài liệu
tham khảo phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án nói chung và Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động xét xử của Tòa án.
Chương 2. Thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội thời gian qua.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay.
8
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN
1.1. HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN - KHÁI NIỆM VÀ
ĐẶC ĐIỂM
1.1.1. Khái niệm hoạt động xét xử của Tòa án
Như chúng ta đã biết, ba hình thức cơ bản và không thể thiếu giúp Nhà
nước thực hiện chức năng của mình là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện
pháp luật và bảo vệ pháp luật. Ba hình thức này tương ứng với việc thực hiện
ba loại quyền lực nhà nước, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các
quyền này được phân chia cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện
và trong quá trình hoạt động, các cơ quan đó phải phối hợp với nhau tạo thành
một thể thống nhất, có sự tương trợ, liên kết, hỗ trợ lẫn nhau. Trong đó, quyền
tư pháp chủ yếu được giao cho hệ thống cơ quan Tòa án thực hiện.
Đối với Nhà nước Việt Nam, chức năng xét xử của Tòa án đã được ghi
nhận từ bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946. Điều 63 Hiến pháp
này quy định: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm
có:
A. Tòa án tối cao;
B. Các Tòa án phúc thẩm;
C. Các Tòa đệ nhị cấp và sơ cấp”.
Như vậy, ngay từ khi Nhà nước Việt Nam được thành lập, Tòa án - “cơ
quan tư pháp” được hiểu là cơ quan xét xử - là cơ quan duy nhất thực hiện
quyền xét xử. Tiếp nối Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 lại một lần
nữa khẳng định: “Tòa án nhân dân tối cao nước Việt nam dân chủ cộng hòa,
các Tòa án địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
9
Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể
quyết định thành lập Tòa án đặc biệt” (Điều 97).
Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Tòa án nhân dân tối cao,
các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét
xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt
hoặc trong trường hợp cần xem xét những vụ án đặc biệt, Quốc Hội hoặc Hội
đồng nhà nước có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt…”(Điều 128).
Cho đến nay, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) - Hiến pháp
hiện hành của nước ta vẫn khẳng định: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án
nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là
những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội cơ thể quyết định thành lập Tòa án đặc
biệt” (Điều 127).
Có thể thấy, từ Hiến pháp đầu tiên đến Hiến pháp hiện hành của nước
ta, tuy có sự khác nhau trong cách sử dụng thuật ngữ nhưng đều khẳng định
chức năng xét xử là thuộc về Tòa án. Tòa án chính là cơ quan duy nhất trong
bộ mày nhà nước thực hiện hoạt động xét xử. Vậy hoạt động này được hiểu
như thế nào?
Theo Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Xét xử: xét và xử các
vụ án nói chung” [42].
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng : “Xét xử: hoạt động do Tòa
án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tòa án sau khi nghiên cứu một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải
quyết, xử lý vụ án bằng cách ra bản án và quyết định cần thiết có liên
quan” [42].
Theo Từ điển Luật học, xét xử được hiểu:
10
“Là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các tòa án.
Các tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm
chức năng xét xử. Mọi bản án do các tòa án tuyên đều phải qua xét xử.
Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các tòa án và
kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án. Phân theo nội dung xét
xử có: xét xử tội phạm hình sự, xét xử tranh chấp dân sự, xét xử khiếu
kiện hành chính, xét xử tranh chấp lao động. Phân theo cấp độ xét xử
có: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử sơ thẩm đồng thời chung
thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm. Khi xét xử các tòa án phải
tuân theo các nguyên tắc: khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật; tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường
hợp do luật định; tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa
số" [42].
Có thể thấy, hoạt động xét xử là hoạt động của cơ quan Tòa án, nhân
danh quyền lực nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng có hiệu lực bắt buộc
đối với các bên trong vụ tranh tụng cụ thể.
Như vậy, hoạt động xét xử của Tòa án chính là hoạt động mang tính
quyền lực nhà nước, thể hiện thông qua việc xét xử, căn cứ theo các quy định
của pháp luật, đưa ra phán quyết cuối cùng bằng một quyết định hay một bản
án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự góp phần làm ổn
định trật tự an ninh, an toàn xã hội.
Xét xử là một hoạt động đặc thù và chỉ riêng Tòa án là cơ quan duy
nhất có quyền thực hiện. Tòa án thực hiện chức năng này tuân theo những
nguyên tắc nhất định và thẩm quyền xét xử khác nhau. Điều này được pháp
luật Việt Nam quy định khá rõ ràng. Hiện nay, ở nước ta, mỗi cấp Tòa án thực
hiện hoạt động xét xử trên cơ sở tuân theo thẩm quyền xét xử do luật định.
11
TAND thành phố Hà Nội cũng vậy. Trên cơ sở những nguyên tắc chung nhất
định, Tòa án thực hiện hoạt động xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của
mình. Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động xét xử của Tòa án có những
đặc điểm riêng nhất định.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động xét xử của Tòa án
Tòa án là cơ quan duy nhất và chỉ có Tòa án nhân dân mới có thẩm
quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình, lao
động, hành chính và giải quyết các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
Do đó, hoạt động xét xử của Tòa án có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân
danh quyền lực nhà nước.
Chúng ta biết rằng, quyền xét xử là một trong những loại quyền lực nhà
nước. Khi thực hiện hoạt động xét xử cũng là lúc Tòa án nhân danh quyền lực
nhà nước để đưa ra các phán quyết của mình. Trong một phiên tòa xét xử dù
là giải quyết các vụ án khác nhau như hình sự, dân sự, kinh tế hay hôn nhân
và gia đình, khi tuyên án hoặc ra quyết định nào đó, Hội đồng xét xử của bất
kỳ cấp xét xử nào cũng không phải nhân danh các thành viên của Hội đồng
xét xử mà nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng của mình.
Thứ hai, hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động mang tính độc lập.
Thẩm quyền xét xử chỉ thuộc về Tòa án. Và cũng chỉ có Tòa án mới
được thực hiện chức năng này. Đây là một trong những hình thức thực hiện
quyền lực nhà nước, mang tính độc lập. Tính độc lập ở đây có thể hiểu là khi
tiến hành xét xử, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc
bởi ý kiến của bất kì cá nhân, tổ chức nào. Thẩm phán và Hội thẩm được độc
lập đánh giá các chứng cứ đã thu thập được, độc lập xem xét các tình tiết có
liên quan đến vụ án, dựa vào các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra các
phán quyết công bằng và hợp lý. Ở TAND thành phố Hà Nội, dù là Tòa án
12
cấp trên hay cá nhân Chánh án cũng không được quyền buộc Hội đồng xét xử
phải tuân theo một mệnh lệnh hành chính nào để xử theo tội danh không đúng
theo quy định của pháp luật.
Tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp là
một yêu cầu và cũng là một nguyên tắc cơ bản. Điều này đã được quy định
ngay tại Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946: “Trong khi xét xử, các viên
Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”
(Điều 69). Đến những bản Hiến pháp sau của nước ta, nguyên tắc này tiếp tục
được ghi nhận, cụ thể tại: Điều 100 Hiến pháp năm 1959, Điều 131 Hiến pháp
năm 1980 và Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
Thứ ba, hoạt động xét xử của Tòa án dựa trên căn cứ pháp lý là các
quy phạm pháp luật.
Điều 130 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm…chỉ tuân theo pháp luật”. Như vậy, căn cứ duy nhất để Tòa án
nhân dân khi tiến hành xét xử và đưa ra phán quyết là pháp luật.
Tuy nhiên, không phải mọi văn bản pháp luật đều là căn cứ pháp lý cho
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Theo quy định của pháp luật, căn cứ
pháp lý cho hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân gồm có:
- Hiến pháp, các đạo luật và nghị quyết của Quốc hội chẳng hạn: Hiến
pháp 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Nghị quyết, pháp lệnh
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng có thể là cơ sở pháp lý cho hoạt động
xét xử của Tòa án.
- Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và
các Thông tư liên tịch cũng có thể là cơ sở pháp lí để Tòa án nhân dân xét xử.
Thứ tư, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hoạt động áp dụng
pháp luật mang tính sáng tạo, đặc thù và cũng rất phức tạp.
Hoạt động xét xử là một hoạt động mang tính sáng tạo của Thẩm phán
13
và Hội thẩm nhân dân. Sở dĩ nói vậy vì khi xét xử, các Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân đã áp dụng pháp luật một cách linh hoạt và sáng tạo. Sự linh
hoạt và sáng tạo là ở chỗ các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã nghiên cứu
kỹ, toàn diện mọi điều kiện có thể ảnh hưởng đến các vụ án, lựa chọn quy
phạm pháp luật phù hợp, phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của các quy
phạm pháp luật đối với các vụ án và dựa vào những quy định chung, khái quát
đó mà đưa ra một phán quyết “vừa thấu tình, vừa đạt lý” để giải quyết vụ án
một cách hợp tình hợp lý.
Hoạt động xét xử cũng là hoạt động mang tính đặc thù. Khi xét xử, Tòa
án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết các vụ việc diễn ra
trong đời sống xã hội, tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định để đưa ra
các phán quyết có tính bắt buộc riêng và cá biệt. Hoạt động này mang tính đặc
thù cũng bởi nó khác với hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hành
chính. Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý và điều hành, các cơ quan
hành chính có thể ra các văn bản pháp luật mang tính bắt buộc chung cho toàn
ngành và địa phương nhưng Tòa án chỉ ra các phán quyết mang tính cá biệt,
cụ thể, áp dụng trong những tính huống, vụ việc nhất định liên quan đến
những đương sự nhất định và phải tuân theo một trình tự xét xử mà pháp luật
đã quy định rất rõ ràng, chặt chẽ.
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân không chỉ mang tính sáng tạo,
đặc thù mà còn rất phức tạp. Sự phức tạp cũng gần tương đồng với sự sáng
tạo trong hoạt động xét xử. Sự tương đồng chính là ở chỗ các vụ việc xảy ra
trong thực tế cuộc sống vô cùng đa dạng, muôn hình vạn trạng, trong khi đó,
các quy định của pháp luật chỉ mang tính chất chung, khái quát. Thêm vào đó,
có những mối quan hệ xã hội mà khi xây dựng luật các nhà làm luật không thể
dự liệu hết được nên khi xét xử một vụ việc, để đưa ra được một quyết định
“vừa thấu tình, vừa đạt lý”, phù hợp với vụ việc, Tòa án nhân dân cần phải áp
14
dụng luật một cách sáng tạo và có lúc phải linh hoạt. Tuy nhiên, sự phức tạp
lại được thể hiện rõ hơn trong quá trình làm rõ các giả thiết, tiến hành xác
minh, đánh giá chứng cứ, các nguồn cung cấp chứng cứ và kết luận về giá trị
chân thực của các chứng cứ ấy. Đây là sự kết hợp giữa hoạt động pháp lý và
thực tiễn, thể hiện khả năng đánh giá của người vận dụng nhằm khôi phục lại
hình ảnh thực tế trong những vụ việc cụ thể, từ đó có thể áp dụng chính xác
những quy định của pháp luật, đưa ra bản án và quyết định có căn cứ, hợp
tình, hợp lý và hợp pháp.
Tính phức tạp trong hoạt động xét xử của Tòa án còn được thể hiện qua
việc tuân theo những quy định nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục. Khi xét xử,
mỗi Tòa án nói chung và TAND thành phố Hà Nội nói riêng đều phải tuân
theo sự quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục. Bởi lẽ, khi giải quyết các vụ
việc cụ thể, mỗi phán quyết được đưa ra không chỉ có thể hạn chế đến các
quyền, lợi ích của công dân về chính trị, xã hội, kinh tế mà còn có thể lấy đi
chính mạng sống của một ai đó. Do vậy, nếu không tuân theo những trình tự,
thủ tục chặt chẽ, nghiêm ngặt, không có sự linh hoạt trong xét xử thì có thể
những phán quyết đưa ra sẽ có những sai lầm đáng tiếc.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi thực hiện hoạt động xét xử,
Tòa án sẽ phải tuân theo những thủ tục trong BLTTHS, BLTTDS, Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính. Muốn thực hiện một cách nghiêm túc, chính xác và đúng đắn các
quy định trong các văn bản nói trên đòi hỏi các Thẩm phán cũng như những
người làm luật trong ngành này phải tinh thông luật pháp, có kinh nghiệm
thực tiễn và kiến thức xã hội uyên thâm, có đạo đức nghề nghiệp. Tóm lại, có
thể khẳng định hoạt động xét xử là một hoạt động hết sức quan trọng, đặc thù
và cũng rất phức tạp.
15
Thứ năm, kết quả của hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là bản án,
quyết định của tòa án.
Để giải quyết vụ việc, Tòa án đưa ra phán quyết cuối cùng bằng một
bản án hoặc một quyết định. Việc ra bản án, quyết định sẽ chấm dứt quá trình
tố tụng tại Tòa án. Bản án, quyết định của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật sẽ
có giá trị bắt buộc thi hành đối các chủ thể có liên quan. Các cá nhân, tổ chức
và cơ quan nhà nước đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành phán
quyết của Tòa án. Về vấn đề này, Điều 136 Hiến pháp năm 1992 quy định:
“Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật
phải được các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn
vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu
quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Nói tóm lại, hoạt động xét xử là chức năng chủ yếu của hoạt động tư
pháp, có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần đảm bảo an ninh, trật
tự an toàn xã hội. Hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và TAND thành
phố Hà Nội nói riêng mang những đặc trưng nhất định, được thực hiện tuân
theo những nguyên tắc chung - những nguyên tắc xét xử của tòa án.
1.2. CÁC NGUYÊN TẮC XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
Hoạt động xét xử là một hoạt động mang những đặc điểm rất riêng của
Tòa án nhân dân. Hoạt động này dựa trên một số nguyên tắc nhất định. Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002 đã ghi nhận các nguyên tắc trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân như sau:
Một là, Nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội
thẩm ngang quyền với Thẩm phán
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
16
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp
quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”. Như vậy, xuất phát từ bản
chất Nhà nước ta mà việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều phải quán
triệt nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân vào tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc này cũng xuất phát chính từ điều
đó.
Ngay từ Hiến pháp năm 1946, nguyên tắc này đã được khẳng định:
“Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để tham gia ý kiến nếu
là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định nếu là việc đại hình” (Điều 65). Trong
Hiến pháp năm 1959, một lần nữa vai trò của nhân dân lại được thể hiện:
“Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy
định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm
phán” (Điều 99). Đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp hiện hành, nguyên
tắc này tiếp tục được khẳng định.
Hoạt động xét xử là hoạt động rất quan trọng của Tòa án. Để giải quyết
một vụ việc được đúng đắn, chính xác, hợp lý và hợp pháp, trong Hội đồng
xét xử cần có cả Thẩm phán lẫn Hội thẩm nhân dân. Khi xét xử, Hội thẩm
nhân dân ngang quyền với Thẩm phán. Điều này có thể làm cho hoạt động xét
xử của Tòa án đảm bảo được tính khách quan, đúng đắn và công bằng. Bởi
Hội thẩm nhân dân là những người sống và làm việc gần gũi với cuộc sống
của nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án,
tạo điều kiện để Hội thẩm nhân dân có thể phát huy được vai trò đại diện của
mình, xứng đáng với lòng tin của người dân khi cùng Thẩm phán giải quyết
các vụ việc đem lại sự công bằng, phù hợp với nguyện vọng của người dân.
Hai là, Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc
lập, chỉ tuân theo pháp luật.
17
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ
tuân theo pháp luật là một nguyên tắc rất quan trọng và nền tảng của hoạt
động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và TAND thành phố Hà Nội nói
riêng. Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp
năm 1992 và các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 1992 và
2002.
Theo nguyên tắc này, khi tiến hành xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân không bị ràng buộc bởi ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
nào. Họ tuân theo những quy định của pháp luật, độc lập đánh giá chứng cứ
đã thu thập được, độc lập trong việc xem xét các tình tiết vụ án…từ đó đưa ra
những quyết định căn cứ trên các quy định của pháp luật.
Đối với các vụ việc, bản án phải xét xử nhiều lần theo các thủ tục sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân cũng độc lập trong việc xác minh chứng cứ, các tình tiết vụ án, đưa
ra các quyết định mà không bị lệ thuộc bởi ý kiến của bất kỳ cá nhân, đơn vị
nào cũng như bị ảnh hưởng bởi phán quyết của tòa sơ thẩm đối với những vụ
việc phải phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm. Việc này sẽ giúp cho phán
quyết của Hội đồng xét xử được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
Ba là, Nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa
số.
Xuất phát từ tính chất đặc thù và ảnh hưởng của phán quyết cuối cùng
của tòa án đối với lợi ích của các bên, lợi ích của Nhà nước, xã hội và hơn hết
còn liên quan đến sinh mạng của con người, nguyên tắc này được xây dựng
để đảm bảo những phán quyết đó là chính xác, đúng đắn và công bằng.
Nguyên tắc này được thể hiện một cách nhất quán trong các bản Hiến
pháp của nước ta và các Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Hiến pháp hiện hành
quy định như sau: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa
18
số”(Điều 131).
Hiện nay, trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung,
TAND thành phố Hà Nội nói riêng, khi xét xử tất cả các vụ án đều phải thành
lập Hội đồng xét xử. Tùy theo từng cấp xét xử, Hội đồng xét xử sẽ có những
thành phần nhất định. Tuy nhiên, thành phần Hội đồng xét xử sẽ không ít hơn
3 thành viên. Điều đó cũng khẳng định phán quyết đưa ra được dựa trên ý
kiến của một tập thể. Và các phán quyết đó cũng được quyết định theo đa số.
Nguyên tắc này đảm bảo cho Tòa án xét xử khách quan, toàn diện và chống
độc đoán.
Bốn là, Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật
định.
Nguyên tắc này được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp
năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Điều 131 Hiến pháp năm 1992
quy định như sau:“Tòa án nhân dân xét xử công khai trừ trường hợp luật
định”.
Nguyên tắc này bắt nguồn từ việc phát huy dân chủ đối với nhân dân
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là một nguyên tắc
nhằm đảm bảo cho đông đảo nhân dân tham gia phiên tòa xét xử của Tòa án
nhân dân cũng như góp phần giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao sự hiểu biết
về pháp luật trong người dân, từ đó góp phần phòng, chống tội phạm, giảm
bớt tranh chấp dân sự thông qua hoạt động xét xử của Tòa án.
Theo Từ điển Luật học, tính công khai trong công tác xét xử được hiểu
là việc xét xử các vụ án hình sự, được tiến hành một cách công khai, mọi
người đều có quyền tham dự và theo dõi diễn biến của phiên tòa xét xử.
Nguyên tắc xét xử công khai cho phép có thể thông báo trên báo chí, đài phát
thanh, truyền hình... về hoạt động xét xử của Tòa án. Trong một số trường
hợp đặc biệt, cần giữ gìn bí mật nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức xã hội thì Tòa
19
án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Nguyên tắc xét xử công khai đặt
hoạt động của Tòa án và cơ quan điều tra dưới sự giám sát của nhân dân, đề
cao trách nhiệm của những người tham gia tố tụng.
Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án được Tòa án lên kế hoạch
rõ ràng. Kế hoạch xét xử phải được niêm yết tại trụ sở của Tòa án, Tòa án
phải thông báo cho bị cáo, các đương sự và những người liên quan đến vụ án
biết thời gian, địa điểm xử án. Đối với những vụ án mang tính chất quan
trọng, Tòa án phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để
nhân dân biết. Hiện nay, ngoài việc xét xử tại các phòng xử án, Tòa án có thể
xét xử lưu động. Năm 2011, ngoài việc thực hiện xét xử công khai tại phòng
xử án, trừ những trường hợp khác do pháp luật quy định (những trường hợp
tòa án xét xử kín đối với những vụ phải giữ bí mật của Nhà nước, thuần
phong mĩ tục của dân tộc hoặc giữ bí mật theo yêu cầu chính đáng của các
đương sự), TAND thành phố Hà Nội đã xét xử lưu động được 31 vụ án. Điều
này có tác dụng rất lớn trong việc tăng cường tính giáo dục để người dân hiểu
và có ý thức pháp luật tốt hơn.
Năm là, Nguyên tắc Tòa án nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan
quyền lực nhà nước.
Điều 16 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: Tòa án
nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội; Chánh án tòa án nhân dân tối
cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian
Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội
và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội; Tòa án nhân dân
địa phương chịu giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương. Chánh án tòa
án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng
nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.
20
Hiện nay, TAND thành phố Hà Nội chịu sự giám sát của Hội đồng
nhân dân Thành phố Hà Nội. Mọi công tác của Tòa, Chánh án đều phải báo
cáo trước Hội đồng nhân dân, trong các phiên họp Hội đồng nhân dân, mọi
chất vấn của đại biểu đều được Chánh án trả lời.
Sáu là, Nguyên tắc Tòa án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 tại Điều 1 thể hiện: “Tòa án
thực hiện hai cấp xét xử”.
Chế độ hai cấp xét xử được thể hiện ở chỗ quyền tố tụng của bị cáo và
đương sự được xét xử qua hai cấp: cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc
thẩm. Theo nguyên tắc này, những bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm có
thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Đối với
nhũng bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp
luật trong thời hạn được pháp luật quy định. Đối với những bản án, quyết định
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án đó sẽ được xét xử phúc thẩm. Và
bản án, quyết định phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật.
Bảy là, Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Điều 8 quy định: “Tòa án xét
xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân
biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội;
cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất,
kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”. Đây
là một nguyên tắc quan trọng để bảo đảm thực hiện quyền cơ bản của công
dân. Nguyên tắc này cũng thể hiện sự công bằng trong hoạt động xét xử của
Tòa án nhân dân.
TAND thành phố Hà Nội khi thực hiện chức năng xét xử đều cố gắng
đảm bảo xét xử công bằng và không thiên vị. Trong những điều kiện, hoàn
cảnh, tính chất vụ việc như nhau, khi xét xử, Tòa cũng sẽ căn cứ và áp dụng
21
những quy phạm pháp luật như nhau để giải quyết, đảm bảo mọi công dân dù
là ai khi đã phạm tội hay có tranh chấp đều được bình đẳng với nhau.
Tám là, Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Để thực hiện quyền bào chữa của mình, bị cáo hoặc đương sự có thể tự
mình bào chữa hoặc nhờ luật sư, người đại diện hợp pháp bào chữa cho mình.
Tòa án cũng sẽ bảo đảm cho bị cáo, đương sự thực hiện quyền của mình.
Không những thế, trong những trường hợp cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu
đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo, đó là những trường hợp như:
- Bị cáo phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt cao nhất là tử hình;
- Bị cáo có nhược điểm về thể chất và tinh thần;
- Bị cáo là vị thành niên phạm tội.
Đây là nguyên tắc đã được quy định trong các bản hiến pháp từ Hiến
pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 và cả trong Luật tổ chức Tòa án
nhân dân từ năm 1960 đến Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, 1992 và
năm 2002.
Chín là, Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết của dân tộc mình trước Tòa án.
Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên đặc điểm về dân cư của đất
nước ta, do Việt Nam có rất nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ.
Thực hiện nguyên tắc này là góp phần tạo nên sự đoàn kết, bình đẳng giữa các
dân tộc. Không những thế, việc dùng chữ viết, tiếng nói của mình trước Tòa
án còn giúp cho chủ thể tham gia tố tụng thể hiện được hết ý chí, nguyện
vọng của mình, giúp Tòa án giải quyết các vụ việc một cách khách quan,
chính xác, nâng cao được chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án.
Đối với trường hợp người tham gia tố tụng trình bày bằng tiếng dân tộc
của mình, Tòa án sẽ chỉ định người phiên dịch.
22
Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2002 và trong các quy định tại Hiến pháp.
Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân. Việc tuân theo những nguyên tắc này sẽ góp phần không nhỏ
nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của tòa án.
1.3. THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
Khi xét xử Tòa án nhân dân tuân theo những nguyên tắc nhất định. Tuy
vậy, để giải quyết một vụ án, Tòa án phải căn cứ theo quy định của pháp luật
về thẩm quyền xét xử. Về vấn đề này, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2002, các quy định của pháp luật tố tụng cũng quy định khá chi tiết và cụ thể.
Theo quy định của pháp luật, TAND thành phố Hà Nội có thẩm quyền
xét xử như thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, đó là:
- Sơ thẩm những vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân
cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp
huyện nhưng tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lấy lên để xét xử.
Đó là những vụ án có tính phức tạp cao;
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật tố tụng;
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp
luật tố tụng;
- Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, TAND thành phố Hà Nội có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ việc về lao động, kinh tế, hình sự, dân sự, hành
chính, hôn nhân và gia đình. Các vụ việc Tòa thụ lý để giải quyết căn cứ theo
23
quy định của pháp luật như BLTTHS, BLTTDS… BLTTDS, Điều 34 đã quy
định khá cụ thể về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương. Cụ thể Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc sau đây:
“a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ
những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp
huyện quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật này;
b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những yêu
cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện quy định tại
khoản 2 Điều 33 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này.”
Căn cứ vào quy định này, thì những tranh chấp phát sinh trong hoạt
động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, phân phối…sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hay đối với những tranh chấp, yêu
cầu quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân câp huyện mà
có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ
quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài thì sẽ
không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện mà thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
Ngoài ra, Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án