Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Hợp đồng vay tài sản và thực tiễn thi hành tại tỉnh sơn la

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (576.45 KB, 72 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NHUNG

HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ NHUNG

HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 07


Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Tuấn

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Những trích dẫn có nguồn tin cậy.
Các kết luận khoa học của luận văn
chưa được công bố.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Thị Nhung


NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BLDS 2005

Bộ luật Dân sự năm 2005

BLDS 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015

HĐTD


Hợp đồng tín dụng

HĐVTS

Hợp đồng vay tài sản

TCTD

Tổ chức tín dụng

TAND

Tòa án nhân dân


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

Trang

1

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1

2

Tình hình nghiên cứu đề tài


2

3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3

4

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4

5

Phương pháp nghiên cứu

5

6

Kết cấu của luận văn

5

Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
1.1.


Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản

6

1.1.1.

Khái niệm tài sản

6

1.1.2.

Khái niệm hợp đồng vay tài sản

10

1.1.3.

Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản

12

1.2.

Các yếu tố của hợp đồng vay tài sản

17

1.2.1.


Chủ thể của hợp đồng vay tài sản

17

1.2.1.1 Cá nhân

17

1.2.1.2 Hộ gia đình

18

1.2.1.3 Pháp nhân

20

1.2.2

Đối tượng của hợp đồng vay tài sản

21

1.2.3

Hình thức của hợp đồng vay tài sản

22

1.2.4


Thời hạn cho vay

23

1.2.5.

Lãi suất và lãi

24

1.3

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng

26

vay TS


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH SƠN LA
2.1.

Một số vấn đề về chính sách tín dụng của Nhà

31

nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
và miền núi đối với tỉnh Sơn La

2.2.

Quy định của pháp luật về khái niệm, đối tượng và

33

hình thức
2.2.1

Quy định về khái niệm, đối tượng của hợp đồng vay

33

2.2.2.

Quy định về hình thức của hợp đồng vay tài sản

37

2. 3.

Quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn

39

2.3.1.

Lãi suất của hợp đồng vay tài sản

39


2.3.2.

Lãi suất quá hạn của hợp đồng vay tài sản

42

2.4.

Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong

47

HĐVTS
2.5.

Một số vấn đề về họ, hụi, biêu phường

48

2.5.1

Khái quát về họ, hụi, biêu phường ( họ)

48

2.5.2.

Đặc điểm của họ


50

2.5.3.

Các loại họ

51

Chương 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
3.1.

Kiến nghị về hoàn pháp luật về vay tài sản

55

3.2.

Kiến nghị về sủa đổi NĐ 144/2006 về hụi họ, biêu,

58

phường
KẾT LUẬN

62


1


LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội thường tồn tại trạng thái tạm thời thừa vốn hoặc
thiếu vốn ở các cá nhân, tổ chức. Có những bộ phận xã hội có vốn nhàn rỗi,
nhưng lại chưa có nhu cầu sử dụng vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tiêu
dùng; có những bộ phận khác lại có nhu cầu sử dụng vốn, nhưng không thể tự
có đủ số vốn cần sử dụng. Chính vì vậy, đã phát sinh yêu cầu điều hòa các
nguồn vốn trong xã hội theo phương thức có hoàn trả.
Quan hệ chuyển giao vốn giữa các chủ thể trong xã hội theo nguyên tắc
có hoàn trả được xác lập chủ yếu thông qua hợp đồng vay tài sản. Đây là
phương tiện pháp lý giúp các chủ thể thỏa mãn được nhu cầu về vốn của
mình. Đồng thời nó là công cụ giúp cho những cam kết vay tài sản được thực
hiện và tôn trọng, góp phần thúc đẩy sự lưu thông nguồn vốn trong xã hội.
Các vấn đề pháp lý về hợp đồng vay tài sản đã được hình thành khá lâu
trong lịch sử lập pháp Việt Nam, trải qua thời gian nó càng được củng cố và
hoàn thiện, đã tạo được hành lang pháp lý vững chắc cho sự phát triển và tồn
tại của hợp đồng vay tài sản qua các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995
và Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi không ngừng
của các quan hệ xã hội, các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vay
tài sản còn nhiều kẽ hở. Trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được
Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2017, việc tiếp tục nghiên cứu,
phân tích, đánh giá những quy định về hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật Dân
sự năm 2005 so với Bộ luật Dân sự năm 2015 có ý nghĩa về mặt khoa học.
Vay tài sản là nhu cầu thiết yếu và diễn ra khá phổ biến trong nhân dân.
Do đó, HĐVTS có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội.
Thông qua các quan hệ vay, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ



2

nông dân, tổ chức kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh với lãi suất thấp, tạo
tình đoàn kết, niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội tốt đẹp.
Không những thế, HĐVTS còn có ý nghĩa quan trọng về chính trị, xã
hội, thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Trong xã hội bóc lột, quan hệ vay tài
sản là một trong những phương tiện để bóc lột nhân dân lao động, điển hình là
hình thức cho vay nặng lãi, nó làm cho người đi vay không còn điều kiện trả
nợ, lâm vào cảnh khốn cùng phải bán nhà cửa, ruộng vườn thậm chí là bán
con cái hoặc bán mình để trả nợ.
Tuy nhiên, trong chế độ XHCN của chúng ta ngày nay thì HĐVTS đã
trở thành phương tiện pháp lý để thực hiện quan hệ hợp tác giữa các cá nhân,
tổ chức nhằm góp phần vào việc lưu thông hàng hóa, giải quyết phần nào khó
khăn trước mắt trong cuộc sống hằng ngày, củng cố tinh thần đoàn kết, tương
thân tương ái trong nhân dân. Sự ra đời của BLDS 2005 đã tạo hành lang
pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia quan hệ vay tài sản. Theo đó,
HĐVTS được thực hiện dựa trên cơ sở của sự thỏa thuận, pháp luật cho phép
các bên tự thỏa thuận ấn định mức lãi suất nhưng không được vượt quá giới
hạn cho phép của pháp luật đã góp phần đẩy lùi tình trạng cho vay nặng lãi.
Với mong muốn được nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn
áp dụng các quy định về HĐVTS trong thực tiễn xét xử, giải quyết trên địa
bàn tỉnh Sơn La trong thời gian qua, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về HĐVTS, tôi đã chọn đề tài “Hợp đồng
vay tài sản và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định HĐVTS chủ yếu được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới góc
độ kinh tế. Còn dưới, góc độ pháp lý các công trình nghiên cứu về hợp đồng
vay tài sản chưa nhiều, tiêu biểu có các công trình sau:



3

- “HĐVTS trong LDS Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi
Kim Hiếu, năm 2007.
- “Một số ý kiến góp ý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về hợp đồng
vay tài sản”, của Trần Văn Biên – Viện Nhà nước và Pháp luật, 26/12/2008.
- “Về lãi suất trong HĐVTS và lãi suất quá hạn trong dự thảo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của BLDS 2005” của Lê Minh Hùng, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 6/2008.
- Về chế định HĐVTS” của Trần Văn Biên, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 09/2004.
Bên cạch đó, cũng phải kể đến những nghiên cứu ở bình diện chung
nhất của hợp đồng vay tài sản dưới dạng một mục hay một chương của tác
phẩm như:
-TS. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên). Bình luận khoa học Bộ luật dân sự
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, – Nhà xuất bản Tư pháp.
(2014).
- Giáo trình luật dân sự”, tập 2, của Trường đại học luật Hà Nội - Nhà
xuất bản Công an nhân dân, 2006.
Tuy nhiên, tất cả các công trình, tất cả các bài viết nêu trên chủ yếu đề
cập đến việc đánh giá thực trạng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vay tài
sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, đề tài nghiên cứu sẽ
làm rõ chế định HĐVTS theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, trên cơ
sở đó so sánh chế định này được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cả
về mặt lý luận, thực tiễn thi hành và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề sau:



4

- Các quy định hiện hành về hợp đồng vay tài sản trong BLDS 2005 và
2015.
- Thực trạng thi hành và áp dụng các quy định của pháp luật về hợp
đồng vay tài sản tại tỉnh Sơn La.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quan hệ vay tài sản được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật thuộc
nhiều ngành luật khác nhau như: Dân sự, thương mại, ngân hàng, Luật các tổ
chức tín dụng. Luận văn này, nghiên cứu HĐVTS dưới giác độ là một hợp
đồng dân sự quy định trong BLDS, nghiên cứu về đối tượng, chủ thể là cá
nhân với nhau. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu về hụi, họ. biêu, phường là
giao dịch cho vay nhiều bên, đánh giá những bất cập của một số quy định về
hụi, họ, biêu, phường.
Để đánh giá hiệu quả điều chỉnh pháp luật của chế định vay tài sản,
Luận văn nghiên cứu một số vụ việc tranh chấp hợp đồng vay tiêu biểu ở tỉnh
Sơn La. Từ đó đối chiếu với các quy định hiện hành và quy định mới về hợp
đồng vay tài sản trong BLDS 2015 và đưa ra nhận xét về tính hiệu quả của
chế định vay tài sản.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của hợp
đồng vay tài sản, đánh giá những điểm mới của chế định hợp đồng vay tài sản
trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Qua thực
tiễn áp dụng, luận văn đã nêu lên những hạn chế, những bất cập trong quy
định. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
dân sự về hợp đồng vay tài sản.
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tầm quan trọng của HĐVTS trong đời sống xã hội Việt
Nam hiện nay.



5

- Phân tích, so sánh các quy định của pháp luật về HĐVTS, đánh
giá mức độ hoàn thiện của các quy định của pháp luật về chế định HĐVTS
trong BLDS 2015;
- Tìm hiểu việc áp dụng các quy định của pháp luật về HĐVTS, từ đó
đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật và áp dụng
thống nhất pháp luật về HĐVTS.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: đây là phương pháp quan
trọng được sử dụng chính trong quá trình thực hiện luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sưu tầm và phân tích các vụ tranh
chấp về hợp đồng vay tài sản để làm rõ thực tiễn áp dụng chế định này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng vay tài sản
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài
sản và thực tiễn áp dụng ở tỉnh Sơn La
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về hợp đồng vay tài sản.


6


Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

1.1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản
1.1.1. Khái niệm tài sản
Trong đời sống kinh tế - xã hội, nếu tài sản được coi là điều kiện vật
chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống xã hội
thì sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan
đến tài sản là điều kiện cần thiết để giải quyết tranh chấp có liên quan đến các
loại tài sản đó. Trong khoa học pháp lý hiện nay không có khái niệm thống
nhất về tài sản, cũng như các tiêu chí chung để xác định một loại đối tượng
nào đó có phải là tài sản hay không.
Hiện nay, BLDS của các nước không đưa ra khái niệm về tài sản, mà
quy định có tính liệt kê về tài sản.Trong BLDS Liên bang Nga 1994 không
định nghĩa về tài sản. Tuy nhiên, để xác định các đối tượng của các quyền dân
sự, Bộ luật này liệt kê những đối tượng cụ thể của quyền dân sự bao gồm
“Điều 128. Các loại đối tượng của các quyền dân sự
Thuộc về đối tượng của các quyền dân sự phải được nhắc đến là vật,
trong số đó bao gồm tiền và giấy tờ có giá và cũng bao gồm các loại tài sản
khác, như các quyền tài sản; công việc và dịch vụ; thông tin; kết quả của hoạt
động trí tuệ, bao gồm quyền loại trừ đối với chúng (quyền sở hữu trí tuệ);
những giá trị phi vật chất”.
Theo quy định trên đối tượng của quyền dân sự là tài sản. Tài sản được
thể hiện thông qua các vật cụ thể hoặc tài sản là lợi ích vật chất hoặc các hành
vi được vật chất hóa (công việc..). Nhìn chung, pháp luật các nước đều không
đưa ra khái niệm tài sản mà chỉ quy định “cái gì” là tài sản. Như BLDS của
Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) quy định:


7


“Điều 448. Phân loại tài sản
Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư;
tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản”.
Hay BLDS Québec (Canada) quy định về loại tài sản như sau:
“Điều 899: Tài sản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành
bất động sản và động sản”.
Các bộ luật trên đều không đưa ra định nghĩa hoặc khái niệm về tài sản
mà phân loại tài sản thành bất động sản và động sản. Đây là một quy định
mang tính khái quát cao, bao gồm tất cả các lợi ích vật chất đều trở thành tài
sản. Nếu pháp luật định nghĩa hoặc đưa ra khái niệm tài sản thì quy định có
tính chất “đóng” chỉ điều chỉnh những tài sản đã được quy định, còn những tài
sản mới phát sinh sẽ không điều chỉnh được, cho nên khi xảy ra tranh chấp về
tài sản sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.
Qua những quy định trên cũng như nghiên cứu pháp luật của một số
nước, có thể thấy có ba cách quy định về tài sản: (i) Sử dụng cách liệt kê các
loại tài sản. (ii) Quy định tài sản là đối tượng của quyền sở hữu; (iii) Tài sản
được phân chia thành bất động sản và động sản..
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, vấn đề tài sản lần đầu tiên được quy
định trong BLDS 1995, Điều 172 quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực,
tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Đây là một quy
định mới về tài sản, cho nên còn hạn chế là chỉ những vật có thực là những
vật có đầy đủ công dụng mà con người khai thác được mới là tài sản, còn
những vật đang trong quá trinh hình thành chưa được điều chỉnh trong quy
định này. Để khắc phục hạn chế trên Điều 163 BLDS2005 quy định: “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 163 quy
định tài sản là các loại vật đã hình thành hoặc đang hình thành đều là tài sản
Hay nói cách khác Điều 163 không quy định về công dụng mà quy định về sự



8

tồn tại của vật. Để làm rõ về các loại tài sản là đối tượng của quyền dân sự
BLDS 2015 Điều 105 quy định tài sản gồm:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động
sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Ngoài việc liệt kê những gì là tài sản, Điều 105 còn phân loại tài sản
thành bất động sản và động sản, tài sản hiện có và tài sản hình thành trong
tương lai. Đây là một quy định có tính chất tổng hợp và nâng cao các quy
định của pháp luật nước ngoài thể hiện tinh thần học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm
của nước ngoài trong lĩnh vực lập pháp của Nhà nước ta.
Theo quy định của BLDS 2005 và BLDS 2015, thì vật là bộ phận của
thế giới vật chất, tồn tại khách quan. Tuy nhiên với tư cách là đối tượng trong
quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong
quan hệ. Măt khác vật là đối tượng của quan hệ dân sự thì các chủ thể phải
chiếm hữu được thì mới đưa vật vào lưu thông. Ngoài ra, pháp luật quy định
những vật nào được lưu thông thì chủ thể mới có quyền sở hữu và đưa vật vào
các giao dịch dân sự, thương mại. Theo Điều 105 BLDS 2015 thì tài sản gồm:
- Tiền là loại tài sản có tính chất đặc biệt. Pháp luật Việt Nam coi tiền
là một loại tài sản riêng biệt. Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý
riêng biệt khác với vật, cụ thể: Đối với tiền thì ta không thể trực tiếp khai thác
công dụng hữu ích từ chính đồng tiền đó. Đối với vật thì ta có thể khai thác
được trực tiếp như dùng xe để đi, dùng bút để viết. Tiền thực hiện ba chức
năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ
định giá các loại tài sản khác. Tiền có thể là tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ
được phép lưu thông qua hệ thống tổ chức tín dụng..
- Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện
nay. Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận



9

quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan
hệ pháp lý với chủ thể khác. Với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ
pháp luật dân sự, giấy tờ có giá có những đặc điểm sau:
- Xét về hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình
thức, trình tự nhất định.
- Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá có thể hiện quyền tài sản, giá của
giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ.
- Giấy tờ có giá có tính thanh toán và là một công cụ có thể chuyển
nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng
một phần giấy tờ có giá là vô hiệu. Ngoài ra giấy tờ có giá có các đặc điểm
khác như: có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro…
Các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản
như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà, sổ tiết kiệm… không phải là giấy tờ có giá mà chỉ đơn thuần là một
vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao
trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ (Điều 181, BLDS
2005). Quyền tài sản là các quyền yêu cầu chủ thể khác thực hiện một nghĩa
vụ về tài sản như trả nợ, hoặc khi chủ thể khai thác, sử dụng các đối tượng sở
hưũ trí tuệ sẽ mang lại cho chủ thể những lợi ích vật chất như tiền bản quyền
tác giả, giá chuyển nhượng, cho thuê đối tượng sở hữu công nghiệp…
Khi chủ thể có quyền tài sản, thì có thể thực hiện các giao dịch liên
quan đến quyền tài sản đó như chuyển quyền, bán… Tuy nhiên có những
quyền tài sản không thể chuyển giao được vẫn là đối tượng của quyền dân sự
như quyền cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Để khắc phục bất
cập của Điều 181 BLDS 2005, Điều 115 BLDS 2015 quy định: “ Quyền tài
sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng



10

quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Điều 115
BLDS 2015 quy định quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác là tài sản.
Quy định này có tính chất khẳng định rằng Nhà nước công nhận quyền sử
dụng là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân, cho nên không ai
được xâm phạm, khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất phải bồi thường cho
người sử dụng đất giá trị của quyền sử dụng đất theo giá trị trường mà không
thể hỗ trợ “ một khoản nhỏ”. Theo quy định này, các địa phương khi ban hành
khung giá đất để đền bù phải tham khảo giá thị trường, và quy định bảng
khung giá quyền sử dụng đất sát với giá thực tế nhằm hạn chế tối đa thiệt hại
cho cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế.
Từ những phân tích trên có thể khái quát về tài sản như sau: Tài sản là
các vật và các lợi ích vật chất khác mà pháp luật cho phép cá nhân, pháp nhân
có quyền sở hữu và là đối tượng của các quan hệ dân sự.
1.1.2. Khái niệm hợp đồng vay tài sản
Hiểu theo nghĩa chung nhất, vay tài sản là một quan hệ xã hội, quan hệ
sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể này với các chủ thể khác trên nguyên
tắc có hoàn trả. Mục đích và tính chất của quan hệ vay tài sản do mục đích và
tính chất của nền sản xuất trong xã hội quyết định. Sự vận động của quan hệ
vay tài sản luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phương
thức trong xã hội đó.
Ngay từ thời La Mã cổ đại, hợp đồng vay tài sản đã trở thành một trong
những hợp đồng thông dụng của pháp luật về hợp đồng, được gọi là hợp đồng
vay nợ, theo đó:
Hợp đồng vay nợ là sự thỏa thuận của hai bên, theo đó bên cho vay
chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên vay (tiền, lương thực,
thực phẩm, rượu, bơ, sữa…). Bên vay có nghĩa vụ trả vật cùng loại hoặc số

tiền đã vay khi hết hạn hợp đồng.


11

Theo quy định này thì hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế (bên
cho vay phải chuyển giao tài sản là những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu hàng
ngày của mình cho bên vay thì nghĩa vụ mới phát sinh).
Như vậy, có thể thấy, từ thời cổ đại, khái niệm hợp đồng vay tài sản đã
được hình thành và ngày nay trong BLDS của các nước đều kế thừa khái niệm
hợp đồng vay tài sản, cụ thể: Điều 1892 Bộ luật Dân sự của Pháp quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng theo đó một bên giao cho bên kia
một số lượng vật sẽ bị tiêu hao khi sử dụng với điều kiện là bên kia phải trả
vật cùng số lượng và chất lượng”. Hay Điều 587 BLDS Nhật Bản quy định:
“Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi một bên nhận từ bên kia một khoản
tiền hoặc những vật với sự ngầm hiểu rằng người đó sẽ trả lại tiền vay vật có
thể loại, số lượng và chất lượng đúng như vậy” hoặc Điều 587 BLDS Campu-chia cũng quy định: “Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng trong đó một bên
của hợp đồng gọi là người cho vay có nghĩa vụ giao cho bên còn lại gọi là
người vay sử dụng tự do các loại tiền, thực phẩm, lúa gạo hoặc các đối tượng
thay thế thác trong một thời gian nhất định, người vay sau khi chấm dứt thời
gian này sẽ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho người cho vay các đối tượng tương
đương với đối tượng đã nhận từ người cho vay về chủng loại, chất lượng và
số lượng”.
Các Bộ luật dân sự trên đều tiếp cận hợp đồng vay là sự thỏa thuận của
các bên, theo đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho vay) chuyển cho bên kia
(bên vay) một số lượng tài sản nhất định làm sở hữu, khi hết hạn của hợp
đồng bên vay hoàn trả cho bên cho vay một tài sản cùng loại với tài sản vay.
Trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, Điều 471 quy định:
“HĐVTS là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho
bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại



12

theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc
pháp luật có quy định”. Và Điều 463 BLDS 2015 quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho
vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên
cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi
nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bộ luật dân sự 2005 và 2015 quy định về hợp đồng vay hoàn toàn
giống nhau, về bản chất thì khái niệm hợp đồng vay trong pháp Việt Nam
không khác so với pháp luật các nước.
Theo những quy định trên, có thể rút ra một nhận định như sau: hợp
đồng cho vay được hình thành trên cơ sở là sự tự nguyện của các bên. Sự tự
nguyện là tiền đề để xác lập hợp đồng và là cơ sở để thực hiện hợp đồng. Các
bên tự nguyện tham gia thì sẽ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi
suất theo thỏa thuận, nhưng không vượt quá quy định và điều cấm của pháp
luật.
Tóm lại: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của
các bên, theo đó bên cho vay chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho bên vay định đoạt. Hết hạn của hợp đồng, bên vay phải trả cho bên
cho vay tài sản cùng loại và các lợi ích vật chất khác do các bên thỏa thuận,
nhưng không vi phạm điều cấm của pháp luật.
1.1.3. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự nên bên cạnh
những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự thì hợp đồng vay tài sản có
những đặc điểm riêng như sau:
- Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế hoặc ưng thuận



13

Theo lý luận thì hợp đồng thực tế là hợp đồng mà sau khi thoả thuận,
hiệu lực của hợp đồng chỉ phát sinh tại thời điểm các bên đã chuyển giao cho
nhau đối tượng của hợp đồng.
Xét về bản chất, thì hợp đồng cho vay là một hợp đồng thực tế, bởi lẽ
bên cho vay chỉ có quyền với bên có vay, hay nói cách khác bên vay không có
nghĩa vụ đối với bên cho vay. Vì nếu bên cho vay không chuyển giao tài sản
thì không thể bắt buộc bên cho vay phải chuyển giao. Nếu bên cho vay bắt
buộc phải chuyển giao có nghĩa là các bên đã thỏa thuận cho vay mà bên vay
không cho vay thì bên vay có quyền khởi kiện buộc phải cho vay, trường hợp
này nếu bên cho vay không còn tiền cho vay thì phải buộc bên vay bán nhà,
đất để cho vay ?... Điều này sẽ bất công, bởi vì bên vay chưa có thiệt hại gì về
vật chất, mặt khác bên cho vay không còn khả năng cho vay mà buộc phải
chịu sự cưỡng chế hà khắc như vậy liệu có hợp lý hay không.
Đối với hợp đồng vay có lãi suất, bên vay sẽ sử dụng tài sản vay vào
một mục đích nhất định, nếu bên cho vay không chuyển giao tài sản thì bên
vay có thể bị thiệt hại, Trường hợp này, vì hợp đồng vay có đền bù, cho nên
các bên đều nhận được lợi ích vật chất, do vậy bên cho vay phải thực hiện hợp
đồng khi đã giao kết, trường hợp này hợp đồng vay là ưng thuận, cho nên hợp
đồng được giao kết thì buộc bên cho vay phải chuyển giao tài sản.
Điều 405 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có
hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác”.
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của các bên khi không thực
hiện đúng hợp đồng. Hiện nay trong học thuật tồn tại hai quan điểm khác
nhau về hợp đồng vay là thực tế hay ưng thuận:



14

Quan điểm thứ nhất: Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận vì
hợp đồng vay có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, theo Điều 405 BLDS 2005
thì hợp đồng có hiệu lực kể từ khi giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy, nếu các bên không thỏa
thuận hoặc luật không quy định thì hợp vay có hiệu lực từ thời điểm giao kết
và đối với hợp đồng vay tài sản thì các bên có thể giao kết bằng lời nói, văn
bản. Do vậy sau khi thỏa thuận bằng lời nói về nội dung chủ yếu của hợp
đồng thì hợp đồng có hiệu lực pháp luật, và phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các bên.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cũng cho rằng: “hợp đồng vay tài sản phát
sinh hiệu lực kể từ thời điểm mà ý chí của các bên giao kết được ghi nhận
theo hình thức do luật quy định (bằng lời nói hay bằng văn bản), nếu không
có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác” [24, tr. 235] và
“vay tài sản trong Luật dân sự Việt Nam không phải là một hợp đồng thực tế.
Do đó người vay có nghĩa vụ giao tài sản và người vay có nghĩa vụ nhận tài
sản vay dù luật không nói rõ” [24, tr. 235].
Quan điểm thứ hai: HĐVTS là hợp đồng thực tế. Việc coi hợp đồng
vay tài sản là hợp đồng thực tế đã được thừa nhận từ lâu trong pháp luật La
Mã và pháp luật dân sự của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan. Cho đến khi chuyển
giao tài sản, các thỏa thuận đạt được giữa hai bên về việc cho vay chỉ mang
tính chất về một lời hứa cho vay.
Đối với hợp đồng vay tài sản không có lãi, thì hợp đồng có hiệu lực kể
từ thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay. Nếu bên cho vay
chưa chuyển tài sản, thì không thể buộc bên cho vay phải giao tài sản đã thỏa
thuận. Trường hợp này bên cho vay không nhận được bất cứ lợi ích nào từ
bên vay, cho nên không thể rằng buộc bên cho vay phải chuyển giao tài sản.
Đối với hợp đồng vay không có lãi, mà bên vay không chuyển giao tài sản mà



15

bên vay khởi kiện yêu cầu Tòa án cưỡng chế bên vay phải chuyển tài sản.
Nếu Tòa án buộc bên cho vay phải chuyển giao tài sản mà không có biện
pháp bảo đảm nghĩa vụ thì bên cho vay có khả năng chịu rủi ro rất cao, khi
bên vay không có tài sản trả nợ. Đặc biệt đối với các hợp đồng tín dụng, các
ngân hàng cho vay với giá trị lớn thì bên vay không có tài sản bảo đảm mà do
là khách hàng chiến lược cho nên ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, trong khi
đó ngân hàng xét thấy bên vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ
mà buộc ngân hàng phải cho vay thì khả năng nợ xấu rất cao, và như vậy sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và ảnh
hưởng đến sự ổn định của hệ thống tiền tệ nói chung.
-

Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ

Khi xác lập một giao dịch thì cần phải xem xét trong giao dịch đó bên
nào có quyền và bên nào có nghĩa vụ, từ đó xác định hành vi của bên không
thực hiện đúng giao dịch và phải gánh chịu chế tài do thỏa thỏa hoặc do luật
quy định. Đối với hợp đồng vay tài sản không có lãi suất thì cần thiết phải
giải phóng trách nhiệm pháp lý cho bên cho vay khi chưa chuyển giao tài sản,
vì bên cho vay không nhận được lợi ích từ bên vay. Tuy nhiên, đối với vay có
lãi suất thì các bên đều nhận được các lợi ích vật chất của nhau cho nên cần
phải áp dụng nguyên tắc cân bằng lợi ích của các bên, cho nên cần thiết phải
rằng buộc trách nhiệm của các bên khi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Điều
406 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy
định:
“1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với

nhau;
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ;”.
Như vậy, cơ sở để xác định một hợp đồng có tính chất song vụ hay đơn
vụ chính là mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm hợp


16

đồng dân sự có hiệu lực. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể
đều có nghĩa vụ, hay nói cách khác, mỗi bên chủ thể của hợp đồng song vụ là
người vừa có quyền lại vừa có nghĩa vụ dân sự. Trong hợp đồng này quyền
dân sự của bên này đối lập tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.
Còn hợp đồng đơn vụ là những hợp đồng mà trong đó một bên chỉ có nghĩa
vụ mà không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là người có quyền nhưng
không phải thực hiện một nghĩa vụ nào. Như đã phân tích ở trên, HĐVTS có
thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế. Theo Điều 473 BLDS
2005, khoản 1 quy định là bên vay có nghĩa vụ:“ Giao tài sản cho bên vay
đầy đủ, đúng chất lượng, đúng số lượng vào thời điểm đã thỏa thuận: Theo
quy định này và các quy định tại Điều 474, 477 BLDS 2005 thì hợp đồng vay
là hợp đồng song vụ vì các bên đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau.
Trường hợp HĐVTS là hợp đồng ưng thuận thì quyền và nghĩa vụ của các
bên phát sinh từ thời điểm giao kết, thì đây là hợp đồng song vụ. Quyền của
bên vay tương ứng với nghĩa vụ của bên cho vay và ngược lại. VD: A và B ký
kết hợp đồng vay tài sản trong đó thỏa thuận rằng A cho B vay 100 triệu
đồng, lãi suất theo ngân hàng, thời hạn một năm. Như vậy, sau khi cả 2 bên đã
ký vào hợp đồng thì hợp đồng này lập tức có hiệu lực ngay. Đối với A có
nghĩa vụ phải giao tiền cho B, đồng thời A có quyền đòi nợ theo quy định của
pháp luật. Đối với B có quyền yêu cầu A phải thực hiện việc giao tiền theo
đúng thỏa thuận, đồng thời B cũng có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi khi hết hạn
hợp đồng. Quyền của A tương ứng với nghĩa vụ của B và ngược lại, do đó

đây là một hợp đồng song vụ
Khi hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế thì hợp đồng là đơn vụ,
Trường hợp vay tài sản không có lãi suất, thì bên cho vay không nhận được
lợi ích từ bên vay, vì vậy không thể rằng buộc bên cho vay phải thực hiện hợp
đồng khi bên cho vay không còn khả năng. Ví dụ A thỏa thuận cho B vay 100


17

triệu đồng. Tuy nhiên, do xe ô tô của A bị tai nạn, A phải dùng tiền đó để sửa
chữa xe ô tô. Trường hợp này A vi phạm hợp đồng, cho nên B có quyền khởi
kiện A yêu cầu buộc phải thực hiện hợp đồng, có nghĩa là A phải bán xe ô tô
để cho B vay. Trường hợp này không thể áp dụng tố tụng tư pháp để giải
quyết tranh chấp để buộc A phải chuyển giao tiền cho B theo khoản 1 Điều
473 BLDS 2005 vì không phù hợp với thực tế cuộc sống.
- Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù
HĐVTS là hợp đồng có đền bù nếu vay tài sản có lãi suất. Đối những
hợp đồng vay của các tổ chức tín dụng bao giờ cũng có lãi suất có thể là lãi
suất thấp như hợp đồng vay của các Ngân hàng chính sách - xã hội. Đối với
hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng có đền bù vì bên cho vay và bên vay đều
nhận được lợi ích của nhau
HĐVTS không có tính chất đền bù nếu là hợp đồng vay không có lãi
suất. Trong cuộc sống hàng ngày để tương trợ giúp đỡ nhau sản xuất kinh
doanh thì những người thân thích, bạn bè thường cho nhau vay không có lãi
suất.. Khi hết hạn hợp đồng bên vay phải trả cho bên cho vay khoản tiền đã
vay hoặc trả vật tương ứng với vật vay.
Tóm lại, khi xác định đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản thì
cần phải xem xét đến các lợi ích mà các bên thu được từ việc thực hiên hợp
đồng vay, nếu hợp đồng vay tài sản mà bên cho vay không thu lợi tức thì là
hợp đồng thực tế và đơn vụ. Trường hợp các bên trong hợp đồng vay đều

nhận được các lợi ích vật chất thì là hợp đồng ưng thuận và song vụ. Xác định
đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc
xem xét trách nhiệm dân sự của các bên khi không thực hiên đúng hợp đồng
1.2. Các yếu tố của hợp đồng vay tài sản
1.2.1. Chủ thể của hợp đồng vay tài sản
1.2.1.1 Cá nhân


18

Cá nhân là chủ thể chính trong các quan hệ dân sự nói chung và trong
quan hệ hợp đồng nói riêng. Khi tham gia vào các quan hệ dân sự cá nhân
phải có năng lực chủ thể và năng lực chủ thể phụ thuộc vào năng lực hành vi.
Theo quy định tại Điều 17 BLDS 2005 thì: “Năng lực hành vi dân sự của cá
nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự”. Mỗi cá nhân có mức độ năng lực hành vi dân sự
khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi, trạng thái tâm, sinh lý. Đối với người có đầy
đủ năng lực hành vi có quyền tham gia vào các hợp đồng vay với các chủ thể
khác nhau như cá nhân, ngân hàng…Cá nhân từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
đã tham gia lao động sản xuất, kinh doanh thì có quyền vay phù hợp với tài
sản mà cá nhân sở hữu. Cá nhân từ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không có tài
sản thì không tham gia các giao dịch vay tài sản nếu không có sự đồng ý của
cha, mẹ hoặc người giám hộ. Vì những trường hợp này cha mẹ phải thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay, cho nên cần phải có sự đồng ý của cha, mẹ.
1.2.1.2. Hộ gia đình

Hiện nay trong các quan hệ pháp luật dân sự, đất đai, thương mại, thì
hộ gia đình là một chủ thể tương đối phổ biến. Đặc biệt trong quan hệ tín
dụng, thì hộ gia đình là một khách hàng thường xuyên của các ngân hàng, bởi
vì khi hộ gia đình vay vốn tại các ngân hàng thì phải thế chấp tài sản, trong

khi đó tài sản chủ yếu của hộ gia đình là quyền sử dụng đất được nhà nước
giao cho hộ. Khi đại diện hộ gia đình vay vốn thì cần phải thế chấp quyền sử
dụng đất và phải có chữ ký của tất cả các thành viên có đầy đủ năng lực hành
vi. Theo quy định tại Điều 106 BLDS 2005 thì “hộ gia đình mà các thành
viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung
trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự
thuộc lĩnh vực này”.


19

Tài sản chung của gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng
rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng
nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản
khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Trong các loại tài
sản trên thì tài sản có giá trị lớn nhất là quyền sử dụng đất đồng thời cũng là
tư liệu sản xuất chủ yếu của hộ. Khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng thì hộ
phải thông qua đại diện là chủ hộ. Điều 107 BLDS quy định: “1. Chủ hộ là
đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ.
Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Về nguyên tắc chủ hộ là người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình,
chủ hộ trực tiếp tham gia giao dịch hoặc có thể ủy quyền cho thành viên khác
tham gia. Tuy nhiên, các thành viên trong hộ gia đình phải chịu trách nhiệm
về hành vi của người đại diện bằng tài sản chung của hộ và tài sản riêng của
mỗi thành viên.
Liên quan đến hộ gia đình, Điều 101 BLDS 2015 quy định hộ gia đình
không phải là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Hộ gia đình là một
nhóm chủ thể là cá nhân, cho nên khi tham gia vào giao dịch thì các thành
viên phải ủy quyền cho người đại diện tham gia.

“Điều 10. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia
đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp
tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải
thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.


×