TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
***Khoa luật kinh tế***
TIỂU LUẬN
MÔN: KỸ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT
ĐỀ TÀI:
Họ và tên
MSV
Lớp
Hà Nội,Tháng 1 Năm 2018
Mục lục
Lời mở đầu
Xã hội hiện đại thường hay nảy sinh nhiều vấn đề mâu thuẫn và tranh chấp trong khi đó
không phải ai cũng có những kiến thức và hiểu biết nhất định về luật pháp để giả quyết sự
việc một cách đúng pháp luật. Vì vậy, các hình thức tư vấn pháp luật ra đời nhằm giúp tư
vấn, giải đáp và hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp
luật
I Lý luận chung
1.1 Tư vấn pháp luật là gì ?
Hiện nay còn có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, từ
góc độ lý luận và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ
chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp lý giúp cho các cá nhân, tổ
chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của một điều luật, một
văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những quy định pháp luật có liên quan mà còn là việc sử
dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm của các chuyên gia pháp luật. Như vậy, người thực hiện tư vấn
phải sử dụng lao động trí óc của mình để đưa ra một lời khuyên, giúp khách hàng có một hướng giải
quyết đúng đắn.
Đây là cách hiểu phổ biến nhất về “tư vấn pháp luật” và thuật ngữ này thường được sử dụng với
ý nghĩa đó trong các văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay.
1.2 Những đối tượng được tư vấn pháp luật
Những đối tượng được tư vấn pháp luật thường rất đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau
trong xã hội, bao gồm:
- Khách hàng của luật sư: từ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đến cơ quan nhà nước đều có thể
được luật sư cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật. Điểm khác biệt cơ bản giữa khách hàng của luật sư với
các đối tượng được tư vấn khác là thông thường khách hàng phải trả phí dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp
được luật sư tư vấn miễn phí.
- Đối tượng thụ hưởng tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp chiếm phần đông dân cư trong xã hội, chủ yếu là được tư vấn pháp luật miễn phí (chiếm gần 70%
khối lượng công việc tư vấn pháp luật của các tổ chức này), trong đó có:
Thành viên của các tổ chức chính trị –xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (ví dụ: công đoàn
viên, người lao động, nông dân, phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh …);
Người nghèo, đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật;
Các doanh nghiệp, tổ chức và đối tượng khác: ngoài đối tượng được hưởng chính sách xã hội
nói trên, các Trung tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức đoàn thể còn thực hiện tư vấn pháp luật có thu
phí ở mức thấp đối với doanh nghiệp và các cá nhân khác khi có yêu cầu.
2 Tư vấn pháp luật bằng lời nói
Tư vấn trực tiếp bằng lời là một trong số những hình thức tư vấn pháp luật. Theo đó, tư vấn pháp
luật bằng lời nói được hiểu là người tư vấn trao dổi bằng lời nói với khách hàng, trao đổi mọi thông tin
liên quan cần thiết đến vấn đề mà khách hàng cần tư vấn.
2.1. Đặc điểm kĩ năng tư vấn bằng lời nói.
Qua thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật cho thấy hình thức tư vấn bằng miệng là hình thức phổ biến.
Với các vụ việc có tính chất đơn giản, các khách hàng Việt Nam thường gặp gỡ luật sư để tìm hiểu bản
chất pháp lý của vụ việc trên cơ sở đó giúp họ tìm giải pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một
cách nhanh chóng có hiệu quả. Tuy vậy, hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp
đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Vì vậy, khi trực tiếp bằng lời nói cho khách hàng, quá trình tư vấn có
một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Luật Sư cần phải lắng nghe khách hàng trình bày và ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính,
trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ thêm. Thông thường lần đầu tiên tiếp xúc, luật sư chưa thể nắm bắt
một cách chắc chắn bản chất của sự việc đó hơn nữa, khách hàng thường trình bày theo ý chí chủ quan
và bỏ qua nhiều chi tiết mà họ cho là không cần thiết.Vì vậy, người tư vấn cần gợi ý những vấn đề để
khách hàng trình bày đúng bản chất của vụ việc. Người tư vấn nên lưu ý khách hàng, chỉ có thể đưa ra
giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật nếu khcahs hàng trình bày vấn đề trung thực và khách
quan.
Thứ hai: người tư vấn yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến vấn đề cần tư vấn.
Những giấy tờ tài liệu này phản ánh diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất của vụ việc mà
khách hàng yêu câu tư vấn. Nếu không có những tài liệu này, việc tư vấn có thể không chinh xác . Sau
khi khách hàng cung cấp đầy đủ các văn bản, giấy tờ, tài liệu có liên quan,dngười tư vấn cần phải giành
thời gian để đọc các giấy tờ tài liệu đó. Đối với các tài liệu bằng tiếng nước ngoài nhất thiết phải được
dịch ra bằng tiếng Việt để hiểu đúng nguyên văn tài liệu đó, đồng thời cũng đính kèm hồ sơ để sử dụng
lâu dài. Trong trường hợp sau khi nghe khách hàng trình bày và nghiên cứu các tài liệu do khách hàng
cung cấp mà thấy không thể trả lời ngay được, phải thông báo điều đó cho khách hàng và hẹn khách
hàng gặp vào một ngày khác.
Thứ ba: việc tra cứu tài liệu tham khảo. Việc dùng các quy định của pháp luật để làm cơ sơ cho các kết
luận của mình đều là bắt buộc . Trong nhiều trường hợp khách hàng biết họ đúng họ không giải thích
được và yêu cầu người tư vấn phải cung cấp cho họ cơ sở pháp luật để khẳng định yêu cầu của họ. Đối
với người tư vấn việc tra cứu tài liệu tham khảo bắt buộc bởi vì: Trước hết là để khẳng định với khách
hàng rằng người tư vấn đang tư vấn theo luật chứ không phải theo cảm tính chủ quan của mình. Sau
việc tra cứu tài liệu tham khảo giúp người tư vấn khẳng định chính suy nghĩ của mình.
Thứ tư: là người tư vấn phải định hướng cho khách hàng. Về thực chất là việc đưa ra giải pháp bằng
miệng cho khách hàng để trả lời các vấn đề mà khách hàng yêu cầu
Một trong những nguyên tắc khi tiến hành tư vấn cho khách hàng là luật sư phải thể hiện thái độ trung
thực, phân tích các vấn đề cơ sở pháp lý và luôn đứng về phía khách hàng của mình. Trong quá trình tư
vấn, luật sư có thể kết hợp làm công tác của người hòa giải giúp hai bên đương sự hòa giải, thỏa thuận
với nhau để tìm một giải pháp thỏa đáng. Tuy nhiên, trong trường hợp hòa giải, luật sư phải cho khách
hàng biết bản chất của vấn đề, tức là đưa vụ án ra xét xử tại Tòa án hoặc trọng tài họ sẽ được lợi gì và
nếu tự hòa giải họ cũng sẽ được lợi gì.
Ưu điểm:
- Người tư vấn có thể quan sát trực tiếp cử chỉ, tâm lý khách hàng để hiểu rõ
hơn về tâm lý khách hàng, có thể tương tác với khách hàng một cách tích cực để
tìm ra giải pháp phù hợp.
- Khi người tư vấn tư vấn trực tiếp bằng miệng: những thắc mắc của khách
hàng sẽ được giải đáp cặn kẽ, chi tiết nhất. Được gặp và trao đổi trực tiếp với
người tư vấn, khách hàng có thể có được câu trả lời nhanh nhất. Hơn nữa, khách
hàng cũng có thể đưa ra các yêu cầu của mình dễ dàng hơn. Trực tiếp đến gặp
người tư vấn, khách hàng sẽ trao đổi được nhiều hơn, nhận được sự tư vấn rõ ràng
hơn. Đây là hình thức được sử dụng nhiều và mang lại hiệu quả cao nhất.
- Với hình thức tư vấn bằng lời nói qua điện thoại: hình thức này rất tiện lợi
cho khách hàng ở xa hay bận rộn không thể đến gặp trực tiếp người tư vấn. Người
tư vấn có thể nghe khách hàng trình bày thắc mắc cũng như đưa ra cho khách hàng
lời khuyên qua điện thoại. Hình thức này thực hiện nhanh chóng nhưng chỉ giải
quyết được các tranh chấp, vấn đề không liên quan đến thủ tục.
Hình thức tư vấn này ngày càng phổ biến vì hiện tại, điện thoại là phương tiện
liên lạc nhanh và hữu hiệu. Khách hàng có thể có được số điện thoại của người tư
vấn qua người quen, qua khách hàng cũ của người tư vấn hay họ thấy thông tin của
chúng ta trên báo chí, trên mạng internet.
Nhược điểm:
- Hình thức này không chỉ đòi hỏi người tư vấn phải am hiểu pháp luật mà
còn phải có các kỹ năng giao tiếp với khách hàng, như các kỹ năng: tạo niềm tin
cho khách hàng, đồng cảm, thuyết phục, tự chủ cảm xúc[2],… Ngoài ra, người tư
vấn cũng cần phải am hiểu xã hội, tâm lý khách hàng.
- Đối với hình thức tư vấn qua điện thoại: những vấn đề liên quan đến thủ tục,
giấy tờ thì hình thức này không đạt được hiệu quả cao. Bởi, người tư vấn không thể
giới thiệu, tư vấn, hướng dẫn khách hàng một cách tỷ mỷ, khoa học và chính xác.
- Kết quả tư vấn, hướng dẫn của người tư vấn chỉ có tính định hướng cho
khách hàng. Do đó, khách hàng có thể làm theo hướng dẫn hoặc không làm theo.
Mặt khác, khách hàng cũng không thể sử dụng kết quả tư vấn để phục vụ cho mục
đích khác của mình.
- Ngoài ra, khách hàng sẽ mất khá nhiều thời gian để gặp gỡ, tiếp xúc với
người tư vấn. Phí tư vấn cũng khá cao, chưa kể chi phí cho việc đi lại,…
3 Tư vấn bằng văn bản
Tư vấn pháp luật bằng văn bản được hiểu là người tư vấn trao đổi bằng văn
bản với khách hàng, trao đổi mọi thông tin liên quan cần thiết đến vấn đề mà khách
hàng cần tư vấn.
Việc tư vấn bằng văn bản thông thường được tiến hành khi:
- Khách hàng ở xa, không trực tiếp đến gặp người tư vấn và không muốn tư
vấn qua điện thoại.
- Khách hàng muốn khẳng định độ tin cậy của giải pháp thông qua việc đề ra
các câu hỏi để người tư vấn trả lời bằng văn bản.
- Kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng để phục vụ
cho mục đích khác của họ.
- Những vụ, việc phức tạp mà nếu người tư vấn tư vấn bằng lời nói thì khách
hàng không nắm bắt hết được.
Theo yêu cầu của khách hàng việc tư vấn bằng văn bản có thể được thực hiện
theo hai hình thức: Khách hàng viết đơn, thư, chuyển fax và khách hàng trực tiếp
đến gặp người tư vấn và đề nghị tư vấn bằng văn bản.
Khi thực hiện tư vấn bằng văn bản thông thường hai bên (người tư vấn và
khách hàng) phải ký hợp đồng tư vấn pháp luật với nhau (ví dụ: Điều 26 Luật Luật
sư quy định về thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý). Trong
trường hợp một bên yêu cầu thì hợp đồng phải được công chứng.
Cũng như việc tư vấn bằng miệng, việc tư vấn bằng văn bản yêu cầu phải
quán triệt các bước sau đây:
- Nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng.
- Trao đổi với khách hàng về yêu cầu của họ để khẳng định trong một số
trường hợp cần thiết.
- Tra cứu các tài liệu văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho việc tư
vấn.
- Soạn văn bản trả lời cho khách hàng.
Ưu điểm
Khác với tư vấn trực tiếp bằng miệng, tư vấn bằng văn bản tạo cơ hội cho
người tư vấn thâm nhập hồ sơ kỹ càng và chính xác hơn, vì thế có thể đưa ra những
giải pháp hữu hiệu cho khách hàng. Tư vấn bằng văn bản yêu cầu người tư vấn
phải làm việc cẩn thận hơn, chu đáo và văn bản tư vấn đưa ra phải có độ chính xác,
có cơ sở khoa học và đúng pháp luật.
- Khách hàng có thể nắm bắt rõ ràng hơn, đầy đủ hơn những tư vấn của người
tư vấn, trong trường hợp, vụ, việc cần tư vấn quá phức tạp, mà khách hàng không
thể nắm bắt hết được khi người tư vấn tư vấn bằng lời nói.
- Khách hàng có thể khẳng định độ tin cậy của giải pháp mà người tư vấn đưa
ra. Qua đó, khách hàng có thể sử dụng kết quả tư vấn vào những mục đích khác
của mình.
- Ngoài ra, với hình thức này, khách hàng không phải mất thời gian để đến
gặp trực tiếp người tư vấn. Chi phí tư vấn thường ít tốn kém hơn so với tư vấn mặt
đối mặt bằng lời nói. Hơn nữa, chi phí đi lại, có thể tránh được.
Nhược điểm:
- Người tư vấn khó có thể nắm bắt bắt được hết tâm lý khách hàng, khó có cơ
hội tương tác để tìm hiểu rõ hơn những yêu cầu của khách hàng. Do đó, người tư
vấn khó có thể đưa ra được những giải pháp vừa đúng pháp luật, vừa hợp lý, lại
hợp tình.
- Hình thức này, ngoài việc đòi hỏi người tư vấn phải có những kỹ năng chung
về tư vấn pháp luật, thì còn đòi hỏi người tư vấn phải có kỹ năng soạn thảo văn bản
tư vấn tốt[3].
- Khách hàng sẽ không có cơ hội để tìm hiểu, yêu cầu giải đáp các vướng mắc
mới phát sinh, thời gian nhận được sự tư vấn, hướng dẫn sẽ lâu hơn so với tư vấn
trực tiếp bằng lời nói.
- Người tư vấn có thể tư vấn, hướng dẫn một cách rõ ràng, tỷ mỷ đến khách
hàng nhữngn giấy tờ, tài liệu cần thực hiện.
- Một hình thức tư vấn mà nhiều văn phòng, trung tâm tư vấn đã áp dụng đó
là tư vấn qua mail. Những vấn đề, thắc mắc mà bạn gặp trong cuộc sống bạn có thể
gửi đến các văn phòng qua mail. Những văn phòng sẽ có người check mail và trả
lời thắc mắc của bạn. Tuy nhiên, hình thức này thường mất khá nhiều thời gian.
II
4. Vai trò của tư vấn pháp luật và ý nghĩa của việc lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật
vào hoạt động tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật cung cấp cho cá nhân, tổ chức những hiểu biết pháp luật ở mức cơ bản, phổ
thông về một vấn đề nhất định, giúp họ hiểu rõ vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong một
quan hệ pháp luật cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội. Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật là lời
khuyên, ý kiến pháp lý bằng miệng hoặc có thể bằng văn bản. Hiểu theo nghĩa rộng, đó là những giải
pháp cụ thể, hữu ích giúp đối tượng được tư vấn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. ý nghĩa
xã hội của tư vấn pháp luật khá sâu rộng ở chỗ, giúp định hướng hành vi ứng xử của các cá nhân, tổ
chức theo khuôn khổ pháp luật và quy tắc đạo đức. Đồng thời, nó giúp hòa giải hoặc giải quyết theo một
trình tự phù hợp các mâu thuẫn, xung đột liên quan đến quyền, lợi ích, góp phần giảm thiểu các tranh
chấp, giảm bớt tình trạng khiếu kiện tràn lan, kéo dài do người dân hiểu pháp luật không đúng hoặc
không đầy đủ. Hoạt động tư vấn pháp luật còn góp phần giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ
quan nhà nước, của tổ chức và công dân; phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật và kiến
nghị sửa đổi, bổ sung, kịp thời hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.
Qua khảo sát thực tế cho thấy, khi có nhu cầu về giải đáp pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp lý,
người dân đã tin cậy và thường xuyên tìm đến các tổ chức giúp đỡ pháp lý sau đây: Trung tâm trợ giúp
pháp lý của Nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật, Văn phòng luật sư. Bên cạnh các Trung tâm trợ giúp
pháp lý của Nhà nước với đối tượng phục vụ còn hẹp, người dân thường yên tâm hơn khi tìm đến Trung
tâm tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp. Bởi lẽ, đây là cơ sở tư
vấn pháp luật trực thuộc các tổ chức đoàn thể của họ, là nơi họ có thể trình bày tường tận hoàn cảnh,
tâm tư, nguyện vọng của mình, tin tưởng vào chính sách của tổ chức cũng như mong được đại diện, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ dù là thành viên hoặc không phải là thành viên của tổ chức.
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động tư vấn pháp luật, mối liên hệ giữa tư vấn pháp luật với
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được hình thành hết sức tự nhiên và gắn bó với nhau khá chặt
chẽ. Tư vấn pháp luật là quá trình phổ biến pháp luật.Thông qua quá trình thực hiện các công việc cụ thể
của hoạt động tư vấn pháp luật (cung cấp thông tin, giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức …), thì các
mục đích và nội dung chính của phổ biến, giáo dục pháp luật đồng thời cũng được triển khai, lồng ghép,
cụ thể là:
- Cung cấp thông tin, văn bản pháp luật, tài liệu pháp lý cho cá nhân, tổ chức: Trước khi đưa ra
một lời khuyên hay các giải pháp để khách hàng lựa chọn, người tư vấn thường phải đưa ra những
thông tin pháp lý cơ bản, văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh về vấn đề đó hoặc nội dung chính sách,
pháp luật khác có liên quan nhiều nhất. Nhờ vậy, đối tượng đến yêu cầu tư vấn không chỉ hiểu được cụ
thể chính sách, quy định pháp luật về chính vấn đề mình cần mà còn có thể tham khảo thông tin liên
quan một cách tổng thể, đôi khi rộng hơn hoặc sâu hơn về vấn đề mình cần tìm hiểu.
- Giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức giúp cho đối tượng được tư vấn hiểu về quyền và lợi
ích hợp pháp của mình trong các quan hệ pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật: Việc tư vấn
thường đòi hỏi phải đặt ra các câu hỏi và trả lời từng câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết. Vì
vậy, người tư vấn cũng phải đưa ra lời giải thích, giải đáp cặn kẽ, bám sát vào tình huống thực tế để
phân tích giúp cho khách hàng hiểu rõ hơn vấn đề của mình trên cơ sở các quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn cho các đối tượng ứng xử đúng pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể để thực hiện
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình: Đây là hoạt động mang lại kết quả trực tiếp, dễ nhận thấy và
đánh giá sau một quá trình tư vấn, tuyên truyền pháp luật. Điều quan trọng nhất là giúp đối tượng được
tư vấn pháp luật hiểu rõ hoàn cảnh, vị thế của mình, từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và
đạo đức xã hội.
- Giúp cho họ nâng cao hiểu biết pháp luật thông qua nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử, hình
thành và phát huy ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật: Hệ quả của quá trình tư vấn,
truyên truyền pháp luật là sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết của từng cá nhân, hoặc một nhóm
người, từ đó hình thành thái độ xử sự tích cực, tôn trọng và tuân thủ pháp luật trong các quan hệ đời
sống xã hội hoặc có sự phản kháng, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật. Một cá nhân hoặc tổ chức khi
đã được tư vấn, phổ biến pháp luật chắc chắn sẽ có hiểu biết ở mức độ nhất định và hành vi ứng xử
khác với trước đó.
Trên thực tế đã có sự lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động tư vấn pháp luật
nhưng chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang tính ngẫu nhiên, tự phát mà chưa có mục đích, kế
hoạch cụ thể. Mặt khác, chúng ta cũng chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá chính xác hiệu quả của việc
tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các hình thức tư vấn pháp luật. Sự chuyển biến trong nhận
thức, hiểu biết pháp luật đòi hỏi phải có một quá trình tác động lâu dài, với nhiều cách thức khác nhau,
phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Do vậy, sự kết hợp giữa phổ biến, giáo dục pháp luật trong công tác
tư vấn pháp luật trên thực tế còn có những hạn chế sau đây:
- Nhận thức, quan điểm chưa đúng, chưa đầy đủ về việc lồng ghép hoạt động: đó là quan niệm
về phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn pháp luật là 2 hoạt động tách rời nhau hoàn toàn, việc ai nấy
làm nên chưa có sự quan tâm phối hợp, hoặc nếu có cũng mang tính hình thức, hời hợt.
- Cách triển khai thực hiện cả hai hoạt động nói trên còn trùng lặp về một số nội dung hoạt động,
địa bàn, đối tượng được tư vấn và tuyên truyền pháp luật, dễ dẫn đến tình trạng lãng phí về tài chính,
nhân lực và vật lực một cách không cần thiết.
- Do chưa được bồi dưỡng, trang bị về kỹ năng tuyên truyền, thiếu thông tin và tài liệu nghiệp vụ
nên phần lớn cán bộ tư vấn pháp luật (kể cả luật sư) còn e ngại, chưa nhiệt tình tham gia vào công tác tư
vấn pháp luật có lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật.