BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRỌNG ĐIỂM CẤP BỘ
LỊCH SỬ
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM
TRÊN ĐẤT BẮC
(1954-1975)
Chủ nhiệm đề tài
PGS-TS NGUYỄN TẤN PHÁT
MÃ SỐ: B2006-37-04 TĐ
7082
11/02/2009
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10-2008
LỊCH SỬ
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM
TRÊN ĐẤT BẮC
(1954-1975)
Chủ nhiệm đề tài
PGS-TS NGUYỄN TẤN PHÁT
Nhóm nghiên cứu
PGS-TS NGUYỄN TẤN PHÁT
PGS-TS VÕ XUÂN ĐÀN
TS HÀ MINH HỒNG
TS PHAN ĐÌNH NHAM
TS PHAN THỊ XUÂN YẾN
2
“Khơng có cơng tác gì vẻ vang bằng việc chăm nom bồi
dưỡng cho các cháu là những người chủ tương lai của nước
nhà”
(Hồ Chí Minh)
“Cần phải đào tạo và bồi dưỡng thế hệ cán bộ kế cận
phục vụ cách mạng miền Nam nói riêng và cho cách mạng Việt
Nam nói chung. Đào tạo học sinh miền Nam không những do
yêu cầu trước mắt của cách mạng miền Nam mà còn là lợi ích
lâu dài cho Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam”
(Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam)
“Việc thành lập hệ thống các trường học sinh miền Nam
trên đất Bắc là một chủ trương lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng, khơng chỉ thể hiện tầm nhìn, cách nhìn rất sáng suốt, sâu
rộng, mà cịn nói lên tình cảm cao quý thiêng liêng của Bác Hồ,
của Đảng và Nhà nước ta – cũng là của Tổ quốc và nhân dân,
với các cháu miền Nam lúc bấy giờ”.
(Phạm Văn Đồng)
3
MỤC LỤC
KHÁI QUÁT----------------------------------------------------------------------------- 7
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu------------------------------------ 8
Lịch sử nghiên cứu đề tài -------------------------------------------------------- 13
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu sử dụng ------------------------ 15
Bố cục của cơng trình ----------------------------------------------------------- 17
PHẦN MỘT - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC (19541975) -------------------------------------------------------------------------------- 19
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA SỰ RA ĐỜI TRƯỜNG HỌC SINH
MIỀN NAM------------------------------------------------------------------------ 20
1.1.1. Tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam sau
Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954---------------------------------------- 20
1.1.2. Lực lượng tập kết chuyển từ miền Nam ra miền Bắc ----- 25
1.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, BÁC HỒ VỀ THÀNH LẬP
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM ------------------------------------------- 34
1.2.1. Tình hình học sinh miền Nam ra miền Bắc ----------------- 34
1.2.2. Yêu cầu thành lập trường cho học sinh miền Nam ------- 39
1.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRƯỜNG HỌC
SINH MIỀN NAM Ở MIỀN BẮC (1954-1975) ------------------------------ 45
1.3.1. Giai đoạn 1954-1959: Hình thành hệ thống trường ------- 45
a. Buổi đầu hình thành loại trường nội trú đặc biệt ------------------ 45
b. Tập trung xây dựng và củng cố các trường thành khối (cụm)
trường ----------------------------------------------------------------------- 48
c. Hình thành bộ máy tổ chức chỉ đạo trực tiếp các trường --------- 56
1.3.2. Giai đoạn 1960-1965: sắp xếp, ổn định hệ thống các
trường ---------------------------------------------------------------------- 60
a. Sắp xếp lại các trường trong tình hình và nhiệm vụ mới của
cách mạng ------------------------------------------------------------------ 60
b. Củng cố hệ thống tổ chức và bộ máy hoạt động-------------------- 67
1.3.3. Giai đoạn 1965-1975: sắp xếp cho phù hợp với hồn
cảnh cả nước có chiến tranh ------------------------------------------- 72
a. Bố trí, sắp xếp lại các trường theo yêu cầu xây dựng và chiến
đấu bảo vệ hậu phương --------------------------------------------------- 72
4
b. Mở rộng trường học sinh miền Nam sang đất bạn----------------- 77
c. Củng cố tổ chức hệ thống trường trong những năm chiến
tranh------------------------------------------------------------------------- 79
PHẦN HAI - HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG VÀ ĐÀO TẠO Ở
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM (1954 - 1975) ------------------------ 87
2.1. CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ TRƯỜNG, LỚP------------- 88
2.1.1. Tổ chức trường lớp cho học sinh miền Nam ---------------- 88
2.1.2. Tổ chức quản lý các trường học sinh miền Nam ----------- 102
2.2. HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH
MIỀN NAM------------------------------------------------------------------------ 109
2.2.1. Hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc học sinh trong các
trường ---------------------------------------------------------------------- 109
2.2.2. Hoạt động giáo dục đào tạo trong các trường -------------- 129
2.3. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN VÀ HIỆU
SUẤT ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM --------- 160
2.3.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên và tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất ---------------------------------------------------------- 160
2.3.2. Hiệu quả và hiệu suất đào tạo của trường học sinh
miền Nam ------------------------------------------------------------------ 166
PHẦN BA - THÀNH QUẢ VÀ BÀI HỌC ---------------------------------- 173
3.1. HỌC SINH MIỀN NAM VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ
BẢO VỆ MIỀN BẮC, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM-------------------------- 174
3.1.1. Trường học sinh miền Nam với công cuộc xây dựng
và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa--------------------------------- 174
3.1.2. Trường học sinh miền Nam với sự nghiệp giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc --------------------------------------- 181
3.2. SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA HỌC SINH MIỀN NAM SAU
GIẢI PHÓNG --------------------------------------------------------------------- 189
3.3. NHỮNG NHÂN TỐ THẮNG LỢI VÀ NHỮNG HẠN CHẾ -------- 198
3.3.1. Những nhân tố làm nên thắng lợi và đóng góp của
trường học sinh miền Nam --------------------------------------------- 198
a. Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ là nhân tố
quyết định thắng lợi và đóng góp của trường học sinh miền
Nam-------------------------------------------------------------------------- 198
5
b. Được nhân dân miền Bắc với tình cảm ruột thịt Bắc – Nam
đùm bọc, cưu mang-------------------------------------------------------- 206
c. Đội ngũ cán bộ, thầy cô giáo, nhân viên là nhân tố đặc biệt
quan trọng cho sự phát triển nhà trường------------------------------- 208
d. Tinh thần đoàn kết, ý thức tự quản và sự nỗ lực cố gắng học
tập, rèn luyện, vươn lên của chính học sinh miền Nam -------------- 214
3.3.2. Những tồn tại, hạn chế của trường học sinh miền Nam -- 217
3.4. TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM – MƠ HÌNH GIÁO DỤC
ĐẶC BIỆT – KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ ------------------- 222
3.4.1. Có tầm nhìn xa trơng rộng và có sự quan tâm đầy đủ
từ chủ trương đến biện pháp cụ thể, đồng bộ, xây dựng loại
hình trường lớp phù hợp với từng đối tượng ----------------------- 222
3.4.2. Chăm sóc ni dưỡng tốt, xây dựng đội ngũ giáo dục
đủ năng lực, phẩm chất, có tâm huyết với nghề ------------------- 227
3.4.3. Xác định đúng nội dung, mục tiêu đào tạo, xây dựng
nội dung, chương trình phù hợp với hồn cảnh đất nước có
chiến tranh, bám sát thực tiễn cách mạng -------------------------- 234
3.4.4. Phối hợp tổ chức quản lý chặt chẽ, có hiệu quả, thực
hiện sáng tạo những nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa ------- 237
3.4.5. Công tác tư tưởng phải đi đầu, giáo dục phải tòan
diện, phát huy tốt vai trò các tổ chức đoàn thể, xây dựng
mối quan hệ tốt giữa nhà trường và xã hội ------------------------- 242
3.4.6. Đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần; sử dụng tốt phương pháp giáo dục nêu gương,
giáo dục bằng tình thương --------------------------------------------- 247
KẾT LUẬN ----------------------------------------------------------------------- 252
PHỤ LỤC-------------------------------------------------------------------------- 276
6
KHÁI QUÁT
7
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng, gian khổ của nhân dân ta
chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, mà đỉnh cao là chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đã đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ
ngày 21/7/1954; kết thúc một giai đoạn lịch sử vẻ vang của dân tộc, mở
ra một giai đoạn mới, một cục diện mới cho cách mạng Việt Nam.
Thực hiện các điều khỏan ghi trong Hiệp định Giơnevơ, ngay sau
Hiệp định, hai phía tiến hành việc chuyển lực lượng của mình tập kết về
phần giới tuyến đã được phân định.
Về phía lực lượng kháng chiến, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ cùng gia
đình, con em nhân dân đã lần lượt tập kết ra miền Bắc. Lực lượng lính
viễn chinh quân đội Pháp cùng ngụy quân và đồng bào bị chúng dụ dỗ
cưỡng ép di chuyển vào phía Nam, bên kia vĩ tuyến 17.
Đất nước ta bước vào thời kỳ tạm thời bị chia cắt làm hai miền.
Miền Bắc hịan tịan giải phóng, tiến hành phục hồi kinh tế, từng bước
tiến lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam còn dưới ách thống trị của thực dân
Pháp và can thiệp Mỹ, sau đó phải tiến hành đấu tranh chống lại cuộc
xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Thực tế lịch sử địi hỏi Đảng, Chính phủ phải có quyết sách, chiến
lược mới phù hợp với tình hình ở mỗi miền đất nước.
Ở miền Bắc, cùng lúc với việc chuyển quân và lực lượng kháng
chiến sau Hiệp định; Đảng, Nhà nước đã đón hàng vạn học sinh, con em
miền Nam tập kết ra miền Bắc. Cần nhanh chóng tạo mọi điều kiện thuận
lợi, bố trí chỗ ăn, chỗ ở, ni dạy những hạt giống quý của miền Nam gửi
ra.
Để đáp ứng yêu cầu học tập và nuôi dưỡng các cháu, miền Bắc đã
thành lập một hệ thống trường học sinh miền Nam trên nhiều địa phương,
nhất là ở Hải Phòng, Hà Đông, Hải Dương, Vĩnh Phú, Hà Nam… Những
8
năm sau đó các trường học sinh miền Nam được tăng cường, mở rộng,
sát nhập, chia tách, hòan thiện cho phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh
một bộ phận học sinh miền Nam đã trưởng thành, tham gia trực tiếp vào
các nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc và chống Mỹ cứu nước, cịn một bộ
phận khơng nhỏ học sinh từ chiến trường miền Nam gửi ra miền Bắc
bằng nhiều con đường, nhất là theo con đường Trường Sơn. Hệ thống các
trường học sinh miền Nam tiếp tục thu nhận, đón tiếp, ni dạy đào tạo
các học sinh này cho đến ngày giải phóng.
Sau hơn 20 năm tồn tại, phát triển (1954-1975), hệ thống trường
học sinh miền Nam trên đất Bắc đã tổ chức nuôi dưỡng đào tạo được hơn
30.000 học sinh. Sau ngày miền Nam hịan tồn giải phóng (1975), các
trường học sinh miền Nam đã hòan thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Từ năm 1975 đến nay đã dài hơn ba chục năm, hệ thống trường
học sinh miền Nam khơng cịn hiện hữu; song dấu ấn lịch sử đậm nét của
nó, bài học lịch sử có giá trị khoa học nhiều mặt của nó vẫn ln thơi
thúc các nhà lý luận, các cán bộ nghiên cứu, nhất là những người trưởng
thành từ mái trường ấy luôn mong đợi tập trung cơng sức hịan thành một
cơng trình lịch sử đủ tầm, tổng kết được quá trình hình thành, phát triển
của các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc.
Đáp ứng yêu cầu thực tế đó và cũng xuất phát từ nguyện vọng, tình
cảm của đơng đảo cựu giáo viên, học sinh miền Nam ngày ấy, đề tài
nghiên cứu khoa học trọng điểm của Bộ Giáo dục – đào tạo với tiêu đề
“Lịch sử trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (1954-1975)” được hình
thành, nhằm góp phần tổng kết lịch sử, rút ra những bài học kinh nghiệm
quý báu về trường học sinh miền Nam.
Trong phần thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, tính
cấp thiết của đề tài được thể hiện rõ:
9
1. Đề tài hòan thành sẽ đáp ứng được sự mong đợi của hàng vạn
học sinh miền Nam đã từng học trên đất Bắc.
2. Từ thực tiễn nghiên cứu khẳng định được tầm nhìn, sự sáng tạo,
đúng đắn về đường lối bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
và thành quả to lớn ấy của Đảng và Bác Hồ.
3. Qua kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định công lao to lớn
của nhân dân miền Bắc, các thầy, cơ, chú và các bộ, ngành của
Chính phủ đối với sự nghiệp cách mạng miền Nam qua việc
chăm lo nuôi dưỡng và dạy dỗ học sinh miền Nam trên đất Bắc.
Ngồi ra, q trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu còn phát
hiện thêm những điều quan trọng:
Một là, tài liệu làm căn cứ giải quyết đề tài có thể nói là rất phong
phú. Nhóm nghiên cứu đã phát đi hàng trăm thư đến các đối tượng –
nhân chứng sống của lịch sử - và đã nhận được rất nhiều hồi âm có giá
trị. Ba lần tổ chức hội thảo ở ba miền có hàng trăm cán bộ tham gia đóng
góp xây dựng đề tài; cộng với kho tư liệu lưu trữ phong phú đã tạo nhiều
thuận lợi, tăng thêm tính cấp bách thực hiện đề tài.
Hai là, mặt khác, nhóm nghiên cứu cũng được biết, do hàng chục
năm đã trôi qua kể từ khi trường học sinh miền Nam trên đất Bắc hòan
thành sứ mệnh, nhiều cán bộ - các nhân chứng lịch sử trưởng thành từ
mái trường xưa – đã khơng cịn nữa. Nhiều thầy, cơ, chú đã vĩnh viễn đi
xa, mang theo biết bao kỷ niệm mà nếu tiến hành nghiên cứu sớm, ta sẽ
không mất đi nguồn tài liệu quý báu. Điều đó một lần nữa đã làm tăng
thêm tính cấp bách của đề tài.
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về qúa trình hình thành, phát triển và
hoạt động của trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là một cơng việc
có giá trị nhiều mặt về khoa học, thực tiễn, đạo lý, thể hiện sự thắng lợi
của một mơ hình giáo dục – đào tạo đặc biệt của ngành giáo dục trong sự
10
nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đó cũng là nghiên cứu về tính nhân văn,
nhân đạo cao cả trong cơng tác giáo dưỡng, nuôi dạy học sinh ở một thời
kỳ lịch sử vơ vàn khó khăn của đất nước; nó sẽ lý giải về những hạt
giống đỏ Bác ươm từ gian khó đói nghèo, giờ đã “vượt trùng dương
trong vườn xuân đất nước thành lớp lớp chiến sĩ anh hùng, góp sức xây
dựng non sơng”; nó cũng sẽ gợi lại một niềm tự hào về nghị lực, một tinh
thần tự quản cao, một sự trưởng thành trước tuổi về trí tuệ và cuộc sống,
về nhận thức cách mạng, về tinh yêu và lẽ sống, về hiện tại và tương lai
lúc bấy giờ.
Mục đích nghiên cứu của cơng trình này nhằm:
– Khẳng định sự sáng suốt của Đảng, Bác Hồ trong việc đưa con
em miền Nam ra Bắc chuẩn bị nguồn nhân lực cho cách mạng.
Khẳng định vai trị và cơng lao to lớn của Đảng, Chính phủ,
Bác Hồ và đồng bào miền Bắc vì miền Nam ruột thịt, trong
hàng chục năm đã nuôi dưỡng giáo dục học sinh miền Nam
thành một đội ngũ những cán bộ cách mạng thuộc nhiều lĩnh
vực phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến trường kỳ chống Mỹ
cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và xây dựng
miền Nam, xây dựng đất nước sau khi hịa bình lập lại
– Khẳng định mơ hình đào tạo của trường học sinh miền Nam
trên đất Bắc là một mơ hình đặc biệt với hiệu quả đặc biệt: đã
thực hiện việc nuôi dạy và đào tạo con em miền Nam trên đất
Bắc theo nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa với nhiều ưu việt
cả về nội dung và phương thức đào tạo, trong hòan cảnh đất
nước bị chia cắt làm hai miền và chiến tranh ngày càng ác liệt
trên cả hai miền Nam-Bắc
– Khẳng định vai trò và công lao to lớn của đội ngũ cán bộ, thầy
cô giáo trong các trường học sinh miền Nam đã đào tạo rèn
11
luyện một đội ngũ cán bộ cho miền Nam sau ngày giải phóng
miền Nam thống nhất Tổ quốc. Nêu lên những nỗ lực, cố gắng
rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu học tập của hàng vạn con em
miền Nam trên đất Bắc để xứng đáng với cơng lao và lịng
mong đợi của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân, trở thành
những công dân và cán bộ cốt cán của đất nước.
– Từ đó rút ra những bài học thực tiễn của lịch sử cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo hiện nay; đặc biệt là những kinh nghiệm bổ
ích từ những thành công và chưa thành công trong việc nuôi
dạy và rèn luyện một lớp người thừa kế sự nghiệp cách mạng
của Đảng, phục vụ cho công cuộc kiến thiết và chấn hưng đất
nước hiện nay, đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, nghiên cứu về trường học sinh miền Nam trên đất Bắc
không chỉ chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo, chủ động và tầm nhìn chiến
lược của Đảng, Bác Hồ trong công tác xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ,
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong những hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt khi cả nước đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng; mà cịn
khẳng định sự đóng góp to lớn của hậu phương miền Bắc trong 21 năm
xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, đã tạo dựng được một nền giáo dục
mới nhiều ưu việt, đáp ứng kịp thời yêu cầu trước mắt và lâu dài những
nhiệm vụ cách mạng của đất nước.
Rõ ràng là việc sưu tầm tư liệu và viết lịch sử về trường học sinh
miền Nam trên đất Bắc hơn nửa thế kỷ qua, không chỉ là nhằm phục vụ
cho sự nghiệp giáo dục hiện nay trong sự nghiệp đổi mới, đang đẩy mạnh
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đi tới mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh; mà còn là nhằm đáp
ứng tâm tư nguyện vọng của những thế hệ thời chiến tranh, sinh ra ở
12
miền Nam, trưởng thành trên đất Bắc, khi nhớ về những ngày “xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước”, không quên những mái trường nuôi lớn tuổi
thơ ở hậu phương, để từ đó trở về quê hương với khúc quân hành “Giải
phóng miền Nam”.
Chiến tranh đã lùi xa, đất nước đang bước vào thời kỳ mới với
nhiều vận hội mới để thay đổi và phát triển. Nhưng những tình cảm của
mối quan hệ Bắc-Nam và những kỷ niệm đẹp đẽ dưới mái trường học
sinh miền Nam thân yêu, cùng những bài học quý giá của thời gian khổ
hào hùng ấy vẫn khắc sâu trong tâm khảm của họ. Nhiệm vụ cao cả và
thiêng liêng của các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc kết thúc đã
hơn 30 năm qua, song kết quả, giá trị, tác dụng, ảnh hưởng, ý nghĩa cách
mạng, ý nghĩa lịch sử của nó vẫn đã và đang còn lan tỏa, đang còn tác
dụng hữu hiệu với sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nứơc.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
Viết về trường học sinh miền Nam trên đất Bắc chưa có nhiều
cơng trình, kể cả thời kỳ từ sau giải phóng miền Nam năm 1975 trở lại
đây. Một số cơng trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước và thời kỳ lịch sử 1954-1975 đã đề cập đến những nội dung, lý luận
cũng như thực tiễn hoạt động kháng chiến và sự nghiệp đấu tranh thống
nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, trong đó có những vấn đề liên
quan đến việc chuyển quân tập kết, điều động cán bộ quân, dân, chính,
đảng, đào tạo cán bộ cho cách mạng miền Nam…
Trực tiếp và đáng kể nhất là các bài viết dưới dạng hồi ký, báo cáo
hội thảo về trường học sinh miền Nam trên đất Bắc của các tác giả
nguyên là cán bộ, cựu học sinh miền Nam, được tập hợp và xuất bản
trong sách:
– Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (Nxb Chính trị Quốc
gia, H.2000);
13
– Học sinh miền Nam ngày ấy hôm nay (Nxb Chính trị Quốc gia,
H.2002);
– Nửa thế kỷ học sinh miền Nam trên đất Bắc 1954 – 2004 (Nxb
Chính trị Quốc gia, H.2004);
– Một thời để nhớ (Nxb Giao thông vận tải, H.2003)…
Qua từng bài viết, các tác giả phản ánh được sự quan tâm, ưu ái,
tầm nhìn chiến lược của Đảng, Bác Hồ, của nhân dân miền Bắc trong
việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo những những hạt giống đỏ của miền
Nam, những kỷ niệm cùng những điều tâm đắc về mái trường….
Năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập hệ thống
trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, Bộ Giáo dục, Ban liên lạc học
sinh miền Nam Trung ương và Ban liên lạc học sinh miền Nam các tỉnh,
thành đã lần lượt tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm về công tác nuôi
dưỡng, giáo dục - đào tạo học sinh miền Nam như:
− “Tọa đàm về phương pháp giảng dạy, quản lý trong các trường
học sinh miền Nam” do Bộ Giáo dục đào tạo tổ chức;
− Hội thảo “50 năm các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc
1954 – 2004” do Ban Liên lạc học sinh miền Nam tỉnh Quảng
Nam – Đà Nẵng tổ chức;
− Hội thảo “50 năm thành lập các trường học sinh miền Nam trên
đất Bắc (khu vực Tây Nguyên và Miền Trung)” do Ủy ban nhân
dân Tỉnh Dăk Lăk tổ chức;
− “Đại hội đại biểu toàn quốc học sinh miền Nam lần thứ II” do
Ban liên lạc học sinh miền Nam Trung ương tổ chức;
− “Hội thảo kỷ niệm 50 năm thành lập các trường học sinh miền
Nam trên đất Bắc 1954 - 2004”, Ban liên lạc học sinh miền
Nam Trung ương phối hợp với Sở Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh
tổ chức;
14
− Và hai cuốn phim tư liệu dài 120 phút về “Trường học sinh
miền Nam trên đất Bắc” do Ban liên lạc học sinh miền Nam
Trung ương phối hợp với Sở Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh tổ
chức;
− “Đặc san kỷ niệm 50 năm học sinh miền Nam trên đất Bắc
(10/1954 - 10/2004)” do Ban liên lạc học sinh miền Nam tỉnh
Bình Định xuất bản;
− Hội thảo “Đào tạo học sinh miền Nam trên đất Bắc - thực tiễn
và kinh nghiệm” do Ban liên lạc học sinh miền Nam tại Hải
Phòng tổ chức...
Các cuộc hội thảo này đã nhận được hàng trăm bài viết của các
thầy, cô giáo, các cán bộ phụ trách, quản lý, phục vụ, các thế hệ học sinh
miền Nam đã từng tham gia giảng dạy, công tác phục vụ và học tập tại
các trường học sinh miền Nam; khẳng định những kết quả to lớn mà hệ
thống các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc đã tạo dựng được bằng
công sức và cả xương máu của nhiều thế hệ cha anh trong những năm
chiến tranh ác liệt của dân tộc. Nguồn tài liệu quý báu này đã được khai
thác sử dụng trực tiếp vào quá trình hồn chỉnh cơng trình này.
Trong một vài năm gần đây, Ban Liên lạc học sinh miền Nam của
nhiều tỉnh thành cũng xuất bản nhiều tập sách, tập san và ấn phẩm, phần
lớn dưới dạng hồi ký, những bài ca, thơ, nhạc do cựu học sinh miền Nam
sáng tác; đó cũng là nguồn tài liệu được chọn lọc sử dụng khi cần thiết
trong cơng trình.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu sử dụng
Về phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận chủ yếu và bao quát của đề tài là phương
pháp lịch sử có kết hợp với phương pháp logic – những phương pháp cơ
bản trong nghiên cứu lịch sử; đồng thời cũng kết hợp với cách tiếp cận
15
của nghiên cứu giáo dục học, xã hội học, tâm lý học... Đó là việc dựng lại
bức tranh lịch sử với bối cảnh cụ thể và những yếu tố tác động đến quá
trình hình thành, phát triển và hoạt động của các trường học sinh miền
Nam ở hậu phương miền Bắc, đánh giá thành tựu và hạn chế, từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm về quá trình chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo
của mơ hình trường học sinh miền Nam trong thời kỳ lịch sử đặc biệt khi
đất nước bị chia cắt làm hai miền.
Sự phân kỳ lịch sử được căn cứ vào quá trình thực tiễn của sự hình
thành, phát triển các trường, có liên hệ với sự phát triển của lịch sử cách
mạng và lịch sử kháng chiến chống Mỹ qua các thời kỳ.
Việc nhận định, đánh giá và rút ra bài học dựa vào logic phát triển
thực tiễn và nhằm phục vụ cho yêu cầu tổng kết quá khứ, liên hệ với quá
trình phát triển của sự nghiệp giáo dục đương đại.
Về nguồn tài liệu
Nguồn tư liệu sử dụng trong cơng trình có các loại chủ yếu sau:
− Các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Cơng văn của Đảng,
Chính phủ, các Báo cáo, Thống kê và nhiều loại văn bản khác
của Ban Thống nhất Trung ương, Bộ Giáo dục, Bộ Nội vụ và
các Bộ, cơ quan ban ngành và các địa phương có liên quan…
Nguồn tư liệu này gồm hàng ngàn trang, sưu tầm ở các Trung
tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội, Lưu trữ Trung ương Đảng,
Lưu trữ Bộ Giáo dục và đào tạo...
− Các hồi ký, các bài viết kỷ yếu hội thảo, sách, báo, phim tư liệu,
lời kể của các nhân chứng nguyên là các thầy, cô giáo, cán bộ
phụ trách quản lý, nhân viên trong các trường học sinh miền
Nam và các cựu học sinh miền Nam đang sinh sống ở Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác trên cả
nước.
16
− Các ấn phẩm, các tập sách, kỷ yếu của một số cựu học sinh
miền Nam viết với danh nghĩa của một trường hoặc một Ban
liên lạc học sinh miền Nam ở các tỉnh, thành. Những bài viết ở
đây đa phần là dạng hồi ký, tùy bút. Đáng chú ý là có nhiều tấm
hình chụp từ thời các trường đang trong thời kỳ hoạt động,
những tấm ảnh thể hiện sâu sắc, sự quan tâm của các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là hình ảnh của Bác Hồ kính
u đối với học sinh miền Nam.
Bố cục của cơng trình
Cơng trình ngịai kết luận, phụ lục có 3 phần nội dung chính:
PHẦN I - Q TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM (1954-1975) gồm các nội dung:
– Bối cảnh lịch sử
– Qúa trình hình thành và phát triển hệ thống trường học sinh
miền Nam trên đất Bắc với 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1954-1959
Giai đoạn 1960-1965
Giai đoạn 1965-1975
PHẦN II - HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG VÀ ĐÀO TẠO CỦA CÁC
TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC (1954 - 1975)
gồm các nội dung:
– Tổ chức và quản lý trường lớp
– Hoạt động nuôi dưỡng học sinh
– Hoạt động giáo dục đào tạo học sinh
– Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường, hiệu quả và
hiệu suất đào tạo
PHẦN III - THÀNH QUẢ VÀ BÀI HỌC gồm các nội dung:
17
– Học sinh miền Nam trong công cuộc xây dựng, bảo vệ miền
Bắc, giải phóng miền Nam
– Sự trưởng thành của học sinh miền Nam sau giải phóng
– Những nhân tố thắng lợi và những hạn chế
– Trường học sinh miền Nam – mơ hình giáo dục đặc biệt: kinh
nghiệm và bài học lịch sử
18
PHẦN MỘT
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN TRƯỜNG HỌC
SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC
(1954-1975)
19
1. 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA SỰ RA ĐỜI TRƯỜNG HỌC SINH
MIỀN NAM
1. 1. 1. Tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam sau
Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954
Thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954, mà đỉnh cao là
chiến dịch Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp phải tham gia Hội nghị
Giơ-ne-vơ. Ngày 08/05/1954, một ngày sau khi quân Pháp thất bại ở
Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đơng
Dương được khai mạc. Trải qua 8 phiên họp tồn thể và 23 phiên họp
riêng hết sức căng thẳng và phức tạp, với thiện chí và cố gắng của phái
đồn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn
đầu, ngày 21/07/1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự, lập lại
hịa bình ở Việt Nam được ký kết.
Điều 1, Chương I của Hiệp định quy định: “Một giới tuyến quân sự
tạm thời sẽ được quy định rõ, để lực lượng của hai bên, sau khi rút lui, sẽ
tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy: Lực lượng Quân đội nhân
dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, Lực lượng Quân đội Liên hiệp Pháp
ở phía Nam giới tuyến”.
Điều 2 Chương I của Hiệp định quy định: “Kỳ hạn cần thiết để
thực hiện việc di chuyển hoàn toàn các lực lượng của hai bên về vùng tập
hợp của họ ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời không được qúa ba
trăm (300) ngày, kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực”1.
Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 về lập lại hịa
bình ở Đơng Dương (ngày 21/07/1954) ghi rõ: “mục đích căn bản của
Hiệp định về Việt Nam là giải quyết các vấn đề quân sự để đình chỉ chiến
sự, và giới tuyến qn sự chỉ có tính chất tạm thời, hồn tồn khơng thể
1
Pháp tái chiếm Ðơng Dương và chiến tranh lạnh, Nxb Công an nhân dân, H.2002 trang 268
20
coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ… Phải triệt để thi hành
những điều khỏan trong hiệp định đình chỉ chiến sự…”1.
Với âm mưu bá chủ thế giới, sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đế
quốc Mỹ đã thực hiện chiến lược toàn cầu nhằm khống chế các nước
đồng minh trong phe tư bản (ở Tây Âu và Nhật Bản), ngăn chặn sự phát
triển của ba dịng thác cách mạng trên thế giới, trong đó trọng tâm là
chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, dập tắt phong trào giải
phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh.
Ở khu vực Đông Nam Á, từ lâu Việt Nam đã trở thành mục tiêu
của Mỹ trong chiến lược toàn cầu. Đầu năm 1950 thấy được khả năng bại
trận của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ quay sang
giúp Pháp kéo dài chiến tranh Đông Dương, từng bước can thiệp vào
Việt Nam. Tổng thống Mỹ Aixenhao khi bước vào Nhà trắng tháng
12/1953 tuyên bố giúp Pháp trong chiến tranh Đông dương là cách tốt
nhất để ngăn chặn một cách rẻ tiền nhất các sự kiện có thể gây ra những
hậu quả khủng khiếp đối với nước Mỹ.
Mỹ tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ nhưng không ký vào Tuyên bố
chung. Cùng ngày ký Tuyên bố chung, phái đoàn Mỹ lại ra Tuyên cáo
đơn phương về lý do Mỹ không ký vào Tuyên bố chung và xác định lập
trường ủng hộ lực lượng thân Mỹ. Điều đó có ý nghĩa mở đầu cho qúa
trình khơng thực hiện Hiệp định và phá hoại Hiệp định của Mỹ và chính
quyền thân Mỹ ở miền Nam sau này.
Trong thực tế sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Việt Nam bị chia cắt
thành hai miền Bắc-Nam, lấy vĩ tuyến 17 (sông Hiền Lương, tỉnh Quảng
Trị ngày nay) làm giới tuyến quân sự tạm thời. Theo đó ở miền Bắc, các
lực lượng cách mạng tập kết, đưa đến hịa bình, hồn tồn chấm dứt
chiến tranh, tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam kiến thiết xã hội mới
1
Pháp tái chiếm Ðông Dương và chiến tranh lạnh, Nxb Công an nhân dân, H.2002 trang 306-307
21
xã hội chủ nghĩa; còn ở miền Nam, lực lượng Pháp và các phe phái chính
trị phản động trên tồn quốc dồn về đây, chúng tìm chỗ dựa mới để phục
thù và chống phá cách mạng…
Đây là cơ hội để Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng
Pháp, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới. Ngày 8/8/1954, Hội đồng An
ninh quốc gia Mỹ do Tổng thống Aixenhao chủ trì đã ra Quyết định
NSC-5429/2 với nội dung cơ bản là: buộc Pháp phải nhanh chóng rút hết
quân khỏi miền Nam Việt Nam và phải ủng hộ Ngơ Đình Diệm; Mỹ trực
tiếp viện trợ cho ngụy quyền Sài Gịn khơng qua Pháp.
Thực hiện những mục tiêu trước mắt ấy, từ nửa cuối năm 1954 trở
đi, Mỹ đồng thời ra sức xây dựng và củng cố những công cụ của chủ
nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.
- Về chính trị: Bộ máy chính quyền Sài Gịn được dựng lên do Ngơ
Đình Diệm đứng đầu, có hệ thống từ trung ương đến các địa phương là
cơ sở để Mỹ áp đặt một chế độ thực dân dấu mặt trá hình ở Nam Việt
Nam.
- Về kinh tế: Mỹ giúp cho Nam Việt Nam phát triển nền kinh tế
theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng trước hết phải phụ thuộc vào
viện trợ của nước ngoài và trong quỹ đạo của Mỹ, phục vụ cho chiến
tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.
- Về văn hoá: Mỹ cho phát triển ở Nam Việt Nam nền văn hóa
thực dân mới trên tất cả các lĩnh vực giáo dục, văn hóa văn nghệ, văn hóa
xã hội và tư tưởng; trong đó rất chú trọng du nhập lối sống thực dụng, đề
cao văn hoá Mỹ và ra sức tuyên truyền chống cộng.
Được sự hỗ trợ và giúp đỡ tồn diện của Mỹ, chính quyền Ngơ
Đình Diệm đã xây dựng Nam Việt Nam thành một “quốc gia” của “thế
giới tự do”, có một đạo quân cảnh sát lớn mạnh để chống phá cách mạng,
chống cộng sản. Diệm còn cho thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong
22
trào “Cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”…,
làm lực lượng hậu thuẫn về chính trị – xã hội cho việc cai trị ở miền
Nam. Ngày 4/3/1956, Diệm tổ chức bầu “Quốc hội” riêng rẽ và ngày
26/10/1956 cho công bố cái gọi là “Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà”…
Đồng thời chúng thẳng tay đàn áp những phong trào đấu tranh của quần
chúng đòi hiệp thương với miền Bắc, gây nên các cuộc tàn sát đẫm máu
ở miền Nam bằng những thủ đoạn vô cùng dã man.
Mặc dù thực dân Pháp rất ngoan cố, gây ra nhiều khó khăn trong
qúa trình thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng do nhân dân Việt Nam
kiên quyết đấu tranh, đến ngày 16/05/1955, toàn bộ quân viễn chinh Pháp
đã buộc phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Lực lượng kháng chiến tiếp
quản toàn bộ những khu vực quân Pháp rút đi bao gồm cả vùng nông
thôn, khu công nghiệp, các thị xã và thành phố đúng thời hạn.
Trong điều kiện miền Bắc đã được giải phóng, nhiệm vụ cách
mạng của miền Bắc lúc này là phải nhanh chóng hồn thành những
nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân, để bước
tiếp sang cuộc cách mạng mới, đưa miền Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Củng cố miền Bắc là một nhiệm
vụ căn bản, khơng những có quan hệ mật thiết đối với nhiệm vụ đấu
tranh hiện nay, mà còn quan hệ mật thiết đến sự giàu mạnh sau này của
ta nữa”1.
Tuy nhiên ngay từ lúc này, Đảng xác định có khả năng thống nhất
đất nước bằng phương pháp hịa bình, nhưng cũng thấy rõ con đường
thống nhất đất nước cũng gặp nhiều khó khăn, như Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng dự báo: “Tranh lấy hịa bình khơng phải là một việc dễ, nó là
cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ, phức tạp…”2.
1
Ban chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện của Đảng về đường lối cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta, Nxb Sự thật, H.1968, tr.104.
2
Hồ Chí Minh Tồn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.1996, tr.191.
23
Từ nhận thức sáng suốt như vậy, Đảng, Chính phủ chủ trương tập
trung củng cố xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn cho cơng
cuộc giải phóng miền Nam, xây dựng CNXH ở miền Bắc nhằm tạo ra
một hậu phương có tiềm lực kinh tế, chính trị, qn sự, vững mạnh chi
viện cho miền Nam. Theo Hồ Chí Minh: “Muốn dựng ngơi nhà tốt thì
phải xây nền thật vững. Muốn được cây mạnh, lá được tươi, hoa được
đẹp, quả được tốt thì phải ra sức chăm sóc, vun xới gốc cây. Miền Bắc là
cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hồn thành giải phóng dân tộc, thực
hiện thống nhất nước nhà. Cho nên mọi việc làm ở miền Bắc đều nhằm
tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam”1.
Cịn miền Nam chưa được giải phóng, cách mạng lại bị mất thế và
lực do khơng có chính quyền, khơng có qn đội, quần chúng nhân dân
đang tiếp tục bị khủng bố đàn áp. Vì thế miền Nam có nhiệm vụ phải gây
dựng lại lực lượng và phong trào cách mạng, tiếp tục cuộc cách mạng
Dân tộc dân chủ nhân dân, để giải phóng miền Nam giành tự do độc lập.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, hai miền Nam –
Bắc sẽ đồng thời tiến hành hai cuộc cách mạng với những nhiệm vụ
chiến lược khác nhau. Cách mạng XHCN ở miền Bắc có nhiệm vụ trước
mắt là xây dựng miền Bắc vững mạnh toàn diện, làm hậu thuẫn cho cuộc
đấu tranh ở miền Nam, miền Bắc là hậu phương lớn là chỗ dựa vững
chắc cho toàn dân tộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cách mạng Dân
tộc dân chủ ở miền Nam có nhiệm vụ trước mắt là đánh bại cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ và tay sai, miền Nam là
tiền tuyến lớn, là chiến trường chính của cuộc kháng chiến.
Hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau tiến hành đồng thời
ở hai miền, nhưng có mối liên hệ mật thiết gắn bó với nhau, tác động
nhau cùng phát triển và đều hướng vào mục tiêu chung trước mắt của cả
1
Ban chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện của Đảng về đường lối cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta, Nxb Sự thật, H.1968, tr.189.
24
nước là thực hiện giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới hồ
bình thống nhất Tổ quốc. Trong qúa trình đó, “cách mạng XHCN ở miền
Bắc có ý nghĩa quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách
mạng Việt Nam, trước hết đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước
nhà. Cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam có ý nghĩa quyết định trực
tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hịa bình thống nhất nước nhà, hồn
thành nhiệm vụ cách mạng Dân tộc dân chủ nhân nhân dân trong cả
nước”1.
Như vậy, từ sau năm 1954, đấu tranh thống nhất đất nước là nhiệm
vụ mới của toàn Đảng toàn dân. Đó là một q trình đấu tranh gay go
gian khổ, lâu dài, phức tạp nhằm chống đế quốc Mỹ và tay sai hòng chia
cắt lâu dài Tổ quốc ta, nhằm thực hiện cho được mục tiêu chiến lược: giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội.
1. 1. 2. Lực lượng tập kết chuyển từ miền Nam ra miền Bắc
Công việc trước mắt đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam ở
hai miền Nam - Bắc lúc này là thực hiện chuyển quân tập kết, chuyển lực
lượng quân, dân, chính, đảng từ Nam ra Bắc theo hiệp định Giơ-ne-vơ.
Nhiệm vụ đặc biệt này chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc, cũng
như không phản ánh hết thắng lợi của cuộc kháng chiến. Nhưng trong
hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ, điều này cần phải
được thực hiện triệt để, như Đảng Lao động Việt Nam trong Hội nghị Bộ
Chính trị ngày 5–7/9/1954 xác định: “Chúng ta cần hồn thành sự nghiệp
giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới”2.
Với nhiệm vụ đặc biệt này, các cấp lãnh đạo cách mạng ở miền
Nam phải khẩn trương bố trí lại lực lượng, đưa một bộ phận đi tập kết, để
1
2
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb CTQG H.2001, tr.79.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb CTQG H.2001, tr.287.
25