BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI TỪ THỰC TIỄN TẠI
HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
ĐỖ XUÂN CẢNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI - 2016
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN
: Nhà nước
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất
SDĐ
: Sử dụng đất
UBND
: Ủy ban nhân dân
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
TĐC
: Tái định cư
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa đào tạo
sau đại học – Viện Đại học mở Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa đào tạo sau đại học xem
xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Xuân Cảnh
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn PGS.TS.NGUYỄN
THỊ NGA đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn Luật Đất Đai, các thầy cô
giảng dạy tại Viện Đại học Mở Hà Nội đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự
động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
Giáo viên hướng dẫn
Tác giả luận văn
Đỗ Xuân Cảnh
…..MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 5
6. Dự kiến những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn ..... 6
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................ 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI
ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ............................................. 8
1.1. Lý luận chung về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi ............ 8
1.1.1. Tính tất yếu khách quan Nhà nước cần phải thu hồi đất cho các mục
đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng ............................................................................................................... 8
1.1.2. Những tác động và ảnh hưởng của việc thu hồi đất của Nhà nước tới
đời sống của người có đất bị thu hồi và sự cần thiết khách quan phải bồi
thường cho người bị thu hồi đất ................................................................... 11
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu
hồi ................................................................................................................ 15
1.1.4. Cơ sở của việc bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi............... 18
1.2. Lý luận chung của pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước
thu hồi ......................................................................................................... 21
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bồi thườngđối với đất khi Nhà nước thu hồi .. 21
1.2.2. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh về bồi thường đối với đất khi Nhà nước
thu hồi .......................................................................................................... 23
1.2.3. Các yếu tố chi phối tới pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà
nước thu hồi ................................................................................................. 26
1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường đối với
đối với đất khi Nhà nước thu hồi .................................................................. 30
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
MƯỜNG LA,TỈNH SƠN LA ..................................................................... 38
2.1. Nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà
nước thu hồi ................................................................................................ 38
2.1.1. Nguyên tắc bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi ................ 38
2.1.2. Điều kiện bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi .................. 40
2.1.3 Thu hồi đất không được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ ..................... 43
2.1.4. Giá đất tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất ............................. 45
2.1.5. Các trường hợp được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất .............. 50
2.2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bồi thường đối với đất khi
Nhà nước thu hồi từ thực tiễn thực hiện một số dự án tại huyện Mường La,
tỉnh Sơn La .................................................................................................. 67
2.2.1 Khái quát một số tình hình, đặc điểm địa lý, tự nhiên địa bàn huyện
Mường La, tỉnh Sơn La................................................................................. 67
2.2.2. Tình hình thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Mường La,
tỉnh Sơn La .................................................................................................. 71
2.2.3 Một số nhận định, đánh giá về tình hình bồi thường đối với đất khi Nhà
nước thu hồi tại một số dự án của huyện Mường La, tỉnh Sơn La ................. 80
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ........................................... 88
3.1. Những yêu cầu đặt ra nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi .... 88
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường đối với đất
khi Nhà nước thu hồi .................................................................................. 89
3.2.1. Sửa đổi các quy định về bồi thườngđối với đất khi Nhà nước thu hồi . 89
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi
thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi.................................................... 92
3.3.1 Tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai
nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng cho
cán bộ và nhân dân. ..................................................................................... 92
3.3.2. Kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà
nước thu hồi đất. .......................................................................................... 94
3.3.3 Tăng cường minh bạch, công khai, dân chủ trong quá trình thực thi
pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. ....................................... 95
3.3.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá
trình thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và TĐC. ........................................................................................................ 96
3.3.5 Nâng cao năng lực, trách nhiệm và đạo đức của những cán bộ làm
công tác bồi thường ..................................................................................... 98
Kết luận chương 3 ...................................................................................... 99
KẾT LUẬN ............................................................................................... 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 102
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện tồn tại và phát
triển của con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh. Xuất phát
từ thực tế, nhu cầu sử dụng đất là vô hạn còn quỹ đất là hữu hạn, nên để phục vụ
cho nhu cầu sử dụng đất vì sự phát triển phồn vinh của đất nước, vì lợi ích quốc
gia, lợi ích cộng đồng … Nhà nước phải đứng ra tổ chức thu hồi, phân bổ lại
việc sử dụng đất sao cho phù hợp và hiệu quả. Quá trình đó, ít nhiều làm ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền lợi về vật chất, tinh thần của một bộ phận người dân
có đất thu hồi. Trong khi đó, chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư thường xuyên thay đổi và còn nhiều bất cập. Công tác quản lý, điều hành
nhà nước về lĩnh vực này còn yếu kém, chưa tạo được sự đồng thuận của người
dân, gây khiếu kiện gay gắt, kéo dài làm mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến
lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý
điều hành của Nhà nước.
Nguyên nhân của các vấn đề trên xuất phát từ nhiều lý do: Do ý thức
chấp hành pháp luật chưa cao, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn
nhiều trở ngại do hệ thống hồ sơ, cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở trung ương và địa
phương chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, nhiều nội dung quy định
chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích chung của xã hội, lợi ích của nhà
đầu tư và lợi ích của người dân có đất bị thu hồi trên cơ sở nền tảng đất đai thuộc
chế độ sở hữu toàn dân.
Trong những năm qua, huyện Mường La, tỉnh Sơn La là một trong những
địa bàn được quan tâm, tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình trọng điểm,
có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Sơn La nói riêng và đất nước nói chung như: Công trình thủy điện Sơn La, thủy
điện Nậm Chiến, thủy điện Huội Quảng, dự án trồng cây cao su... Một trong
những yếu tố quan trọng để có thể triển khai các dự án này đạt hiệu quả, đúng
1
tiến độ là công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ TĐCđối với các cá nhân bị thu hồi
đất, tuy nhiên hiện nay công tác này cũng còn gặp nhiều khó khăn do số lượng
đất đai thu hồi, số lượng hộ dân bị ảnh hưởng, di dời là rất lớn, có khi là cả một
cộng đồng dân cư, nếu không làm tốt công tác bồi thường, TĐC sẽ có thể gây ra
nhiều hệ lụy phức tạp, kéo dài.
Với mong muốn góp phần phản ánh thực trạng nêu trên nêu trên của công
tác bồi thường, giải phóng mặt bằng một cách khách quan, trung thực trên địa
bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La trên cơ sở những dự án cụ thể, những trở ngại
và vướng mắc mà thực tế huyện này được gặp phải trong thời gian qua, tìm hiểu
nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc để có những định hướng và giải pháp
khắc phục tốt hơn trong thời gian tới, em đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật bồi
thường về đất khi nhà nước thu hồi từ thực tiễn tại huyện Mường La, tỉnh
Sơn La”.
2. Tình hình nghiên cứu
Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những chế định
quan trọng của pháp luật đất đai. Chế định này khi đi vào cuộc sống trực tiếp
đụng chạm đến lợi ích của người bị thu hồi đất, lợi ích của cộng đồng và lợi ích
của nhà đầu tư nên đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của giới khoa học
pháp lý.
Thời gian vừa qua đã có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu
về lĩnh vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Vĩnh Diện, “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội), Luận
văn Thạc sĩ (2012); Hoàng Thị Thu Trang, “Pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại
Nghệ An”, Luận văn Thạc sĩ (2012); Nguyễn Thị Tâm, “Pháp luật về thu hồi đất
trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước – nhà đầu tư và người có đất bị
thu hồi”, Luận văn Thạc sĩ Luật học (2013); Phạm Thu Thủy, “Pháp luật về Bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”,; GS.TSKH. Đặng
Hùng Võ, “GPMB, còn nhiều khiếu kiện”, Báo Kinh tế và Đô thị, số ra ngày
2
09/10/2006; TS. Trần Quang Huy, “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất”, Tạp chí Luật học, số 10/2010; Ts. Nguyễn Quang Tuyến, “Công khai minh
bạch để bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất”, Tạp chí Luật học, số 3/2012;
Ts. Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường,
GPMB ở Việt Nam”, sách chuyên khảo, NXB Tư pháp năm 2013; Ngoài ra còn
có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Chuyên đề “Bình luận và góp ý đối
với các quy định bồi thường về đất, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” của PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến đăng
trong Hội thảo khoa học “Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” tổ cức tại Đại học
Luật Hà Nội; các nghiên cứu của GS. TSKH. Đặng Hùng Võ: “Cần sửa đổi, bổ
sung gì cho Luật Đất đai 2003”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11 tháng6/200;
Các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Tạp chí Luật học; Số
5/2011 của tác giả Nguyễn Thị Nga; đề tài khoa học cấp trường: pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất - Thực trạng và hướng hoàn
thiện của tác giả Nguyễn Thị Nga, trường Đại học Luật Hà Nội, 2013.
Nhìn chung, vấn đề bồi thường, giải pháp mặt bằng nói chung đã được rất
nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu; Tuy nhiên hiện nay, pháp luật đất đai nói
chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng trong
những năm gần đây đã có những thay đổi, bổ sung rất lớn từ Luật, Nghị định,
Thông tư đến các văn bản cấp địa phương, dẫn đến những nội dung về bồi
thường có nhiều thay đổi khác so với thời điểm các tác giả nghiên cứu trước. Do
đó, học viên nhận thấy đề tài của mình có nội dung không trùng với các công
trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường về đất khi Nhà
nước thu hồi để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Rút ra những ưu điểm và những vấn đề còn tồn, vướng mắc trong việc
thực hiện chính sách bồi thường về đất tại một số dự án trên địa bàn huyện
3
Mường La, tỉnh Sơn La trên cơ sở tìm hiểu rõ nguyên nhân khách quan và chủ
quan của những tồn tại và vướng mắc.
Đề xuất ý kiến, góp phần hoàn thiện pháp luật và đẩy mạnh công tác bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích Quốc phòng an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích côngcộng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là các quy định của pháp luật đất đai hiện hành, bao gồm các các văn bản
Luật, các Nghị định, các Thông tư và đặc biệt là các văn bản của địa phương tỉnh Sơn La quy định trực tiếp về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sỹ luật học, đề tài tập
trung nghiên cứupháp luật thực định về vấn đề bồi thường về đất khi Nhà nước
thu hồi đất mà không nghiên cứu vấn đề bồi thường về tài sản trên đất, Luận văn
cũng không nghiên cứu vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn cũng
nghiên cứu vấn đề tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất với ý nghĩa là một
phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở.
Luận văn cũng chỉ nghiên cứu vấn đề bồi thường về đất khi Nhà nước thu
hồi đất mà mục đích của việc thu hồi là để sử dụng cho mục đích quốc phòng, an
ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà không nghiên
cứu vấn đề bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi trong trường hợp đất ở vùng
sụt, lở, lún và ở những khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường, gây nguy hại
cho tính mạng, sức khỏe của con người.
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
các quy định của Luật Đất đai năm 2013và các văn bản hướng dẫn thi hành như:
Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đất đai; Nghị định số 47/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ
trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 15/05/2014
quy định về giá đất…Bên cạnh đó, Luận văn cũng tìm hiểu các quy định khác
4
của pháp luật có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn tỉnh Sơn La như: Quyết định số 02/007/QĐ-TTg ngày 09/01/2007 của
Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC
dự án thủy điện Sơn La; Quyết định số 14/2014/QĐ-UBND ngày 11/8/2014 của
UBND tỉnh Sơn La về việc quy định một số điều cụ thể Luật đất đai năm 2013
và Nghị định số 43/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đất đai; Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 11/8/2014 của UBND
tỉnh Sơn La về việc quy định một số nội dung bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Sơn La và nghiên cứu một số dự án cụ thể và
thực tiễn công tác bồi thường trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác xít là phương
pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử để phân tích những vấn
đề đặt ra trong luận văn.
-Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp
số liệu, dữ liệu thu thập được tại UBND tỉnh Sơn La, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Sơn La, UBND huyện Mường La... để đánh giá, phân tích thực trạng
công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồiđất.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các
quy định pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong
hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; điểm chưa
phù hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn thihành.
- Phương pháp phân tính, diễn dịch, tổng hợp, quy nạp: Phương pháp này
được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề
này. Luận văn đã tiếp cận, thu thập và kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi
hành Luật Đất đai năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các số liệu của
các công trình khoa học đã công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp
5
luật về bồithường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Trên cơ sở đó nhằm nhận
diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này để đề xuất các giải pháp
phù hợp theo mục tiêu đặt ra.
6. Dự kiến những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học
trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa những quy định mới nhất liên quan đến bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Qua việc tổng hợp những quy định mới,
so sánh với quy định cũ, Luận văn đưa ra những định hướng để tiếp tục hoàn
thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; làm rõ sự khác biệt trong việc Nhà
nước thu hồi đất so với việc trưng thu, trưng dụng đất; nêu đặc điểm, bản chất
của việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để có thể phân biệt được
với bồi thường trong các trách nhiệm pháp lý như: trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự; trách nhiệm hình sự; đánh giá ý
nghĩa, tác động của việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồiđất…
Thứ hai, đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất và thực trạng áp dụng mảng pháp luật này trên địa
huyện Mường La, tỉnh Sơn La; đồng thời, Luận văn cũng chỉ ra được những đặc
điểm riêng có của Mường La khác so với các địa phương khác, nhằm tìm ra
được đặc trưng trong vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Trên
cơ sở đó chỉ ra những tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này
trong các quy định hiện hành về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp cụ thể góp phần tiếp
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
nói chung và trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường đối với đất khi nhà
6
nước thu hồi và pháp luật về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi.
Chương 2: Pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi và
thực tiễn thực hiện tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI ĐẤT KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG ĐỐI VỚI ĐẤT
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
1.1. Lý luận chung về bồi thường đối với đất khi Nhà nước thu hồi
1.1.1. Tính tất yếu khách quan Nhà nước cần phải thu hồi đất cho các
mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng
Trong đời sống hàng ngày thuật ngữ “thu hồi” và “thu hồi đất” được sử
dụng phổ biến, trong trường hợp này được hiểu là Nhà nước sẽ tước đi quyền sử
dụng của các chủ sử dụng đất và qua đó thiết lập mối quan hệ sử dụng đất mới
phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, thực tế thu hồi đất là giai đoạn
chuyển giao đất giữa chủ thể này với chủ thể khác với mục đích mới. Do vậy các
quy định về thu hồi đất cần cân bằng lợi ích của ba chủ thể: Nhà nước – chủ đầu
tư – người bị thu hồi đất.
Các thuật ngữ này còn được đề cập trong các giáo trình, từ điển về ngôn
ngữ hoặc trong các sách, báo pháp lý.
Theo từ điển tiếng việt thì thu hồi được hiểu như sau: “Thu hồi là thu về,
lấy lại cái trước đó đã đưa ra,đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” [38].
Dưới góc độ lí luận thu hồi đất được định nghĩa như sau “Thu hồi đất là văn bản
hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ
pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của nhà nước của xã hội hoặc xử lý hành
chính hành vi vi phạm luật đất đai của người sử dụng đất”[15].
Theo từ điển giải thích luật học thu hồi đất được hiểu là: “Thu hồi đất là
việc cơ quan Nhà nước có thầm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi
phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc
trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.[39]
8
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được Luật Đất đai
năm 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để
thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của luật này”[11]. Tuy nhiên khái
niệm này chưa thể hiện được sự bao quát được nguồn gốc của tất cả các loại đất
của những người đang sử dụng đất, cũng như chưa tính hết được các nguyên
nhân, lý do của việc thu hồi đất. Để phù hợp hơn, Luật đất đai năm 2013 quy
định: “ Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.[12]
Với khái niệm này cho thấy, bằng quyền lực của Nhà nước với vai trò chủ
sở hữu, Nhà nước có quyền thu lại quyền sử dụng đất của tất cả các chủ thể sử
dụng đất mà trước đó Nhà nước đã trao quyền sử dụng đất cho họ như: giao đất,
cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác,
hay được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính
pháp chế, sự nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật đất đai, Nhà nước có
quyền chấm dứt quyền sử dụng đất đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất
đai.
Như vậy thu hồi đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của Nhà nước và xã hội hoặc xử lý các vi phạm
về pháp luật đất đai của người sử dụng đất thông qua quyết định hành chính
nhằm chấm dứt mối quan hệ đất đai giữa Nhà nước và chủ thể bị thu hồi đất.
Nhà nước không trực tiếp chiếm hữu, SDĐ đai mà giao đất cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người SDĐ). Khi Nhà
nước có nhu cầu SDĐ vào mục đích chung như sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,… thì Nhà nước phải thu hồi
đất của người SDĐ. Đặt trong bối cảnh đó, thu hồi đất là thực tế khó tránh khỏi,
có thể thấy điều đó từ những lý do sau:
Thứ nhất, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng
định:
9
“Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,
hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đi đôi với cải cách thể chế
chính trị. Do vậy, việc chuyển một phần đất sang sử dụng vào mục đích khác
là điều không tránh khỏi, để có thể điều chỉnh đưa một phần đất thích hợp sang
sử dụng cho các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước cần
thiết phải thực hiện việc thu hồi đất của người SDĐ, bởi việc tăng loại đất này
thì đồng nghĩa với việc phải giảm loại đất khác, bởi quỹ đất quốc gia là có giới
hạn.
Thứ hai, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hóa ngày càng
được thúc đẩy, đặt ra yêu cầu Nhà nước phải xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và hệ thống hạ tầng xã hội nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân.
Điều nàydẫn đến việc Nhà nước phải thu hồi đất đang sử dụng để chuyển sang
mục đích khác. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, đó là việc thu hồi
đất phải được tính toán một cách khoa học và dựa trên cơ sở quy hoạch đảm bảo
hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội, giữa phát triển công nghiệp,
dịch vụ với bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và sự phát triển bền vững đất
nước. Chúng ta phải ý thức rất rõ về vai trò của đất đối với cuộc sống của người
dân hiện tại và mai sau. Chính vì vậy, không thể phát triển công nghiệp bằng
mọi giá mà phải cẩn trọng,biết trân trọng đối với đất khác.
Việc thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước sẽ là hợp lý, hợp quy luật và
chính đáng nếu đất đó được khai thác và sử dụng có hiệu quả cho các mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vì mục tiêu phát
triển kinh tế. Việc thu hồi đất cũng sẽ là tất yếu và nhận được sự đồng lòng, nhất
trí cao của người có đất bị thu hồi nếu đất đó được sử dụng đích thực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước và đi kèm với đó là chính sách bồi
thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi một cách thỏa đáng, hơn thế nữa là sự
bố trí việc làm gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, cân
bằng.
10
1.1.2. Những tác động và ảnh hưởng của việc thu hồi đất của Nhà nước
tới đời sống của người có đất bị thu hồi và sự cần thiết khách quan phải bồi
thường cho người bị thu hồi đất
Thu hồi đất được xác định là một trong những nội dung quan trọng của
hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai. Hoạt động này luôn được ghi nhận và
thường xuyên sửa đổi, bổ sung và quy định mới cho phù hợp với yêu cầu của
thực tiễn cuộc sống, với thực tiễn quản lý Nhà nước về đất đai. Ở khía cạnh này,
hoạt động thu hồi đất được xem như là hoạt động tích cực và cần thiết phải làm
của Nhà nước nhằm để phân bổ và điều chỉnh đất đai hợp lý, tiết kiệm, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Có thể nhận thấy qua cáctác động và ảnh hưởng tích cực của hoạt
động thu hồi đất ở những phương diện sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu Nhà nước phải
dành một quỹ đất để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật; xây dựng các khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI đã khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương,
đồng thuận; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát
triển cao hơn trong giai đoạn sau”[40]. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đi đôi
với cải cách thể chế chính trị... Do vậy, việc chuyển một phần đất đang sử dụng
sang sử dụng vào mục đích khác là điều không tránh khỏi. Để có thể điều chỉnh
đưa một phần đất thích hợp sang sử dụng cho các yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Nhà nước cần thiết phải thực hiện việc thu hồi đất của người
đang sử dụng đất, vì việc tăng loại đất này thì đồng nghĩa với việc phải giảm loại
đất khác, bởi quỹ đất quốc gia là có giới hạn.
11
Thứ hai, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hóa ngày càng
được thúc đẩy, đặt ra yêu cầu Nhà nước phải xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và hệ thống hạ tầng xã hội nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân.
Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải thu hồi đất đang sử dụng để chuyển sang
mục đích khác, trong đó phần lớn đất thu hồi là đất nông nghiệp. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là việc thu hồi đất phải được tính toán một cách khoa học và dựa trên cơ
sở quy hoạch, đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội, giữa
phát triển công nghiệp, dịch vụ với bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và sự
phát triển bền vững đất nước.
Thứ ba, việc thu hồi đất còn do nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất
nông nghiệp nhằm mục đích sử dụng đất hiệu quả hơn. Trên thực tế, có những
trường hợp chủ sử dụng để đất nông nghiệp hoang hóa, không khai thác được giá
trị sử dụng của đất, hoặc là cho người khác thuê để sử dụng vào mục đích khác,
hoặc bản thân diện tích đất nông nghiệp đó không còn đáp ứng được yêu cầu về
mặt hóa, lý cho mục đích trồng trọt, ví dụ đất có độ dốc cao, bạc màu, cằn cỗi,…
Trong khi đó, việc chuyển đất nông nghiệp thành đất đô thị làm cho giá trị một
đơn vị diện tích đất tăng lên. Để đảm bảo hiệu quả cho việc sử dụng đất, cũng như
quyền lợi của chủ thể sử dụng đất, việc quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất
nông nghiệp cần phải được đặt ra.
Khách quan có thể khẳng định rằng, việc thu hồi đất do nhu cầu của Nhà
nước sẽ là hợp lí, hợp quy luật và chính đáng nếu đất đó được khai thác và sử
dụng có hiệu quả cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế. Việc thu hồi đất cũng sẽ là tất yếu và
nhận được sự đồng lòng, nhất trí cao của người có đất bị thu hồi nếu đất đó được
sử dụng đích thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước và đi kèm
với đó là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
một cách thỏa đáng, hơn thế nữa là sự bố trí việc làm gắn liền với việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, cân bằng.
Tuy nhiên, xét ở cả khía cạnh lý luận và thực tế, thu hồi đất cũng gây nên
những tác động, ảnh hưởng lớn tới đời sống, việc làm và những quyền lợi khác
12
của người có đất bị thu hồi. Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là môi trường
sống của người dân. Do đó mất đất, đồng nghĩa với mất chỗ ở, mất nơi tổ chức
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, việc thu hồi đất của Nhà nước đã
ảnh hưởng bất lợi đến người dân bị mất đất. Có thể nhận thấy rõ trên các phương
diện sau đây:
Thứ nhất, người có đất bị thu hồi sẽ mất chỗ ở
Chỗ ở của người dân không chỉ đơn thuần là nơi họ ăn, ngủ mà còn gắn
với tài sản, môi trường, các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa đã gắn họ với
địa bàn đó. Khi thu hồi đất, Nhà nước không chỉ thu hồi quyền sử dụng diện tích
đất, mà còn tước đi của họ cơ hội tiếp nối cuộc sống quen thuộc của họ, buộc họ
phải chuyển sang một địa bàn mới với các quan hệ và cơ hội không giống trước.
Đối với những người khó thích nghi với điều kiện mới, nhất là đối với nông dân
đã trên 40 tuổi, đối với những người gắn với làng nghề truyền thống thì việc di
dời là một biến cố nặng nề. Nhiều người chưa được chuẩn bị sẵn cho việc di
chuyển như vậy nên tương lai của họ sẽ khó khăn hơn. Hơn nữa, khi chuyển nhà,
các chi phí phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, vườn tược, tạo dựng hạ tầng
sinh hoạt, dịch vụ chung... khá lớn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều
người dân mất đất không thể tự giải quyết được. Đặc biệt, khi di dời bất đắc dĩ
chỗ ở do đất bị thu hồi, nhiều người dân có tâm lý không thoải mái, tâm lý bị
thua thiệt. Nếu không có sự đả thông tư tưởng và một số hình thức bồi thường
thích hợp, những người dân mất chỗ ở có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với
chính sách thu hồi đất của Nhà nước.
Thứ hai, người có đất bị thu hồi mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản
xuất quan trọng của người sử dụng đất cũ. Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường
bằng diện tích đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt
trên các phương diện: mất địa thế của địa điểm đã quen dùng; mất một phần
thành quả đầu tư vào đất. Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất
cho Nhà nước nếu không được bồi thường xứng đáng.
13
Ngay cả khi Nhà nước bồi thường xứng đáng bằng tiền cho người có đất
bị thu hồi thì họ cũng mất việc làm do không còn địa bàn. Nếu Nhà nước bồi
thường cho họ một diện tích đất ở nơi khác thì họ cũng mất chi phí xây dựng lại
từ đầu hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều điểm bất lợi hơn trước.
Thứ ba, người có đất bị thu hồi bất ổn định về tâm lý, tình cảm, nếp sống
và sinh hoạt
Thu hồi đất thì người dân phải di chuyển và thay đổi cuộc sống của họ, cắt
bỏ các quan hệ cũ và tạo lập các quan hệ mới. Theo đó, mỗi thành viên trong gia
đình có sự ràng buộc mới với môi trường xã hội xung quanh. Đối với một dân
tộc xem “an cư” đi kèm với “lạc nghiệp” trong đời sống thì nhà ở có một tầm
quan trọng không thể phủ nhận. Để thực hiện tốt công tác thu hồi đất và bố trí tái
định cư thì vấn đề tâm lý và tập quán dân cư không thể bị xem nhẹ. Đối với
những người dân, đặc biệt là người dân sống ở vùng nông thôn, ngôi nhà không
chỉ là nơi ở mà còn là nơi hội họp gia đình, dòng tộc vào những dịp đám, lễ quan
trọng. Nơi định cư - quê nhà là nơi có mối liên hệ chặt chẽ với môi trường sống
xung quanh, tình làng nghĩa xóm luôn luôn được chú trọng, đời sống chịu nhiều
sự tương tác qua lại với những người xung quanh. Thông thường họ sống chủ
yếu bằng nghề nông nên đa số là ngôi nhà gắn liền với mảnh vườn, thửa ruộng
để tiện việc chăm sóc. Hơn nữa, nhà ở thường gắn liền với thiên nhiên, cây cỏ
theo kiểu “trước cau, sau chuối”. Những vấn đề kể trên là lối sống, là thói quen
ăn sâu trong một thời gian dài do đó không thể thay đổi trong một thời gian
ngắn. Vì vậy, khi bị thu hồi đất người dân sẽ có tâm lý bất ổn và lo lắng.Sự mất
mát, thua thiệt, tâm lý lo sợ tương lai không rõ ràng khiến nhiều người tìm mọi
cách để không phải giao đất cho Nhà nước, từ vận động hành lang quy hoạch
đến chây ì, phản đối tập thể... Muốn thu hồi đất hiệu quả, Nhà nước phải có
phương án giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn này.
Thứ tư, người có đất bị thu hồi thường bức xúc vì phân chia lợi ích không
công bằng
Do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thu
hồi sẽ làm cho một số chủ thể kinh tế có lợi ích tăng lên (ví dụ như doanh nghiệp
14
nhận đất xây khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm...) đi đôi với thua
thiệt trông thấy của người mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt. Người
mất đất sẽ càng cảm thấy mình bị đối xử bất công hơn khi hàng xóm của mình
giàu lên không nhờ công sức của họ mà nhờ đất của mình bỏ ra làm đường, hoặc
sẽ phẫn nộ khi giá bồi thường cho họ thấp hơn nhiều giá đất doanh nghiệp bán
cho họ...
Công tác tái định cư khó khăn cũng làm cho người dân bị mất đất thua
thiệt. Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi thường thích đáng
cho nông dân, nên nhiều nông dân, sau khi nhận tiền bồi thường, đã không có
công ăn việc làm, không có kinh nghiệm kinh doanh nên tiền bồi thường nhanh
chóng tiêu hao. Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn
thiện làm cho cuộc sống của họ càng khó khăn hơn. Chính vì thế, nhiều người
dân mất đất, hoặc rơi vào nghèo khó, hoặc rơi vào tệ nạn xã hội, trở thành gánh
nặng cho chính họ và cho xã hội.
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người mất
đất mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, quản lý và
điều hành. Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn như vậy
nên Nhà nước, một mặt phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dài hạn,
ổn định, nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị mất đất một cách hợp lý.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của bồi thường đối với đất khi Nhà nước
thu hồi
1.1.3.1 Khái niệm bồi thường đối với đất khi nhà nước thu hồi
Theo quy định của pháp luật đất đai, trách nhiệm bồi thường được
đặtrakhi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục đích phát triển kinh tế. Việc thu hồi
đất này không do lỗi của người SDĐ mà vì mục đích chung của xã hội, hơn nữa
khi bị thu hồi đất, người SDĐ phải gánh chịu những thiệt thòi, bị ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp, vì vậy Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm bồi
thường. Như vậy, đối với những trường hợp người SDĐ có lợi ích chính đáng
15
cần được bảo vệ, thì Nhà nước với tư cách là người đại diện cho quyền lợi của
nhân dân, phải có nghĩa vụ khôi phục các quyền và lợi ích đó bằng cách quy
định chế định pháp lý về bồi thường như nguyên tắc; điều kiện của việc bồi
thường; cách thức bồi thường; trình tự, thủ tục bồi thường…để làm sao quyền lợi
của người bị thu hồi đất được đảm bảo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, nhanh
chóng cho quá trình thu hồi đất, giúp chủ đầu tư nhanh chóng có mặt bằng cho
việc thực hiện dự án.
Thuật ngữ “bồi thường” trong pháp luật đất đai ở Việt Nam đã được ghi
nhận trong các văn bản pháp luật về đất đai, kể từ trước khi có Luật Đất đai năm
1987. Sau khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định “Về đền
bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích
khác”, thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù thiệt
hại”.Mặc dù pháp luật không đưa ra sự giải thích về vấn đề này, song có thể hiểu
“đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất là việc bù đắp lại những thiệt hại do
việc thu hồi đất gây ra, trả lại tương xứng với giá trị QSDĐ và công lao mà
người SDĐ đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng.
Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai năm 1993, Luật
sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn
thi hành. Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất được thực
hiện chỉ đơn giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra
cho người SDĐ mà không đi kèm sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ,
TĐC. Hơn nữa, với thuật ngữ “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất, cho
người ta nghĩ ngay đến việc phải được đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu
hồi (trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc vất vả), trong khi giá trị ban
đầu của đất đai không do con người tạo ra mà họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm
của đất đai (do người SDĐ đầu tư vào đất). Còn thuật ngữ “bồi thường” lại cho
thấy rằng, Nhà nước chỉ bồi thường những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài
sản trên đất cho người có đất bị thu hồi, kèm theo đó có thể là cơ chế hỗ trợ để
giúp người SDĐ nhanh chóng vượt qua những khó khăn khi bị thu hồi đất.
16
Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 được
Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại bởi sự hợp lý
của nó và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định “Về bồi thường, hỗ
trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất" cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành
khác.
Khoản 6, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: "Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị
thu hồi cho người bị thu hồi đất" Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự chặt chẽ
và chưa thể hiện được trọn vẹn những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ bồi
thường khi thu hồi đất, đó không chỉ là giá trị QSDĐ mà còn phải tính đến giá trị
thiệt hại về tài sản có trên đất, ngoài ra phải tính đến những thiệt hại vô hình
khác, mà Nhà nước phải sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ mới bù đắp được một cách
trọn vẹn những thiệt hại do thu hồi đất gây ra. Vì vậy trong Luật Đất đai năm
2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, Khoản 12, Điều 3 về giải thích
từ ngữ đã quy định rõ: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ
đối với diện tích đất thu hồi cho người SDĐ”. Còn vấn đề hỗ trợ và bồi thường
thiệt hại về tài sản được quy định tại mục 2, mục 3 chương VI của Luật này.
Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho
người SDĐ hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài
sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy định của pháp luật
đất đai.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách đầy đủ về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất như sau: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển
kinh tế bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây
ra, cho người SDĐ tuân theo những quy định của pháp luật đất đai. Mặt khác,
đây cũng là một quan hệ hành chính, bởi nhà nước thực hiện việc giao đất, cho
thuê đất đồng thời cũng thực hiện việc bồi thường khi thu hồi đất.
17