Tải bản đầy đủ (.docx) (67 trang)

“Chất đốt thực vật của cộng đồng người Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình: thực trạng và giải pháp”.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.11 MB, 67 trang )

Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới quanh ta luôn vận động không ngừng, năng lượng là một phần
không thể thiếu của sự vận động đó. Để tồn tại và phát triển con ngưới cần có
các nguồn năng lượng. Năng lượng là vơ cùng cần thiết đối với các thực thể
nói chung và con người nói riêng.
Theo ý nghĩa vật lý, năng lượng là khả năng sinh công, nhiệt, ánh sáng.
Năng lượng là điều kiện tất yếu để có sự vận động và tồn tại của vật chất,
giúp cho sinh vật quang hợp, kiếm mồi, máy móc hoạt động… Đồng thời đây
là yếu tố cơ bản của sản xuất cùng với lao động, đất đai và vốn. Đặc biệt năng
lượng là yếu tố không thể thiếu được trong đợi sống con người, của mọi tầng
lớp xã hội.
Để tạo ra năng lượng con người sử dụng các nguồn nhiên liệu. Ngày
nay, con người đã biết sử dụng nhiều loại nhiên liệu khác nhau và khai thác từ
nhiều nguồn khác nhau như: than đá, dầu thơ, gió, nước, mặt trời, sinh khối…
Cuộc sống của lồi người đã có một bước ngoặt lớn từ khi tìm ra lửa. Và lúc
này thực vật là nguồn nhiên liệu đầu tiên được con người sử dụng. Thực vật
luôn gắn bó với đời sống của người dân. Nơi nào có con người ở đó có thực
vật, thực vật cung cấp dưỡng khí cho sự sống, cung cấp lương thực, thực
phẩm và chất đốt. Chất đốt thực vật có thể lấy từ các bộ phận thân, rễ, cành,
lá, vỏ quả, vỏ hạt, vỏ cây,… Các nguồn cung cấp chất đốt thực vật bao gồm:
từ rừng, từ phế phụ phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm chăn nuôi… Chất đốt
thực vật được coi là nguồn năng lượng truyền thống, là một nguồn năng
lượng dễ kiếm, dễ sử dụng và đặc biệt đây là nguồn năng lượng có khả năng
tái tạo mà các loại năng lượng khác như than đá, dầu mỏ không có được.
Việt Nam chúng ta là một nước có nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân. Rừng và đất đồi núi chiếm 2/3 tổng diện
tích tự nhiên của tồn quốc, trong phân bố dân cư thì gần 70% dân số là nơng
dân sống chủ yếu ở vùng nông thôn với thu nhập thấp. Chính vì vây, chất đốt
1



thực vật vẫn là nguồn nhiên liệu chủ yếu của người dân, đặc biệt là người dân
ở vùng nông thôn miền núi. Đối với người dân thì chất đốt thực vật là nguồn
nhiên liệu tại chỗ, được khai thác sử dụng với phương thức tự sản tự tiêu. Mặt
khác bếp lửa cịn được coi là nét văn hóa truyền thống của người dân miền
núi.
Trong thực tế hiện nay đời sống của người dân miền núi cịn khó khăn,
kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, thu nhập của người dân thấp không đủ chi trả
cho các nguồn năng lượng thương mại như: than, điện, gas, dầu hỏa… Vì vậy,
chất đốt thực vật vẫn là nguồn năng lượng không thể thiếu của người dân. Với
mức tăng dân số như hiện nay đã gây sức ép rất lớn đối với các nguồn cung
cấp chất đốt thực vật. Trên thực tế đã làm cho nguồn cung cấp chất đốt thực
vật ngày càng cạn kiệt trong khi đó nhu cầu ngày càng tăng cao và chưa tìm
ra được nguồn năng lượng phù hợp để thay thế cho chất đốt thực vật ở nông
thôn. Xã Cúc Phương là một xã miền núi nằm trong vùng đệm của Vườn quốc
gia Cúc Phương, người dân ở đây đa số là người Mường. Cuộc sống của cộng
đồng nơi đây gắn liền với tự nhiên, đặc biệt là rừng. Hàng ngày người dân vào
rừng để hái rau, lấy thuốc và đặc biệt là củi đốt. Lượng củi đốt tiêu thụ hàng
năm của xã là rất lớn và phần lớn trong số đó được lấy từ rừng của Vườn quốc
gia Cúc Phương. Với nhu cầu ngày càng lớn do tăng dân số, do phát triển một
số ngành nghề phụ đã tạo sức ép lên tài nguyên rừng Vườn quốc gia, có nguy
cơ làm giảm nguồn tài nguyên của Vườn quốc gia Cúc Phương. Từ thực tế đó
tơi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Chất đốt thực vật của cộng đồng người Mường tại xã Cúc Phương, huyện
Nho Quan, tỉnh Ninh Bình: thực trạng và giải pháp”.
Với mong muốn qua điều tra nhu cầu sử dụng chất đốt thực vật của
cộng đồng người Mường nói riêng và người dân trong xã nói chung và tiềm
năng cung cấp chất đốt thực vật, cân đối cung cầu trong xã làm cơ sở lập kế
hoạch phát triển chất đốt thực vật, góp phần làm giảm thiểu sức ép lên tài
nguyên rừng của Vườn quốc gia Cúc Phương.

2


Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về chất đốt là một vấn đề mới, được đặt ra vào cuối thập kỷ
80 của thế kỷ XX, khi nguồn tài nguyên rừng trên thế giới bị giảm mạnh và
sức ép về chất đốt thực vật của con người tăng cao. Tuy vậy, các cơng trình
nghiên cứu về vấn đề này khá đa dạng, đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau
của vấn đề chất đốt nói chung và chất đốt thực vật nói riêng.
2.1. Trên thế giới
Ở nhiều quốc gia nhiệt đới 90% sản lượng gỗ được sử dụng là để làm
củi đun nấu hay sưởi ấm và các mục đích sử dụng nội địa khác như cột chống
trong xây dựng hay làm hàng rào. Rừng thuần loài, rừng hỗn loài tất cả đều
được thu nhặt gỗ. Sự phụ thuộc vào khí hậu (chủ yếu là ấm áp) và Sự khan
hiếm gỗ, sự tiêu thụ củi biến động tư 0,5 đên 2 m 3/người (theo Miller và các
cộng sự 1986).Từ những năm 1970, sự chuyển đổi dần ở các quốc gia đang
phát triển từ củi tới các nguồn năng lượng tinh vi hơn đã dừng lại, trong nhiều
trường hợp ngược việc sử dụng củi đốt ngày càng tăng: ví dụ như ở châu Phi,
nó đã tăng từ 290 triệu m3 lên 410 triệu m3 giữa năm 1970 và 1982. Sự khan
hiếm củi đốt ngiêm trọng đó là cung khơng đáp ứng được cầu ngay cả khi
chặt hạ quá mức, năm 1980 đã ảnh hưởng tới 96 triệu người ở 23 quốc gia
bao gồm dải Shahel Châu Phi, Ê-ti-ô-pi-a, Kê-ni-a, Su-dăng, Bôt-wa-na, Lisô-thô, Pê-ru, Bô-li-vi-a, Pa-kit-tan và Ap-ga-nit-tan. Thêm 984 triệu người
nữa đang tiêu thụ củi nhanh hơn số mà họ đã được cung cấp thêm từ tái sinh
rừng tự nhiên hay phát triển rừng (theo FAO 1983). Sự khan hiếm gỗ tăng
mạnh mà cái giá của nó là 25% thu nhập của gia đình dùng để chi tiêu cho
loại hàng hoá riêng này. Ở nhiều nước châu Á việc này từ lâu đã dẫn đến việc
dùng phân bò làm chất đốt. Ở Băng-la-det 22,6 triệu tấn phân bò tươi và 11
triệu tấn phế phẩm nông nghiệp được dùng để đun nấu (theo Alim 1980).


3


Gỗ củi không chỉ được dùng đun trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt của các
hộ gia đình mà cịn được thu nhặt để đốt than phục vụ cho cả nhu cầu trong
nước và công nghiệp. Ngành công nghiệp sử dụng gỗ làm năng lượng trong
phạm vi từ nấu chảy quặng sắt ở Brazil tới sấy khô chè, thuốc lá, cà phê, cá và
đốt lò gạch ở các nước nhiệt đới. Cứ sấy khơ 1 kg thuốc lá thì tốn khoảng 513 kg gỗ hay cần 1 hecta rừng được quản lý để sấy khô 1 hecta thuốc lá (theo
Fraser 1986).
- Nguyên liệu gỗ - củi ngoài rừng ở Nepal
Nepal phụ thuộc chủ yếu nhiên liệu sinh thái do thiếu sự phát triển của
các năng lượng thay thế khác và do có điều kiện kinh tế nghèo nàn trên cả
nước nhiên liệu gỗ củi là nguồn năng lượng chính ở Nepal và sẽ còn như vậy
trong thời gian sắp tới. Nguồn nguyên liệu gỗ củi gồm thân, cành nhánh…
của sinh khối, mùn củi và các loại khác có được từ quá trình khai thác và chế
biến gỗ, năng lượng gỗ củi và trong hệ sinh thái chiếm 2/3 (khoảng 68%) tổng
tiêu thụ năng lượng, chủ yếu để đun nấu, sưởi và đun lò. Nhu cầu năng lượng
trên khắp Nepal được đáp ứng nổi bật bằng các loại nhiên liệu truyền thống
như gỗ củi, sản phẩm phụ nông nghiêp và chất thải động vật. Nhiên liệu
truyền thống này chiếm 91% toàn bộ tổng tiêu thụ năng lượng (68% gỗ đun,
15% sản phẩm phụ nông nghiệp và 8% chất thải động vật).
Sản xuất chất đốt: Nguồn nguyên liệu gỗ củi chủ yếu là ở những khu
đất rừng và ngoài rừng (gồm rừng bị suy thối, vùng đất mọc những lồi cây
và khu đất trồng cây lấy gỗ). Nepal có 3,83 triệu ha rừng cây và đồng cỏ có
năng suất trong đó chỉ có 2,18 triệu ha là được sử dụng (FRIS, 1999). Rừng,
cây bụi và đồng cỏ chiếm khoảng 80% đất rừng đang được sử dụng, đất trang
trại chiếm 10% còn lại là đất không canh tác (NCI).
Tổng cung chất đốt bền vững có được từ những khu đang sử dụng năm
1994, 1995 là 5,44 triệu tấn và khoảng 75% trong số này là của các khu rừng,
vùng cây, đồng cỏ của nhà nước. Đất trang trại chiếm 10% tổng khu vực thu

nhặt chất đốt và cung cấp 20% tổng cung. Trong khi rừng cung cấp chất đốt
4


thực vật chiếm khoảng 80% (WECS 1994 – 1995), cả khu đất rừng và đất
khơng có rừng đều là các nguồn cung cấp nhiên liệu quan trọng ở Nepal.
Trong một nghiên cứu về sự tiêu thụ chất đốt thực vật ở CauSe ( HaPa
1992) người ta thấy rằng người dân nông thôn sử dụng một tỷ lệ % chất đốt
thực vật cao hơn so với người dân ở ngoại ô. Khoảng 37,75% chất đốt thực
vật là từ thị trường và 62,25 % từ đất tư nhân. Các nguồn chính xác chưa
được xác định tuy nhiên người ta cho rằng dường như nguồn cung cấp từ thị
trường có được từ các khu rừng của nhà nước.
Ở Terai nơi áp lực về dân số rất cao và hầu hết người dân sống xa khu
rừng của nhà nước nên rất kho khăn trong việc lấy nhiên liệu gỗ củi từ rừng.
Hầu hết dọ dựa vào cây trồng của chính mình trồng trên đất trang trại, đất
chiếm làm rừng, đất thường, vườn hộ,… Các đồi cây, cây ăn quả và các loại
cây hoa màu khác cũng là nguồn nguyên liệu thông thường gần nhà dân.
Lợi ích tăng lên trong việc trồng cây lấy gỗ và chất đốt trên khu vực đất
tư nhân rất lớn ở hầu hết các cộng đồng dân cư (OJHA 1996 và POUTEL
1996) và là một dấu hiệu tốt cho thấy nguồn cung cấp chất đốt thực vật từ khu
ngoài rừng sẽ có tương lai phát triển tốt.
- Sản xuất và cung cấp gỗ củi ở Bangladesh
Bangladesh là một nước nhỏ (147.570Km2) với dân số 125 triệu người,
thu nhập bình quân đầu người trên dưới 337 USD/năm, trên khoảng 85% dân
số sống ở vùng nông thôn trong 15,61 triệu hộ gia đình trên hơn 68000 làng
quê. Trung bình trên 5,6 người/hộ gia đình (PPS 1996), với tỷ lệ biết chữ thấp
(30%) và cơ sở công nghiệp nghèo nàn. Nền kinh tế của nước này chủ yếu là
canh tác và người dân nông thôn phụ thuộc vào hệ thống sản xuất dựa trên đất
đai trồng trọt để sinh sống. Việc tiêu thụ năng lượng là con số đáng kể của nền
kinh tế của một nước và Bangladesh là một nước kém phát triển nhất trên thế

giới. Có mức tiêu năng lượng bình quân đầu người rất thấp 4,2 GJ so với
344,6 GJ ở Mỹ (BaNa 1997) nhu cầu năng lượng của một nước được đáp ứng

5


bởi các nguồn năng lượng khác nhau như sinh khối, điện, khí gas tự nhiên,
dầu lửa, diezen, than bi tu, và các chất khác.
Nguồn sinh khối: nói chung nguyên liệu sinh khối gồm chất đốt, dư
lượng cây, sản phẩm phụ nông nghiệp (vỏ trấu, cám, cây đay…) dư lượng
thực vật ( vỏ cây, hoa, lá, cành, vỏ quả…), than củi và phân động vật. Nhiên
liệu sinh thái đóng góp 76% tổng tiêu thụ năng lượng của đất nước với dư
lượng nông nghiệp chiếm phần lớn nhất 46%, nhiên liệu gỗ củi chiếm 13%,
phân động vật 13% và dư lượng cây 4% (FMP 1993).
Các gia đình tiêu thụ 65%, lĩnh vực công nghiệp 19% tổng tiêu thụ
năng lượng của Bangladesh. Với chất đốt thực vật thì việc đun nấu trong gia
đình chiếm khoảng 63%, 25,1 m3 gỗ hằng năm và việc sử dụng của ngành
công nghiệp và thương mại là rất đáng kể 2,9 triệu m3 hàng năm (khoảng
36%). Trên hết cả là nhiên liều từ cây và tre nứa cung cấp 48% nhu cầu năng
lượng trong gia đình, sản phẩm phụ nơng nhiệp 36%, chất thải động vật 13%,
3% cịn lại là các mỏ bùn đất (FMT 1993).
Sản xuất và cung cấp nhiên liệu gỗ củi từ đất ngoài rừng: khu đất rừng
của Bangladesh chiếm 2,22 triệu ha (15,4% tổng diện tích của cả nước).
Trong số rừng được bảo vệ và chưa được phân loại của nhà nước. Đất ngoài
rừng gồm đất vườn, đất làng, đất trồng hoa màu, đường đi, bờ kênh, đất cằn
cỗi và đất khai hoang. Những vườn cây bao trùm một diện tích 0,37 triệu ha
(1,9% tổng diện tích đất) là nguồn cung cấp chất đốt chính, chiếm 87% (trong
tổng số 5,5 triệu tấn) số nhiên liệu gỗ củi được tiêu thụ. Hơn nữa 0,08 triệu ha
đất cằn cỗi dọc đường đi, đường tàu và bờ kênh, 9,25 triệu ha đất trồng trọt,
0,07 triệu ha các khu vực khác.

Các vườn chè và một nửa trong số 0,302 triệu ha bãi đất ở sông nuôi cá cung
cấp một lượng nhiên liệu sinh khối rất lớn. Số còn lại do rừng cung cấp (GOP
1987).

6


- Ở Thái Lan
Chất đốt thực vật là nguồn năng lượng chính trong nhà nơng dân. Một
số ngành cơng nghiệp cũng sử dụng nhiều, hầu hết các cư dân nhặt củi từ
rừng tự nhiên đặc biệt là các cành, dư lượng ở các khu khai thác gỗ. Trước
đây việc chặt cây phi pháp cũng là một nguồn chất đốt quan trọng. Do áp lực
dân số và nhu cầu về đất nông nghiệp, nhu cầu củi đun đã tăng nhanh hơn tỷ
lệ tăng trưởng của các thế hệ rừng. Nguồn rừng của nước này gần như kiệt
quệ, đặc biệt là ở Đông Bắc Thái Lan. Việc khai thác, sử dụng nhiên liệu gỗ
củi được coi là một trong những nguyên nhân chính của sự suy thối rừng.
Ở Thái Lan có một cuộc thu thập số liệu lâm nghiệp rộng rãi liên quan
đến chất đốt thực vật nhưng hầu như chưa làm được gì để đánh giá việc sản
xuất chất đốt thực vật từ các khu ngoài rừng của đất nước này. Để đảm bảo
cung cấp năng lượng đầy đủ và sử dụng năng lượng có hiệu quả là mục tiêu
quan trọng của các cơ quan chức năng Thái Lan và đã được đưa ra trong kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia lần thứ 6 (1982 – 1986) và lần thứ 8
(1997 – 2001). Một dự án như dự án RZD đã được tiến hành để đáp ứng mục
tiêu này.
Một nghiên cứu khởi điểm về các đặc tính tiêu thụ chất đốt gỗ củi của 8
làng nông thôn Đông Bắc quận Phuwieng tỉnh Khonkaen đã được tiến hành
bởi Bộ Lâm nghiệp Hoàng gia, cuộc điều tra cho thấy 80,78% người dân thu
lượng củi từ cây trên trang trại hay trên đồng ruộng của chính họ. Trong khi
5.08% lượng củi những khu bảo tồn của quốc gia và 14,13% nhặt củi từ
những nơi khác. Các sinh viên cử nhân khoa Lâm nghiệp trường Đại học

Kasetsart đã kiểm tra lại số liệu liên quan đến các nguồn đất gỗ củi trong hộ
gia đình. Kết quả cho thấy 68,01% củi và 46,12% than củi được lấy từ nhưng
khu ngồi rừng phía Bắc Thái Lan trong khi đó 55,01 củi và 48,19% than củi
được sản xuất từ các khu ngoài rừng ở miền Trung Hải.
Trong lĩnh vực công nghiệp nhiều nhà máy sử dụng củi để cung cấp
năng lượng. Các xưởng là các khách hàng tiêu thụ năng lượng gỗ củi chủ yếu.
7


Bộ Lâm nghiệp Hoàng gia đã chỉ đạo một trường hợp nghiên cứu các xưởng
gốm đã thu các dữ liệu về việc sử dụng dư lượng từ các xưởng cửa và các
ngành công nghiệp xử lý gỗ. Kết quả phỏng vấn 40 xưởng gốm cho thấy gỗ
dư thường từ các xưởng cưa ở tỉnh Samutsaxorn và các cành con, cành nhánh
thu được từ việc thu hoạch cây cao su trồng ở miền nam. Tổng số dư lượng gỗ
được sử dụng lên tới 28.360m 3/năm và cỡ củi có đường kính trung bình là 1 –
1,5 inch và dài 2cm.
- Ở Ấn Độ
Phần lớn nhu cầu về năng lượng dùng để đun nấu, sưởi ấm trong nhà,
đặc biệt là ở nông thôn Ấn Độ đều được đáp ứng từ nguồn chất đốt thực vật.
Chất đốt thực vật là nguồn năng lượng đun nấu, sưởi ấm chủ yếu ở nông thôn
Ấn Độ. Ngồi đun nấu chất đốt thực vật cịn được sử dụng trong lị mạch,
khách sạn, lị bánh mì, ngành kinh doanh nhỏ tại nhà… Người nghèo ở ngoại
ô, chủ yếu sinh sống ở ngoại thành và ven thị trấn hầu hết cũng dựa vào chất
đốt thực vật để đun nấu. Trong khi nhiên liệu hóa thạch được coi là thứ khơng
ưa về mặt mơi trường, thì chất đốt thực vật lại là cái thân thiện với môi trường
và được mọi người dân ưa thích vì nó là nguồn năng lượng đun nấu truyền
thống. Chất đốt thực vật được thu lượm chủ yếu từ những khu rừng của nhà
nước gần đó, vườn và sân sau của gia đình, khu đất cộng đồng, khu làm
nơng… Có nhiều ước tính khác nhau về số lượng củi đun thu được từ rừng và
nguồn ngoài rừng, FAO (1997), Natarajan (1996), Sakena (1997), Agarwal

(1998) không coi chất đốt từ rừng là nguyên nhân phá hủy rừng ở Ấn Độ.
Theo các nghiên cứu này phần lớn khối lượng chất đốt thực vật có được từ
nguồn ngồi rừng. Ngược lại có những nghiên cứu như (Prasad 1999
Bhattehay và Joshi 1999) cho thấy việc khai thác không bền vững chất đốt
thực vật từ rừng tạo ra sự phá hoại rừng. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu
này hoặc là dựa vào số liệu phát sinh, hoặc là được lấy ra từ nghiên cứu mẫu
nhỏ khác.

8


Dự đoán hiện nay về mức tiêu thụ chất đốt thực vật thay đổi từ cơ quan
này đến cơ quan khác và từ ước tính này đến ước tính khác. Tuy nhiên một sự
thật không thể bàn cãi là nhu cầu về chất đốt thực vật của nước này đang tăng
lên và có nhiều ước tính đang gần mức 250 triệu m 3 (Prasad 1999), trong số
này có tới 20 triệu m3 được tạo ra từ các khu rừng, hơn 90% mức tiêu thụ
được đáp ứng từ rừng và nguồn ngoài rừng ( MOEFF 1996). Cuộc điều tra
rừng ở Ấn Độ (Rai và Chakrabati 1996) đã ước tính tổng tiêu thụ chất đốt
thực vật trên cả nước là 201 triệu tấn. Trong số này 78 triệu tấn được người
dân nông thơn khu vực có rừng tiêu thụ, 74 triệu tấn do ngành buôn bán, 4
triệu tấn dung cho các nghi lễ và 10 triệu tấn dùng cho các khách sạn tiêu
dùng. Coi như dân số tăng lên trong suốt 4 – 5 năm qua sau sự công bố báo
cáo FSI (1996) việc tiêu thụ chất đốt thực vật có thể lên tới 217 triệu tấn.
2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây thân gỗ được trồng theo phương thức “trồng cây nhân
dân” dưới nhiều hình thức khác nhau như trên đất hộ gia đình, dọc đường giao
thơng, bờ kênh mương, xung quanh trường học, nơi đất công cộng. Thực tế
này đã cung cấp khoảng 8 triệu tấn củi tương đương với 25% tổng nhiên liệu
tiêu thụ hàng năm. Ngồi ra cịn có tới 2,2 triệu tấn củi được khác thác từ
rừng trồng.

Cho đến hiện tại, chất đốt thực vật vẫn là nguồn cung cấp năng lượng
gia dụng chủ yếu của dân cư sống ở vùng nông thôn và một số ở thành thị.
Đã có nhiều cơng trình nghiên cứu và điều tra chất đốt ở các vùng nông
thôn và thành thị ở nước ta, song điều này vẫn chưa có số liệu chính xác để
đánh giá mức tiêu thụ chất đốt thực vật trên đầu người và tổng nhu cầu về
chất đốt thực vật hàng năm vì tình trạng tự cung tự tiêu không thể thống kê
được, theo số liệu điều tra của một số địa phương thì mức tiêu thụ năng lượng
bình quân đầu người ở các vùng như sau:
- Miền núi 650 – 700 kg củi/người/năm.
- Trung du 450 – 500 kg củi/người/năm.
- Đồng bằng ven biển 350 – 400 kg củi/người/năm.
9


- Thành phố - thị trấn 330 – 350 kg củi/người/năm.
- Nhiên liệu dùng để chế biến thực phẩm:
Nướng bánh mì 0,8 kg củi/kg bánh mì.
Chế biến đậu phụ 0,75 kg củi/ kg đậu phụ.
Miến, bún, mỳ 0,15 kg củi/kg
Hun, sấy cá tôm 3 kg củi/kg
Nhiên liệu chế biến các loại nông sản bằng phương pháp thủ công:
Sấy thuốc lá 8 kg củi/kg
Sấy chè 2 kg củi/kg
Nấu mật mía 1 kg củi/kg
Sấy cà phê 1 kg củi/kg
Tách dầu thực vật 0,08 kg củi/kg
Kéo kén tằm 0,2 kg củi/kg
- Nhiên liệu dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng:
Nung gạch 0,5 kg củi/viên
Nung ngói 0,75 kg củi/viên

Nung vơi 0,6 kg củi/kg
Sứ - Gốm 0,2 kg củi/kg
- Nấu thức ăn cho lợn 350kg củi/đầu lợn.
Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong số nước
có mức tiêu thụ năng lượng bình qn đầu người thấp 297kg OE/người/năm,
trong đó năng lượng thương mại 92kg OE/người/năm (Thái Lan 468kg
OE/người/ năm).
Trong giai đoạn 1990 –1996 nguồn năng lượng phi thương mại chủ yếu
là chất đốt thực vật lên tới 65 – 70% trong cân bằng năng lượng quốc gia. Nếu
chỉ tính riêng củi, tỉ trọng chiếm 33,9%. Kết quả nghiên cứu lập cân bằng
năng lượng tổng thể và chính sách năng lượng quốc gia đến 2005 của viện
năng lượng cũng cho thấy trong khối lượng chất đốt thực vật 1990 thì năng

10


lượng dùng trong sinh hoạt gia đình và chăn ni lợn chiếm tới 92,45% còn
lại dùng trong sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ và chế biến nông sản.
Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện chính sách phát triển năng lượng cả về
năng lượng thương mại và năng lượng sinh học như:
- Tập trung nghiên cứu ứng dụng các dạng năng lượng mới tại vùng sâu
vùng xa, những vùng khó khăn trong việc xây dựng lưới điện quốc gia.
- Khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời ở những nơi xa mạng lưới
điện quốc gia.
- Ứng dụng năng lượng gió cho vùng hải đảo, vùng cao, vùng sâu, vùng
xa lưới điện quốc gia. Khuyến khích việc tự chế tạo lắp đặt động cơ gió quy
mơ hộ gia đình.
- Nghiên cứu sử dụng hầm khí sinh học để giải quyết chất đốt, vệ sinh
môi trường.
2.3. Một số khái niệm liện quan đến chất đốt thực vật

- Nhiên liệu truyền thống: là các sản phẩm truyền thống sinh khối có
khả năng cung cấp nhiệt lượng, khí đốt hoặc lên men bao gồm: gỗ, củi, than,
các sản phẩm tạo ra từ cây gỗ, các nhiên liệu sinh khối khác như phế thải từ
mùa vụ, phế thải từ động vật…
- Năng lượng là khả năng sinh ra công, nhiệt hoặc ánh sáng của vật
chất. Năng lượng là điều kiện tất yếu để có sự tồn tại và vận động của vật
chất.
- Năng lượng sinh khối: thành phần nguyên – nhiên liệu dùng để sản
xuất năng lượng lấy từ sinh vật nói chung gọi là sinh khối và năng lượng thu
nhận được từ việc khai thác năng lượng chứa trong sinh khối tạo ra năng
lượng gọi là năng lượng sinh khối.
- Năng lượng thương mại gồm có: điện năng, than, dầu khí, năng lượng
ngun tử.
- Năng lượng phi thương mại gồm có: Gỗ. củi, than gỗ, phụ phẩm nông
nghiệp: rơm rạ, trấu, thân cây hoa màu.
11


- Một số dạng năng lượng khác chưa trở thành năng lượng thương mại
như biogas, năng lượng gió, mặt trời.
- Nhiên liệu: các vật thể (vật chất) chứa năng lượng cao trong tự nhiên
được con người sử dụng nhiều hơn để sản xuất năng lượng được gọi là nhiên
liệu hay nguyên liệu. Ví dụ như: gỗ củi, than đá, dầu mỏ, khí đốt…
- Sinh khối: khối lượng vật chất của sinh vật nói chung gọi là sinh khối.
Ví dụ như: con người, các loại động vật, vi sinh vật, nấm và các vi sinh vật
nguyên sinh.

12



Chương 3
MỤC TIÊU, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục đích nghiên cứu
Điều tra nhu cầu, tiềm năng cung cấp chất đốt thực vật của cộng đồng
người Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình làm cơ sở
đề xuất kế hoạch phát triển chất đốt thực vật cho địa phương góp phần giảm
thiểu sức ép lên tài nguyên rừng của vườn quốc gia Cúc Phương.
3.1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định nhu cầu chất đốt của cộng đồng người Mường tại xã Cúc
Phương.
- Xác định nguồn cung cấp chất đốt thực vật cho cộng đồng người
Mường ở xã Cúc Phương.
- Đánh giá tiềm năng cung cấp chất đốt thực vật của địa phương.
- Đề xuất kế hoạch phát triển chất đốt thực vật tại địa phương.
3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chất đốt thực vật .
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đánh giá nhu cầu chất đốt và tiềm năng cung cấp chất đốt thực vật của
cộng đồng người Mường xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều tra đánh giá nhu cầu sử dụng chất đốt của cộng đồng người
Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong sinh hoạt.
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chăn nuôi.
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chế biến thực phẩm.
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chế biến nông sản.
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong các hoạt động khác…
13



3.3.2. Xác định nguồn cung cấp chất đốt thực vật của cộng đồng người
Mường tại đia phương
- Nguồn cung cấp từ rừng tự nhiên.
- Nguồn cung cấp từ rừng trồng.
- Nguồn cung cấp từ đất khơng có rừng, đất trống.
- Nguồn cung cấp từ vườn hộ.
- Nguồn cung cấp từ hệ thống nông lâm kết hợp.
- Nguồn cung cấp từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi.
- Các nguồn khác…
3.3.3. Điều tra tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ rừng tự nhiên.
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ rừng trồng.
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ phụ phẩm nông nghiệp.
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ vườn tạp.
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ đất trống.
- Tiềm năng từ các nguồn khác…
3.3.4. Đề xuất kế hoạch phát triển chất đốt thực vật ở địa phương
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Kế thừa tài liệu thứ cấp của địa phương và Vườn quốc gia Cúc
Phương
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Hiện trạng sử dụng đất của thôn, xã.
- Một số tài liệu khác liên quan đến khai thác sử dụng chất đốt thực vật
tại địa bàn nghiên cứu.
3.4.2. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn thôn điểm: chọn 1 thôn điểm của xã với các tiêu chí:
+ Vị trí địa lý: Gần Vườn quốc gia Cúc Phương, thuộc vùng đệm Vườn
quốc gia Cúc Phương.


14


+ Thành phần dân tộc: có từ 2 dân tộc sinh sống trở lên trong đó cộng
đồng người Mường chiếm đa số.
+ Năng lượng: người dân chủ yếu sử dụng chất đốt thực vật.
+ Kinh tế: cuộc sống còn phụ thuộc vào rừng.
- Lựa chọn hộ gia đình phỏng vấn:
+ Mỗi nhóm hộ lựa chọn 4 hộ điểm để phỏng vấn (03 hộ gia đình người
Mường, 01 hộ gia đinh người kinh)
+ Có sử dụng năng lượng sinh khối
+ Có những tác động cụ thể và ảnh hưởng qua lại đối với Vườn quốc gia
Cúc Phương về năng lượng sinh khối.
3.4.3. Sử dụng một số công cụ của phương pháp đánh giá nơng thơn có sự
tham gia của người dân (PRA)
3.4.3.1. Phỏng vấn cá nhân
- Phỏng vấn cán bộ thôn, xã
- Phỏng vấn cán bộ vườn quốc gia Cúc Phương
- Phỏng vấn người dân
3.4.3.2. Thảo luận với nhóm người dân nòng cốt của thôn điểm
1. Phân loại kinh tế hộ gia đình của thơn điểm
Để phục vụ cho việc phỏng vấn hộ gia đình, chúng tơi cùng cộng tác
viên trong thơn tiến hành phân loại kinh tế hộ gia đình để biết được tỷ lệ các
nhóm hộ trong thơn, biết được tình hình chung của các nhóm hộ trong thơn.
Phân loại hộ gia đình
Tiêu chí

Nhóm I


Nhóm II

Nhóm III

2. Điều tra tuyến và xây dựng sơ đồ lát cắt thôn điểm
Mục đích: biết được hiện trạng sử dụng đất đai của thơn ở các loại địa
hình khác nhau. Thấy được cơ cấu cây trồng trong thôn. Loại đất nào đang
được sử dụng để cung cấp chất đốt, loại đất nào chưa được sử dụng để cung
cấp chất đốt.
15


3. Xây dựng lịch mùa vụ
Mục đích: biết được tình hình mùa vụ trồng, chăm sóc và thu hoạch
nơng lâm sản, sử dụng lao động, tình hình chi tiêu của người dân trong năm.
4. Phân loại, cho điểm, xếp hạng cây trồng cung cấp chất đốt thực vật
Mục đích: biết được mức ưu tiên, ưa thích của người dân đối với từng
loại cây trồng được sử dụng làm chất đốt, từ đó xác định được phương án
trong tương lại.
Lồi cây
Tiêu chí

Lồi cây 1

Lồi cây 2



Tiêu chí 1


Tổng điểm
Xếp hạng
5. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của CĐTV theo sơ
đồ S.W.O.T.
6. Phân tích tổ chức theo sơ đồ VENN
Mục đích: phân tích ảnh hưởng, mối quan hệ của các tổ chức đến việc cung
cấp, sử dụng chất đốt thực vật.
7. Phân tích vấn đề, nguyên nhân, giải pháp và dự kiến hoạt động phát
triển chất đốt thực vật theo sơ đồ 4 mảng.
- Phân tích kinh tế hộ gia đình: mỗi nhóm hộ chọn 01 HGĐ điển hình để phân
tích kinh tế hộ.
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu
Tính bình qn giữa các nhóm hộ, làm cơ sở so sánh giữa các nhóm hộ.
Tổng hợp, xử lý số liệu phân tích kinh tế hộ gia đình, tổng kết và xử lý
kết quả các bảng hỏi.

16


Chương 4
KẾT QUẢ NGHIẾN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiện – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiện
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Cúc Phương là một xã vùng cao nằm ở cực Tây huyện Nho Quan và
cũng là cực tây của tỉnh Ninh Bình. Đây là xã có diện tức tự nhiên lớn nhất
tỉnh Ninh Bình. Trụ sở xã cách trung tâm thành phố Ninh Bình 42 km, có địa
giới tiếp giáp với các xã:
Phía Bắc giáp xã Ngọc Lương, n Thủy, Hịa Bình
Phía Nam giáp xã Kỳ Phú

Phía Đơng giáp xã n Quang, Văn Phương, Văn Phú
Phía Tây giáp huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa
Là xã vùng cao của huyện có địa giới tiếp giáp với hai tỉnh Hịa Bình
và Thanh Hóa, có vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên kết
hợp du lịch và nghiên cứu khoa học. Song trong lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã
hội cịn nhiều hạn chế.
4.1.1.2. Địa hình
Cúc Phương có địa hình đa dạng được chia cắt bởi hệ thống các dãy núi
đá vôi chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần từ Tây sang Đơng, được phân
thành ba vùng rõ rệt.
- Vùng địa hình đồi núi cao có độ dốc lớn tạo thành các thung lũng
bằng phẳng. Thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc.
- Vùng đêm tiếp giáp với vườn quốc gia Cúc Phương. Phần lớn là
những thềm đất đá lộ đầu có tiềm năng phát triển ngành chăn ni gia súc.
- Vùng trũng có địa hình thấp, bằng phẳng thuận lợi cho phát triển sản
xuất nông nghiệp.
Do những đặc điểm trên gây khơng ít khó khăn cho sản xuất nông
nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
17


4.1.1.3. Đất đai
- Quy mơ
Theo kết quả đo đạc hồn thiện hồ sơ địa chính năm 2000 tổng diện
tích tự nhiên của xã là 12373,51 ha trong đó Vườn quốc gia Cúc Phương
10351,70 ha. Cơ cấu các loại đất được bổ sung như sau:
- Đất nông nghiệp: 453,81ha chiếm 3,67% tổng diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiêp: 11422,6ha chiếm 92,31% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chuyên dùng: 108,96ha chiếm 0,88% tổng diện tích tự nhiên
- Đất thổ cư: 14,74 ha chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng: 373,31ha chiếm 3,02% tổng diện tích tự nhiên
- Một số chỉ tiêu bình quân
- Bình quân đất tự nhiên/người: 7368 m2
- Bình qn đất nơng nghiệp/người: 1678 m2
- Bình qn đất thổ cư/hộ: 255 m2
- Quy mơ ngươi/hộ trung bình: 4,7 ngươi/hộ
- Thổ nhưỡng
Do đặc điểm của địa hình vùng đồi núi đất đai được chia thành các
nhóm đất sau:
- Đất màu vàng xám được phân bố chủ yếu là ở phía Tây của xã, có
thành phần cơ giới là thịt trung bình. Đất có phản ứng chua phù hợp cho sản
xuất cây hoa mầu và cây cơng nghiệp.
- Đất màu đen phân bố ở phía đơng của xã có tầng đất dầy, thành phần
cơ giới là thịt trung bình, có hiện tượng lầy thịt, tỷ lệ sụn, sạn cao.
4.1.1.4. Khí tượng thủy văn
Cúc Phương là xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được thể
hiện 4 mùa rõ rệt. Mùa hè nắng nóng và mưa nhiều, mùa đơng lạnh, ít mưa.
Theo số liệu của khí tượng thủy văn Ninh Bình nhiệt độ trung bình năm
khoảng 23oC, nhiệt độ cao nhất có ngày lên tới 39 oC, nhiệt độ thấp nhất là
8oC.
18


Lượng mưa trung bình hàng năm là 1880 – 1960mm phân bố tập trung
vào các tháng 5, 6, 7, 8. Lượng mưa nhỏ nhất vào các tháng 11, 12.
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Kinh tế
Kinh tế xã Cúc Phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với hai ngành
chính là trồng trọt và chăn ni gia súc, gia cầm, ngồi ra tiểu thụ cơng
nghiệp, thương mại, dịch vụ cũng được hình thành nhưng cịn nhiều hạn chế.

Trong năm qua Đảng bộ và nhân dân trong xã đã có nhiều cố gắng khắc phục
khó khăn của điều kiện tự nhiên kết hợp với sự đầu tư của nhà nước trong
chương trình 135 đã thu được nhiều kết quả đáng kể.
- Sản xuất nông nghiệp:
+ Về trồng trọt: Năng suất lúa đạt 45 tạ/ha sản lượng lương thực quy
thóc đạt 1100 tấn. Bình quân lương thực đầu người đạt 350 kg/ngươi/năm.
+ Chăn nuôi: Được coi là thế mạnh của địa phương, được sự hỗ trợ vốn
của nhà nước, đàn gia súc ngày một tăng nhanh. Tính đến cuối năm 2004 tồn
xã có 650 con bị, 568 con trâu, đàn hươu 175 con, đàn lợn 659 con, ong 297
đàn, gia cầm 8700 con, giá trị đạt hàng trục tỷ đồng.
- Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Chủ yếu tập
trung vào nghề khai thác vật liệu xây dựng như khai thác đá, xay sát chế biến
lượng thực, chế biến gỗ, vận chuyển hàng hóa, phục vụ tưới tiêu làm đất,
cung ứng vật tư nông nghiệp, ăn uống, giải khát đã được hình thành tuy quy
mơ cịn nhỏ nhưng cũng đã thu hút được nhiều lao động tham gia.
4.1.2.2. Xã hội
1. Y tế - văn hóa – thể dục thể thao
- Y tế
Cúc Phương có mạng lưới y tế cơ sở được hình thành khá tốt đến các
điểm dân cư trong toàn xã. Trạm y tế xã được đầu tư xây dựng bán kiên cố
trên khuôn viên diện tích 935 m2. Được biên chế 5 cán bộ trong đó có 1 bác
sỹ, 2 y sỹ và hai y tá đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe
19


ban đầu cho nhân dân. Ngồi ra, các thơn bản đều có các cán bộ y tế cơ sở,
cơng tác dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh góp phần làm giảm tỷ
lệ phát triển dân số từ 1,6% trước đây xuống còn 1,2% năm 2004. Phấn đấu
trong những năm tới giữ vững tỷ lệ tăng dân số 1,2% năm.
Ngoài cơ sở y tế do địa phương quản lý, trên địa bàn xã cịn có phịng

khám chữa bệnh đa khoa khu vực đang phát huy tốt công tác khám và chữa
bệnh cho nhân dân trong xã và các xã lân cận.
- Văn hóa – thể dục thể thao
Hoạt động văn hóa thể dục thể thao mấy năm gần đây có bước phát
triển mạnh, đã dành quỹ đất cho các thơn bản xây dựng các sân bóng chuyền,
cầu lơng hoạt động tương đối đều đặn. Hệ thống nhà văn hóa thơn bản đã
được hình thành là nơi vui chơi, giải trí, hội họp của các tầng lớp nhân dân.
Xã có đội văn nghệ thường xuyên tập luyện, tham gia hội diễn, giao lưu với
các địa phương trong và ngoài tỉnh. Tuy vậy, cơ sở vật chất như sân chơi, bãi
tập chưa quy mơ, diện tích sử dụng cịn ít nên các hoạt động thường bị hạn
chế và thường xuyên lien tục. Trong giai đoạn tới xã sẽ đầu tư kinh phí dành
quỹ đất cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục thể thao ở địa phương.
- Dân số
Tính đến năm 2012 dân số xã Cúc Phương là 3721 nhân khẩu, phân bổ
trong 752 hộ. Tỷ lệ dân số sống bằng sản xuất nơng nghiệp chiếm 89,9% dân
số tồn xã.
Dân số xã Cúc Phương chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 96% dân số
toàn xã, được phân bổ trên 10 thôn bản.
- Giáo dục
Hệ thống giáo dục phát triển nhanh kể cả quy mô số lượng và chất
lượng. Trong những năm qua, xã đã đầu tư xây dựng các phòng học cao tầng,
kiên cố. Dành đủ quỹ đất cho các trường theo tiêu chuẩn đề ra, trên 30% dân
số của xã đang ở độ tuổi đi học.

20


Xã có 3 cấp học (mầm non, tiểu học và trung học cơ sở), hai cấp học đã
đạt chuẩn quốc gia mức độ một (mầm non và tiểu học), cấp trung học cơ sở
đang được đấu tư, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia.

2. Hiện trạng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực
- Khu trung tâm và các cơng trình xây dựng
Khu trung tâm xã nằm tại thôn Nga, bao gồm trụ sở UBND xã, trạm y
tế, các trường học khu trung tâm.
Trụ sở UBND xã, hội trường, trạm y tế đã được xây dựng kiên cố, trang
bị làm việc đã được đầu tư (máy chiếu, máy photo, máy vi tinh nôi mạng,
máy in…).
- Hệ thống thủy lợi, giao thông
+ Hệ thống giao thơng: hệ thống giao thơng chính của xã Cúc Phương
là tuyến đường du lịch đi vườn quốc gia Cúc Phương chạy qua xã dài 8km,
đường trong khu dân cư đã được bêtơng hóa 9/10 thơn, cịn lại đường sản xuất
chủ yếu là nền đường bằng đất, mặt cắt hẹp, do vậy đi lại sản xuất còn gặp
nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa.
+ Hệ thống thủy lợi: do đặc điểm địa hình mà hệ thống thủy lợi của xã
chủ yếu là dựa vào thiên nhiên, chỉ một số hồ, đập nhỏ mới được xây dựng,
còn lại kênh mương chủ yếu là bằng đất. Do vậy, tốn nhiều diện tích sử dụng,
cơng tác tu sửa và hiệu quả sử dụng kém…
- Hệ thống điện
Trên địa bàn xã có ba trạm biến áp cơng suất 180 KVA, đảm bảo đủ
cung cấp điện sih hoạt và sản xuất cho nhân dân.
100% số hộ trong xã đã có điện sinh hoạt, hệ thống đường trục đã được
xây dựng hoàn chỉnh nhưng đường nhánh vào các khu dân cư còn tạm bợ gây
lãng phí và mất an tồn khi dùng điện.

21


- Nguồn nhân lực và tài nguyên
+ Lao động: toàn xã có 1478 người trong độ tuổi lao động, chiếm
khoảng 39,7% dân số tồn xã.Trong đó lao động nơng nghiệp 1046 người, lao

động phi nông nghiệp 432 người.
+ Tài nguyên: Cúc Phương là xã miền núi có diện tích tự nhiên lớn,
rừng chiếm 4,5 diện tích tự nhiên, đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý.
Ngoài ra hệ thống núi đá vôi, các thềm đá lộ đầu và nguồn nước đang được
đầu tư khai thác du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm
cho người dân lao động.
4.2. kết quả điều tra hiện trang sử dụng đất của xã
Qua các số liệu thứ cấp thu thập được kết hợp với phỏng vấn và kiểm tra
tại hiện trường tôi đã thu được kết quả về hiện trạng sử dụng đất như sau:

22


Biểu 4.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cúc Phương
Hiện trạng sử dụng đất

I.
1.1.
1.1.1.
1.1.1.1
.
1.1.1.2
.
1.1.1.3
.
1.1.2.
1.2.
1.2.1
1.2.2.
1.2.3.

1.3.
1.4.
1.5.
II.

Tỷ
Diện tích
(%)

Tổng diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm

12373,51
12041,01
445,12
345,63

Đất trồng lúa

132,22

lệ

Phân theo đối tượng sử dụng
HGĐ
UBND
Tổ chức
VQG

(ha)
xã (ha)
kinh tế

100,00
97,31 390,76
3,60 388,84
2,79 289,98

263,88
55,43
55,39

1,07 108,85

23,37

213,41
99,49
11593,87

1,72 181,13
0,80 98,86
93,70

32,02
0,04
208,35

208,35

11385,52
2,02

1,68
92,02
0,02 1,92

208,35

khác

10432,76 0,85
0,85
0,26

Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đăc dụng
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
Đất nông nghiệp khác
Đất phi nông nghiệp

182,66

1,48 20,62

23

0,26
0,59
10432,76

10432,76
0,1

4,59

61,36

33,38


Hiện trạng sử dụng đất
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.5.
2.3.
2.4.
2.5.
2.6.

III.
3.1.
3.2.
3.3.

Đất thổ cư
Đất thổ cư tại nông thôn
Đất thổ cư tại đô thị
Đất chuyên dùng
Đất trụ sở cơ quan, cơng trình sự
nghiệp
Đất quốc phịng
Đất an ninh
Đất sản xuất kinh doanh phi nơng
nghiệp
Đất có mục đích cơng cộng
Đất tơn giáo, tín ngưỡng
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Đất sơng suối và mặt nước chuyên
dùng
Đất phi nông nghiệp khác
Đất chưa sử dụng
Đất bằng chưa sử dụng
Đất đồi nùi chưa sử dụng
Núi đá khơng có rừng cây

Tỷ
Diện tích
(%)


lệ

Phân theo đối tượng sử dụng
HGĐ
UBND
Tổ chức
VQG
(ha)
xã (ha)
kinh tế

20,62
20,62

0,17 20,62
0,17

124,62

1,01

1,50

2,18
27,88

0,02
0,23

0,57


61,23
33,36
0,52
3,09

0,49
0,27
0,00
0,02

33,78

0,27

149,84

1,21

134,87
5,97

1,09
0,05
24

0,93
3,09

61,36


33,38
1,61
27,88

61,23
0,13

3,89

khác


(Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Cúc Phương, 2011)

25


×