I – Khái niệm chung về ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức:
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official
Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ
trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi
suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ.
Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này làphát
triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính
thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Số liệu năm 2004 của OECD cho biết lượng vốn ODA cung cấp bởi một
số nước phát triển:
Nước
Vốn (triệu USD) % thay đổi hằng năm % GNI
Hoa Kỳ
19000
16,4
0,16
Nhật Bản
8900
-0,2
0,19
Pháp
8500
16,8
0,42
Anh Quốc
7800
24,7
0,36
Đức
7500
10,5
0,28
Hà Lan
4200
6,4
0,74
Thụy
Điển
2700
12,7
0,77
II – Giải quyết vấn đề
- Các nước giàu không nên tăng viện trợ ODA cho các nước đang
phát triển.
1. Ưu điểm của ODA:
a) Đối với nước nhận viện trợ:
- Lãi suất thấp (dưới 2%, trung bình từ 0.25%năm)
- Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới
phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
- Bổ sung nguồn vốn trong nước
- Giúp các nước nhận viện trợ tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ
hiên đại phát triển nguồn nhân lực
- Hoàn thiện cơ cấu kinh tế
- Thu hút vốn đtư trực tiếp nước ngoài FDI , mở rong đtư phát triển
trong nước
- Cải thiện đời sống
- Tăng cường năng lực thể chế.
b) Đối với nước viện trợ:
- Mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác.
- Hỗ trợ cho mục tiêu an ninh quốc phòng.
- Hỗ trợ cho mục tiêu chính trị.
2. Các nước giàu không nên tăng thêm viện trợ ODA cho các nước
đang phát triển:
a. Tính minh bạch, công khai không được rõ ràng, tình trạng
tham nhũng lạm phát, ở những nước tiếp nhận viện trợ:
Điều nổi bật trong thực hiện ODA là tính phức tạp của quy trình
mang nặng tính “xin-cho” và sự thiếu công khai, minh bạch về các dự
án, các điều kiện, các tiêu chí cụ thể trong quá trình phân bổ. Trách
nhiệm hoàn vốn, trả nợ không được tính toán kỹ lưỡng và trình duyệt khi
thông qua đề án.
Do nhu cầu đầu tư phát triển về kết cấu hạ tầng nói chung và ở các
tỉnh rất lớn trong khi nguồn cung lại có giới hạn nên việc “chạy dự án”
đã sản sinh ra một đội “cò dự án” chuyên nghiệp với các mối quan hệ
thân quen rất phức tạp. Đã hình thành những “nhóm lợi ích” bất chính ăn
bám vào ODA ở cấp trung ương và địa phương.
Người ta đã nói đến “ma trận” thực hiện ODA, xin được dự án,
thực hiện dự án, huy động vốn đối ứng, giải phóng mặt bằng v.v. mỗi
khâu đều phát sinh nhiều vấn đề có thể gây chậm trễ. Do quy trình
không công khai nên khâu chọn thầu, đấu thầu chỉ mang tính hình thức,
một số công ty mặc nhiên được chỉ định thực hiện các công trình về cầu,
về đường, trong đó có không ít những công ty sân sau, thân quen. Hệ
quả là sự bắt tay nhau giữa thi công-giám sát-nghiệm thu dẫn đến giá
thành công trình bị đội lên rất cao trong khi chất lượng và tuổi thọ công
trình rất thấp.
Ví dụ:
Vụ Cầu treo Chà Và đổ gây chết người, thực tế cũng là một công
trình ODA trong đó cơ quan thực hiện do con rể của quan chức đầu tỉnh
thực hiện!.
Vụ PMU 18 (PMU viết tắt theo tiếng Anh cho Project
Management Unit, có nghĩa là Đơn vị quản lý dự án), là một vụ bê bối
liên quan đến tham nhũng trong Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đầu
năm 2006. Vụ này đã gây xôn xao dư luận tại Việt Nam cũng như các
nước và tổ chức cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt
Nam vs số tiền lên tới 1,8 triệu đô la.
b. Chính sách sử dụng vốn ODA chưa hợp lí và trình độ quản lí
còn thiếu kinh nghiệm:
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy
hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình
độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như
xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công
trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận
ODA vào tình trạng nợ nần.
c. Khủng hoảng nợ công:
Tuy nhiên, nguồn vốn ODA cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi đối
với các nước tiếp nhận. Nếu không được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn
ODA có thể làm tăng gánh nặng nợ quốc gia bởi phần lớn nguồn vốn
này là dưới dạng tiền cho vay. Trừ những khoản ODA dành cho giáo
dục, y tế, văn hóa (chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ) là không hoàn lại, còn ODA
dùng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế là tiền vay và sẽ phải hoàn
lại trong tương lai.
Vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường. Tuy
vậy, nợ bao nhiêu là an toàn lại là một bài toán khó giải. Theo nhà báo
người Đức David Froje, bài học lớn nhất mà thế giới rút ra từ cuộc
khủng hoảng nợ công tại châu Âu, là bất kỳ nền kinh tế nào, nếu lơ là
quản lý, đều có thể sụp đổ vì nợ nần: “Tình hình châu Âu rất khác biệt,
mọi quốc gia trên thế giới đều khác biệt không thể dập khuôn các mô
hình phát triển. Vấn đề rút ra ở đây là không nên tiêu quá nhiều, nhưng
bao nhiêu là quá nhiều thì mỗi trường hợp một khác. Nhớ lại cuộc khủng
hoảng tài chính ở châu Á xảy ra năm 1997 khi Thái Lan chỉ có khoản nợ
khoảng 15% GDP. Do đó, nói rằng không chi tiêu nhiều là tránh xa được
khủng hoảng là không đúng. Trong lịch sử, nước Đức cũng từng phải
tiêu rất nhiều, vấn đề là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp
với nền kinh tế của mình”.
c) Đầu tư không hiệu quả
Tất cả những yếu tố trên: sự thiếu tính minh bạch trong việc sử
dụng vốn ODA, việc sử dụng nguồn vốn được viện trợ chưa hợp lí hay
bản thân nước nhận tiếp trợ có trình độ quản lí thấp, cộng với những
chính sách hoàn vốn trả nợ không được tính toán kỹ lượng,… dẫn đến
việc những nước giàu – hay còn gọi là những nước viện trợ ODA bị thiệt
hại về kinh tế ( vì nước nhận viện trợ có khả năng cao rơi vào khủng
hoảng nợ công, không có điều kiện hoàn được vốn), kéo theo sự đầu tư
không hiệu quả và thiệt hại về thời gian đối với nước tài trợ.
Ví dụ về những nước không thay đổi được nền kinh tế kể cả khi
nhận được nguồn vốn ODA lớn:
- Trong khi đó, Zambia, dù nhận được nguồn tài trợ khổng lồ, vẫn là
một trong những nước nghèo nhất trên thế giới.
-Còn ở CHDC Công-gô, hàng tỷ USD cả viện trợ không hoàn lại lẫn
cho vay ưu đãi trong nhiều thập niên qua đã không đem lại sự tiến bộ
trong phát triển kinh tế của quốc gia vốn nghèo đói này và cũng không
giúp cải thiện đời sống của người dân.Nguyên nhân khiến cho Cônggô
cũng là một trong những nước nghèo nhất thế giới là cơ chế chính sách
quản lý lệch lạc và tệ nạn tham nhũng hoành hành. Với Tanzania, dù
được các nhà tài trợ song phương và đa phương rót vào khoản ODA trị
giá nhiều tỷ USD trong 20 năm qua, nhưng mạng lưới giao thông của
nước này chưa được cải thiện, đường sá thường bị hỏng nhanh hơn so
với mức độ xây dựng mới.
-Với Tanzania, dù được các nhà tài trợ song phương và đa phương rót
vào khoản ODA trị giá nhiều tỷ USD trong 20 năm qua, nhưng mạng
lưới giao thông của nước này chưa được cải thiện, đường sá thường bị
hỏng nhanh hơn so với mức độ xây dựng mới.
-Tại Hy Lạp, “thủ phạm” là những số liệu được làm giả để đối phó
với các điều kiện khắt khe của Liên minh châu Âu. Nợ hơn 100% GDP
đã đủ làm sập nền kinh tế Hy Lạp .Nợ công của các quốc gia này đang ở
mức báo động mặc dù các Chính phủ luôn luôn chấn an dư luận rằng họ
vẫn đang kiểm soát tốt tình hình.
Dĩ nhiên không phải Chính phủ Hy Lạp không lường trước được hậu
quả của những khoản nợ, nhưng chính tâm lý ảo tưởng đã dẫn đến vay
nợ tràn lan, đầu tư quá trớn. Cũng vì ảo tưởng mà lơ là quản lý và thiếu
kiểm soát kinh tế vĩ mô. Thái độ thiếu trách nhiệm của những người lãnh
đọa không chỉ khiến các thế hệ con cháu phải oằn lưng trả nợ, mà ngay
lập tức các nước này đã phải cầu viện các khoản cứu trợ với điều kiện
ngặt nghèo từ Liên minh châu Âu và Quỹ tiền tệ quốc tế. Như vậy, họ
cũng đã đánh mất “chủ quyền tài chính quốc gia”.
- Ông Mobutu Sese Seko – tổng thống nước Zaire từ năm 1965 –
1967 đã bị tố cáo là tham nhũng 5 triệu đô từ nguồn viện trợ quốc
gia.
Bất lợi về chính trị - Quan hệ Việt Nam Trung Quốc:
Trường hợp của Trung Quốc, dĩ nhiên khi tài trợ một dự án bằng
vốn ODA không bao giờ họ nói rõ hết ý đồ của họ. Nhưng Việt
Nam phải hiểu rằng Trung Quốc là nước luôn đi tìm ảnh hưởng về
mặt chính trị, kinh tế, quân sự ở Việt Nam, thành ra những nguồn
viện trợ của Trung Quốc phải hết sức cẩn trọng. Như trường hợp
Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), nhiều nước đã lên
tiếng cho rằng Trung Quốc khởi xướng thành lập ngân hàng này
không phải chỉ phục vụ cho quyền lợi của thế giới mà họ có ý đồ
muốn nắm quyền chủ động. Cùng chiều hướng đó, vấn đề Việt
Nam nhận tài trợ ODA của Trung Quốc phải làm rõ mục đích của
họ là gì, họ đi tìm tầm ảnh hưởng nào. Không thể loại trừ ý đồ
chính trị, thương mại, xã hội... của những quốc gia tài trợ các dự án
ODA. ODA là nguồn tài trợ mang lại lợi ích cho nước nhận và
nước cung cấp, thành ra đối với Trung Quốc, Nhật Bản hay các
nước khác, chúng ta phải chấp nhận ý đồ của họ Trong kinh doanh,
tập trung cao vào một đối tượng nào đó luôn mang rủi ro lớn. Việt
Nam tập trung nhiều dự án vào Trung Quốc như vậy, một khi
Trung Quốc có thay đổi, lập tức Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất lớn,
chưa kể Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ phức tạp. Để giảm
thiểu điều này, Việt Nam phải phân bổ nguồn lực đầu tư với các
quốc gia khác, không dựa quá nhiều vào Trung Quốc về mặt tài
chính, mậu dịch cũng như hàng hoá. Đây là điều rất khó vì hiện
Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc trong vấn đề nhập khẩu
hàng hoá. Hàng hoá Trung Quốc vừa rẻ, chất lượng ngày càng tốt,
còn Việt Nam là nước nghèo nên dĩ nhiên là phải mua, nhưng việc
lệ thuộc vào Trung Quốc rất nguy hiểm. Do đó, Việt Nam cần phân
bổ vấn đề mua bán, mậu dịch với Trung Quốc cũng như vốn đầu tư
với Trung Quốc ở tỷ lệ an toàn. Nguồn vốn ODA cũng vậy, khi
Việt Nam dựa nhiều vào Trung Quốc, có nhiều dự án liên quan đến
Trung Quốc, khi bên Trung Quốc có chủ trương nào bất lợi cho
Việt Nam, họ có thể dùng những công cụ tài chính này và những
công cụ thương mại mậu dịch để tăng cường áp lực cho Việt Nam.
Trong trường hợp này, nếu những rủi ro đó trở thành thiệt hại thì
những thiệt hại đó không thể lường trước được.
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng
rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất
nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được
yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng
hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn
chế, có khả năng sinh lời cao
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo
cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không
hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo.
Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ
thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn
90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên
gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên
gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu
dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp
ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng
hoá, dịch vụ do họ sản xuất. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp
nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ
sản xuất
Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA
nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả
thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án
nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ
chuyên gia.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy
hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình
độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như
xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công
trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận
ODA vào tình trạng nợ nần.
Các nước nhận viện trợ ODA phụ thuộc nhiều vào các nước tiếp
trợ.
III - KẾT LUẬN
Không ai có thể phủ nhận những mặt tích cực mà nguồn vốn ODA
mang lại cho cả hai bên: nước đầu tư và nước nhận viện trợ. Nhưng, mặt
quan hệ chính trị, an ninh quốc phòng, quân sự của nước nhận đầu tư thì
lại bị ảnh hưởng xấu, không chỉ vậy, về mặt lâu dài, chính những nước
giàu cũng bị ảnh hưởng không nhỏ từ chính nguồn vốn ODA mà mình
đã hỗ trợ cho các nước bạn.
Chính vì vậy, các nước giàu không nên tăng thêm hỗ trợ ODA cho
các nước đang phát triển