Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp của nước CHDCND lào – so sánh với pháp luật doanh nghiệp nước CHXHCN việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (663.58 KB, 82 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNLOME THAMMAVONGSA

GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP CỦA
NƯỚC CHDCND LÀO- SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
DOANH NGHIỆP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : CH22B303

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Ngọc Dũng

HÀ NỘI- 2016


LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Pháp luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng
viên chính, PGS.TS. Trần Ngọc Dũng, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.


Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động
viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BOUNLOME THAMMAVONGSA


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực.
Hà Nội, ngày … tháng 6 năm 2016

XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HƯỚNG DẪN

PGS.TS TRẦN NGỌC DŨNG

BOUNLOME THAMMAVONGSA


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS.TS TRẦN NGỌC DŨNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM ......................................................... 9
1.1 Khái niệm giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ................... 9
1.2. Đặc điểm của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ........... 11
1.3. Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần......... 15
1.4. Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ........ 18
1.5. Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam..................................................... 25
1.5.1. Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần tại Lào ........................................................................ 25
1.5.2. Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần tại Việt Nam ............................................................... 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 29
CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT
ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở LÀO VÀ VIỆT NAM .. 31
2.1. Các quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội
đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc) .............................................. 31
2.2. Các quy định về việc Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc
(Tổng Giám đốc)............................................................................................... 35
2.3. Các quy định về việc Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng
quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) .............................................................. 39


2.4. Các quy định về việc cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị,

Giám đốc (Tổng Giám đốc).............................................................................. 44
2.5. Thực trạng thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần tại Lào .................................................................................... 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 53
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI
LÀO...................................................................................................................... 54
3.1. Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần tại Lào .......................................................................... 54
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần tại Lào .................................................................................... 58
3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giám
sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào ...................................... 60
3.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần tại Việt Nam ................................................................. 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 70
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 74


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CH DCND Lào

: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

CTCP

: Công ty cổ phần


DN

: Doanh nghiệp

WTO

: World Trade Organisation
(Tổ chức Thương mại Thế giới)


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công ty cổ phần là một trong những mô hình kinh tế có vai trò rất quan
trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của các quốc gia trên thế
giới nói chung và ở Lào nói riêng, đặc biệt là khi nước Cộng hòa DCND Lào
đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế.
Các quy định của pháp luật về doanh nghiệp về việc giám sát hoạt động
quản lý trong công ty cổ phần là những công cụ có vai trò rất quan trọng. Các
quy định phù hợp của pháp luật không những giúp các công ty hoạt động với
hiệu quả kinh tế cao mà còn thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia đó ngày càng
phát triển vững mạnh. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất việc hoàn thiện cơ
chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần phù hợp với tình hình
của mỗi nước sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để việc hoàn
thiện các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần đạt
kết quả cao.
Trong pháp luật về doanh nghiệp, các quy định về việc giám sát hoạt
động quản lý trong công ty cổ phần được coi là phương tiện nhằm giúp các
thành viên trong công ty cổ phần có trách nhiệm trong việc đảm bảo hiệu quả

hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn thành những chỉ tiêu, kế hoạch mà
công ty đã đề ra. Tuy nhiên, để tác dụng của các quy định của pháp luật trong
vấn đề này đạt hiệu quả cao thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động khác
nhau. Đó là các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó việc nhận thức, áp
dụng đúng các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần là rất quan trọng.
Do đó, việc nắm vững và áp dụng đúng các quy định liên quan đến việc
giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là một trong những yêu cầu
cơ bản để phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Vì vậy, nghiên cứu về các


2

quy định của pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là
một trong những việc làm có tính cấp thiết trong khoa học pháp lý hiện nay.
Khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các quy định của pháp luật về
giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, cần phải tìm hiểu hệ thống
các quy định trong phạm vi một nước. Ngoài ra, cần tìm hiểu và chọn lọc
những kinh nghiệm của các nước khác trong việc quy định và thực tiễn áp
dụng các quy định. Trên cơ sở đó, theo phương pháp nghiên cứu so sánh luật,
có thể hoàn thiện các quy định trong Luật Doanh nghiệp của Cộng hòa Dân
chủ nhân dân Lào, để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý trong công ty cổ
phần, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Hơn nữa, cùng với quá trình hội nhập và phát triển đất nước, việc “thực
hiện chính sách hòa bình hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả
các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau,
trên cơ sở độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi” 11 thì vấn
đề tìm hiểu một cách khoa học các quan niệm khác nhau, cũng như tăng
cường nghiên cứu, phát triển luật so sánh về pháp luật của các nước trên thế

giới trở thành một vấn đề cấp thiết.
Trong lĩnh vực pháp luật nói chung và trong giám sát hoạt động quản
lý công ty cổ phần nói riêng, sự so sánh giữa pháp luật các nước sẽ giúp
chúng ta nâng cao kiến thức, nhận biết những điểm mạnh, điểm yếu trong
hệ thống các quy định về Luật Doanh nghiệp để hoàn thiện theo trình độ
quốc tế và giữ được vai trò, bản chất của pháp luật của Lào.

1.

1

Michael Bogdan (1998), Vài suy nghĩ về Luật so sánh, Tạp chí Luật

học số 4, tr. 17.


3

Xuất phát từ đòi hỏi khoa học, yêu cầu thực tiễn và góp phần hoàn
thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành về giám sát hoạt động
quản lý trong công ty cổ phần ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tác giả
chọn đề tài: “Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp
luật doanh nghiệp của nước CHDCND Lào – So sánh với pháp luật doanh
nghiệp nước CHXHCN Việt Nam ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các quy định
pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Việt Nam và
ở Lào đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đó là:
Bài báo “Luật so sánh và thực tiễn xây dựng Luật doanh nghiệp Việt

Nam” của Nguyễn Viết Tý, Tạp chí Luật học, Số 4 (2007); Bài báo “Một số
so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp
Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc
gia Hà Nội, Luật học số 25 (2009); Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài
“Pháp luật về quản lý nội bộ trong công ty cổ phần ở Việt Nam” của Lưu
Tiến Ngọc, (2002), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ
Luật học với đề tài “Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ
so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp” của Bạch Thị
Lệ Thoa năm 2004, Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ Luật học
với đề tài “Quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt NamThực trạng và giải pháp” của Thành Hiền Lương, Khoa Luật - Đại học Kinh
tế Quốc dân; Khóa luận tốt nghiệp đại học Luật với đề tài “Pháp luật hiện
hành về quản trị nội bộ công ty cổ phần” năm 2010 của Trần Thị Quỳnh Anh,
Trường Đại học Luật Hà Nội.


4

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn
diện vấn đề giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần dưới góc độ so
sánh giữa pháp luật về doanh nghiệp của Lào và pháp luật về doanh nghiệp
của Việt Nam. Để bổ khuyết cho việc nghiên cứu cơ chế giám sát hoạt động
quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và ở Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn đề
tài: “Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh
nghiệp của nước CHDCND Lào – So sánh với pháp luật doanh nghiệp nước
CHXHCN Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật. Đây là việc
làm hết sức cần thiết nhằm so sánh pháp luật về doanh nghiệp của Lào và
Việt nam trong lĩnh vực giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần.
Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn cũng đề xuất phương
hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về giám sát hoạt
động quản lý và nâng cao hiệu quả của việc thi hành các quy định pháp luật

về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của CH DCND Lào.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, tác giả luận văn nghiên cứu các quy định
pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật
về doanh nghiệp của Lào và pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu
những vấn đề pháp lý về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
như: khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần và quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt
động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam. Đồng thời, luận văn
còn nghiên cứu so sánh các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam để đề xuất phương hướng và các giải
pháp hoàn thiện các quy định này theo mô hình và kinh nghiệm của Việt
Nam.


5

4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là so sánh các quy định trong pháp
luật về doanh nghiệp của Lào với các quy định trong pháp luật về doanh
nghiệp của Việt Nam liên quan đến việc giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần để từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp cho việc
hoàn thiện chế định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
trong luật Doanh nghiệp nước CHDCND Lào.
Để đạt được mục đích đã đề ra, tác giả luận văn thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu như phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ chế và quá trình
phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ
phần tại Lào và Việt Nam.
Tác giả luận văn cũng so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật về

giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam để thấy
được những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của mỗi nước. Cụ thể,
luận văn so sánh các quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt
động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về
việc Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc);
các quy định về việc Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị,
Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc cổ đông giám sát hoạt động
của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) và nghiên cứu thực trạng
thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại
Lào.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về lý luận và pháp luật thực định về
giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, tác giả luận văn đề xuất
phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt
động quản lý trong công ty cổ phần của nước CHDCND Lào. Điều đó đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước và làm cho hệ thống các quy


6

định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của nước CHDCND
Lào có những nét tương đồng về kỹ thuật lập pháp, nội dung và hiệu quả áp
dụng các quy định phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp
luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đồng thời, tác giả luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên
cứu cụ thể, thích hợp như: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.
Những phương pháp nghiên cứu hiện đại này bảo đảm độ tin cậy của các kết
quả nghiên cứu của luận văn.

6.Các câu hỏi nghiên cứu trong luận văn
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu toàn diện của đề tài, Luận văn phải trả lời
những câu hỏi sau:
(1)Thế nào là giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần? Giám

sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần có những đặc điểm gì? Chức
năng cụ thể của hoạt động giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
là gì?
(2)Cơ chế của hoạt động giám sát quản lý trong công ty cổ phần là thế nào?
(3) Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý

trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam được thể hiện tại những văn bản
pháp luật nào?
(4) Điểm giống và khác nhau giữa các quy định của Lào và Việt Nam
về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của
Giám đốc (Tổng Giám đốc); Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám
đốc (Tổng Giám đốc); Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản
trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) là gì?
(5)

Thực trạng thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý

trong công ty cổ phần tại Lào được thể hiện như thế nào?


7

(6) Để hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần ở nước Lào trong thời gian tới thì cần có những phương hướng, giải
pháp gì?

7. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh giữa pháp luật về doanh nghiệp
của Việt Nam và pháp luật về doanh nghiệp của Lào về một số vấn đề liên
quan đến giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, luận văn đã đạt
được những điểm mới như sau:
1) Trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giám sát hoạt động
quản lý trong công ty cổ phần.
2) Góp phần làm sáng tỏ nội dung và so sánh các quy định pháp luật hiện
hành về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của Lào và Việt
Nam
3) Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào.
4) Chỉ ra khả năng ứng dụng những kết quả nghiên cứu so sánh trong việc
tham khảo học tập kinh nghiệm của Việt Nam nhằm hoàn thiệt và phát triển
hệ thống các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
của Lào.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ nghiên cứu và
giảng dạy cũng như sinh viên trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật.
8. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề pháp lý về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam.


8

Chương 2. So sánh quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát

hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào.


9

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Giám sát là một trong những thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong
đời sống hằng ngày và trong khoa học pháp lý. Giám sát hoạt động quản lý
trong công ty nói chung, trong công ty cổ phần nói riêng là tiền đề và có vị trí
quan trọng đối với sự phát triển bền vững của công ty.
Triết lý của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được
thể hiện ở chỗ: Trong công ty cổ phần luôn luôn có một hệ thống các cơ quan
quản lý, điều hành và kiểm soát cũng như vô vàn mối quan hệ phức tạp giữa
các cá nhân thành viên của các cơ quan này. Nói chung, các thành viên của
các cơ quan quản lý và điều hành công ty thường hoạt động và làm việc vì lợi
ích của công ty. Nhưng nếu như một lúc nào đó, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm
của các thành viên này lại được họ coi trọng hơn lợi ích của công ty thì họ rất
dễ có những hành vi tư lợi, tham ô, lợi dụng của công, gây thiệt hại vật chất
và tinh thần cho công ty cổ phần. Do vậy, để tránh những nguy cơ tiềm ẩn đó,
để lợi ích của công ty luôn luôn được tôn trọng và bảo đảm, cần phải thường
xuyên có sự kiểm tra, giám sát sâu rộng đối với hoạt động quản lý, điều hành
của các cơ quan có thẩm quyền trong công ty cổ phần.
Nếu việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thực
hiện tốt thì các chủ thể giám sát mới có cơ sở để đánh giá và bố trí, sử dụng
đúng cán bộ và phát huy tốt các khả năng, tiềm năng của các thành viên cơ
quan quản lý, điều hành công ty cổ phần trên thực tiễn.

Đồng thời, việc giám sát tốt còn nâng cao tính chủ động trong việc phát
hiện, cảnh báo các cơ quan quản lý, điều hành trong công ty cổ phần, nhằm


10

kịp thời khắc phục những sai sót, khuyết điểm, không để xảy ra vi phạm pháp
luật, điều lệ, nội quy của công ty. Bên cạnh đó, việc giám sát hoạt động quản
lý trong công ty cổ phần được thực hiện tốt cũng tạo ra môi trường tốt để từng
thành viên trong bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tự
nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ luật của công ty.
Nghiên cứu về thuật ngữ “giám sát” ta thấy có rất nhiều quan điểm
khác nhau, bởi khi nghiên cứu, các học giả thường xem xét vấn đề ở những
góc độ không giống nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003 thì “giám
sát” được hiểu là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều
quy định không” hoặc “Chức quan thời xưa, trông nom, coi sóc một loại công
việc nhất định”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hội đồng biên soạn, Nhà xuất bản
Từ điển Bách khoa, xuất bản năm 1995 thì giám sát được hiểu là: “một hình
thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm
pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó. Chẳng hạn: Giám
sát chất lượng là “theo dõi, kiểm tra và xác nhận liên tục tình trạng của sản
phẩm, dịch vụ hay tổ chức, và phân tích hồ sơ để tin chắc rằng các yêu cầu
quy định đang được thỏa mãn…”.
Theo Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, Nhà xuất
bản từ điển bách khoa, tư pháp, xuất bản năm 2006 thì giám sát được hiểu là:
“sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục
và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt
động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được

mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được
tuân theo nghiêm chỉnh”.


11

Giám sát còn có thể được hiểu là các phương thức, biện pháp mà chủ
thể quản lý (tổ chức, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền được phân công) áp
dụng thường xuyên, chủ động, có mục đích, có định hướng thông qua việc
theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục hoặc đột xuất và sẵn sàng
tác động để buộc hoặc hướng hoạt động của khách thể (tổ chức, cơ quan, cá
nhân dưới quyền) hoạt động đúng quy định của pháp luật, phù hợp với mục
đích, lợi ích chung của tổ chức và đạt hiệu quả cao.
Như vậy, phạm vi giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là
khá rộng lớn. Nó bao gồm việc theo dõi, kiểm tra các cơ quan quản lý, điều
hành, các cổ đông của công ty trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và việc
các cá nhân, tổ chức của công ty chấp hành chính sách, pháp luật của nhà
nước, tuân thủ điều lệ, nội quy của công ty cũng như nghị quyết của Đại hội
đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị.
Tuy vậy, vì đề tài của luận văn này là “Giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp của nước CHDCND Lào
– So sánh với pháp luật doanh nghiệp nước CHXHCN Việt Nam” nên luận
văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu so sánh các quy định của pháp luật của Lào và
Việt Nam về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng
quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc Hội đồng quản
trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc
Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng
Giám đốc); các quy định về việc cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng
quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc).
1.2. Đặc điểm của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần

Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là một trong những
hoạt động quan trọng và cần thiết trong công ty cổ phần. Do vậy, ngoài những


12

đặc điểm vốn có của hoạt động giám sát thông thường thì giám sát hoạt động
quản lý trong công ty cổ phần cũng có một số đặc điểm riêng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc giám sát hoạt động quản lý được thực hiện bởi tập thể
và các cổ đông.
Giám sát hoạt động quản lý là hoạt động không thể thiếu trong các
công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam. Việc giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần được thực hiện bởi Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị,
Ban kiểm soát và các cổ đông trong công ty cổ phần. Việc giám sát được thực
hiện bởi tập thể và các cổ đông trong công ty sẽ góp phần giúp cho các cổ
đông trong Đại hội đồng cổ đông, các thành viên của Hội đồng quản trị, của
Ban kiểm soát trong công ty cổ phần kiểm tra, đánh giá đúng và nắm bắt
chính xác hơn các hoạt động quản lý, điều hành công ty của các chức danh
trong công ty. Đồng thời, việc giám sát này cũng cho thấy thực trạng và hiệu
quả của việc các chức danh quản lý trong công ty thực hiện các quy định của
pháp luật về doanh nghiệp, của điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty.
Bên cạnh đó, thôn qua việc giám sát tập thể thì vai trò của của Đại hội
đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông trong công ty
cổ phần sẽ được thể hiện rõ hơn trong việc phát hiện, tố giác hành vi vi phạm
pháp luật trong hoạt động giám sát công ty cổ phần được quy định trong hệ
thống các quy định của pháp luật quốc giao Lào. Hoạt động giám sát tập thể
trong công ty cổ phần mà cụ thể là các thành viên đều là những người trong
công ty, họ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các hoạt động phát
triển của công ty và giám sát hoạt động quản lý, phát hiện những sai phạm
trong việc thực thi các quy định của pháp luật về giám sát công ty. Các thành

viên trong công ty cổ phần có quyền tố giác những vi phạm trong hoạt động
giám sát quản lý của công ty. Do vậy, việc giám sát của tập thể và các cổ
đông trong công ty cổ phần sẽ phản ánh rõ nét, kịp thời, chính xác các hành vi


13

vi phạm về quản lý trong công ty cổ phần. Họ được coi như một công cụ răn
đe cho các thành viên trong công ty cổ phần thực hiện tốt việc giám sát quản
lý để các hoạt động của doanh nghiệp được tốt hơn.
Thứ hai, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý phải được thể hiện bằng
văn bản.
Văn bản là một trong những hình thức được rất nhiều các hoạt động
pháp luật khi tiến hành phải sử dụng đến. Nó được coi là hình thức pháp lý
quan trọng để dựa vào đó các bên trong quan hệ có thể sử dụng để làm công
cụ phục vụ cho các hoạt động của mình khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đối
với bên kia. Trong công ty cổ phần, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần phải được thể hiện bằng văn bản là một trong những nội dung
rất quan trọng, là đặc điểm không thể thiếu trong hoạt động giám sát quản lý
tại công ty cổ phần ở CHDCND Lào hiện nay.
Việc tiến hành giám sát hoạt động quản lý của tập thể và các cổ đông
trong công ty cổ phần là nhằm nhận định những thành công, phát hiện ra
những sai phạm, thiếu sót trong hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý,
điều hành tại các công ty cổ phần. Do vậy, hoạt động này phải được thực hiện
bằng những hình thức, phương pháp theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục
mà pháp luật về doanh nghiệp đã quy định.
Theo đó, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý trong công ty phải được
thực hiện bằng văn bản (chứ không phải bằng hình thức khác như bằng lời
nói). Điều đó có tác dụng đảm bảo cho các đối tượng bị giám sát có thể biết
được mục đích của việc giám sát và hoạt động giám sát có được thực hiện

đúng theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty hay không.
Yêu cầu giám sát được thể hiện bằng văn bản còn có tác dụng là những
căn cứ để xử lý những thiếu sót, bất cập của hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần. Điều đó sẽ khắc phục được việc giám sát tùy tiện hay sự lợi dụng


14

giám sát vì mục đích vụ lợi của các tập thể và cá nhân gây ảnh hưởng xấu tới
hoạt động sản xuất, kinh doanh trong công ty cổ phần.
Thứ ba, cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo kết quả
giám sát bằng văn bản.
Việc cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo về kết quả
giám sát bằng văn bản thể hiện tính chuyên nghiệp, có trách nhiệm trong việc
giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần. Đồng thời, thông qua
những bản báo cáo bằng văn bản thì các bộ phận trong bộ máy giám sát hoạt
động quản lý có cơ sở để giải quyết những sai sót trong quá trình giám sát của
các chủ thể thực hiện chức năng giám sát, tránh tình trạng giám sát không
đúng các quy định mà pháp luật đã đề ra cũng như không theo đúng điều lệ,
nội quy, nghị quyết của công ty.
Ngoài ra, hoạt động quản lý kinh doanh của công ty cổ phần ngày càng
phức tạp thì quyền chi phối công ty của những người thực hiện việc giám sát
hoạt động quản lý ngày càng lớn. Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của các chủ sở
hữu trong công ty cũng như để công ty đứng vững và phát triển mạnh mẽ thì
cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo bằng văn bản. Các văn
bản thể hiện kết quả giám sát hoạt động quản lý còn có tác dụng góp phần vào
việc xây dựng cơ chế hợp lý để các cổ đông trong công ty có thể kiểm soát
các hoạt động giám sát của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị, của
Ban kiểm soát.
Thứ tư, kết thúc việc giám sát hoạt động quản lý, chủ thể giám sát

thường nêu ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp
khắc phục các sai sót, bất cập, vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty
cổ phần. Đúng vậy, giám sát là một trong những hoạt động rất quan trọng
trong công ty cổ phần hiện nay. Tuy nhiên, việc giám sát hoạt động quản lý
kết thúc thì chủ thể giám sát phải đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận


15

để làm sáng tỏ nhưng kết quả đạt được, chưa đạt được của những chủ thể bị
giám sát để từ đó họ có thể rút kinh nghiệm và tự hoàn thành những nhược
điểm trong thời gian họ làm việc tại công ty. Đồng thời, thông qua đó các chủ
thể giám sát có thể đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các sai sót, bất cập,
vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty cổ phần nhằm đưa hoạt động
sản xuất, kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao hơn trong nhưng thời gian
tiếp theo.
1.3. Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần đem lại rất nhiều lợi
ích không chỉ cho công ty mà còn có lợi ích rất lớn cho các cổ đông và người
lao động trong công ty cũng như sự phát triển của nền kinh tế, nơi mà các
công ty cổ phần được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thể
hiện chủ yếu qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần nhằm
giúp cho việc giám sát của Hội đồng quản trị đối với việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của giám đốc (tổng giám đốc) hay việc giám sát việc các
thành viên của Hội đồng quản trị, giám đốc (Tổng giám đốc) báo cáo về các
mối quan hệ kinh tế của họ và của những người có liên quan của họ với công
ty cổ phần mà họ đang giữ chức vụ quản lý, điều hành… đạt được kết quả
cao. Đồng thời, thông qua việc giám sát thì những thành viên có trách nhiệm

hoặc những người có thẩm quyền trong công ty cổ phần nắm bắt kịp thời kết
quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty trong
từng giai đoạn để trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến chỉ đạo để công ty có thể
khắc phục được những khó khăn hoặc sai phạm để hoàn thành những chỉ tiêu,
kế hoạch mà công ty đã đề ra. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh và khả năng cạnh tranh lành mạnh của công ty.


16

Thứ hai, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, đặc
biệt là việc giám sát thực hiện các quy định của pháp luật của Đại hội đồng cổ
đông đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc ( Tổng giám đốc) cũng như các
thành viên trong công ty được đầy đủ và nghiêm chỉnh hơn. Từ đó sẽ sẽ giúp
hoạt động sản xuất ổn định và ngày càng phát triển đi lên.
Hoạt động của đa số các doanh nghiệp nói chung và hoạt động của
công ty cổ phần nói riêng đều có mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Do vậy,
mọi cổ đông và thành viên trong công ty muốn phát triển những ưu thế để
đem lại lợi ích cho mình thì vai trò giám sát hoạt động quản lý lại càng được
thể hiện rõ hơn. Nếu việc giám sát hoạt động quản lý của Đại hội đồng cổ
đông đối với các thành viên khác như Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng
giám đốc) trong công ty cổ phần tốt thì không những giúp cho công ty hoạt
động ổn định với nguồn vốn mà các cổ đông đã bỏ ra mà còn làm cho nguồn
vốn đó ngày càng tăng lên.
Ngoài ra, thông qua giám sát hoạt động quản lý trong việc chấp hành
nghị quyết của các thành viên trong công ty đối với Đại hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị trong việc tuân thủ chính sách, pháp luật của nhà nước và
thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật doanh nghiệp thì Hội đồng
cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc trong công ty cổ phần sẽ có trách
nhiệm thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình đối với những kế hoạch phát

triển của công ty. Từ hoạt động giám sát đó, các thành viên trong công tynhững người có quyền lợi nhiều nhất sẽ thực hiện việc giám sát đảm bảo tính
khách quan hơn.
Thứ ba, từ việc giám sát khách quan, đánh giá chính xác hiệu quả hoạt
động của công ty thì việc giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng cổ đông,
Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần sẽ có cơ sở để giúp bộ phận tổng hợp
trong công ty có những biện pháp động viên, khen thưởng đối với những


17

người quản lý, điều hành tốt công ty và thành viên đã giúp công ty nâng cao
hiệu quả sản xuất.
Cũng thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng cổ đông, Hội đồng quản
trị, Giám đốc thực thi hoạt động giám sát các cơ quan khác trong công ty cổ
phần thì họ sẽ là những các nhân đưa ra kiến nghị đối với tổ chức, cá nhân
quản lý, điều hành công ty và những thành viên khác của công ty có những sai
phạm, ảnh hưởng đến chất lượng, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Thứ tư, đối với các khách hàng của công ty. Hoạt động giám sát quản lý
trong công ty cổ phần là rất quan trọng. Bởi, việc lựa chọn đối tác của khách
hàng phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công
ty cổ phần. Việc giám sát hoạt động quản lý tốt sẽ tăng sức hấp dẫn của công
ty đối với khách hàng. Đồng thời, việc này cũng thể hiện sự tôn trọng đối với
khác hàng cũng như thể hiện vai trò của công ty đối với khách hàng thông qua
việc phân phối sản phẩm, bởi điểm mua bán có uy tín, có trách nhiệm là nơi
khác hàng tìm đến nhiều nhất.
Thứ năm, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần có vai
trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Doanh nghiệp
nói chung và công ty cổ phần đang hoạt động nói riêng là một bộ phận rất
quan trọng của nền kinh tế. Do đó, sự phát triển hoạt động của công ty cổ
phần sẽ góp phần ổn định và phát triển cho nền kinh tế quốc gia. Do vậy, việc

giám sát của các thành viên trong Hội đồng quản trị đối với Giám đốc (Tổng
giám đốc công ty) sẽ có chức năng rất lớn đối với việc nghiêm chỉnh thực
hiện các quy định của pháp luật.
Mặc dù, số lượng công ty cổ phần ít hơn so với các loại hình công ty
khác nhưng nguồn vốn đóng góp và các công ty cổ phần có quy mô lớn là rất
nhiều. Do vậy, nếu việc giám sát hoạt động quản lý của các thành viên Hội
đồng cổ đông, Hội đồng quản trị đối với Giám đốc và các thành viên khác


18

trong công ty mà kém, bao che cho những việc thưc hiện các hoạt động trái
pháp luật hoặc không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình hay báo
cáo tổng hợp số liệu sai… quy định của pháp luật thì sẽ đưa công ty đến tình
trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả. Đồng thời, việc này còn ảnh hưởng
xấu đến các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, gây thiệt hại cho nền kinh
tế quốc gia.
1.4. Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần bao
gồm các chủ thể, bộ máy tham gia việc giám sát và các quy định pháp luật
điều chỉnh việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần.
1.4.1. Bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Việt
Nam.
Việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị,
của Giám đốc (Tổng giám đốc) là vấn đề đầu tiên được nghiên cứu ở đây.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (2014), Đại hội đồng cổ đông
gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao
nhất trong công ty cổ phần. Các cổ đông này có các quyền như: tham dự Đại
hội đồng cổ đông, có quyền biểu quyết, tham dự và phát biểu trong Đại hội
đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện

ủy quyền. Trong công ty cổ phần, quyền giám sát hoạt động quản lý của Hội
đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) của Đại hội đồng cổ đông là rất
quan trọng, bởi nó thể hiện quyền của chủ sở hữu công ty của các thành viên
trong Đại hội đồng cổ đông.
Theo đó, các cổ đông có thể trực tiếp hoặc thông qua hoạt động của
Ban kiểm soát để thực hiện việc giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan
quản lý trong công ty cổ phần nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
mình. Thực hiện việc giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, của


19

Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần, các cổ đông có quyền sao
chụp điều lệ công ty, xem xét, tra cứu, sao chép các thông tin trong các quyết
định của Hội đồng quản trị, sổ và biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, các
Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông để nhanh chóng phát hiện ra những sai
sót trong quá trình quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc).
Qua đó có thể phát hiện ra được những vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy,
nghị quyết của công ty, tránh được những thiệt hại có thể xảy ra trong quá
trình quản lý, điều hành công ty.
Như vậy, với những quyền rất chi tiết, cụ thể mà pháp luật về doanh
nghiệp đã trao cho cổ đông, các cổ đông có thể nắm bắt được đầy đủ các
thông tin, thiếu sót hoặc bất cập trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản
trị, của Giám đốc (Tổng giám đốc). Các cổ đông có quyền biểu quyết yêu cầu
các cơ quan quản lý, điều hành công ty khắc phục, sửa sai những sai lầm,
thiếu sót đã mắc phải.
Hội đồng quản trị giám sát Giám đốc (Tổng giám đốc) là vấn đề thứ hai
cần được nghiên cứu, xem xét .
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Hội đồng quản trị là một bộ
phận không thể thiếu trong bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty

cổ phần. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát giám đốc (tổng giám
đốc) công ty trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật, của điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty; giám sát việc thực
hiện các quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị công ty;
việc tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các
văn bản pháp luật khác có liên quan của giám đốc (tổng giám đốc) công ty cổ
phần.
Đồng thời, Hội đồng quản trị còn thực hiện việc giám sát tính khả thi
và tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; hiệu quả huy động


×