Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Đề xuất phương án nâng cấp hiện đại hóa hệ thống thủy nông nội đồng gắn với giao thông và cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.58 MB, 23 trang )

PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

CHUYÊN ĐỀ 4.2.2
“ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HIỆN ĐẠI HÓA HỆ THỐNG
THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG GẮN VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN”
Thực hiện: Nguyến Đức Việt – Phòng Quản lý và HĐH công trình thủy lợi

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI
GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN ............... 2
1.1. VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ NÔNG THÔN ............................................................................................................. 2
1.2. VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI CƠ GIỚI
HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.............................................................................. 6
1.3. HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GIAO THONG NÔNG THÔN VÙNG ĐBSH VÀ YÊU
CẦU CẦN ĐÁP ỨNG ...................................................................................................... 6
1.3.1.

Hiện trạng đường GTNT vùng ĐBSH ............................................................ 6

1.3.2.

Yêu cầu cần đáp ứng ....................................................................................... 8

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI
GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN ............... 9
2.1.

MÁY MÓC NỘI ĐỒNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP .................... 9



2.2. YÊU CẦU NÂNG CẤP PHỤC VỤ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN. ............................................................................................................................. 14
2.2.1.

Hiện đại hóa công nghệ máy nông nghiệp .................................................... 14

2.2.2.

Quy hoạch mặt ruộng để đáp ứng cơ giới hóa .............................................. 16

2.2.3.

Quy hoạch hệ thống đường giao thông nội đồng .......................................... 19

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................... 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 23

Trang 1


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI
GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

1.1. VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG THÔN

ĐBSH hiện đang đóng vai trò chủ đạo về kinh tế của khu vực và toàn quốc,
ở đây có các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, các khu công nghiệp tập trung
như: Láng Hoà Lạc, Việt Trì, Nam Định...Trong quá trình đô thị hoá, tất yếu của sự
phát triển sẽ ra đời thêm nhiều đô thị vừa và nhỏ, các trung tâm nông thôn đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực này.
Mặt khác đây còn là khu vực sản xuất nông nghiệp quan trọng hàng đầu của
toàn quốc, có điều kiện nhân lực dồi dào, tự nhiên thuận lợi để đa dạng hoá sản
phẩm theo nhu cầu thị trường, ĐBSH cung cấp một khối lượng lớn nông phẩm cho
tiêu dùng và xuất khẩu.
Với vị trí và vai trò của ĐBSH trong toàn bộ đời sống vùng và cả nước thì
sản xuất hàng hoá sẽ dễ có tác dụng nên không thể không vận chuyển những hàng
hoá này đến thị trường có khả năng tiêu thụ, về khía cạnh này GTVT giữ vai trò
quan trọng hàng đầu trong đó GTNT lại càng phải đáp ứng tốt những yêu cầu phù
hợp với tình hình phát triển chung vì kinh tế vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nông
phẩm, nông nghiệp.
Qua đây thấy rõ tính cấp bách của việc xây dựng phát triển tốt mạng lưới
đường GTNT trong toàn quốc nói chung, nhưng riêng với ĐBSH lại càng quan
trọng. Vì có mạng lưới đường GTNT được phân bố hợp lý về mật độ, tốt về chất
lượng sẽ làm giảm bớt rất nhiều sức người và tiền của, tiết kiệm thời gian trong quá
trình lưu thông vận chuyển đầu vào và đầu ra cho mọi ngành sản xuất, tiêu dùng và
dịch vụ đời sống.

Trang 2


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

Vai trò của đường GTNT trong phát triển kinh tế xã hội có thể được xem xét

dưới các khía cạnh cụ thể trong sơ đồ sau:
Đường GTNT
Tăng trưởng phát triển kinh
tế

Tăng
trưởn
g
GDP

Chuyển
dịch cơ
cấu
kinh tế

Giao
lưu
hàng
hóa

Phát triển xã hội

Ứng
dụng
tiến bộ
KHCN
vào SX

Phân
công

lao
động

Xóa
đói
giảm
nghèo

Tăng
cườn
g hợp
tác
quan
hệ NT

Chất
lượng
cuộc
sống

 Đường GTNT trong vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế
1) Đường GTNT với cung- cầu và GDP
Khi xét đến tăng trưởng kinh tế, người ta xét đến sự gia tăng của GDP. Lý
thuyết kinh tế học hiện đại gọi sự tăng trưởng là sự gia tăng của đầu ra trên cơ sở sử
dụng hàng loạt các yếu tố đầu vào của sản xuất. Như vậy, đường GTNT cũng là
yếu tố nằm trong vốn sản xuất cơ sở hạ tầng nói chung, giao thông vận tải nói
riêng, là yếu tố của sản xuất và tác động tới tầng cung của nền kinh tế. Khi giao
thông đường bộ phát triển một mặt nó làm tăng giá trị đầu vào của vốn sản xuất,
một mặt nó tạo điều kiện để các yếu tố khác phối hợp có hiệu quả.
2) Phát triển đường GTNT tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Đường GTNT phát triển sẽ thu hút những người có vốn ở địa phương, các
nhà doanh nghiệp ở thành phố, ở nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh ở địa bàn
nông thôn tạo tiền đề hình thành kinh tế nông thôn với cơ cấu, nông nghiệp, dịch vụ
đa dạng và nhiều thành phần. Trong những năm gần đây sự chuyển dịch cơ cấu
công nông nghiệp nông thôn có sự thay đổi rõ rệt theo hướng tỉ trọng nông nghiệp
giảm trong khi tỉ trọng công nghiệp dịch vụ ở nông thôn có xu hướng gia tăng. Cụ
thể như sau:

Trang 3


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

- Vùng ĐBSH năm 1995 cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo thứ
tự chiếm tỉ lệ % GDP như sau: Nông nghiệp (27,2%), công nghiệp (28,8%), dịch
vụ ( 44%);
- Năm 1999 tỉ lệ này đã thay đổi với nông nghiệp giảm còn 25,4%, công
nghiệp tăng 34,5%, và dịch vụ là 40,1%;
- Năm 2005, trong cơ cấu kinh tế, ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 25,1%;
công nghiệp – xây dựng chiếm 29,9%; dịch vụ chiếm 45,0%.
3) Phát triển đường GTNT với ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất
của nông thôn
Có mạng lưới giao thông tốt tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ giới hoá
nông thôn bằng cách đưa máy cày, máy kéo, máy gặt... đến các hộ nông dân trong
vùng phục vụ cho hoạt động sản xuất thuận tiên của người nông dân, khi đó người
nông dân không còn phải sử dụng các biện pháp lạc hậu, đi lại đến các nơi xa hơn
mới có thể có được các phương tiện hỗ trợ hiện đại phục vụ cho hoạt động sản xuất
của mình.

4) Phát triển đường GTNT với giao lưu hàng hoá giữa các vùng
Đường giao thông nông thôn thuận lợi là điều kiện tiền đề cho giao lưu hàng
hoá giữa các vùng được diễn ra dễ dàng nhanh chóng và thuận tiện. Điều này được
thể hiện thông qua quá trình:
- Cung cấp vật tư thiết bị (máy bơm, tiêu), phân bón, giống (cây, con), thuốc
trừ sâu và các mặt hàng tiêu dùng phục vụ nông nghiệp nông thôn.
- Vận chuyển, tiêu thụ các mặt hàng nông lâm, thổ sản, thực phẩm, kể cả các
mặt hàng xuất khẩu (chiếu cói, hàng mĩ nghệ, tôm, cua, hoa quả...) đến địa điểm
tiêu thụ, góp phần nâng cao mức sống của người nông dân thực hiện cung cấp các
mặt hàng đó.
 Đường GTNT trong vấn đề phát triển xã hội
1) Đường GTNT với quá trình phân công lao động
Phát triển tốt đường GTNT sẽ tạo điều kiện nối liền các khu vực phát triển,
hình thành các khu công nghiệp lớn và đây là nguyên nhân thu hút lao động nông
thôn đến làm việc làm thay đổi quá trình phân công lao động ở nông thôn. Tại các
khu vực mới này lao động được dần rút khỏi nông nghiệp mà không gây sức ép cho

Trang 4


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

nền kinh tế. Như vậy phát triển đường GTNT vừa có thể giải quyết lao động tại
chỗ, tăng thu nhập cho người dân, đồng thời thực hiện được chủ trương “li nông,
không li thôn”.
2) Đường giao thông nông thôn với xoá đói giảm nghèo
Đường GTNT phát triển tạo điều kiện nâng cao mức sống của người dân,
tham gia vào xoá đói giảm nghèo các hộ nông dân trong vùng thông qua các hình

thức:
-

Phát triển nông nghiệp và nông thôn

-

Đa dạng hoá thu nhập nông thôn.

-

Nâng cao năng lực cơ sở hạ tầng ở nông thôn.

-

Nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo với vấn đề giáo dục.

-

Tăng cường các dịch vụ y tế cho người nghèo.

Việc nâng cấp các đường GTNT thúc đẩy sự tiếp cận tới các dịch vụ xã hội
và tới các cơ hội kinh tế và việc làm. Rõ ràng là thiếu đường tiếp cận tới các công
trình, dịch vụ, các cơ hội và hoạt động thông tin là một trở ngại để những người
nghèo nông thôn làm việc thoát khỏi đói nghèo.
3) Đường GTNT trong vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống người dân nông thôn là yếu tố bào bao gồm nâng cao
văn hoá, sức khoẻ và mở mang dân trí cho cộng đồng nông thôn trong vùng, bao
gồm các hình thức: y tế, giáo dục, giao thông.
Ngoài ra giao thông nông thôn còn làm thay đổi lối sống hủ tục tập quán lạc

hậu do được tiếp xúc với thông tin, văn hoá mới.
4) Đường GTNT trong tăng cường hợp tác quan hệ nông thôn
Đường GTNT được mở mang xây dựng tạo điều kiện giao lưu thuận tiện
giữa vùng sản xuất nông nghiệp với các thị trấn, các trung tâm văn hoá, xã hội, có
tác động mạnh mẽ đến việc mở mang dân trí cho cộng đồng dân cư, tạo điều kiện
để thanh niên nông thôn tiếp cận cái mới giúp xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu cả về vật
chất và tư tưởng. Mặt khác giao thông thuận tiện còn là yếu tố tích cực thu hút lao
động trẻ có kiến thức yên tâm làm việc trên quê hương của chính họ.

Trang 5


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

Nhận xét: Có thể thấy hệ thống đường GTNT có một hợp phần của hệ thống
thủy nông nội đồng là bờ vùng và bờ thửa, và chúng tác động đến phát triển kinh tế
xã hội thông qua các chỉ tiêu như: tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
giao lưu hàng hoá, phân công lao động, xoá đói giảm nghèo... là những yếu tố được
đánh giá là quan trọng cho sự phát triển và xây dựng Nông thôn mới nói chung và
vùng nói riêng.
1.2. VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI CƠ
GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
Đường giao thông nông thôn là cầu nối, là phương tiện để di chuyển, họat
động của ¾ dân số và hàng hóa cả nước. Vì vậy cải thiện chất lượng đường sá nông
thôn trở thành mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển nông thôn của Nhà
nước. Điều đó phù hợp với xu hướng của tất cả các nước đi lên từ nông nghiệp.
Các loại máy móc thường được sử dụng tại ĐBSH hiện nay là: máy cày;
máy gặt; thiết bị gieo hạt; máy kéo; máy đập liên hoàn, máy gặt đập liên hợp... Như

các loại thiết bị gieo hạt giúp gieo xạ bằng máy kéo tay, hình thức này không
những giảm chi phí lao động, bỏ được khâu gieo mạ và cấy lúa mà còn tiết kiệm
được giống cho người nông dân. Đặc biệt, vào vụ thu hoạch, những chiếc máy gặt
đập liên hợp đã giúp cho khâu thu hoạch lúa của nông dân đỡ vất vả hơn rất nhiều.
Với loại máy này, chỉ cần hai người điều khiển máy và đóng bao đem thóc về, máy
sẽ tự động gặt và trực tiếp đưa thóc vào trong bao.
1.3. HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GTNT VÙNG ĐBSH VÀ YÊU CẦU CẦN
ĐÁP ỨNG
1.3.1. Hiện trạng đường GTNT vùng ĐBSH
Khi sản xuất phát triển thì người dân có nhu cầu vận tải và di chuyển tăng sẽ
tăng nhanh chóng lượng xe cơ giới ở khu vực nông thôn. Các loại đường trong khu
dân cư nông thôn hiện nay chưa có sự quản lý thống nhất, xây dựng mang tính tự
phát tuỳ hoàn cảnh và năng lực quản lý của chính quyền địa phương.
Đường sá trong các khu dân cư nông thôn được hình thành tự phát, từ rất
lâu, cùng với sự ra đời và phát triển của các làng xã. Đặc điểm chung là hẹp, quanh
co, chưa có khả năng thông xe cơ giới.
Quy phạm kỹ thuật đường nông thôn ban hành theo quyết định số 516/QĐCP ngày 8/8/1967 của Bộ GTVT cũng quy định đường GTNT chia ra làm 3 loại:

Trang 6


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

1) Đường loại A: Đường trục xã, liên xã, đường dùng cho xe ô tô, máy kéo với
tải trọng tổng cộng không quá 6T (tấn), tốc độ V= 10 km/h, chiều rộng nền đường
5m, mặt đường là 2,5m.
2) Đường loại B: Các trục thôn, liên thôn, đường vòng (bao quanh các khu
canh tác, chia theo yêu cầu giữ nước của thuỷ lợi), đường này chỉ dùng cho xe ô tô

con, xe thô sơ tải trọng tổng cộng không vượt quá 1T. Trường hợp đặc biệt có máy
kéo hoạt động thì cầu cống qua đường phải được thiết kế theo tiêu chuẩn tải trọng
đường loại A, chiều rộng nền 3m, mặt 2m.
3) Đường loại C gồm:
- Bờ lô: Đường nối từ đường trục thôn xóm theo đường bờ vùng đến ruộng,
được chia lô đảm bảo tưới tiêu
- Bờ thửa: Bờ nhỏ nối với bờ lô, chia lô đất thành từng thửa nhỏ cho trâu bò
nghỉ vai cày.
Tuy nhiên, đánh giá chung về hiện trạng đường GTNT của ĐBSH theo cách
phân loại trên thì hấu như không đạt được theo các yêu cầu trên, cụ thể là:
1) Đường trục xã: Là đường liên thôn ấp, nối khu trung tâm xã (thường là nơi
trụ sở UBND xã toạ lạc) với đường liên huyện, tỉnh lộ hay quốc lộ. Tuyến đường
này thông thường có chiều rộng từ 3-4 m. Hiện nay hầu hết trên các đường trục xã
của ĐBSH, xe bốn bánh đã vào được tới trụ sở UBND.
2) Đường trục thôn, ấp (đường làng): Là đường chính trong thôn, nối liền các
xóm, có chiều rộng thông thường 1,5 - 2,0 m.
3) Đường ngõ xóm: Là những đường nhánh (ngõ), nối các xóm với đường thôn
hay xã (tổ, đội sản xuất). Chiều rộng thông thường chỉ 1 - 1,5 m.
Ngoài các đường trong xã, còn có đường giao thông trên cánh đồng (vùng
nội đồng) gọi chung là đường nội đồng. Các đường nội đồng đều là đường đất tự
nhiên, phổ biến có chiều rộng từ 0.8 - 1,4 m 1.
Các số liệu được thống kê trung bình của 3 xã: xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; xã Yên Hồng,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, tháng 6 năm 2011.
1

Trang 7


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT


10/ 2011

1.3.2. Yêu cầu cần đáp ứng
Vấn đề hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp được biểu hiện rất rõ qua xu
hướng sử dụng ngày càng phổ biến các máy móc nông cụ trong sản xuất. Khác với
nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu
các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng
phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại.
Chủ trương của Chính phủ về vấn đề cơ giới hóa nông thôn là: “Dùng máy
cày tay nhỏ ở nơi ít ruộng đất, máy kéo loại trung và lớn sử dụng tại nơi nhiều
ruộng đất trong khâu làm đất; đẩy mạnh cơ giới hoá các khâu gieo trồng, chăm sóc
và thu hoạch. Cơ giới hoá giao thông vận tải thuỷ, bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển
sản xuất và lưu thông hàng hoá, hành khách”.
Phương tiện vận tải cơ giới (các loại xe 4 bánh và 3 bánh) cần được trở
thành chủ đạo trong việc chuyên chở nông sản, thực phẩm từ nới sản xuất đến các
thị trường tiêu thụ và nơi chế biến. Cho nên cần quan tâm hệ thống GTNT, các
tuyến đường liên xã, liên thôn ấp kết nối với hệ thống giao thông - thuỷ lợi nội
đồng. Đây là cơ sở cho việc phát triển cơ giới hoá ở nông thôn.
Những chiếc máy cày, máy cấy, máy gặt đập liên hợp… không thể di
chuyển trên những bờ ruộng có chiều rộng chỉ vài ba mươi phân, không thể thao tác
trên những thửa ruộng có diện tích chỉ vài ba trăm thước vuông. Do vậy, công tác
giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng cần phải được nghiên cứu cho phù hợp với
các máy móc nông cụ.

Trang 8


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011


CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI
GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

2.1.

MÁY MÓC NỘI ĐỒNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Nguồn động lực và lịch sử phát triển các loại máy móc này là yếu tố đầu tiên
cần xem xét khi nghiên cứu về cơ giới hóa. Số lượng máy kéo và động cơ tĩnh tại,
được qui thành mã lực (HP) mỗi hecta, là chỉ tiêu thường dùng để đánh giá mức độ
cơ giới hóa của một vùng.
Thời kỳ 1955- 1975 ở Miền Bắc, cơ giới hóa tập trung với các máy kéo
50 HP (mã lực) 1 cho các nông trường và các trạm máy kéo. Đến 1997, toàn miền
có khoảng 5000 máy kéo lớn và 3000 máy kéo nhỏ (hai bánh,  12 HP). Cơ giới
hóa khâu làm đất chỉ xấp xỉ 3%.
Thời kỳ 1955- 1975 ở Miền Nam, cơ giới hóa bắt đầu với khâu khai hoang ở
các điểm dinh điền và khâu làm đất ở ĐBSCL. Tuy không có những nghiên cứu cơ
bản hỗ trợ, nhưng nông dân qua nhiều năm sử dụng đã hình thành 2 hệ động lực
cho đất lúa ĐBSCL: máy kéo 4 bánh cỡ lớn, và máy kéo 2 bánh cỡ nhỏ. Máy kéo
cỡ lớn, đã định hình ở cỡ 60- 90 HP, chủ yếu làm đất khô: sau 1- 2 cơn mưa đầu
mùa vào cuối tháng Tư, máy kéo ra đồng làm ngày làm đêm, có thể cày 8 ha/ngày;
cho đến khi mưa nhiều bị lầy thì ngưng. Khi đó, máy kéo nhỏ 4 bánh (dưới 30 HP)
hoặc 2 bánh phay đất ruộng nước, và cũng làm đất vụ kế tiếp khoảng tháng 8- 10
DL với ruộng ngập nước. Năm 1975, có 7000 máy kéo trên 30 HP, 2000 máy kéo
dưới 30 HP, và 12000 máy kéo hai bánh.
Thời kỳ 1975- 1988, cả ở hai miền, cơ giới hóa tập trung với khoảng 300
trạm máy kéo Quốc doanh tại huyện. Việc nhập máy kéo do Công ty Nhà nước
thực hiện và chịu ảnh hưởng của các nghiên cứu về máy kéo 50 HP với bánh lồng,
bánh sắt, thuyền phao... để làm đất ruộng nước. Đã nhập 13000 máy kéo chủ yếu cỡ

50 - 65 HP như MTZ 50, Renault 551, Steyr 768; và một số ít 80 HP như MTZ80,
và máy kéo bánh xích như DT 75. Phương thức trạm máy kéo đã tỏ ra kém hiệu
quả và không phù hợp với chuyển đổi của ngành nông nghiệp, nên từ 1987, các
Trạm máy kéo quốc doanh lần lượt bị giải thể. Mức độ cơ giới hóa làm đất giảm từ
27% năm 1980 xuống còn 21% năm 1990. Riêng ĐBSCL vẫn duy trì được ở mức
khoảng 45%, có tỉnh như An Giang đạt trên 70%.
1

Đơn vị máy kéo:
1 HP (ngựa, mã lực) = 0,746 kW

Trang 9


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

Từ 1988 ở miền Nam, các máy 50 HP bán cho tư nhân đã được sử dụng tốt
với các máy làm đất nhắm vào cỡ động lực này, vì không còn lựa chọn nào khác.
Đây cũng là nguồn động lực làm đất cây trồng cạn như ngô, đậu, mía... Từ 1990,
máy kéo 4 bánh đã qua sử dụng (second hand) 14 - 25 HP Nhật được nhập nhiều,
từ đó đã hình thành một cỡ động lực khác, góp phần đáng kể cho việc làm đất lúa,
và vận chuyển nông sản ở vùng đất khô. Hệ máy kéo nhỏ 2 bánh tiếp tục phát triển,
với 2 nguồn là chế tạo trong nước và nhập second hand từ nước ngoài. Công nghiệp
trong nước chế tạo động cơ diesel, dùng tĩnh tại hoặc cho máy kéo nhỏ, với khoảng
7000 động cơ 6 - 12 HP, chỉ mới đáp ứng một phần nhu cầu.
Năm 2005, thống kê được 310 000 máy kéo, trong đó khoảng 3/4 là loại 2
bánh công suất dưới 15 HP (Bạch Q. Khang, 2005); và tổng công suất khoảng 3,5
triệu HP. Số máy này đã giải quyết làm đất 67% cho cả nước, riêng ĐBSCL đạt

hơn 92% làm đất bằng cơ giới.
Nhiệm vụ của giao thông nông thôn trong điều kiện hiện nay là phải vận
chuyển được máy móc nông cụ. Một số các loại máy móc thường được sử dụng
hiện nay trên các hệ thống thủy nông nội đồng của vùng ĐBSH là:
1) Làm đất: Trong canh tác lúa, khâu làm đất rất quan trọng, có hai loại máy
thường được dùng để làm đất là mày cày tay và máy kéo.
Máy cày tay:
Hình 1: Máy cày tay tại huyện
Sóc Sơn – Hà Nội
Nguồn:
/>
Đây là một trong những loại nông cụ phổ biến với các hộ nông dân, các
HTX nông nghiệp ĐBSH từ những năm 1995 trở lại đây. Máy cày được cải tiến từ
những đầu máy xe công nông. Ưu điểm của máy là dễ dàng chế tạo, vận hành được
trong những mảnh ruộng manh mún, không yêu cầu cao về giao thông nội đồng để
đưa máy tới mặt ruộng. Nhược điểm là tốn nhiều công lao động, không thuận lợi
khi canh tác ở những vùng úng trũng sâu.

Trang 10


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

Máy kéo:
Hiện nông dân dùng máy kéo mang bánh lồng trục trước khi gieo sạ. Bánh
lồng theo máy kéo MTZ-50 được xem cải biến cơ bản nhất, là thành tựu lớn của
nghiên cứu cho các tỉnh phía Bắc trước 1975. Bánh lồng (hoặc thêm thuyền phao,
hoặc với bánh hơi thêm bánh phụ bằng thép…) cho phép máy làm đất ruộng nước

nền yếu, tăng thời gian làm việc của máy kéo từ 1 vụ lên 2 vụ.
Hình 2: Máy cày MTZ 50 làm
đất gieo cấy vụ xuân ở Đồng
Nguyên (Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh).
Nguồn:
/>?page=news_detail&category_i
d=12637&id=61251&portal=b
aobacninh
Ưu điểm của máy cày MTZ- 50 là công suất lớn, làm đất ở những vùng
ruộng trũng rất tốt thì máy cày nhỏ lại có tính cơ động cao, khi di chuyển không
gây hư hại bờ bao, đường sá.
Nhược điểm của máy cày MTZ- 50 là hiệu suất nhiên liệu thấp trên ruộng
nước, đòi hỏi phải có hệ thống đường giao thông nội đồng tốt để vận chuyển máy
móc, chỉ vận hành được trên những cánh đồng lớn, tương đối bằng phẳng. Độ trượt
bánh trên 40%, lực cản lăn chiếm hơn 50% so với lực kéo… là các kết quả cho thấy
sự kém hiệu quả này. Máy kéo 50 HP trên đất khô có thể phát huy công suất kéo 30
HP, nhưng trên ruộng nước công suất kéo chỉ còn 16 HP (TT Khảo nghiệm MNN,
1977).
2) Gieo cấy: Gieo lúa theo hàng có thể dùng công cụ kéo tay (0,5 –
0,7ha/ngày), hoặc dùng máy gieo lúa theo hàng liên hợp với máy kéo 4 bánh trong
trường hợp diện tích ruộng rộng, năng suất làm việc cao hơn và đỡ vất vả cho
người lao động (3 – 5ha/ngày). Hiện nay, kỹ thuật gieo lúa theo hàng đã được mở
rộng ra một số các tỉnh ĐBSH.

Trang 11


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT


10/ 2011

Hình 3: Gieo thẳng lúa theo
hàng bằng công cụ kéo tay tại
tỉnh Thái Bình, 2010.
Nguồn:
/>hang_kho_ra_san_xuat_dai_tra
.html

TT Đặc tính
1

2

Trọng lượng máy:
- Loại 8 hàng

14 kg

- Loai 12 hàng

20 kg

- Loại 16 hàng (liên hợp với máy kéo, có bông
trục)

70 kg

Năng suất:
- Loai thủ công


0,6- 1,0 ha/ngày

- Loại liên hợp vớai máy kéo

3,0- 5 ha/ngày

3

Mật độ gieo (theo yêu cầu) TB:

50- 70- 120 kg/ha

4

Khoảng cách hàng (theo yêu cầu):

15- 20- 25- 30 cm

5

Loại lúa gieo:
- Lúa khô
- Lúa đã ngâm 12–24 giờ để ráo nước
- Lúa vừa nhú mầm (không để ra mầm dài)

6

Kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, giá thành rẻ,
Vật liệu có thể làm khung thép -trống tôle hoặc bằng

nhựa.

Trong canh tác lúa, từ trước đến nay, dùng phương pháp cấy làm cho cây lúa
phát triển tối ưu, gieo mạ cấy chỉ tốn khoảng 30 – 40kg hạt giống/ha, nhưng cần
phải làm đất thật kỹ không những tơi xốp mà còn phải đánh mùn. Do dùng giống
lúa cao sản ngắn ngày nên cần cấy mật độ dày, do vậy công cấy thủ công rất lâu, 1
công lao thợ cấy chỉ được 500 – 700m2/ngày. Phương pháp cấy, có thể cấy thủ
công hoặc dùng máy cấy, máy cấy ở nước ta hiện có do Viện Cơ Điện NN và Công

Trang 12


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

nghệ nghiên cứu chế tạo. Gieo mạ thảm dung cho máy cấy theo mẫu đầu thập niên
80 của Trung quốc, máy có kết cấu đơn giản nhưng năng suất cấy thấp, vận hành
quay trở khó khăn, công nghệ chế tạo chưa đạt nên bộ phận tay cấy dễ bị gãy lúc
thao tác. Hiện nay, máy cấy của Nhật, Hàn quốc, và Trung quốc liên doanh với Hàn
quốc, chất lượng cao, điều khiển lái vận hành như máy kéo 4 bánh, năng suất 23ha/ngày. Dùng máy cấy cần có công nghệ làm mạ thảm đảm bảo thì cấy mới hiện
quả. Những năm gần đây, Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã có chuyển giao qua
Việt Nam công nghệ này.
3. Máy thu họach: Cắt lúa, Đập lúa, Gặt đập liên hợp lúa, Vận chuyển lúa
hạt.
Đây là những loại máy móc có vốn đầu tư tương đối cao, nhưng hiện đang
gặp rất nhiều khó khăn do tình trạng diện tích ruộng đất còn manh mún không đủ
đáp ứng cho máy hoạt động.
Hình 4: Nhiều nông dân chọn
thuê máy gặt nhưng cũng gặp

khó khăn do số lượng máy còn
ít, Thái Bình.
Nguồn:
/>
Yêu cầu mới đặt ra:
Để hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp cần phải tiến tới cơ giới hóa
bằng các loại máy móc tiên tiến hơn như một số nước trên thế giới đã áp dụng. Một
cái nhìn tổng quan hơn về quá trình cơ giới hóa bằng cách sử dụng máy móc trong
nông nghiệp qua bài học từ phía Hàn Quốc như sau:

Trang 13


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

Làm đất

Tạo mặt
bằng
Gieo hạt

Bón phân

10/ 2011

Trồng cây

Cây giống: Chọn giống -> khử trùng -> chuẩn bị
mặt ruộng -> gieo -> phủ đất -> náy mầm -> sinh
trưởng 30-40 ngày _> cây giống


Phòng trừ
sâu bệnh

Thu hoạch

Sấy khô

Tích trữ
Bảo quản

Nhận xét: Để đáp ứng được các yêu cầu đặt ra như trên thì cũng cần có một
số các yêu cầu cho hệ thống thủy nông nội đồng là:
1) Áp dụng và thay thế dần các loại máy móc nông nghiệp có hiệu năng thấp
bằng các loại máy móc hiện đại hơn, hiệu năng cao hơn cho tất cả các khấu.
2) Quy hoạch lại mặt ruộng với mục tiêu đảm bảo đáp ứng được khả năng vận
hành hiệu quả cho các loại máy móc.
3) Quy hoạch lại đường GT nội đồng với mục tiêu đảm bảo vận chuyển được
các loại máy móc nông nghiệp như trong đề xuất áp dụng.
2.2. YÊU CẦU NÂNG CẤP PHỤC VỤ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN.
2.2.1. Hiện đại hóa công nghệ máy nông nghiệp
1) Làm đất
San phẳng mặt ruộng: Trong canh tác lúa, nếu đồng ruộng được san phẳng
sẽ rất thuận lợi cho việc dùng cơ giới: chủ động cung cấp nước cũng như thoát
nước đồng đều trên đồng ruộng, khống chế cỏ dại dễ dàng; quản lý được ốc bưu
vàng vì chúng thường ở những vùng nước trũng. Mặt đồng có độ bằng phẳng tốt rất

Trang 14



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

thuận lợi khi dùng máy gieo hàng hoặc máy cấy, khi dùng máy thu hoạch cũng rất
thuận lợi. Mặt khác, theo nghiên cứu của các nhà nông học cho thấy rằng khi mặt
đồng ruộng được cải tạo san phẳng, dễ dàng trong quản lý nước, tiết kiệm nước,
quản lý được cỏ dại và tiết kiệm bón phân... lúa sẽ cho năng suất cao hơn đồng
ruộng còn gò, trũng từ 5 – 10%.
Tiến dần tới thay thế dần các loại máy cày cải tiến, năng suất thấp bằng các
loại máy cày hiện đại có hiệu suất cao, ví dụ máy Nhật Bản như TP 080, TR 100…

Hình 5: Máy làm đất TP 080

Hình 6: Máy cày tay TR 100

2) Gieo cấy
Với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn tại các khu vực nông thôn thì công
cụ gieo sạ kéo tay hiện vẫn còn được áp dụng một cách phổ biến. Đối với công tác
gieo cấy này hiện đã có những loại máy nông nghiệp hỗ trợ một cách đắc lực như
RGO -6 của Nhật Bản.
Hình 7: Máy gieo cấy RGO-6
Ưu điểm: Hệ thống điều
khiển điện tử với các cảm biến ở
bên trái và bên phải bên giúp điều
chỉnh độ sâu trồng và vị trí chính
xác hơn.
- Công suất 19 mã lực;
- Phụ tùng thay thế rẻ;

- An toàn và hiệu quả.

Trang 15


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

3) Máy thu hoạch
Áp dụng công nghệ xử lý Kép và 2 Trống cố định để đập sạch, các hạt được
phân tách vào trống đập chính và sau đó là trống xử lý ngang kể cả khi máy chạy
nhanh. Công nghệ này được thể hiện rõ trong loại máy gặt đập liên hợp DKC 515
của Nhật Bản.
Hình 8: Máy gặt đập DKC 515
Chiều rộng của máy là 1,820 m

2.2.2. Quy hoạch mặt ruộng để đáp ứng cơ giới hóa
Để quy hoạch mặt ruộng một cách có hiệu quả nhất cho ĐBSH, tác giả
chuyên đề đã tổng hợp một số các nghiên cứu và đưa ra hai đề xuất áp dụng như
sau:
Cách thứ nhất là: Dựa trên kinh nghiệm sản xuất lúa hiện đại của một số
nước phát triển như Hàn Quốc. Hệ thống nông nghiệp hiện đại của Hàn Quốc được
tạo dựng nhờ chương trình cải cách ruộng đất từ những năm 1950 (So-Hyun Kim,
2001). Trước đây, Hàn Quốc quy định một khu ruộng chỉ được khoảng 3ha, nhưng
sau đó đã gặp rất nhiều khó khăn khi cơ giới hóa nông nghiệp.
Do vậy, năm 2001 chính phủ đã khuyến khích các hộ nông dân hình thành
các nhóm hộ nông dân hay các hợp tác xã để gom các khu ruộng lại có diện tích
nhiều hơn 20ha. Đến nay, để đáp ứng yêu cầu hiện địa hóa trong sản xuất lúa thì
diện tích tiêu chuẩn cho một khu ruộng tại Hàn Quốc là 60ha.

Diện tích mô hình khu ruộng có hiệu quả: 60 ha với 2 vụ lúa
Cấu trúc chi tiết:

Trang 16


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

0.5ha (100m x 50m) = 1 thửa  1 thửa x20 = 1 vùng x 6 = 60 ha
Diện tích canh tác thực tế: khoảng 58ha (2ha giao thông nội đồng và thủy
lợi).
Hiệu quả sử dụng máy móc sẽ cao hơn nếu kích thước ô thửa lớn hơn. Tuy
nhiên, ô ruộng lớn xẽ khó khăn trong việc tạo mặt bằng (±35mm). Mặt ruộng
không bằng phẳng sẽ xuất hiện cỏ dại ở những vị trí không ngập nước. Do vậy,
diện tích của thửa ruộng đề xuất là 0.5ha.
Cấu trúc đồng ruộng: Tổng số 60ha = 0.5ha (100m x 50m) x 20 thửa x 6
vùng
Khu A: Bố trí gần văn phòng quản lý
(Bảo dưỡng và để xe)
A. Nhà để xe
máy

(Văn phòng quản lý sẽ thảo luận sau)

B. Khu vực gieo hạt

Khu B: Vị trí tùy chọn (vận chuyển bằng xe)


Nhà kính
(yêu cầu có hệ thống tưới và ánh sáng)

Hình 9: Cấu trúc đồng ruộng của Hàn Quốc
Cách thứ 2 là: Dựa trên khả năng áp dụng các loại máy móc tùy theo điều
kiện của cho từng vùng. Cụ thể là dựa vào công suất (KW) của máy nông nghiệp sẽ
đưa ra một vùng phù hợp.
Để xác định được kích thước mặt ruộng cần phải có công thức.
Theo một nhóm tác giả là R.C.Dash and N.P.S.Sirohi, khoa máy nông
nghiệp và năng lượng thuộc trường Đại học Kỹ thuật Nông nghiệp và Công nghệ,

Trang 17


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

Ấn Độ nghiên cứu thực nghiệm được công thức thể hiện mối liên quan giữa công
suất máy nông nghiệp (được hiểu chủ yếu là các máy làm đất) với kích thước vùng
ruộng như sau:
X=

Y−7,2955
1,9556

Trong đó:
X: Kích thước diện tích vùng
canh tác (Ha)
Y: Công suất của máy nông

nghiệp (KW)
Trong trường hợp công suất máy được thể hiện cụ thể công suất trên 1ha thì
kích thước mặt ruộng sẽ được xác định theo công thức của Hetz và Esmay đưa ra
1986, được Isik và Sabanci phát triển vào năm 1993 như sau:
X1 =

9,4115
Y−1,6798

Trong đó:
X: Kích thước diện tích vùng
canh tác (Ha)
Y: Công suất của máy nông
nghiệp trên một ha (KW/ ha)
Nhận xét:
Đối với khu vực ĐBSH tại một số tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng có
diện tích canh tác lớn thì có thể thực hiện triển khai quy hoạch đồng ruộng có khu
tưới lên đến 60 ha.
Tại các khu vực có địa hình phức tạp, ruộng đất còn manh mún thì không thể
tập trung thành các khu ruộng lớn thì tùy theo năng lực cơ giới hóa của từng địa
phương mà tận dụng dồn điền đổi thửa sao cho phù hợp tránh gây lãng phí năng lực
hoạt động của máy móc.

Trang 18


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011


2.2.3. Quy hoạch hệ thống đường giao thông nội đồng
Theo các đánh giá hiện trạng được thực hiện; Tại ĐBSH bờ vùng, bờ thửa
cũng chính là những đường giao thông nội đồng, tiến theo quá trình hiện đại hóa
máy móc trong sản xuất nông nghiệp thì yêu cầu cần phải có một hệ thống giao
thông nội tốt là rất cấp thiết.
Trong tương lai một số kiểu bánh của máy nông nghiệp có thể được sử dụng
như sau:

Hình 10:Máy kéo 4 bánh kép

Hình 11: Máy làm đất 4 bánh đơn

Hình 12: Máy kéo bánh xích

Hình 13: Máy cày bánh lồng

Nguồn: Safe use of tractors with attachments, Government of Western Australia, 2009

Như vậy, ít nhất giao thông nội đồng mà ở đây là Bờ vùng phải đảm bảo vận
chuyển được các máy nông nghiệp nêu trên tới được mặt ruộng.
Các loại máy của Liên Xô thường có kích thước chiều rộng lớn hơn so với
các loại máy của Nhật Bản từ 30 -50cm, do đó kích thước đảm bảo khả năng lưu
thông một chiều của bờ vùng vào khoảng 2,5m, và hai chiều là 5m.

Trang 19


PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011


Cấu trúc chi tiết: đường bờ vùng (Farm road) rộng 5m và mương rộng 1 m
Mương lấy nươc
Bờ vùng

Bờ
vùng
Mương
tiêu
Mương lấy nươc

Bờ vùng

Sẽ có hai trường hợp trong vấn đề quy hoạch đường giao thông nội đồng đó
là:
Trường hợp 1: Khi địa phương có đủ quỹ đất để mở rộng đường giao thông
nội đồng từ 5 – 7m, thì với chiều rộng đó thì các phương tiện cơ giới đã thoải mái
tránh nhau.

2.5m
5m

2.5m

Hình 13: Sơ đồ thiết kế chiều rộng đường bờ vùng cới chiều rộng 5m
Trường hợp 2: Khi địa phương không có đủ quỹ đất để làm bờ vùng rộng
5m thì có thể làm đường bờ vùng rộng 3m, nhưng từ 200 mét đến 300 mét đường
bờ vùng đó phải có một đường tránh, để các phương tiện cơ giới ngược chiều có

Trang 20



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

thể tránh nhau. Cấp phối là đường đá dăm để đảm bảo độ bám dính của xe kéo
bánh lốp trong mùa mưa.
Cách 200 m sẽ có một chỗ tránh các phương tiện cơ giới

3m

5m

N¬i tr¸nh
c¸c ph-¬ng
tiÖn c¬ giíi

3m

4m

Hình 14: Sơ đồ thiết kế chiều rộng đường bờ vùng cới chiều rộng 3m
Bên canh đó, từ 100 mét đến 200 mét phải có một bờ thửa, chiều rộng của
bờ thửa từ 1,5 đến 2,5 mét; yêu cầu này là tối thiểu để cho nông dân có thể vận
chuyển nông sản từ mặt ruộng ra tới đường bờ vùng. Cấp phối của đường bờ thửa
có thể là đường đất nện.

Trang 21



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đẩy nhanh cơ giới hóa nông nghiệp là việc làm cần thiết để xây dựng Nông
thôn mới hiện nay, máy móc phục vụ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp cũng phải
có những bước tiên theo kịp với trình độ phát triển khoa học kĩ thuật trên thế giới.
Công tác dồn điền đổi thửa và phát triển giao thông nội đồng cần phải có một tầm
nhìn lâu dài, tránh chỉ quy hoạch đủ vì trong tương lai sẽ có nhiều thay đổi về máy
móc nông nghiệp.
Những yêu cầu trước măt hiện nay của ĐBSH là hệ thống thủy nông nội
đồng cần phải:
- Áp dụng và thay thế dần các loại máy móc nông nghiệp có hiệu năng thấp
bằng các loại máy móc hiện đại hơn, hiệu năng cao hơn cho tất cả các khâu.
- Quy hoạch lại mặt ruộng với mục tiêu đảm bảo đáp ứng được khả năng vận
hành hiệu quả cho các loại máy móc.
- Quy hoạch lại đường GT nội đồng với mục tiêu đảm bảo vận chuyển được
các loại máy móc nông nghiệp như trong đề xuất áp dụng.
Kiến nghị là cần có sự hỗ trợ tài chính cho các đơn vị sản xuất máy nông
nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho ngành chế tạo máy nông nghiệp phát triển;
giảm giá thành máy móc để người dân có cơ hội tiếp cận với các loại máy móc có
hiệu suất cao. Tùy theo điều kiện từng vùng sinh thái cần có những khuyến cáo sử
dụng máy làm đất với những kiểu bánh phù hợp nhằm tránh các tác động xấu cho
các thành phần của đất (như độ tơi xốp)./.

Trang 22



PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NNNT

10/ 2011

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.
2.

3.
4.

Báo cáo chuyên đề “Đề xuất cơ giới hóa đối với sản xuất nông nghiệp tại Việt
Nam”, 2011.
R.C.Dash and N.P.S.Sirohi, “Computer Model to Select Optimum Size of
Farm Power and Machinery for Paddy-Wheat Crop Rotation in Northern
Indi”, Department of Farm Machinery and Power, College of Agricultural
Engineering and Technology, 2008.
Bộ Nông nghiệp và lương thực Canada, “The Safe Movement of Agricultural
equipment on the roadway”, 2010.
Gyanendra Singh, “Agricultural Machinery Industry in India (Manufacturing,
marketing and mechanization promotion)”, Central Institute of Agricultural
Engineering, Bhopal, 2001.

Trang 23



×