Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

Nhà nước và pháp luật pháp thuộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (222.43 KB, 47 trang )

MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC.
1.1. Tiền đề về chính trị:.....................................................................................................2
1.2. Tiền đề về kinh tế:.......................................................................................................2
1.3. Tiền đề về xã hội:........................................................................................................3
Chương 2: VIỆT NAM TRONG MÔ HÌNH LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG
THUỘC PHÁP
2.1. Bộ máy cai trị của Pháp ở Nam Kì:.............................................................................4
2.1.1. Chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kì trước khi thiết lập chế độ toàn quyền Đông
Dương (17/10/1887):..........................................................................................................4
2.1.2. Chính quyền thực dân Pháp sau khi thiết lập chế độ toàn quyền Đông Dương
(17/10/1887):...................................................................................................................... 9
2.2. Bộ máy cai trị của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì:........................................................12
2.2.1. Chính quyền thực dân Pháp ở Bắc và Trung Kì trước khi thiết lập chế độ toàn
quyền Đông Dương (17/10/1887):...................................................................................12
2.2.2. Chính quyền thực dân Pháp ở Bắc và Trung Kì sau khi thiết lập chế độ toàn quyền
Đông Dương (17/10/1887):..............................................................................................16
2.4. Chính quyền triều Nguyễn trong thời thuộc Pháp.....................................................21
2.5. Sự can thiệp của chính quyền thực dân Pháp vào tổ chức chính quyền cấp xã ở Việt
Nam thông qua chính sách cải lương hương chính:.........................................................23
2.6. Sơ kết:....................................................................................................................... 25
1


Chương 3: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THỜI PHÁP THUỘC
3.1. Pháp luật thời Pháp thuộc:.........................................................................................29
3.1.1. Khái quát về bộ dân luật Bắc Kì:............................................................................29
3.1.2. Khái quát về bộ hình luật Hoàng Việt luật lệ và bộ dân luật Hoàng Việt Trung Kỳ
hộ luật của Trung Kì.........................................................................................................30
3.1.3. Khái quát về bộ dân luật Nam Kì...........................................................................32


3.2. Hệ thống tòa án thời Pháp thuộc:..............................................................................33
3.2.1. Hệ thống tòa án của Pháp ở Việt Nam....................................................................33
3.2.2. Hệ thống tòa án Nam triều:....................................................................................35
3.3. Khái quát sự ảnh hưởng của văn hóa pháp luật Pháp đến văn hóa pháp luật Việt Nam
......................................................................................................................................... 36
3.3.1 Ảnh hưởng của văn hoá pháp luật Pháp vào hoạt động lập hiến ở Việt Nam:.........36
3.3.2 Ảnh hưởng của văn hoá pháp luật Pháp với việc xây dựng và thực hiện các bộ luật
dân sự ở Việt Nam............................................................................................................37
3.3.3 Ảnh hưởng của hệ thống tổ chức toà án Pháp đối với Việt Nam.............................38
3.3.4 Ảnh hưởng của các cơ quan đại diện dân chúng trong thời Pháp thuộc đến ý tưởng
tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp sau khi Việt Nam giành được độc lập:. 39
3.3.5 Ảnh hưởng của khoa học pháp lý của Pháp với khoa học pháp lý Việt Nam..........41
KẾT LUẬN..................................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................47

2


Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC.
1.1. Tiền đề về chính trị:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát sung đầu tiên xâm lược Việt Nam, nhà Nguyễn
đã thỏa hiệp và từng bước đầu hàng thực dân Pháp. Thời kì này Việt Nam bị chia thành 3
kì: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì. Bắc Kì là đất bảo hộ, Trung Kì là đất nửa bảo hộ, Nam Kì
là đất thuộc địa.
Chính quyền nhà Nguyễn hầu như không còn quyền hành cai trị đất nước. Nước ta
rơi vào tay thực dân Pháp, chịu sự chi phối của Pháp. Để dễ dàng thực hiện ý đồ cai trị
Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành tìm hiểu và đưa ra những bộ luật khác nhau để áp đặt
vào đời sống chính trị và dân sự ở Việt Nam.
1.2. Tiền đề về kinh tế:

Việt Nam có nguồn tài nguyên, khoáng sản dồi dào, trong đó có than đá ở Bắc Kì.
Người Pháp chủ trương không đầu tư nhiều mà chỉ tập trung vào khai thác, vơ vét tài
nguyên để đem về bản xứ hoặc xuất thô nhằm làm giàu túi tiền của các nhà tư bản Pháp.
Trong khi đó, nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển với phương thức sản xuất lạc
hậu và cũng vì sự bóc lột của thực dân Pháp.
Ở Việt Nam thời kì này có 140 đồn điền cao su và hàng ngàn hecta rừng bị thực
dân Pháp bắt người Việt chặt gỗ bán, nộp cho mình.
Ba cảng lớn là Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn bình quân hàng năm có đến 5500 tàu
thuyền vào ra chuyên chở, buôn bán hàng hóa từ 7 đến 8 triệu tấn hàng xuất- nhập cảng,
trị giá khỏang 4- 4,5 tỉ France.
Về tài chính do ngân hàng Đông Dương độc quyền, năm 1876 doanh số của nó lên
đến 24 triệu France và đến năm 1921 là 145 triệu France.
3


Trong thời kì này, thực dân Pháp còn thu hút sự độc quyền vào các công ty của
mình ở Việt Nam: độc quyền muối, rượu, thuốc phiện…
1.3. Tiền đề về xã hội:
Từ khi tiến hành cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã khiến cho cách tổ chức của xã
hội Việt Nam trước đây bị phá hủy. Khắp nơi thực dân Pháp coi thương phong tục tập
quán người Việt, tiến hành bóc lột sức người sức của. Thực dân Pháp đã mang đến sự
khủng hoảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực dân Pháp thi hành chính sách
ngu dân để dễ bề cai trị, cố tâm hủy hoại nền Hán học và thay đó là nền Pháp học.
Trong một bản bảo cáo về tình hình Đông Dương, tướng Panercan viết “Trong 50
năm chiếm đóng ở Nam Kì và 25 năm chiếm đóng ở Bắc Kì, những trường học Pháp
không đào tạo lấy một người An Nam thật sự có học thức”.
Có thể nói, thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chính sách tác động đến mọi mặt của
đất nước nhằm phục vụ việc bóc lột, cai trị Việt Nam. Và để thực hiện được thành công
mục đích của mình, một trong những công việc mà thực dân Pháp nhanh chóng thực hiện
và luôn chú trọng đó là thực hiện các chính sách nhằm củng cố nhà nước, bộ máy cai trị

và ban hành nền pháp luật mới.

4


Chương 2: VIỆT NAM TRONG MÔ HÌNH LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG
THUỘC PHÁP
2.1. Bộ máy cai trị của Pháp ở Nam Kì:
2.1.1. Chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kì trước khi thiết lập chế độ toàn quyền
Đông Dương (17/10/1887):
Sau thất bại trong việc thực hiện chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” khi tấn
công vào Đà Nẵng, ngày 2/2/1859, quân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Từ
đầu năm 1859 đến giữa năm 1867, sáu tỉnh Nam Kì lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp.
Nhưng ngay từ khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kì và buộc triều đình nhà
Nguyễn kí bản Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), thực dân Pháp đã bước đầu tiến hành thực
hiện việc tổ chức bộ máy cai trị tại những nơi đã chiếm được. Thực dân Pháp đặt ba tỉnh
miền Đông thành thuộc địa trực thuộc bộ Hải quân và thuộc địa. Đứng đầu xứ thuộc địa
là chức danh Toàn quyền do người Pháp nắm giữ, chịu trách nhiệm cả về dân sự lẫn quân
sự. Phó Đô đốc Louis Adolphe Bonard- người kí bản Hiệp ước Nhâm Tuất với triều đình
Huế được bổ nhiệm thành Toàn quyền đầu tiên. Đây là cột mốc bắt đầu thời kì Soái phủ
Nam kì và chế độ “võ quan” thực dân cai trị Nam Kì. Thời kì này được các tư liệu lịch
sử gọi là thời kì “Đô đốc- Toàn quyền” (Amiraux- Gouverneurs) và người giữ chức danh
này thường được gọi là Thống đốc1. Chế độ “võ quan” kéo dài đến năm 1879 mới được
thay thế bằng chế độ “văn quan” với việc Le Myre de Vilers được bổ nhiệm làm Toàn
quyền dân sự đầu tiên.
Do phần lớn quan lại đều đi theo ngọn cờ chống Pháp, nên trong thời gian đầu,
dưới thời Louis Bonard làm Thống đốc, ông đã phải sử dụng hàng ngũ chánh phó Tổng,
xã trưởng, phó lý để tổ chức bộ máy cai trị. Bonard còn chọn và phong cho một số sĩ
quan trong quân đội Pháp chức vụ “Thanh tra công việc nội chính bản xứ” (Inspecteurs
des Afaires Indigenes), thường được gọi là Tham biện, đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp

1

Dương Kinh Quốc (1988), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 72.

5


của Thống đốc và phải qua một khóa huấn luyện, thi cử. Lực lượng này sẽ trực tiếp chỉ
đạo các quan lại người Việt trong chính quyền Pháp.
Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp

Thống
đốc

Sở Tham biện (các viên Thanh tra công việc nội
chính bản xứ)

Tổng (Chánh, Phó tổng)

Xã (Xã trưởng, Phó lý)

Sau Bonard, Thống đốc De La Grandier đã hoàn thành việc chiếm toàn bộ Nam
Kì. Từ năm 1864 đến năm 1887, De La Grandier và các Thống đốc sau đó đã củng cố dần
bộ máy cai trị của Pháp ở Nam Kì.
a. Cấp Trung ương:
Thực dân Pháp rập khuôn cách tổ chức bộ máy hành chính ở 2 thuộc địa cũ là:
quần đảo Antilles và đảo Reunion. Cơ chế cụ thể gồm: trên cùng là Thống đốc, phía dưới
có Tổng Biện lý (Procureur General) chịu trách nhiệm về pháp chế, Giám đốc Nội chính
(Directeur de I’Interieur) chịu trách nhiệm về những công việc có liên quan đến xứ thuộc
6



địa, Chánh chủ trì (Ordonnateur) chịu trách nhiệm về những công việc có liên quan đến
vấn đề tài chính và chính quốc. Bốn viên chức này hợp lại thành Hội đồng Tư mật đặt
dưới sự chủ trì của Thống đốc, điều hành một số tổ chức quan trọng như:
- Nha Nội chính (Direction de I’Interieur): chuyên nghiên cứu, theo dõi và giải
quyết tất cả các công việc có liên quan đến xứ thuộc địa. Nhà Nội chính gồm 3 ban: Ban
Tổng Thư kí chịu trách nhiệm liên hệ với các viên “Thanh tra công việc bản xứ” và phụ
trách công tác mật vụ, cảnh sát, giáo dục, tôn giáo; Ban Hành chính phụ trách việc lập
ngân sách, công chính, tài chính và nhân sự; Ban Canh nông- Thương mại- Kỹ nghệ phụ
trách các công việc có liên quan đến các ngành chuyên môn đó, đồng thời kiêm luôn cả
việc xét xử người bản xứ. Đứng đầu Nha Nội chính là một viên Giám đốc (Directeur).
Giám đốc đầu tiên là Paulin Vial được bổ nhiệm vào 1/12/1864. Ngày 29/10/1887, Tổng
thống Pháp bãi bỏ chức danh này và chuyển giao quyền hạn cho Thống đốc Nam Kì.
- Hội đồng Tư mật (Conseil Prive): có chức năng bàn bạc và quyết định mọi vấn
đề có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của các viên chức cao cấp này, như: pháp chế,
nội trị, tài chính, và các vấn đề liên quan đến chính quốc… Hội đồng gồm: Chủ tịch Hội
đồng là Thống đốc Nam Kì, các Ủy viên: Tổng biện lý, Giám đốc Nha nội chính, quan
Chánh Chủ trì.
Nhưng sau khi bãi bỏ chức danh Chánh Chủ trì (nghị định ngày 3/10/1882), thiết
lập chế độ Toàn quyền Đông Dương (sắc lệnh ngày 17/10/1887) và bãi bỏ chức Giám đốc
Nha Nội chính (sắc lệnh ngày 29/10/1887) thì Hội đồng Tư mật được cải tổ lại gồm: Chủ
tịch Hội đồng (Thống đốc Nam Kì); các Ủy viên Hội đồng gồm: Tổng chỉ huy các lực
lượng quân đội viễn chinh của Pháp ở Nam Kì, Tổng Biện lý, 2 cố vấn người Pháp và 2
cố vấn người Việt do Thống đốc giới thiệu và Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm. Chức
năng của Hội đồng Tư mật được quy định lại: góp ý kiến về việc lập ngân sách và các
khoản chi phí hành chính, quy định khu vực hành chính, thông qua các bản dự thảo nghị
định của Thống đốc Nam Kì.
b. Cấp khu:
7



Ngày 5/1/1876, Thống đốc Nam Kì Duperre ra nghị định phân chia toàn bộ địa
bàn Nam Kì thành 4 khu vực hành chính lớn. Mỗi khu vực lại chia thành các Tiểu khu
hành chính:
- Khu vực Sài Gòn (5 tiểu khu): Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Gia Định.
- Khu vực Mỹ Tho (4 tiểu khu): Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, Chợ Lớn
- Khu vực Vĩnh Long (4 tiểu khu): Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc.
- Khu vực Bát Xác (6 tiểu khu): Châu Đốc, Hà Tiên, Long xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ,
Sóc Trăng. Ngày 18/12/1882, Thống đốc Nam Kì De Ville ra nghị định tách 2 tổng của
Sóc Trăng và 3 tổng của Rạch Giá thành tiểu khu Bạc Liêu thuộc khu vực Bát Xác.
Theo sắc lệnh ngày 10/2/1873 của Tổng thống Pháp, mỗi Khu vực hành chính lớn
do ba viên chức cùng phối hợp điều hành. Viên chức hạng nhất phụ trách Tư pháp và trực
thuộc viên Tổng biện lý. Viên chức hạng nhì phụ trách hành chính và trực thuộc Giám
đốc nội chính. Viên chức hạng ba phụ trách thuế khóa và trực thuộc viên Chánh Chủ trì.
Thực dân Pháp cho rằng cách phân chia hai chức năng hành chính và tư pháp
không vào tay một người là khuynh hướng “tiến bộ”. Nhưng thực ra nền hành chính bấy
giờ của nước ta cũng đã theo hướng đó thông qua các chức danh trên một đơn vị hành
chính cáp tỉnh loại lớn, gồm: Tổng đốc (hoặc Tuần phủ) phụ trách chung, Án sát phụ
trách tư pháp, Bố chánh phụ trách thuế khóa
c. Cấp Tiểu khu:
Đứng đầu mỗi Tiểu khu là một viên quan cai trị người Pháp. Một tiểu khu có thể
chia thành các Trung tâm hành chính, đứng đầu là một viên quan người Việt. Đứng đầu
một Trung tâm hành chính lớn là Đốc phủ sứ, loại vừa là Tri phủ, loại nhỏ là Tri huyện.
Nhưng cũng có những Trung tâm hành chính do các viên chức người Pháp đứng đầu.

2

Do Nam Kì không chia phủ, huyện nên chức Tri phủ, Tri huyện ở đây tương đương chức vị thời phong kiến, chức
Đốc phủ sứ tương đương với chức Tuần phủ.


8

2


d. Cấp Tổng:
Mỗi Tiểu khu chia thành nhiều Tổng. Đứng đầu các Tổng là Chánh Tổng, Phó
Tổng do người Việt. Ở Nam Kỳ các chức vụ này được xếp trong ngạch nhân viên hành
chính và có hưởng lương. Chánh và Phó tổng do các viên thanh tra chỉ định.
e. Cấp Xã:
Thời kì này, Pháp vẫn chưa thực sự can thiệp vào tổ chức hành chính cấp Xã. Mỗi
Tổng chia thành nhiều Xã, đứng đầu mỗi Xã là Xã trưởng và Phó lý, thay mặt xã dân
giao tiếp với tổ chức hành chính cấp cao hơn.
f. Cấp Thành phố:
Thời kì này, thực dân Pháp đã thành lập hai thành phố ở các cấp bậc khác nhau
nhưng có nhiều nét tương đồng về mặt tổ chức hành chính.
- Thành phố Sài Gòn do Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập vào ngày 8/1/1877 và
được xếp vào “Thành phố lớn” (Grande Municipalité) hay “Thành phố cấp I”
(Municipalité de première classe). Đứng đầu thành phố Sài Gòn là một viên Đốc lý
(Maire) và có thể có thêm 2 viên Phó Đốc lý (Maire Adjoint) phụ tá. Đốc lý phải được
lựa chọn qua bầu cử và có mọi quyền hành như viên quan cai trị Tiểu khu, ngoài ra còn
có quyền đưa ra Nghị định Thành phố (arreté municipal), về những vấn đề có liên quan
đến thành phố mình cai quản. Phụ tá cho Đốc lý là Hội đồng Thành phố (Conseil
Municipal), ủy viên hội đồng cũng phải thông qua bầu cử và Đốc lý chính là Chủ tịch
Hội đồng Thành phố. Hội đồng có 3 chức năng: Thứ nhất, bàn bạc, lấy biểu quyết ra
quyết định về những vấn đề riêng của thành phố (chỉ được thực hiện sau khi được Thống
đốc Nam kì duyệt); thứ hai, góp ý kiến về những vấn đề mà cấp trên yêu cầu; thứ ba, đề
đạt mọi nguyện vọng có liên quan đến vấn đề chính trị hoặc những vấn đề có liên quan
đến công việc cai trị chung. Thống đốc Nam kì có quyền giải tán Hội đồng thành phố.

Đây là tổ chức quản lý thành phố cấp I đầu tiên của thực dân Pháp tại Việt Nam.

9


- Thành phố Chợ Lớn được Thống đốc Nam Kì ra nghị định thành lập vào ngày
20/10/1879 và được xếp loại “Thành phố cấp II” (Municipalité de deuxième classe).
Đứng đầu thành phố là Đốc lý, quyền hành như Đốc lý Tp. Sài Gòn, nhưng tổ chức phụ
tá cho Đốc lý được gọi là Ủy ban Thành phố (Commission Municipale). Chủ tịch Ủy ban
là Đốc lý và các ủy viên do Chủ tịch lựa chọn, chỉ định, còn phần lớn từ bầu cử. Chức
năng của Ủy ban tương đương với Hội đồng Thành phố cấp I.
Ngoài hệ thống cai trị kể trên, thực dân Pháp còn thành lập hai cơ quan:
- Hội đồng Thuộc địa Nam Kì (Conseil Colonial): được thành lập thông qua sắc lênh của
Tổng thống Pháp vào ngày 8/2/1880. Ủy viên gồm người Việt và người Pháp, do các kỳ
hào của từng Khu vực hành chính bầu ra. Chức năng của Hội đồng là tư vấn cho chính
quyền các vấn đề về kinh tế (không đề cập đến chính trị).
- Hội đồng Tiểu khu được Thống đốc Nam Kì ra nghị định thành lập vào ngày 15/5/1882
(đổi thành Hội đồng Hàng tỉnh vào năm 1900). Ủy viên Hội đồng gồm đại biểu kỳ hào
hiện dịch ở cấp tổng. Hội đồng có chức năng tư vấn cho chính quyền: thảo luận mọi vấn
đề về kinh tế, tài chính, hành chính,… liên quan đến địa phương (không bàn về chính trị).
2.1.2. Chính quyền thực dân Pháp sau khi thiết lập chế độ toàn quyền Đông Dương
(17/10/1887):
a. Cấp Trung ương:
Đứng đầu bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở Nam Kì là Thống đốc người
Pháp. Từ tháng 7/1879, Thống đốc được đổi từ ngạch võ quan sang ngạch văn quan. Sau
khi thành lập Liên bang Đông Dương (17/10/1887), Thống đốc Nam Kì trực thuộc Toàn
quyền Đông Dương, bình đẳng với Thống sứ Bắc Kì và Khâm sứ Trung Kì. Chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Thống đốc Nam Kì được quy định trong nghị định của Toàn
quyền Đông Dương (13/2/1899) và Sắc lệnh của Tổng thống Pháp (20/10/1911): là người
thay mặt cho Toàn quyền Đông Dương trực tiếp nắm quyền cai trị Nam Kì và trực tiếp

chịu trách nhiệm với Toàn quyền Đông Dương về mọi mặt chính trị, kinh tế, tài chính,
10


quân sự, dân sự, văn hóa, giáo dục,… của địa bàn Nam Kì. Thống đốc có quyền lập quy,
quyền hành pháp, tư pháp ở Nam Kì và nắm mọi hoạt động từ cấp tỉnh trở xuống. Thống
đốc Nam Kì là Ủy viên của Hội đồng Tối cao Đông Dương và có các tổ chức phụ tá để
giúp Thống đốc thực hiện những chức năng và quyền lực kể trên.
Bên cạnh Hội đồng Tư mật (được thành lập từ năm 1869) và Hội đồng thuộc địa
Nam Kì (thành lập năm 1880), còn có một số tổ chức phụ tá như:
- Phòng Thương mại Nam Kì (thành lập 30/9/1888).
- Phòng Canh nông Nam Kì (thành lập 30/4/1897)
- Phòng Học chánh Nam Kì (thành lập 18/9/1923)
- Ủy ban khai thác thuộc địa Nam Kì (thành lập 18/9/1923)

Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương, Soái phủ Nam Kì được đổi tên thành
Tòa Thống đốc Nam Kì, tương ứng với Phủ Thống sứ Bắc Kì và Tòa Khâm sứ Trung Kì.
Tòa Thống đốc Nam Kì được chia làm 2 bộ phận phụ trách các công việc quan trọng:
- Bộ phận cố định, phụ trách: nhân sự (bổ nhiệm, thăng giáng, khen thưởng, kỉ luật);
công việc chính trị và bản xứ (báo cáo chính trị định kì, theo dõi tình hình chính trị của
người bản xứ, quy định thành phần dân tộc và xin nhập quốc tịch…); công việc thuần túy
hành chính sự nghiệp (công văn đi- đến, theo dõi công việc của Ban Thư kí Hội đồng Tư
mật).
- Bộ phận lưu động: những hoạt động cụ thể của người Pháp (theo dõi công việc của Hội
đồng thuộc địa, Phòng Thương mại, Phòng Canh nông, các thành phố, việc thành lập các
công ty kinh doanh…); những hoạt động cụ thể của người Việt (theo dõi các công việc
của Hội đồng hàng tỉnh, theo dõi việc quản trị cấp xã, phụ trách việc tuyển bắt lính,
nghiên cứu các vần đề về thuế…); theo dõi các loại Ngân sách.
11



Ban Thư kí Tòa Thống đốc Nam Kì thành lập năm 1887, dưới sự chỉ đọa trực tiếp
của Thống đốc Nam Kì sẽ tổng hợp mọi hoạt động của cả 2 bộ phận trên.
b. Cấp tỉnh, thành phố:
Sau ngày thành lập Liên bang Đông Dương, toàn Nam Kì được chia lại thành 20
tỉnh (kể từ ngày 1/1/1900), 2 thành phố lớn (thành phố cấp I Sài Gòn và thành phố cấp II
Chợ Lớn) và một số thành phố cấp III (như: Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Long Xuyên,
Mỹ Tho…).
Đứng đầu tỉnh là một viên quan cai trị người Pháp. Tỉnh nào lớn hoặc quan trọng
sẽ có thêm viên phó. Phụ tá gồm: Sở tham biện (Inspection) tương đương Tòa Công sứ ở
Bắc và Trung Kì; Hội đồng hàng tỉnh.
Đứng đầu thành phố cấp I và cấp II có Đốc lý và Phó Đốc lý. Phụ tá cho viên chức
này có Tòa Đốc lý tương đương Sở Tham biện và Hội đồng Thành phố (cấp I), hoặc ủy
ban Thành phố (cấp II).
Các loại thành phố cấp III sẽ do quan chủ tỉnh người Pháp kiêm nhiệm.
Tỉnh ở miền Nam không phân chia phủ huyện như ở Bắc và Trung Kì. Để nắm
chặt cấp tỉnh, thực dân Pháp cho thiết lập trên địa bàn tỉnh một số trung tâm hành chính
hoặc Sở Đại lý (Délégation). Tổng cộng toàn Nam Kì năm 1920 có 64 Trung tâm Hành
chính và Sở Đại lý. Tại những cơ quan hành chính cấp này, phần lớn thực dân Pháp cho
đặt người Việt đứng đầu với các chức danh: Đốc phủ sứ hoặc Tri phủ hay Tri huyện. Và
mỗi Trung tâm hành chính đó cũng phụ trách một địa bàn gồm một số Tổng nhất định.
Việc tuyển lựa người Việt cũng được chính quy hóa thông qua nghị định ngày
14/12/1905 của Toàn quyền Đông Dương, với nội dung phân hạng các chức danh (Tri
huyện 2 hạng, Tri phủ 2 hạng, Đốc phủ sứ 1 hạng) và quy định việc muốn giữ chức Tri
huyện hạng nhì (cấp thấp nhất) phải qua một kì thi tuyển. Chương trình thi do Thống đốc
quy định. Nội dung nhằm kiểm tra khả năng Pháp văn và tri thức về 2 hệ thống tổ chức
hành chính Pháp – Nam. Kì thi được tổ chức vào quý I hàng năm.
12



c. Cấp Tổng:
Tỉnh chia thành nhiều Tổng. Đứng đầu mỗi Tổng là Chánh Tổng và Phó Chánh.
Chánh Tổng gồm 3 hạng còn Phó Chánh gồm 2 hạng. Đội ngũ này được tuyển lựa thông
qua các kì thi tuyển tổ chức tại tỉnh lị mỗi tỉnh. Đến năm 1915, kì thi tuyển này được tổ
chức tập trung tại Sài Gòn theo lệnh của Thống đốc Nam Kì. Đề thi do Thống đốc Nam
Kì ra, gồm 1 đề tiếng Việt và 1 bài tiếng Pháp.
2.2. Bộ máy cai trị của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì:
2.2.1. Chính quyền thực dân Pháp ở Bắc và Trung Kì trước khi thiết lập chế độ toàn
quyền Đông Dương (17/10/1887):
Sau khi đánh chiếm được toàn bộ Nam Kì (1867), thực dân Pháp tiến hành tấn
công Bắc Kì và Trung Kì. Triều đình nhà Nguyễn lần lượt kí các bản Hiệp ước với Pháp.
Từ đó, thực dân Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống tổ chức chính quyền theo ý của mình.
Đầu tiên, thực dân Pháp đặt ra chức Đại biện (hay còn gọi là Ngoại giao đặc phái
viên Pháp tại Huế). Theo điều 20 của Hiệp ước Giáp Tuất (1874) thì viên chức này có
cấp bậc ngang với Thượng thư, được đóng ngay tại Kinh đô Huế để "duy trì quan hệ hữu
hảo" giữa hai nước, đồng thời giám sát việc thi hành Hiệp ước 1874 của chính quyền nhà
Nguyễn. Đại biện trực thuộc Thống đốc Nam Kì và đại úy Thủy quân lục chiến Rheinart
là viên Đại biện đầu tiên của Pháp, nhậm chức ngày 28/7/1875. Đến ngày 5/4/1883, trước
sự phản kháng của nhân dân ta về việc Pháp tấn công Bắc Kì, Rheinart đã bỏ về Sài Gòn.
Chế độ Đại biện chấm dứt.
Ngày 31/5/1883, chính phủ Pháp cho đặt chức Tổng Ủy viên của nước cộng hòa
Pháp tại Bắc Kì và cử Harmand giữ chức vụ đó. Trong bản Hiệp ước Harmand 1883 ghi
rõ: Tổng Ủy viên là người đại diện cho Chính phủ Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì, là người
chủ trì mọi công việc đối ngoại của Nam triều. Dưới quyền Tổng Ủy viên là các viên
Công sứ ở Bắc Kì và Trú sứ ở Huế. Theo hiệp ước Harmand, Trú sứ không can thiệp trực
tiếp vào công việc nội bộ của Nam triều song có quyền cá nhân mật đàm với nhà vua bất
13


kì khi nào mà nhà vua không được từ chối nếu không có lý do chính đáng. Trú sứ cũng có

thể được Tổng Ủy viên ủy nhiệm cho một số công việc thuộc thẩm quyền Tổng Ủy viên
hoặc giữ chức quyền Tổng Ủy viên chính phủ Pháp tại Việt Nam. Và De Champeaux là
viên Trú sứ đầu tiên. Chế độ này kết thúc sau sự ra đời của Hiệp ước Patenotre.
Sau Hiệp ước Patonotre, chính quyền thực dân đã thiết lập được ở ba cấp: Trung
ương, cấp Kì và cấp tỉnh.
a) Cấp Trung ương:
Đứng đầu là viên quan Tổng Trú sứ (Résident Général) chung cho cả Bắc Kì và
Trung Kì, hay còn được gọi là Toàn quyền lưỡng Kì hoặc Toàn quyền Trung- Bắc Kì.
Tổng Trú sứ đóng ngay trong nội thành Huế, địa diện cho chính phú Pháp chủ trì mọi
hoạt động đối ngoại của Nam triều. Chế độ này tồn tại đến ngày 9/5/1889 thì bị bãi bỏ
theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Trong quá trình tồn tại, chế độ Tổng trú sứ được chia
làm 2 giai đoạn. Thứ nhất, từ 6/6/1884 đến 7/4/1886, thời kì này chức Tổng trú sứ đều do
Võ quan thuộc bộ Chiến tranh nắm giữ. Thứ hai, từ 8/4/1886 đến 9/5/1889, thời kì này,
chức Tổng trú sứ do quan văn nắm giữ và trực thuộc Bộ Ngoại giao Pháp.
Nhìn chung, dù là chế độ văn quan hay võ quan thì viên Tổng Trú sứ cũng vẫn là
kẻ thay mặt chính phủ Pháp để giảm sát, cai trị nền “bảo hộ” của Pháp ở Trung và Bắc
Kì theo hiệp ước Patenotre (6/6/1884). Chức vụ đó nắm mọi quyền hành về dân sự, quân
sự, chủ trì mọi quan hệ đối ngoại của Nam triều, quan hệ giữa giới cầm quyền PhápNam. Nó độc lập với Thống đốc Nam Kì.
b. Cấp Kì
Cùng với việc cử Paul Bert sang giữ chức Tổng Trú sứ Trung- Bắc Kỳ theo sắc
lệnh ngày 27/1/1886, thực dân Pháp tiến hành bổ nhiệm ỏ Bắc Kì và Trung Kì mỗi nơi
một viên quan câp cao người Pháp, gồm Thống sứ Bắc Kì và Khâm sứ Trung Kì. Hai
chức quan này đều trực thuộc Tổng Trú sứ Trung- Bắc Kì khi chức danh này còn tồn tại
(đến ngày 9/5/1889). Khâm sứ Trung Kì có nhiệm vụ phải quản lý và khống chế mọi hoạt
14


động của triều đình Huế. Thống sứ Bắc Kì có nhiệm vụ quản lý và khống chế mọi hoạt
động của quan lại người Việt ở Bắc Kì. Thực dân Pháp còn bắt vua Đồng Khánh phải ra
một đạo dụ về việc bổ nhiệm chức danh Kinh lược ở Bắc Kì. Kinh lược là người có toàn

quyền, thay mặt triều đình Huế cai quản Bắc Kì. Thực dân Pháp chỉ cần nắm được chức
danh Kinh lược là sẽ nắm được Bắc Kì và cô lập triều đình Huế. Thực dân Pháp còn quy
định: mọi hoạt động của Kinh lược Bắc Kì phải đặt dưới sự chỉ đạo và giám sát của
Thống sứ Bắc Kì. Chế độ này tồn tại đến ngày 26/7/1897 khi Paul Doumer chuẩn y đạo
dụ của vua Thành Thái về việc bãi bỏ chức Kinh lược Bắc Kì và chuyển giao toàn bộ
chức năng của Kinh lược sứ vào tay Thống sứ Bắc Kì.
Viên kinh lược Bắc Kỳ cuối cùng là Hoàng Cao Khải, kẻ đã có công với thực dân
Pháp trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta, đã được gọi về Huế và cho
giữ chức Phụ chánh đại thần.
c. Cấp Tỉnh:
Đứng đầu mỗi tỉnh là một viên Công sứ người Pháp. Ở các tỉnh Bắc Kỳ, chức
Công sứ được thiết lập từ ngày 25/8/1883, điều 12,14, 16, 18 của bản Hiệp ước Harmand
quy định chức năng của viên Công sứ như sau: về mặt hành chính, Công sứ Pháp chỉ
kiểm soát các công việc cai trị của quan lại hàng tỉnh người việt chứ không trực tiếp cai
trị; khi thấy viên quan người việt nào có thái độ chống đối lại người Pháp thì Công sứ có
quyền đề nghị triều đình Huế cho thuyên chuyển viên quan đó đi nơi khác, và triều đình
Huế không được từ chối. Nhưng đến Hiệp ước Patenotre (6/6/1884) thì: công sứ không
chỉ có quyền đề nghị thuyên chuyển, mà còn có quyền buộc triều đình Huế phải cách
chức viên quan đó. Về mặt tài chính, công sứ phụ trách và kiểm soát việc thu thuế và sử
dụng tiền thuế thu được. Về mặt tư Pháp, công sứ chịu trách nhiệm xét xử các vụ dân sự,
thương mại, tiểu hình sự, xảy ra giữa người Âu với người Âu, người Âu với người Việt
hoặc người châu Á, giữa người Việt với người châu Á.
Đối với các tỉnh ở Trung Kỳ, chức Công sứ đầu tỉnh được thiết lập theo Quy ước
ngày 30/7/1885. Chức năng của Công sứ đầu tỉnh ở Trung Kỳ trong thời điểm này không
15


được xác định cụ thể như đối với Bắc Kỳ. Tuy nhiên, qua Hiệp ước Harmand, ta thấy
Công sứ là người nắm các vấn đề thuộc về thương chính và công chính trong tỉnh; còn
các quan lại người Việt ở cấp tỉnh vẫn được tiếp tục “cai trị như trước không phải chịu

một sự kiểm soát nào của nước Pháp”.
Ngày 8/2/1886, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh cho phép các viên Công sứ ở các tỉnh
Bắc Kỳ và Trung Kỳ được thi hành chức năng của lãnh sự nữa.
Từ khi thiết lập tổ chức Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ thì các viên Công
sứ các tỉnh Bắc Kỳ đều trực thuộc tên Thống sứ Bắc Kỳ còn Công sứ các tỉnh Trung Kỳ
đều trực thuộc Khâm sứ Trung Kỳ. Trước đó chúng trực thuộc viên Tổng Trú sứ TrungBắc Kỳ. Riêng đối với Bắc Kỳ, trước khi có chế độ Tổng Trú sứ Trung- Bắc Kỳ các viên
Công sứ đầu tỉnh đều trực thuộc viên Tổng uỷ viên của nước cộng hoà Pháp đặt tại Bắc
Kỳ.
Ngày 3/2/1886, Tổng thống Pháp cho phép viên Tổng Trú sứ Trung- Bắc Kỳ tổ
chức bộ máy cai trị đầu não của chúng ở cấp kỳ và các cấp tỉnh. Đó là phủ thông sứ Bắc
Kỳ, toà Khâm sứ Trung Kỳ và cả toà Công sứ các tỉnh.
2.2.2. Chính quyền thực dân Pháp ở Bắc và Trung Kì sau khi thiết lập chế độ toàn
quyền Đông Dương (17/10/1887):
2.2.2.1. Bắc Kì:
Kể từ sắc lệnh ngày 9/5/1889, đứng đầu hệ thống chính quyền của Pháp ở Bắc Kì
là viên Thống sứ Bắc Kì, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Sắc
lệnh ngày 20/10/1911 của Tổng thống Pháp quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của
Thống sứ Bắc Kì: Thống sứ Bắc Kì là người chịu trách nhiệm bảo đảm việc thi hành
những luật, sắc lệnh đã được chính quyền chính quốc ban bố ở Đông Dương, đảm bảo
việc thi hành những nghị định của Toàn quyền Đông Dương, có quyền đề xuất những
biện pháp cai trị và những biện pháp cảnh sát chung trên toàn bộ lãnh địa mà mình cai
quản, những phải báo cáo lên Toàn quyền Đông Dương, chịu trách nhiệm về việc điều
16


hành nhân sự, sử dụng nhân sự ở địa bàn Bắc Kì, chịu trách nhiệm giữ gìn nền an ninh
trật tự chung và có quyền yêu cầu bên quân sự hỗ trợ khi cần thiết, phải có trách nhiệm
phát hiện những hiện tượng gây rối loạn xã hội cho Toàn quyền biết và phải báo cáo cho
Toàn quyền rõ những biện pháp mà mình cho là cần thiết và có thể áp dụng được để duy
trì nền an ninh trật tự nơi mình cai quản.

Sau khi chức Kinh lược bị bãi bỏ, mọi quyền bổ dụng, điều động, sa thải,… nhân
sự đều thuộc về Thống sứ Bắc Kì. Ngày 1/6/1904, Toàn quyền Đông Dương còn ra nghị
định cho phép Thống sứ Bắc Kì có quyền phong phẩm hàm cho toàn bộ quan lại người
Việt (cả ngạch văn lẫn võ)- quyền vốn thuộc nhà vua (từ tứ phẩm trở xuống Thống sứ có
quyền tự xét và trực tiếp ban cấp, còn từ nhất phẩm đến tam phẩm phải đề nghị Toàn
quyền cấp).
Có thể nói, Thống sứ Bắc Kì chịu trách nhiệm trước Toàn quyền Đông Dương về
mọi mặt chính trị, văn hóa, giáo dục,… của Bắc Kì. Vừa có quyền lập quy, hành pháp và
cả tư pháp ở Bắc Kì. Thống sứ đã thông qua Công sứ để nắm bắt tình hình các tỉnh,
Thống sứ còn là ủy viện Hôi đồng tối cao Đông Dương, tức Hội đồng Chính phủ Đông
Dương.
a. Cấp Trung ương:
Gồm nhiều tổ chức có chức năng phụ tá cho Thống sứ Bắc Kì, cố vấn cho quyền
lập quy, quyền hành pháp, tư pháp.
- Phủ Thống sứ Bắc Kì, gồm: văn phòng chịu trách nhiệm chung và do một viên chánh
văn phòng đứng đầu; Phòng phụ trách những công việc có liên quan đến người Âu ở Bắc
Kì; Phòng Phụ trách những công việc có liên quan đến người Việt ở Bắc Kì, Phòng Phụ
trách về ngân sách Bắc Kì.
Phủ Thống sứ Bắc Kì là cơ quan tổng hợp mọi hoạt động của thực dân Pháp ở Bắc
Kì.

17


- Phòng Thương mại: được đặt ở Hà Nội và Hải Phòng, mỗi phòng do một viên Chủ tịch
người Pháp điều hành. Các phòng có nhiệm vụ góp ý kiến với chính quyền về tất cả các
vấn đề liên quan đến ngành thương mại, kĩ nghệ, tài chính, hàng hải,…
- Phòng Canh nông Bắc Kì: đứng đầu là một viên Chủ tịch, các ủy viên gồm người Việt
và Pháp được lựa chọn trong các địa chủ, …
- Ngoài ra còn có: Hội đồng Bảo hộ Bắc Kì, Hội đồng giáo dục Bắc Kì, Viện dân biểu

Bắc Kì,..
Trong đó Viện dân biểu Bắc Kì được thành lập từ năm 1886 với tên gọi đầu tiên là
Ủy ban tư vấn Kì hào bản xứ Bắc Kì. Ủy viên phải là những người thuộc 1 trong 3 dạng:
đại diện cho những người đóng và miễn thuế than, cứ 20000 người thì bầu 1 người. Cử tri
loại này chủ yếu là Chánh- Phó tổng, viên chức về hưu hoặc đang tại chức, những người
có học, các sĩ quan, thông ngôn,… Hai là đại diện cho thương nhân đóng thuế môn bài.
Ba là đại diện các tỉnh trung du và miền núi, thường là quan lại tỉnh, kỳ hào,… Chức
năng, nhiệm vụ: góp ý kiến với chính quyền về các khoản thu- chi, các vấn đề về kinh tế,
và tuyệt đối không được bàn về chính trị. Viện Dân biểu 1 năm họp 1 lần vào cuối tháng
6 trong 10 ngày tại Hà Nội.
b. Cấp Tỉnh:
Đứng đầu cấp Tỉnh là viên Công sứ hoặc 1 viên Phó sứ người Pháp, tỉnh nào quan
trọng có cả Công sứ và Phó sứ.
Một số tổ chức phụ tá:
- Tòa công sứ: văn phòng chịu trách nhiệm chung và do một viên chánh văn phòng đứng
đầu; Phòng phụ trách những công việc có liên quan đến người Âu; Phòng Phụ trách
những công việc có liên quan đến người Việt, Phòng Phụ trách về ngân sách.
- Hội đồng hàng tỉnh (Ủy ban Tư vấn Kỳ hào- thông qua bầu cử)
- Phía dưới có Tri phủ, Tri huyện cai quản địa phương.
18


2.2.2.2. Trung Kì:
a. Cấp Trung ương:
Đứng đầu là Khâm sứ Trung kì với quyền lực và chức năng, tương đương với
Thống sứ Bắc Kì. Khâm sứ Trung Kì nắm mọi hoạt động từ tỉnh trở xuống thông qua
công sứ các tình và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Khâm sứ có
quyền lập quy, hành pháp và tư pháp, kể cả quyền trực tiếp ban cấp phẩm hàm cho các
công chức và binh lính người Việt làm tại các công sở của Pháp ở Trung Kì. Ngoài ra,
Khâm sứ còn có quyền duyệt chiếu các đạo dụ (một hình thức văn bản thế hiện cụ thể của

pháp luật thời phong kiến của nhà vua) trước khi nó được ban hành.
Để thực hiện những quyền lực, chức năng và nhiệm vụ của mình, Khâm sứ Trung
kỳ đã thiết lập các cơ quan phụ tá gồm có:
- Tòa khâm sứ Trung Kì: là cơ quan vừa có tính chất chỉ đạo, vừa có tính chất tổng hợp
cấp cao về mọi mặt hoạt động của chính quyền thực dân ở Trung Kỳ, đặt dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Khấm sứ Trung Kỳ. Cơ cấu tổ chức của nó bao gồm: 1 văn phòng phụ trách
chung, một khối phòng ban phụ trách các vấn đề liên quan đến người Âu ở Trung Kì, một
khối phòng ban phụ trách các vấn đề liên quan đến người Việt ở Trung Kì, một khối
phòng ban phụ trách các vấn đề liên quan đến tài chính và ngân sách Trung Kì. Ngoài ra,
còn có một số viên quan cai trị người Pháp được đưa vào nắm giữ các bộ và cơ quan cao
cấp của triều đình nhà Nguyễn. Năm 1905, Tòa Khâm sứ có 3 địa diện là: 1 người nắm
bộ Lại và Viện Cơ mật, 1 người nắm bộ Hộ, bộ Công, bộ Lễ, phủ Tôn nhân, Quốc tử
giám và công việc học hành-thi cử, 1 người nắm bộ Hình và bộ Binh.
- Phòng Tư vấn Liên hiệp Thương mại- Canh nông: có chức năng tổng hợp chức năng
của phòng Thương mại và phòng Canh nông (như ở Bắc Kì), trụ sở đạt tại Đà Nẵng.
Phòng tự bầu một Chủ tịch và 2 phó Chủ tịch (đều do người Pháp nắm giữ), ủy viên gồm
cả người Pháp và người Việt.

19


- Hội đồng bảo hộ Trung Kì: chức năng quan trọng nhất của Hội đồng là thảo luận và
thông qua các bản dự thảo nghị định của Khâm sứ về mọi lĩnh vực thuộc địa bàn Trung
Kì. Chủ tịch Hội đồng là Khâm sứ, Thư kì Hội đồng là viên Chánh Văn phòng Khâm sứ.
ủy viên Hội đồng theo cơ cấu năm 1920, gồm: viên Giám đốc phụ trách chung Văn
phòng Tòa Khâm sứ, viên Tư lệnh quân đội Pháp tại Huế, Biện lý Tòa án Đà Nẵng, Tổng
kỹ sư công chính Trung Kì, Thượng thư các bộ, …
Khâm sứ có quyền triệu tập họp Hội đồng Bảo hộ bất cứ khi nào. Khi Hội đồng
bàn đến vấn đề liên quan đến cơ quan nào thì Giám đốc cơ quan đón có thể được mời dự
và quyền biểu quyết.

- Hội đồng học chánh Trung Kì: là chi nhánh của Hội đồng Học chính Đông Dương ở cấp
Kỳ, với chức năng tổng quát gồm: nghiên cứu, đề xuất mọi vấn đề có liên quan đến học
hành thi cử ở Trung Kì, làm cố vấn cho chính quyền trong việc lập chính sách, quy chế
cho ngành giáo dục ở Trung Kì. Việc bãi bỏ khoa thi Hương từ năm 1919 là kết quả hoạt
động của tổ chức này.
- Viện dân biểu Trung Kì: có nhiệm vụ đóng góp ý kiến cho Chính phủ Nam triều về các
vấn đề kinh tế, tài chính, xã hội. Ví dụ như: dự kiến các khoản chi về kinh tế- xã hộihành chính phí của Ngân sách Trung Kì và ngân sách hàng tỉnh, dự kiến khoản chi các
công trình, xếp loại đường xá, đề xuất các loại thuế,… Viện Dân biểu cũng có thể đề xuất
các thỉnh nguyện về kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội nhưng phải qua họp bàn trước.
Trước khi đưa ra bàn, các vấn đề này phải được sự chuẩn y của Khâm sứ Pháp.
Về tổ chức, ủy viên Viện Dân biểu là đại diện của ba khối: Khối thứ nhất gồm toàn
bộ dân đinh người Kinh nhưng không phải là thương gia, cứ ba vạn dân định bầu 1 đại
biểu (cử tri khối này gồm: chánh- phó tổng, lý trưởng hiện dịch; viên chức hiện dịch hoặc
đã về hưu của 2 chính quyền Pháp – Nam, những người có bằng cấp cựu học và tân học,
những người có phẩm hàm. Tối thiểu 1 tỉnh 1 đại biểu. Khối thứ 2 gồm toàn bộ thương
gia có đóng thuế môn bài. Khối thứ 3 gồm toàn bộ dân đinh các dân tộc, đại biểu này do
chính quyền lựa chọn.
20


Mỗi năm Viện Dân biểu họp 1 khóa vào đầu tháng 9.
- Hội đồng lợi ích Kinh tế và tài chính của người Pháp. (có chức năng và hoạt động
giống như ở Bắc Kì)
- Ủy ban Khai thác thuộc địa Trung Kì. (có chức năng và hoạt động giống như ở Bắc Kì)
b. Cấp tỉnh:
Tại mỗi tỉnh có một viên Công sứ thay mặt Khâm sứ để nắm và chỉ đạo mọi hoạt
động từ cấp tỉnh trở xuống
Các cơ quan phụ tá cho Công sứ, gồm: Tòa công sứ, Hội đồng Hàng tỉnh Trung Kì
với những chức năng, nhiệm vụ tương tự với Bắc Kì
2.4. Chính quyền triều Nguyễn trong thời thuộc Pháp.

a. Cấp Trung ương:
- Tứ trụ triều đình gồm 4 viên quan cao cấp hàm chánh nhất phẩm và tạo ra Hội đồng
Phụ chính có nhiệm vụ giúp vua điều hành bộ máy triều đình.
- Viện Cơ mật gồm 4 thượng thư nắm giữ các bộ quan trọng nhất trong triều đình.
Nhưng đến năm 1897, dưới áp lực của thực dân Pháp, vua Thành Thái đã ra dụ tổ chức
lại Viện Cơ mật. Thành phần Viện Cơ mật lúc này gồm: 6 Thượng thư của 6 bộ. Tất cả
công việc quan trọng của các bộ phải được tập trung họp bàn ở Viện Cơ mật. Sau khi hội
bnaf, Viện Cơ mật phải làm tờ trình lên vua, dựa vào đó mà vua sẽ ra các đạo dụ…
Những quyết nghị của Viện Cơ mật phải được sự thông qua của Khâm sứ Pháp trước khi
ban hành. Khâm sứ Pháp có quyền chủ tọa Viện Cơ mật và là người quyết định mọi công
việc của Viện Cơ mật.
- Các bộ: ban đầu có 6 bộ: Lễ, Binh, Hình, Công, Lại, Hộ. Đến năm 1908 có thêm 1 bộ là
bộ Học. Nam 1933, Bảo Đại bãi bỏ bộ Binh, triều đình gồm 5 bộ: Lại, Quốc gia Giáo
dục, Tài chính và Cứu tế xã hội, Tư pháp, Công chính- Mỹ nghệ- Lễ Tân. Đến năm 1939,
21


triều đình gồm 7 bộ: Lại, Quốc gia giáo dục, Tài chính, Tư pháp, Lễ Tân, Kinh tế nông
thôn- Thủ công nghiệp- Cứu tế xã hội, Công chính.
Trước đây, Lục bộ được gọi là Hội đồng Thượng thư. Đến đời vua Thành Thái,
năm 1897, tổ chức này bị bãi bỏ. Đứng đầu mội bộ là Thượng thư, các Thượng thư có
nhiệm vụ thông qua Khâm sứ Pháp và có nhiệm vụ phân loại công việc của bộ: loại quan
trọng thì chuyển qua Viện Cơ mật để bàn bạc giải quyết, loại chỉ liên quan đến bộ thì do
bộ tự giải quyết. Mỗi Thượng thư có một Tham tri phụ tá, phía dưới Tham tri là 2 viện
Hữu Thị lang (phụ trách công việc các tỉnh Bắc Kinh đô), Tả Thị lang (phụ trách công
việc các tỉnh Nam Kinh đô đến Bình Thuận và đối ngoại). Đến năm 1925, Hội đồng
Thượng thư được tái lập dưới sự chủ tọa của Khâm sứ Pháp. Đến năm 1933, Bảo Đại cho
thành lập Ủy ban cải cách gồm các Thượng thư đặt dưới sự chủ tọa của Khâm sứ Pháp,
thay thế các Sở Đại biện bằng Cố vấn kỹ thuật Pháp do chính quyền Pháp chỉ định. Ngay
sau đó, Bảo Đại lại tiếp tục ra một đạo dụ: các Thượng thư đặt dưới sự chủ tọa của Vua

gọi là Viện cơ mật, còn dưới sự chủ tọa của Khâm sứ Pháp là Hội đồng Thượng thư hoặc
ủy ban Cải cách. Thượng thư có quyền ra Nghị định hoặc Thông tư và phải do Viện Cơ
mật duyệt. Nhưng chung hết, các văn bản của vua, hội đồng Thượng thư đều phải được
Khâm sứ Pháp duyệt thì triều đình mới được ban hành.
- Viện Đô sát: kiểm soát mọi hoạt động của các quan lại và theo dõi việc thi hành pháp
luật và các quy tắc do triều đình ban hành. Tổ chức này trực thuộc nhà vua. Đứng đầu
Viện Đô sát là một viên quan cao cấp, hàm chánh nhị phẩm trở lên thường là Đô Ngự sử
hoặc Kiểm quan. Cơ cấu gồm: 1 Kiểm quan, 2 Chưởng án, 2 Ngự sử.
Viện Đô sát dần dần cũng bị thực dân Pháp nắm, nhất là kể từ năm 1897 khi Khâm
sứ Pháp có quyền chủ tọa ở Viện Cơ mật.
- Phủ Tôn Nhân: giải quyết mọi vấn đề liên quan đến hoàng thân- quốc thích và việc chỉ
định người đứng ra trông coi đền miếu nhà vua. Cơ quan này do một Hội đồng phụ trách,
đặt dưới sự điều hành trực tiếp của một người trong họ nhà vua có cấp bậc cao, giúp việc
có Tả Tôn khanh và Hữu Tôn khanh. Tổ chức này cũng do chính nhà vua nắm giữ vì
22


chính là nơi nhà vua chọn người kế vị. từ năm 1897, Hội đồng Phủ Tôn nhân bị đặt dưới
sự kiểm soát của Khâm sứ Pháp.
b. Cấp Tỉnh:
Đứng đầu mỗi tỉnh lớn gồm 1 Tổng đốc (phụ trách chung), 1 Bố Chánh (thuế
khóa), 1 Án sát (tư pháp).
Đứng đầu một tỉnh loại vừa là một Tuần phủ, Bố chánh và Án sát
Đứng đầu một tỉnh nhỏ là một Tuần phủ và 1 Án sát hoặc 1 Bố chánh và 1 Án sát.
Riêng phủ Thừa Thiên- nơi đóng đô thì đứng đầu là Phủ doãn và 1 Phủ thừa.
Trước năm 1919, mỗi tỉnh chia thành nhiều phủ, mỗi phủ miền xuôi chia thành
nhiều huyện, còn mỗi phủ miền núi chia thành nhiều đạo và châu (2 cấp tương đương
nhau). Nhưng từ năm 1919 trở đi thì phủ, huyện, đạo, châu là những cấp tương đương
nhau do Tri phủ, Tri huyện, Quản đạo, Trị châu nắm giữ. Nhưng xét về địa bàn rộng hẹp,
hoặc quy mô quan trọng lớn nhỏ thì phủ lớn hơn huyện, và đạo lớn hơn châu.

Đội ngũ quan lại ở cấp Trung ương, và các cấp tỉnh, phủ, huyện, đạo, châu ở Trung
Kỳ trước đây đều do vua bổ dụng, thuyên chuyển, thăng giáng. Nhưng dàn dần đều bị
giới cầm quyền thực dân ở Trung Kì thâu tóm, nhất là sau khi vua Bảo Đại lên ngôi thì
việc đó đã được quy định cụ thể thành văn bản Chỉ số 44 (3/7/1933).
2.5. Sự can thiệp của chính quyền thực dân Pháp vào tổ chức chính quyền cấp xã ở
Việt Nam thông qua chính sách cải lương hương chính:
Ngày 12-8-1921, Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định về việc tổ chức quản lý cấp xã ở
Bắc Kỳ. Nhận thấy vai trò hết sức quan trọng có tính cách truyền thống của tổ chức làng
xã trong đời sống xã hội Việt Nam, thực dân Pháp từng bước tìm cách thâm nhập và thay
đổi bộ máy quản lý làng xã theo chiều hướng biến nó thành công cụ thống trị phục vụ cho
những lợi ích thực dân.

23


Sau những thử nghiệm được tiến hành ở một số địa phương thuộc tỉnh Hà Đông
với sự trợ giúp đắc lực của Tổng đốc Hoàng Cao Khải, ngày 12-8-1921, Thống sứ Bắc
Kỳ ra Nghị định về việc tổ chức bộ máy quản lý cấp xã ở Bắc Kỳ. Đây là văn bản đầu
tiên thực dân can thiệp một cách có quy mô vào bộ máy làng xã truyền thống ở Bắc Kỳ.
Theo đó, việc quản trị cấp xã được giao cho một Hội đồng tộc biểu (Conseil
Administratif Communal) do những dân “đinh” trong làng xã (nam giới từ 18 tuổi trở
lên) bầu ra từ những người “có tài sản trong làng xã” (điều 2). Số lượng và nhiệm kỳ các
thành viên hội đồng được quy định tùy theo quy mô mỗi làng, đứng đầu là chánh và phó
hương hội. Hội đồng này sẽ chọn ra lý trưởng, phó lý và những trương tuần để thừa hành
những quyết nghị của hội đồng và thay mặt làng xã trong mối quan hệ với chính quyền
cấp trên. Theo nội dung của Nghị định này, Công sứ Pháp đứng đầu tỉnh thông qua các tri
huyện hoặc tri phủ, để nắm chặt cả về nhân sự và hoạt động của Hội đồng tộc biểu; đồng
thời có quyền bác bỏ các quyết định, thậm chí khi cần thiết còn có quyền giải tán các hội
đồng này.
Đây là bước đầu tiên của một chủ trương quan trọng mà chính quyền thuộc địa

tiếp tục tiến hành nhằm ngày càng nắm chặt tổ chức và hoạt động của các làng xã. Chủ
trương này đương thời gọi là “Cải lương Hương chính” được tiến hành ở khắp 3 kỳ,
nhưng với những biện pháp khác nhau. Riêng ở Bắc Kỳ sau đó còn 2 lần “cải lương
hương chính” khác căn cứ theo các Nghị định ngày 25-2-1927 và 23-5-1941.
Mục đích của thực dân Pháp khi tiến hành thực hiện chính sách cải lương hương
chính là nhằm can thiệp sâu hơn vào công việc nội bộ của làng xã. Pháp đã nhận thức
được vai trò của lý trưởng hoặc xã trưởng trong cơ cấu tổ chức quản lý làng xã là người
trung gian giữa xã và chính quyền cấp trên. Dưới chính quyền thực dân, lý trưởng- xã
trưởng có quyền quyết định công việc ở địa phương thay vì trước kia là Hội đồng Kỳ
mục. Đồng thời, Pháp ràng buộc chức danh này thông qua việc khen thưởng- kỉ luật,
khống chế các hoạt động. Lý trưởng, xã trưởng đã trở thành công cụ của chính quyền
thực dân xâm nhập sâu vào những hoạt động nội bộ của xã.
24


Tuy nhiên, bên cạnh đó, Pháp cũng không phải chỉ hoàn toàn tin tưởng và sử dụng
lý- xã trưởng để can thiệp vào làng xã. Pháp bắt buộc các làng xã phải ban hành hương
ước theo mẫu của Pháp, điều này giúp Pháp loại bỏ nhiều phong tục tập quán riêng của
các làng xã. Pháp nhận ra rằng muốn quản nắm bắt được từng làng xã thì phải nắm được
ý thức của người dân và để làm người dân thay đổi thì phải thay đổi hương ước, bởi ở
làng xã Việt Nam luôn tồn tại việc “phép vua thua lệ làng”.
Tác động của chính sách cải lương hương chính đối với việc quản lí làng xã VN:
Thứ nhất, sức mạnh của chính quyền cấp trên được xác lập và củng cố ở làng xã.
Sự tinh vi và khôn khéo của thực dân Pháp còn được thể hiện ở chỗ Pháp vừa cố tình tạo
ra một môi trường và phạm vi hoạt động có vẻ tự do dân chủ ở làng xã, đồng thời vừa có
những quy chế ràng buộc và chỉ đạo chặt chẽ bộ máy chính quyền cấp xã”.
Thứ hai, Pháp đã thành công trong việc can thiệp vào thiết chế làng xã qua việc
viên chức hóa bộ máy quản lý ở nông thôn, kiểm soát được nhân sự, ruộng đất, tài chính
thông qua tầng lớp đại địa chủ và các thành phần xã hội khác có gắn bó với chính quyền
thực dân Pháp điều hành dưới sự chỉ huy của thực dân Pháp trong một mức độ quyền

hành được giới hạn.
Thứ ba, dưới tác động của chính sách thực dân, thiết chế quản lý nông thôn đã đẩy
nhanh quá trình tan vỡ của cộng đồng làng xã ở nông thôn và biến nó thành một đơn vị
hành chánh thuần túy, một mắt xích trong guồng máy thống trị của thực dân Pháp.
Thứ tư, trên cơ sở biến đổi của kinh tế và thiết chế quản lý ở nông thôn đã dẫn đến
việc phân hóa các giai tầng xã hội ở nông thôn: Địa chủ, nông dân ngày càng phân hóa
sâu sắc. Nông dân thì ngày càng nghèo đói do bị bóc lột nặng nề, địa chủ thì giàu lên
nhanh chóng, nạn cho vay nặng lãi xuất hiện, tầng lớp thương nhân đã thâm nhập vào
nông thôn, các nghề thủ công có điều kiện phát triển, tính chất khép kín của nông thôn
ngày càng mai một,

25


×