Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

TUYÊN BỐ VỀ CÁCH ỨNG XỬ CỦA CÁC BÊN TẠI BIỂN ĐÔNG D.O. C

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (165.43 KB, 16 trang )

MỞ ĐẦU
Hiện nay các vấn đề liên quan đến tranh chấp trên biển đông vẫn chưa hề giảm sức
nóng , đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm đối với các quốc gia có liên quan.Vì
vậy để đi đến giải quyết các tranh chấp cần có sự thương lượng giữa các quốc gia,
cụ thể ở đây là sự thương lượng giữa các nước ASEAN và Trung Quốc . Tuy nhiên,
qua nhiều năm nỗ lực đàm phán, Trung Quốc và ASEAN vẫn không tìm được tiếng
nói chung để đi đến ký kết Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) . Và để mở
đường làm tiền đề cho việc tiến tới ký kết COC các nước ASEAN và Trung Quốc
đã ký kết tuyên bố DOC về cách ứng xử của các bên tại biển đông. Vậy nội dung
của DOC là gì ? và tuyên bố doc có ý nghĩa như thể nào trong việc giải quyết các
tranh chấp tại biển đông ? Để trả lời cho câu hỏi này , nhóm sinh viên chúng em
xin lựa chọn đề bài: “Phân tích nội dung của tuyên bố về cách ứng xử của các bên
tại biển đông ( D.O.C) và đánh giá vai trò của DOC trong việc giải quyết căng
thẳng trên biển đông” làm đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ bài tập nhóm môn
pháp luật cộng đồng ASEAN .
NỘI DUNG
I, KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TUYÊN BỐ VỀ CÁCH ỨNG XỬ CỦA CÁC BÊN
TẠI BIỂN ĐÔNG D.O. C .
1. D.O.C là gì ?
Trong bối cảnh vấn đề biển đông chưa bao giờ giảm sức nóng thì cụm từ D.O.C
được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng . Tuy nhiên ,
không phải ai cũng hiều được D.O.C là gì ? Trên thực tế D.O.C là viết tắt của cụm
từ Declaration on Conduct of the Parties in the Bien Dong Sea có nghĩa là tuyên bố


về ứng xử của các bên ở Biển Đông , hay còn có cách gọi khác là còn gọi là Tuyên
bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa (tiếng Anh: Declaration on
Conduct of the Parties in the South China Sea).Tóm lại có thể hiểu D.O.C là tên
viết tắt của

tuyên bố chính trị về cách ứng xử của các bên tại biển đông



(Declaration on Conduct of the Parties in the Bien Dong Sea).
2. Tuyên bố D.O.C là gì ?
Tuyên bố D.O.C là một văn kiện được các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết
ngày 4 tháng 11 năm 2002 tại Phnom Penh, Campuchia nhân dịp Hội nghị thượng
đỉnh ASEAN lần thứ 8. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên mà ASEAN và Trung
Quốc đạt được có liên quan đến vấn đề Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và được
coi là bước đột phá trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.
Việc ký văn kiện này là kết quả nỗ lực của các nước ASEAN, đặc biệt là của 4
nước liên quan trực tiếp tranh chấp ở Trường Sa (Việt Nam, Philippines, Malaysia,
Brunei) trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.
3. Hoàn cảnh ra đời D.O.C
Biển Đông là biển nửa kín ở Thái Bình Dương. Có chín nước tiếp giáp Biển Đông
là Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, Thái lan, Malaysia, Singapo, Indonexia,
Bru-nây và Philippines. Biển Đông gắn với các lợi ích thiết thân của hàng trăm
triệu người thuộc chín nước liên quan. Đồng thời, nhiều nước khác cũng có lợi ích
ở các mức độ khác nhau trong việc sử dụng vùng biển này theo các quy định của
Luật Biển quốc tế. Tuy nhiên, từ những năm 70 của thế kỷ 20, tranh chấp chủ
quyền biển, đảo ở Biển Đông trở nên căng thẳng hơn. Đặc biệt, cuối những năm
80, tình hình liên quan quần đảo Trường Sa xảy ra những sự kiện đột biến, phức
tạp, đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực.


Trước tình hình đó, ngày 22-7-1992, ASEAN thông qua Tuyên bố về Biển Đông
kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, kiềm
chế không làm căng thẳng tình hình, khuyến nghị các bên liên quan áp dụng các
nguyên tắc của Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông-Nam Á (TAC) để làm cơ
sở xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Diễn biến sau đó ở Biển
Đông tiếp tục xấu đi, dẫn đến việc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ
29 (Gia-các-ta, ngày 20 và 21-7-1996) ra Tuyên bố chung bày tỏ quan ngại trước

những diễn biến trên Biển Đông, chỉ rõ những diễn biến gần đây khẳng định sự cần
thiết có một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông làm nền tảng cho sự ổn định trong
khu vực và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia tranh chấp.
Tháng 3 năm 2000, ASEAN và Trung Quốc khởi động thương lượng về dự thảo
COC qua cuộc hội đàm không chính thức tại Hua Hin (Thái Lan). Tại cuộc họp
SOM ASEAN – Trung Quốc lần thứ 6, ngày 25 đến 26 tháng 4 năm 2000 tại
Cuching (Malaysia), ASEAN và Trung Quốc thống nhất lập nhóm nghiên cứu liên
hợp nhằm soạn thảo COC. Phiên họp đầu tiên của nhóm không thành do không
thống nhất được khu vực địa lý mà COC có hiệu lực và điều khoản về không được
chiếm đóng thêm. Hai bên đã nổ lực đàm phán, từ năm 2000 - 2002, nhưng không
thành.
. Để hạ nhiệt tranh chấp Biển Đông, các bên đã đồng ý ký kết Tuyên bố về ứng xử
của các bên ở Biển Đông (gọi tắc là DOC) ngày 4-11-2002 trong khuôn khổ Hội
nghị cấp cao ASEAN lần 8 tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia.
II, NỘI DUNG CỦA TUYÊN BỐ VỀ CÁCH ỨNG XỬ CỦA CÁC BÊN TẠI
BIỂN ĐÔNG D.O.C
1. Các cam kết về các nguyên tắc ứng xử trong Tuyên bố về ứng xử của các
bên ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc


Một là, các bên khẳng định cam kết đối với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến
chương Liên hợp quốc, Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, Hiệp
ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên tắc tồn tại hòa bình và các
nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế.
Hai là, các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về quyền
tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có
chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế,
trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982. Mặc dù, DOC không nói rõ các biện
pháp hoà bình ở đây là gì, nhưng căn cứ pháp luật quốc tế cũng như quy định tại

Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc thì các biện pháp hoà bình để giải quyết
tranh chấp bao gồm thương lượng, môi giới, trung gian, hoà giải, trọng tài và toà
án quốc tế. Điều này có nghĩa là các bên có rất nhiều sự lựa chọn và họ hoàn toàn
tự do trong việc lựa chọn các biện pháp hoà bình này. Điều mấu chốt là họ không
được đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp liên
quan ở Biển Đông.
Ba là, các bên khẳng định tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông như
đã được quy định bởi các nguyên tắc phổ cập của pháp luật quốc tế, trong đó có
Công ước Luật Biển năm 1982. Điều này có nghĩa là tàu thuyền của mọi quốc gia
(bất kể ở trong khu vực hay ngoài khu vực) đều được quyền tự do hàng hải trong
vùng đặc quyền kinh tế của các nước ven Biển Đông cũng như vùng biển quốc tế
ngoài phạm vi 200 hải lý; tàu bay của mọi quốc gia được quyền tự do bay trên
vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven Biển Đông và ở vùng trời
trên các vùng biển quốc tế.


Bốn là, các bên cam kết kiềm chế không tiến hành các hoạt động có thể làm phức
tạp thêm hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của khu
vực. Tuyên bố DOC không liệt kê cụ thể những hành động cụ thể, nhưng chúng ta
có thể xác định được: các hoạt động có thể làm phức tạp thêm các tranh chấp chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; các hoạt động có thể gia tăng
các tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; và loại hành động thứ
3 là các hành động có thể ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định ở trong khu vực.
Tuyên bố DOC đặc biệt nhấn mạnh việc kiềm chế không đưa người lên các đảo,
bãi hiện nay không có người ở.
2. Các cam kết vê việc tìm kiếm phương cách xây dựng dựng lòng tin và
các hoạt động hợp tác trong một số lĩnh vực ít nhạy cảm.
ASEAN và Trung Quốc khẳng định lại cam kết đối với những mục tiêu và nguyên
tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Luật Biển năm 1982, Hiệp ước thân
thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên tắc tồn tại hòa bình và các nguyên

tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế. Đây cũng là căn cứ để các bên tìm kiếm
các phương cách xây dựng lòng tin trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Từ cam kết mang tính nguyên tắc trên, ASEAN và Trung Quốc nhất trí trong khi
tìm kiếm giải pháp hoà bình cho các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán, các bên
cam kết tăng cường nỗ lực trao đổi hợp tác để xây dựng lòng tin và sự tin cậy được
quy định tại Điều 5 Tuyên bố DOC. Các biện pháp cụ thể là:
- Tiến hành đối thoại quốc phòng và trao đổi ý kiến giữa các quan chức quân sự
giữa các bên có liên quan trong tranh chấp đang diễn ra. Xuất phát từ Điều 9 Hiệp
ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á “các bên sẽ luôn luôn giải quyết các
tranh chấp như vậy với nhau thông qua thương lượng hữu nghị.” và Điều 33 Hiến
chương Liên hợp quốc ”phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con


đường đàm phán” ,đây được coi như quá trình tham vấn nhằm đưa ra quan điểm
của các bên để hướng tới một quyết định có lợi chung.
- Đối xử nhân đạo với người bị nạn trên biển, biện pháp này xây dựng đúng theo
mục đích của hiến chương Liên hợp quốc thể hiện sự tôn trọng giá trị con người,
các quyền và sự tự do cơ bản cho tất cả mọi người.
- Thông báo cho các bên liên quan về các cuộc diễn tập quân sự, trao đổi thông tin
liên quan. Việc thông báo và trao đổi như vậy được các bên liên quan tiến hành
trên cơ sở tự nguyện.
Đồng thời trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện và lâu dài cho vấn đề tranh chấp
ở Biển Đông, các bên có thể tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít
nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn và an
ninh hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn trên biển, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc
gia (buôn bán ma túy, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển và buôn lậu vũ khí).
Các hoạt động này có vai trò quan trọng không chỉ tăng cường các các hoạt động
hợp tác thân thiện trên nhiều lĩnh vực và đều góp phần tích cực tới an ninh thế giới,
tới môi trường biển. Để tránh việc lợi dụng các hoạt động này nhằm che dấu cho
các chiêu trò thủ đoạn xâm phạm chủ quyền quốc gia ven biển thì của các bên sẽ

thỏa thuận phương thức, địa điểm và phạm vi của các hoạt động hợp tác này trước
khi triển khai. (Điều 6- Tuyên bố DOC)
Tuy nhiên quy định của DOC 2002 về triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin
còn "lỏng lẻo", chỉ dừng ở mức các bên "tìm kiếm cách thức" xây dựng lòng tin
thông qua một số biện pháp được gợi ý. Tương tự như vậy, việc triển khai các hoạt
động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm còn phụ thuộc vào một loạt điều kiện
sẽ được các bên liên quan đàm phán xác định tiếp trước khi có thể tiến hành hoạt
động chính thức.


III. ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA DOC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC CĂNG
THẰNG TRÊN BIỂN ĐÔNG
1. vai trò của DOC trong giải quyết căng thẳng trên biển đông:
Thứ nhất, tuyên bố về quy tắc ứng xử của các bên ở biển đông ( DOC)
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và lâu dài
cho tranh chấp ở biển đông.
Với việc thực hiện vai trò này thì các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp
lãnh thổ và tranh chấp về quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không sử
dụng vũ lực hoăc đe dọa dùng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng
giữa các quốc gia liên quan. Mặc dù DOC không nói rõ các biện pháp hòa bình ở
đây là gì nhưng căn cứ pháp luật quốc tế cũng như quy định tại điều 33 của hiến
chương liên hợp quốc thì các biện pháp để giải quyết tranh chấp bao gồm thương
lượng, môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án quốc tế. Điều này có nghĩa là
các bên có rất nhiều sự lựa chọn và họ hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn các biện
pháp hòa bình.
Một nền hòa bình tồi còn hơn một chiến tranh tốt , bởi vậy việc ký tuyên bố
DOC không có ý nghĩa giải quyết tranh chấp trên biển đông . Tuy nhiên lại có vai
trò quan trọng trong việc làm giảm sự căng thẳng cho các bên khi các diễn biến đối
thoại thương lượng đều không đạt được kết quả .
Thứ hai, DOC củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác hiện có

giữa các bên ký kết.
Vai trò của DOC và sự cần thiết thực hiện đầy đủ các cam kết theo DOC
cũng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong văn kiện này, điểm 13 của
Tuyên bố của Chủ tịch ARF 17 tại Hà Nội nêu rõ : "Các Bộ khẳng đinh cầm quan


trọng của DOC như là một văn kiện lịch sử giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện
cam kết tập thể nhằm đảm bảo các giải pháp hoà bình cho các tranh chấp trong khu
vực. Các Bộ trưởng nhấn mạnh hiệu quả của DOC Trong việc xây dựng sự tin cậy
lẫn nhau và sẽ giúp cho việc duy trì hoà bình và ổn đinh ở khu vực. Các Bộ trưởng
khuyên khích các nỗ lực theo hướng thực hiện đầy đủ DOC và cuối cùng tiến tới
Bộ quy tắc ứng xử ở Biên Đông".
Chúng ta cho rằng, Tuyên bố DOC thực sự có đóng góp quan trọng cho việc
duy trì hoà bình và ổn định ở Biển Đông; việc thực hiện đầy đủ các quy định trong
Tuyên bố này đem lại điều lợi cho cả ASEAN và Trung Quốc, đồng thời đáp ứng
mong mỏi và nguyện vọng chung của khu vực và thế giới về một Biển Đông hoà
bình, hữu nghị và hợp tác. Ngày 9/4/2010, tại buổi họp báo về kết quả Hội nghị
cấp cao ASEAN 16, trả lời câu hói liên quan đến chủ đề Biển Đông, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: "Duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn trên
Biển Đông là lợi ích chung và là mối quan tâm lớn của các nước ASEAN, trong
khu vực. Các nước liên quan đã xây dựng nhiều thỏa thuận và cơ chế hợp tác nhằm
đảm bảo hòa bình, ổn đinh và cùng hợp tác ở khu vực, trong đó có Tuyên bố về
Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) Đây là văn kiện được ký kết giữa
ASEAN và Trung quốc, nhằm thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác" và nhấn mạnh:
"Với thiện chí của các bên và vì lợi ích chung của khu vực, các bên liên quan sẽ
tiếp tục tuân thủ và thực hiện tốt DOC, cũng như Công ước Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982, góp phần thiết thực duy trì hòa bình, ổn đinh, an ninh ở Biên
Đông".
Với nhận thức đó, thời gian qua chúng ta không tiếc nỗ lực thực hiện các
cam kết trong văn kiện này, đồng thời yêu cầu các nước liên quan thực hiện đúng

các cam kết. Trong việc xử lý các vấn đề liên quan Biển Đông, chúng ta luôn luôn
xuất phát từ các mục tiêu, nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước


Luật Biển năm 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên
tắc tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế Phù hợp
với Công ước Luật Biển năm 1982, chúng ta thực hiện quyền lợi hợp pháp ở vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hài lý của mình; đồng thời tôn trọng các
quyền lợi tương ứng của các quốc gia ven Biển Đông đối với vùng biển của các
nước đó. Chúng ta đang nỗ lực cùng các nước ASEAN thúc đẩy thương lượng với
Trung Quốc sớm hoàn thành bản Quy tắc hướng dẫn và xây dựng Bộ quy tắc ứng
xử ở Biển Đông vào năm 2012..
Thứ ba, DOC tạo bước đệm cho việc tiếp tục xây dựng và tiến tới ký kết
COC.
Trên thực tế DOC ra đời trong bối cảnh Trung Quốc và ASEAN qua nhiều năm nỗ
lực đàm phán vẫn không tìm được tiếng nói chung về việc thành lập COC. Và để
hạ nhiệt tranh chấp Biển Đông, các bên đã đồng ý ký kết DOC ngày 4-11-2002
trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần 8 tại thủ đô Phnom Penh,
Campuchia.
Theo đó DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp mà chỉ tạo điều
kiện cho các bên tìm kiếm giải pháp tranh chấp, trong đó kêu gọi các bên tạo ra
một môi trường hợp tác, hòa bình, thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng
lòng tin.
Như vậy DOC ra đời có vai trò quan trọng trọng việc giảm sức nóng tạo môi
trường đàm phán bớt căng thẳng giữa các bên . Từ đó tạo điều kiện , làm bước đệm
đà cho các bên hoàn thiện và tiến tới ký kết COC .
2. Vai trò của tuyên bố DOC trong giải quyết căng thẳng trên biển đông
còn khá mờ nhạt .



Trên thực tế thì tuyên bố DOC không mang tính ràng buộc về mặt pháp lí, đơn
thuần chỉ là tuyên bố chính trị. Bởi vậy tuyên bố này không có hiệu lực thực tế
nhằm ngăn chặn hay chế tài các hành động gây căng thẳng trên Biển Đông như bắt
giữ ngư dân hay mở rộng các căn cứ quân sự trên các đảo hay bãi đá đã chiếm
đóng. Mặc dù ASEAN và Trung Quốc chia sẻ những nguyên tắc chung như đã nêu
trong DOC, nhưng vẫn còn những khoảng cách lớn giữa những cam kết và tình
hình thực tế trên Biển Đông. Bởi DOC không mang tính ràng buộc pháp lý , nên dù
đã đặt bút ký kết DOC , nhưng thực tế thì Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành
hàng loạt các hành vi vi phạm DOC .
Đồng thời , việc ký kết DOC đã có vai trò trong giảm bớt sự căng thẳng giữa các
quốc gia trong giải quyết tranh chấp các vấn đề liên quan đến biển đông . Tuy
nhiên vai trò đó không kéo dài được lâu , Căng thẳng giữa các bên vừa trùng
xuống không bao lâu lại tiếp tục nóng lên và không có dấu hiệu giảm nhiệt do
Trung Quốc không hề thực hiện như những gì đã cam kết trong DOC.
IV.LIÊN HỆ THỰC TIỄN CÁC DIỄN BIẾN CHÍNH TRỊ TRÊN BIỂN ĐÔNG
SAU TUYÊN BỐ DOC. LIÊN HỆ THÁI ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM
TRƯỚC NHỮNG CĂNG THẲNG TRÊN BIỂN ĐÔNG.
1. Tình hình biển đông hiện nay
Hiện nay, tại Biển Đông đang tồn tại 4 khu vực tranh chấp là: tranh chấp quần đảo
Hoàng Sa (giữa Việt Nam và Trung Quốc); tranh chấp ở Vịnh Thái Lan (giữa Việt
Nam, Campuchia và Thái Lan); tranh chấp tại hai quần đảo Đông Sa và Trung Sa
(giữa Trung Quốc và Đài Loan); tranh chấp tại quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6
bên (giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan).
Trong các tranh chấp ở Biển Đông, tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa
là phức tạp, quyết liệt và liên quan đến nhiều bên nhất.


Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo.
Trong khi Brunei, Malaysia và Philippines tuyên bố chủ quyền nhiều phần.
Đáng chú ý là những nước tham gia tranh chấp đều có quân đội đóng trên từng

phần của quần đảo Trường Sa và kiểm soát nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đảo
đá ngầm khác nhau.
2. Diễn biến chính trị trên biển đông .
2.1.
Các hành vi vi phạm DOC của Trung Quốc
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã được kí vào ngày 4
tháng 11 năm 2002 tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc lần thứ 6 tổ
chức tại Phnom Penh, Campuchia bởi ngoại trưởng của các nước thành viên. Đây
được coi là lần đầu tiên ASEAN thể hiện lập trường chung của mình về Biển
Đông, thỏa thuận này nhằm ngăn ngừa căng thẳng trong tương lai và giảm bớt
nguy cơ xung đột quân sự liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Thế nhưng, với Trung Quốc, Biển Đông là một nguồn lợi quá khó để từ bỏ, cùng
với việc DOC chỉ là một tuyên bố chính trị, không mang tính ràng buộc về mặt
pháp lí, không có hiệu lực thực tế nhằm ngăn chặn hay chế tài. Thực tế cho thấy
cùng với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng, Trung Quốc ngày càng tỏ ra mạnh
bạo hơn trong việc bảo vệ các yêu sách của mình ở Biển Đông. Hiệp định thăm dò
địa chấn Trung – Phi 2004 là một sự vi phạm nghiêm trọng đối với nguyên tắc
thông báo cho nhau trong DOC, đe doạ phá vỡ nền tảng của Tuyên bố về cách ứng
xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002. Sự thay thế Hiệp định này bằng
“Thoả thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chấn biển chung trong khu vực xác
định tại biển Đông” 2005, do sự đấu tranh kiên quyết của Việt Nam, cũng chỉ mang
lại bình yên trong thời gian ngắn. Dàn khoan Kantan-03 và tàu nghiên cứu Nam
Hải của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập hoạt động trên thềm lục địa đất liền


Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục gây sức ép buộc các hãng dầu khí nước ngoài đang
có Hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam phải ngừng
công việc. Thành phố Tam Á bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa được thiết lập
cũng như vụ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Hoàng Sa đã làm dấy lên sự biểu lộ
bất bình của người dân Việt Nam vào tháng 12/2007. Đài Loan mở rộng chiếm

đóng Bãi Bàn Than và lên kế hoạch xây đường băng trên đảo Ba Bình. ASEAN và
Trung Quốc bất đồng về nguyên tắc 2 trong dự thảo Hướng dẫn thực hiện DOC( 1).
Tình hình biển Đông thực sự nóng bỏng từ năm 2009 vào tháng năm khi Trung
Quốc phản đối việc trình hồ sơ chung ranh giới thềm lục địa Việt Nam – Malaysia
và hồ sơ của Việt Nam về ranh giới thềm lục địa trước thời hạn ngày 13/5/2009 mà
Liên hợp quốc ấn định. Công hàm phản đối của phái đoàn Trung Quốc ngày
7/5/2009 có đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” yêu sách 80% diện tích Biển Đông
trên cái gọi là cơ sở lịch sử. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa bản đồ này ra
trước cộng đồng quốc tế. Sau đó, Trung Quốc áp dụng một loạt biện pháp để xác
lập “đường lưỡi bò” trên thực tế. Trung Quốc đơn phương mở rộng thêm thời gian
cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ 15/5 đến 31/8 hàng năm và tăng cường bắt giữ tàu
thuyền của ngư dân Việt Nam, Philippines đang hoạt động hợp pháp trên Biển
Đông. Mùa hè năm 2011 chứng kiến một loạt các sự kiện do Trung Quốc gây ra
khiến tình hình ở Biển Đông hết sức căng thẳng, trong đó có việc Trung Quốc cho
tàu xâm nhập vào các vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines và việc ngày
26/5/2011 hai tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt đứt cáp thăm dò của tàu Bình
Minh 02 của PetroVietnam khi tàu đang vận hành sâu trong vùng đặc quyền kinh tế
của Việt Nam. Những hành động này gây nên quan ngại trong các nước khu vực về
ý đồ và sức mạnh của Trung Quốc.
2.2.

Bước tiến mới trong giải quyết tranh chấp trên biển đông.

1 Việt Long, Bài viết tham dự Hội thảo “Việt nam và các nước ASEAN trước thử thách, Singapore, 20-21/8/2011,



Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, trong khuôn khổ cuộc gặp cấp cao
AMM 44, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (gọi tắt Quy tắc Hướng dẫn

DOC). Đây được xem là nỗ lực của các bên liên quan trong việc kiềm chế và quản
lý các tranh chấp trên Biển Đông, đang trở nên căng thẳng và thu hút sự quan tâm
đặc biệt của Cộng đồng quốc tế nhất là từ nửa đầu năm 2011.
Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan cho rằng thỏa thuận này là một thành
tựu ngoại giao quan trọng, việc áp dụng bản Hướng dẫn sẽ tạo ra tiến trình qua đó
đối thoại có thể phát triển và lòng tin lẫn nhau giữa các bên tranh chấp sẽ được
thiết lập. Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia cho rằng, cam kết về Quy tắc
hướng dẫn thực hiện DOC sẽ thuyết phục thế giới rằng hai bên có thể tránh được
xung đột và giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình. Việc kết thúc các quy
tắc chứng tỏ rằng các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhận ra
những lợi ích chung. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng:
“Kết quả này thể hiện quyết tâm, long tin và khả năng của Trung Quốc và ASEAN
cùng nhau thúc đẩy hòa bình và ổn định trong Biển Nam Trung Hoa bằng việc thực
hiện DOC.
Tờ China Daily ngày 27/7/2011 viết: "Lần đầu tiên, cơn bão trên Biển Đông trong
suốt hai tháng qua bắt đầu có dấu hiệu dịu lại. Kết quả đáng ca ngợi này đại diện
cho cam kết của các bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp để giải quyết vấn đề theo
con đường song phương và trong hòa bình".Trợ lýBộ trưởng Nhà ngoại giao Việt
Nam, ông Phạm Quang Vinh cho rằng "đây là một khởi đầu tốt và có ý nghĩa để
chúng ta tiếp tục cùng nhau đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hơn nữa sự ổn định,
lòng tin trong khu vực". Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhận định, bản hướng
dẫn là "một bước đi đầu tiên quan trọng" tiến tới một giải pháp ngoại giao cuối
cùng.


Bản quy tắc hướng dẫn là một văn bản đạt được đúng lúc, góp phần làm giảm bớt
căng thẳng trên Biển Đông trong những tháng qua. Bản quy tắc là sự kéo dài của
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) trên con đường khó
khăn đi đến một thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý – Bộ quy tắc ứng xử của
các bên trên Biển Đông (COC) nhưng cũng có thể là một sự trì hoãn kéo dài tình

thế hiện hữu trên Biển Đông. Tất cả tùy thuộc vào sự chủ động, kiên quyết đấu
tranh và thiện chí hợp tác của các bên có quyền lợi ở Biển Đông.
3. Liên hệ thực tiễn , chiến lược độc đáo của Việt nam trong tranh chấp ở
Biển Đông.
Từ đầu, Việt Nam luôn sử dụng mọi nỗ lực để tối đa hóa vai trò của ASEAN. Việt
Nam coi ASEAN là công cụ có tính hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề
với các cường quốc. Việt Nam đã gia nhập ASEAN 3 tháng ngay sau khi khối đưa
ra tuyên bố chung đầu tiên của mình với những ngôn từ mạnh mẽ trước hành động
Trung Quốc chiếm đóng Bãi Vành Khăn tại quần đảo Trường Sa.
Việt Nam luôn đề cao sự đoàn kết và ủng hộ của ASEAN khi Trung Quốc và
ASEAN gặp nhau tại vòng thảo luận ở cấp nhóm làm việc chung về bộ quy tắc ứng
xử trên Biển Đông.
Đông thời Việt Nam cũng tính đến việc đưa tranh chấp ra Tòa Trọng tài Thường
trực Liên Hợp Quốc.
Rõ ràng đây là một động thái chiến lược. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có
chung quan điểm rằng, việc sử dụng các cơ chế của Liên Hợp Quốc chỉ là phương
án cuối cùng. Trên hết, lãnh đạo Đảng hai nước - vẫn duy trì mối quan hệ đồng chí
khá tốt – vẫn chưa có cuộc gặp nào để thảo luận vấn đề này. Các cuộc thảo luận
cho đến nay chỉ dừng lại ở cấp thấp.


Một trong các chiến lược của Việt Nam là thúc đẩy hợp tác với các quốc gia để
tăng cường vị thế trên trường quốc tế và tạo lợi thế trong cân bằng với Trung Quốc.
Cả Mỹ và Nhật Bản đều đang đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực an ninh biển với
Việt Nam, cả hai đều cam kết cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam. Năm ngoái, Việt
Nam đã trở thành đối tác toàn diện của Mỹ.
Hiện Việt Nam vẫn giữ thái độ thận trọng khi bình luận về việc tăng cường mở
rộng các mối quan hệ chiến lược với Mỹ và Nhật Bản, vì Việt Nam biết rất rõ mối
nguy tiềm tàng khi quá chú trọng vào mối quan hệ mới nhưng mang tính chiến
lược này.

Đồng thời đối với các hành động ngang ngược của Trung Quốc như: tố cáo
Việt Nam xây dựng, mở rộng các đảo; cơ quan dầu khí Trung quốc đưa giàn khoan
Hưng Vượng và 981 ra Biển Đông; đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá,
trong đó bao trùm cả một số vùng biển của Việt Nam,…
Nhà phát ngôn Bộ ngoại giao đã mạnh mẽ lên án và bác bỏ những tuyên bố
phi lý của Trung Quốc, các lực lượng chức năng theo dõi sát sao sự di chuyển của
giàn khoan, đồng thời tăng cường hỗ trợ ngư dân tiếp tục đánh bắt bình thường.
Dự thảo văn kiện Đại hội 12 của ĐCSVN nhấn mạnh các nội dung về quốc
phòng, an ninh, đối ngoại trên cơ sở xác định các quyền lợi quốc gia, dân tộc là tối
thượng, tăng cường tiềm lực, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước, kịp thời ngăn chặn nguy cơ chiến
tranh từ xa, đồng thời cảnh giác phát hiện, làm triệt tiêu các nhân tố gây bất ổn từ
bên trong…
Ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia, Bộ Ngoại
giao cho biết, ngay sau khi có tin Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng


thềm lục địa VN, chúng ta đã có 8 cuộc làm việc với Trung Quốc, 6 cuộc gặp trực
tiếp tại Hà Nội và Bắc Kinh. Trong các cuộc làm việc này, Việt Nam đã khẳng định
Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng tuyên bố DOC, Việt Nam kiên quyết phản đối
các việc làm này của Trung Quốc.
Chủ tịch nước Trương Tấn sang đã khẳng định trước Quốc Hội: “Chúng ta
đã nói rõ quan điểm trong công hàm, trong những lần giao thiệp với Trung Quốc.
Lãnh đạo Việt Nam trong các cuộc họp ở nơi này nơi khác vẫn nói rõ như vậy. Có
một số ý kiến cho là chúng ta sợ, nhưng không có chuyện đó. Giữa các quốc gia là
bình đẳng, không có chuyện sợ hay không sợ”
Như vậy cùng với Chiến lược ngoại giao khôn khéo và mềm mỏng thì Việt
Nam cũng có những hành động mạnh mẽ và quyết liệt để bảo vệ chủ quyền biển
đảo nước nhà trước sự xâm phạm của anh láng giềng “ Vai rộng hẹp bụng” .
KẾT LUẬN

Tóm lại có thể thấy DOC là một phần trong nỗ lực của các nước ASEAN nhằm
đảm bảo rằng sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông không gây hại tới nguyên
tắc cùng chung sống hòa bình. Hiểu rõ điều đó nên Trung Quốc cũng thường xuyên
nhắc lại nguyện vọng giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa
bình. Do đó DOC có thể được coi là cách Trung Quốc thể hiện cam kết tuân theo
các nguyên tắc do các nước ASEAN đề ra.



×