Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

So sánh hệ thống tòa án Pháp với Tòa án Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (188.47 KB, 24 trang )

Giới thiệu
Từ đầu năm 1992, thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao, Thanh tra nhà nước đã
phối hợp với Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
và các cơ quan hữu quan soạn thảo “Đề án cải cách tư pháp ở Việt Nam”. Nghị quyết
số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 tiếp tục cụ thể hơn về công cuộc cải cách này. Việc nghiên cứu, soạn thảo đề
án xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, nhà nước của dân,
do dân, vì dân, Nhà nước có kỷ cương, kỷ luật, có nền pháp chế cao và nền dân chủ
mở rộng, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật dân.
1. Lý do chọn đề tài
Hệ thống tổ chức tòa án nước ta trong mấy thập niên qua đã đáp ứng được yêu
cầu xét xử, yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện
tại, khi mà nền kinh tế bước vào quá trình hội nhập, các vụ án, vụ việc cần giải quyết ở
Tòa án ngày càng tăng. Đến lúc này, yêu cầu đổi mới, cải cách hệ thống tư pháp và
trọng tâm là hệ thống tòa án ngày càng cấp bách. Trên cơ sở các kiến thức thu được
trong quá trình theo học khóa đào tạo cử nhân luật, tôi lựa chọn đề tài “Cấu trúc Tòa
án Cộng hòa Pháp và Việt Nam. Một số điểm tương đồng và khác biệt” làm tiểu luận
tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Kinh nghiệm học hỏi được từ các mô hình tổ chức của Tòa án của Cộng hòa
Pháp
- Làm rõ thực trạng, đánh giá về tổ chức và hoạt động của mô hình tòa án ở Việt
Nam
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất mô hình giải pháp nhằm
đổi mới, hoàn thiện pháp luật về tổ chức tòa án ở Việt Nam ta.
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài cấu trúc tòa án Cộng hòa Pháp và
Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh;



- Phương pháp tổng hợp, thống kê;
- Phương pháp phân tích đánh giá
Người thực hiện

Mục lục
Phần I. Cấu trúc hai hệ thống Tòa án

Page 2


A. Hệ thống Tòa án Pháp
I.Nhánh tòa tư pháp
1. Tòa sơ thẩm
2. Tòa phúc thẩm
3. Tòa phá án
II. Nhánh tòa hành chính
1. Tòa hành chính sơ thẩm
2. Tòa hành chính phúc thẩm
3. Hội đồng nhà nước
III.Tòa xung đột
IV. Hội đồng bảo hiến
B. Hệ thống Tòa án Việt Nam
I.Tòa án nhân dân tối cao
II. Tòa án nhân dân cấp tỉnh
III.Tòa án nhân dân cấp huyện
IV. Tòa án quân sự
Phần 2. Sự tương đồng và khác biệt của hệ thống tòa án Cộng hòa Pháp và
hệ thống
1.

2.

Tòa án Việt Nam
Những điểm tương đồng
Những điểm khác biệt

Phần 3. Cuộc cải cách hệ thống Tòa án ở Việt Nam – Liên hệ Cộng hòa Pháp

Phần I. Cấu trúc hai hệ thống Tòa án
Cấu trúc một sự vật, hiện tượng là cách thức sắp xếp, tổ chức các bộ phận, kết
cấu tạo nên sự vật hiện tượng đó. Cấu trúc Tòa án là các thức sắp xếp, tổ chức tạo nên
hệ thống Tòa án. Cách thức sắp xếp, tổ chức của các hệ thống tòa án thế giới chủ yếu
dựa trên hai tiêu chí: Cấp tòa và cấp xét xử. Hệ thống tòa án Cộng hòa Pháp và Việt
Nam cũng không ngoại lệ.
Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là một hệ thống tòa án nhân
danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, một cơ chế để giải quyết các
tranh chấp.

Page 3


Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến cả quan tòa ở các cấp, những người
thiết lập nền móng cho một bộ máy tư pháp và cả những người trợ giúp cho hệ thống
này hoạt động tốt.
Theo chủ thuyết tam quyền phân lập, cơ quan tư pháp là phân nhánh chính của
một chính thể, có trách nhiệm chính về việc diễn giải luật.
 Tại

những nơi dùng thông luật, án lệ được tạo ra từ các diễn giải luật của tòa án
như là kết quả của nguyên tắc stare decisis;

 Tại những nơi dùng dân luật, tòa án sẽ diễn giải luật nhưng, ít nhất theo lý
thuyết, không được "tạo ra luật" và, vì vậy, không được ban hành các quyết định bao
quát hơn các vụ án thực có thể được xét xử; trong thực tế, luật học đóng vai trò như án
lệ pháp.
 Tại những nơi dùng pháp chế xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm diễn giải luật thuộc
về bộ phận lập pháp.

A.Hệ thống Tòa án Pháp

Hội đồng Hiến Pháp

Tòa xung đột pháp luật

Mô hình hệ thống tòa án Cộng hòa Pháp được tổ chức gồm 2 nhánh hay còn gọi
là môánhình
nhị nguyên.
thápchính
đôi” (double
Tòa
có thẩm
quyềnNgười
chungPháp gọi đây là mô hình “kim
Tòa tự
hành
pyramid structure). Đây được xem là mô hình tòa án đặc trưng của các nước thuộc hệ
thống pháp luật châu Âu lục địa (Civilaw), có sự phân chia pháp luật theo 2 nhánh

Tòa phá án

Hội đồng nhà nước


công và tư.

Tòa phúc thẩm
Tòa phúc thẩm
án hành chính

Cours d’assises

Tòa đệ nhị cấp

Tòa đệ nhị cấp

Tòa hình

Tòa vi cảnh

Conseils
Tòa thương mại

chính
de

prud’

hommes

Tribunaux paritaires
des baux ruraux


Tòa sơ thẩm án hành

Page 4


Sơ đồ 1. Cấu trúc hệ thống tòa án Pháp

I. Nhánh tòa tư pháp
1.Tòa sơ thẩm
Gồm có 3 tòa
1.1 Tòa dân sự có thẩm quyền hẹp: Tòa án này còn có một tên gọi khác là Tòa
án đệ nhất cấp. Hiện tại, Cộng hòa Pháp có khoảng 470 tòa án loại này.
1.1.1 Nguyên tắc tổ chức: Tổ chức theo nguyên tắc lãnh thổ, mỗi huyện sẽ có ít
nhất một tòa. Các thẩm phán ở Tòa này không thuộc biên chế độc lập mà được biệt
phái từ Tòa sơ thẩm dân sự thẩm quyền chung đến, nhiệm kỳ là 3 năm
1.1.2 Thẩm quyền:Tòa án này vừa có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự lẫn
hình sự
Về dân sự, tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có giá trị dưới
10.000 euro
Về hình sự, những vụ án có mức hình phạt cao nhất là 6 năm tù, hoặc phạt tiền
mức cao nhất là 3000 euro thuộc thẩm quyền của Tòa này.
1.1.3 Cấp phúc thẩm: Các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa này sẽ được phúc
thẩm ở Tòa phúc thẩm vùng. Chỉ những tranh chấp từ 4000 EURO trở lên được xét xử
ở Tòa án này mới được xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, những tranh chấp khác có khả
năng được xem xét theo trình tự phá án tại Tòa phá án
1.2 Tòa dân sự có thẩm quyền chung: Tòa án này còn có tên gọi khác là Tòa đệ
nhị cấp với khoảng 180 tòa
1.2.1 Nguyên tắc tổ chức
Tương tự Tòa dân sự thẩm quyền hẹp, Tòa dân sự có thẩm quyền chung được tổ
chức ít nhất một tòa ở mỗi tỉnh. Ngoài ra, còn có các tiểu tòa dân sự và tiểu tòa hình


Page 5


sự. Số lượng thẩm phán chuyên trách phụ thuộc vào khối lượng công việc đảm nhận.
Và cũng lưu ý rằng, thẩm phán ở Tòa này còn được biệt phái đến xét xử ở Tòa dân sự
thẩm quyền hẹp.
1.2.2 Thẩm quyền
Tòa án này có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự trên 10.000 EURO,
xét xử các vụ án hình sự có mức hình phạt từ 6 năm tù trở lên hoặc phạt tiền từ 3000
EURO trở lên.
1.2.3 Cấp phúc thẩm: Các bản án sẽ được Tòa án phúc thẩm vùng xét xử phúc
thẩm và sẽ không có bất cứ giới hạn về loại bản án hay vụ việc sẽ được xem xét phúc
thẩm như ở Tòa dân sự thẩm quyền hẹp.
1.3 Tòa vi cảnh
Đây là một tòa án độc lập, chuyên xét xử các vụ án hình sự ít nghiêm trọng điển
hình là hành vi vi phạm pháp luật giao thông mà mức hình phạt tối đa 1000 EURO. Ở
Cộng hòa Pháp, hành vi vi phạm pháp luật giao thông bị coi là tội phạm hình sự. Một
điều thú vị nữa, việc xét xử ở Tòa án này do một viên sĩ quan cảnh sát đảm nhận.
1.4 Tòa đặc biệt
Đây là tòa án có chức năng xét xử cả những vụ án hình sự lẫn dân sự. Tuy nhiên,
về hình sự, các tội phạm hình sự nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng mới được xét
xử tại tòa án này. Các tòa chuyên trách đặc biệt khác tương tự như các tòa chuyên
trách trong hệ thống tòa án Việt Nam như tòa thương mại, tòa lao động, tòa nông
nghiệp…
1.4.1 Tòa hình sự đặc biệt
Về tổ chức, tòa này sẽ có 1 chánh án, 2 thẩm phán từ tòa phúc thẩm vùng hoặc
tòa dân sự thẩm quyền chung được biệt phái đến theo vụ việc.
Về thẩm quyền, Tòa hình sự đặc biệt sẽ xét xử những vụ án hình sự mà mức hình
phạt từ 10 năm tù đến chung thân.

Về cấp phúc thẩm, các bản án của tòa án này chỉ được xem xét lại theo trình tự
phúc thẩm ở Tòa phá án.
1.4.2 Các tòa đặc biệt khác
Về tổ chức, các tòa này sẽ có các thẩm phán hòa bình hoạt động. Đây là những
thẩm phán có chuyên môn trong một số lĩnh vực cụ thể và hoạt động không hưởng
lương.

Page 6


Về thẩm quyền, các tòa này như đã nói ở trên sẽ có thẩm quyền theo tên gọi
tương tự như các tòa chuyên trách ở Việt Nam.
Về cấp phúc thẩm, các bản án, quyết định ở Tòa án này sẽ được phúc thẩm tại tòa
phúc thẩm vùng

2.Tòa phúc thẩm: Tòa phúc thẩm hay tên gọi khác là tòa phúc thẩm vùng.
2.1Nguyên tắc tổ chức: Hiện tại, Cộng hòa Pháp có khoảng 35 tòa phúc thẩm
vùng tổ chức theo không gian lãnh thổ
2.2 Thẩm quyền
Tòa phúc thẩm có thẩm quyền xét xử các bản án, quyết định từ các Tòa án sơ
thẩm vùng và phạm vi xem xét bao gồm cả tình tiết lẫn nội dung bản án, quyết định.

3.Tòa phá án
Nếu như Tòa án tối cao (trước tháng 7/2009 là Thượng nghị viện) ở Vương quốc
Anh, Tối cao pháp viện ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là cơ quan xét xử cao nhất thì ở
Cộng hòa Pháp cơ quan xét xử cao nhất là Tòa phá án nếu không tính các vụ án hành
chính (Cour de cassation).
3.1Chức năng:
Tòa phá án có vai trò quan trọng trong việc thống nhất việc áp dụng pháp luật
trong phạm vi cả nước đối với nhánh toà tư pháp đồng thời là cấp xét xử cao nhất của

nhánh tòa tư pháp.
3.2 Thẩm quyền
Tòa phá án có thẩm quyền xét xử việc áp dụng pháp luật các bản án, quyết định
bị kháng cáo, kháng nghị nhưng không xét xử về nội dung. Các bản án, quyết định bị
kháng cáo, kháng nghị và được xem xét theo thủ tục phá án tại Tòa phá án bao gồm:
Thứ nhất, đó là các bản án bị giới hạn thẩm quyền phúc thẩm tức các bản được
chuyển đến từ tòa dân sự thẩm quyền hẹp như đã nói ở trên.
Thứ hai, bản án, quyết định từ các tòa án đặc biệt
Thứ ba, các bản án thuộc đối tượng được phúc thẩm

II. Nhánh tòa hành chính
Đây là nhánh tòa án có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa một
bên là nhà nước, bên kia là cá nhân, pháp nhân hoặc giữa các cơ quan công quyền với
nhau trong quá trình tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước thuộc sự điều chỉnh của
hệ thống luật công. Tòa án này không chỉ có chức năng xét xử mà còn có chức năng tư
vấn cho Hiến pháp (Tối cao pháp viện)

Page 7


Gồm có 3 cấp tòa
1. Tòa hành chính sơ thẩm: Tòa hành chính sơ thẩm có thẩm quyền xem xét tất
cả các vụ việc hành chính
2. Tòa hành chính phúc thẩm: Tòa án này được thành lập ở các thành phố lớn
tương tự như tòa phúc thẩm vùng bên nhánh tòa tư pháp, nghĩa là không phải tất cả các
tỉnh, thành phố tại Pháp đều có tòa án này. Mỗi tòa hành chính phúc thẩm sẽ xem xét
theo thủ tục phúc thẩm ở các tòa án hành chính sơ thẩm từ nhiều tỉnh, thành phố trong
vùng.

3. Hội đồng nhà nước

Hội đồng nhà nước hay được gọi với các tên khác là Tối cao pháp viện, Tham
chính viện. Đây là cơ quan đặc trưng của nhánh tòa hành chính có 2 chức năng: Chức
năng xét xử và chức năng tư vấn
3.1 Chức năng
3.1.1 Chức năng tư vấn
Hai trường hợp bắt buộc có ý kiến tư vấn từ Hội đồng nhà nước đó là:
Thứ nhất, khi Chính phủ chuẩn bị trình một dự án luật lên Nghị viện.
Thứ hai, khi Nghị viện quy định rõ ràng bằng văn bản , các Nghị định của Chính
phủ hướng dẫn thi hành một đạo luật cần phải có ý kiến tư vấn của Hội đồng nhà
nước.
3.1.2 Chức năng xét xử
a. Hội đồng nhà nước vừa có chức năng xét xử sơ thẩm lẫn chung thẩm hai vụ
việc sau:
Thứ nhất, vụ việc hành chính phức tạp, có khả năng tạo ra những nguyên tắc
pháp lý mới.
Thứ hai, những vụ việc liên quan đến công chức, viên chức cấp cao của Chính
phủ.
b.Về chức năng phúc thẩm
Các bản án, quyết định được chuyển lên từ các tòa án hành chính đặc biệt sẽ
được xem xét theo trình tự phúc thẩm ở Hội đồng nhà nước. Trình tự phúc thẩm sẽ rơi
vào một trong 3 trường hợp sau:
Thứ nhất, Hội đồng nhà nước áp dụng thủ tục xem xét tính hợp pháp của các

Page 8


hành vi hành chính theo thủ tục sơ bộ.
Thứ hai, khi có khiếu nại về bầu cử hội đồng thành phố, thị trấn.
Thứ ba, khi có kháng cáo phúc thẩm đến từ các tòa hành chính đặc biệt.
3.2 Thẩm quyền

Hội đồng nhà nước có thẩm quyền phá án đối với bất kỳ tòa án hành chính nào.
Hệ quả pháp lý dẫn đến hoặc là tuyên hủy hoặc là giữ nguyên bản án.
Bản án bị tuyên hủy ở đây có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuộc vào một trong
các trường hợp sau: Vi phạm về thẩm quyền, vi phạm về thủ tục hoặc áp dụng pháp
luật sai.
Sau khi tuyên hủy án, Hội đồng nhà nước có thể trực tiếp xét xử về nội dung nếu
thấy lợi cho công tác quản lý xét xử. Nếu bản án đó được trả lại cho một tòa án khác
để giải quyết thì Hội đồng nhà nước có quyền đưa ra các ý kiến hướng dẫn giải quyết
vụ việc

III.Tòa xung đột
Lý do ra đời của Tòa án xung đột là do sự phân chia ranh giới giữa Luật công và
luật tư chưa thực sự rõ ràng. Do đó, Tòa xung đột đóng vai trò trung gian giải quyết
vấn đề thẩm quyền giữa hai tòa án này.
1. Chức năng
Tòa xung đột có chức năng phân định thẩm quyền của nhánh tòa tư pháp và
nhánh tòa hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Một là, khi cả hai tòa từ chối xét xử
Hai là, khi cả 2 tòa giành nhau xét xử
Ba là, cả 2 tòa án cùng xét xử nhưng đưa ra những phán quyết trái ngược nhau
Về nguyên tắc, Tòa xung đột không xét xử về nội dung. Tuy nhiên, kh một vụ
việc được xét xử ở hai tòa, 2 bản án được công bố nhưng mâu thuẫn nhau, các đương
sự quyết định đưa vụ án ra ra Tòa xung đột.
2. Cơ cấu tổ chức
Tòa xung đột có 9 thẩm phán gồm cả thẩm phán nhánh tòa tư pháp và nhánh tòa
hành chính

IV. Hội đồng bảo hiến
1. Chức năng
Thứ nhất, Hội đồng bảo hiến có chức năng kiểm tra tính hợp pháp, hợp hiến do

cơ quan lập pháp ban hành trong hai trường hợp sau:

Page 9


- Nếu một văn bản được ban hành với tư cách là một luật hình thức hay một quy
tắc tố tụng bắt buộc phải có ý kiến của Hội đồng bảo hiến.
- Một điều ước quốc tế hoặc một trường hợp khác không thuộc trường hợp trên
thì Hội đồng bảo hiến cũng có chức năng xem xét khi có yêu cầu.
Hệ quả pháp lý, trong thời gian Hội đồng bảo hiến xem xét tính hợp hiến của đạo
luật thì đạo luật đó bị tạm đình chỉ việc công bố. Khi đạo luật đó bị tuyên bố vi hiến thì
đạo luật đó không thể có hiệu lực pháp luật. Khi bị tuyên bố vi hiến một phần thì các
phần còn lại của đạo luật sẽ không bị ảnh hưởng
Thứ hai, Hội đồng bảo hiến cũng có chức năng xử lý những khiếu nại liên quan
đến bầu cử Nghị viện, Tổng thống, Thượng nghị sĩ, Hạ nghị sĩ, trưng cầu ý dân.
2. Cơ cấu tổ chức
Hội đồng bảo hiến bao gồm các cựu tổng thống, có nhiệm kỳ suốt đời. Đây là
những thẩm phán đương nhiên. Ngoài ra, Hội đồng bảo hiến có 9 thẩm phán khác.
Chín thẩm phán này sẽ có nhiệm kỳ 9 năm và không được tái bổ nhiệm. Chính thẩm
phán này, cứ 3 năm lại bầu cử, chỉ định lại 1/3 thành viên. Việc làm này để tránh việc
bảo thủ, trì trệ trong hoạt động của Hội đồng bảo hiến.

B. Cấu trúc tòa án Việt Nam
Tòa án Việt Nam có cấu trúc nhất nguyên. Khác với hệ thống tòa án được tổ chức
theo cấu trúc nhị nguyên của Cộng hòa Pháp, một hệ thống tòa án mà có sự phân chia
giữa 2 nhánh công và tư, đối ứng là hai hệ thống tòa hành chính và tòa tư pháp. Hệ
thống tòa án Việt Nam được cấu trúc theo hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ cùng
với cấp tòa xét xử.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG
Page
ƯƠNG
TỐI CAO
10


Tòa án nhân dân tỉnh, thành

Các tòa án quân sự quân khu

phố Trung ương

và tương đương

Tòa án nhân dân

Các tòa án quân sự khu

huyện, quận, thị xã

vực

thuộc tỉnh
Sơ đồ 2. Sơ đồ hệ thống tòa án Việt Nam

I. Tòa án nhân dân tối cao
1.Chức năng:
“Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 134 Hiến pháp 1992, Khoản 1 Điều 18 Luật tổ chức Tòa

án nhân dân 2002)
I.1 Cơ cấu tổ chức: Căn cứ Khoản 2 Điều 18 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002, cơ cấu Tòa án nhân dân tối cao bao gồm 3 bộ phận chính: Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối, các tòa chuyên trách và bộ phận giúp việc.

Bộ máy giúp việc:

Tòa hình sự

Tòa dân sự

Tòa phúc thẩm tại:




Hà Nội
Đà Nẵng
Tp. Hồ Chí Minh














Hội đồng thẩm phán

Văn phòng
Ban thư ký
Ban
thanh
tratế
Tòa
kinh
Tòa lao động
Tòa hành chính
Vụ tổ chức cán bộ
Vụ hợp tác quốc tế
Tòa quân sự
Viện khoa học xét xử
trung ương
Vụ kế hoạch tài chính
Vụ thống kê tài chính
Tạp chí Tòa án
Trường cán bộ tòa án
Cơ quan thường trực phía Nam

Page
11


Sơ đồ3. Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam
I.2 Thẩm quyền: C ăn cứ Điều 19 Luật tổ chức tòa án nhân dân 2002 thì Tòa án

nhân dân tối cao có các q uyền hạn sau đây:
- Hướng dẫn các Tóa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét
xử của các Tòa án
- Giám đốc việc xét xử của các tòa án các cấp, giám đốc việc xét xử của tòa án
đặc biệt và các tòa án khác trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập tòa án đó
- Trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh
theo quy định của pháp luật.

II. Tòa án nhân dân cấp tỉnh
II.1 Cơ cấu tổ chức
Căn cứ Khoản 1 Điều 27 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có cơ cấu gồm 3 bộ phận tương tự Tòa
án nhân dân tối cao với một hệ thống tòa án chuyên trách và bộ máy giúp việc. Chỉ có
một điểm khác, Uỷ ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương sẽ là cơ quan lãnh đạo Tòa án cấp này.
II.2Thẩm quyền
Căn cứ vào Điều 28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì Tòa án nhân dân
cấp tỉnh có thẩm quyền như sau:
- Sơ thẩm những vụ án theo định của pháp luật tố tụng
- Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật.

III. Tòa án nhân dân cấp huyện
III.1Cơ cấu tổ chức

Page
12



Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, một
hoặc hai Phó chánh án,, các thẩm phán, hội thẩm nhân dân và thư ký. Ngoài ra, Tòa án
này còn có một bộ máy giúp việc. (Khoản 1 Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002)
III.2 Thẩm quyền
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy
định của pháp luật

IV. Tòa án quân sự:
IV.1Chức năng
Các tòa án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm mục
đích xét xử những vụ án mà bị cao là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy
định của pháp luật (Khoản 1 Điều 34 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002)
IV.2 Cơ cấu tổ chức
Tòa án quân sự được tổ chức làm 3 cấp tòa:
- Một là, Tòa án quân sự trung ương
- Hai là, các tòa án quân sự quân khu và tương đương
- Ba là, các tòa án quân sự khu vực

Tòa án quân sự trung ương
Tòa án quân sự quân khu và tương đương
Tòa án quân sự khu vực
Sơ đồ 4. Hệ thống Tòa án quân sự
Cơ cấu của Tòa án quân sự Trung ương gồm có Chánh án, các Phó chánh án,
Thẩm phán và Thư ký Tòa án. Chánh án Tòa án quân sự Trung ương là Phó chánh án
Tòa án nhân tối cao. Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương là thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
Cơ cấu của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực là
tương đồng với nhau. Nhân sự bao gồm Chánh án, các Phó chánh án, Hội thẩm quân

nhân và thư ký tòa án.

Page
13


Phần II. Sự tương đồng và khác biệt của hệ thống tòa án Cộng
hòa Pháp và hệ thống Tòa án Việt Nam
Nhìn về lịch sử tòa án thế giới và lịch sử tòa án Việt Nam, chúng ta sẽ dễ dàng
nhận biết được, có sự tương đồng nhất định của hệ thống tòa án Việt Nam và hệ thống
tòa án Pháp. Trong đó, hệ thống tòa án Việt Nam đóng vai trò là người tiếp thu, học
hỏi mô hình cũng như kinh nghiệm để xây dựng hệ thống tòa án từ mô hình tòa án
Cộng hòa Pháp.
Nước Pháp chính thức đến Việt Nam vào năm 1858. Kể từ đó, Pháp thực hiện
việc cải tộ hệ thống chính trị của nhà nước phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, sự ảnh
hưởng đó chỉ thực sự mạnh mẽ đến hệ thống chính trị nói chung và hệ thống tòa án nói
riêng chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1884 khi mà Pháp đã hoàn tất công cuộc xâm lược
hoàn toàn Việt Nam. Kể từ đó bên cạnh hệ thống tòa án của nhà nước phong kiến nhà
Nguyễn, Pháp đã tổ chức riêng một hệ thống tòa án thực dân một cách tương đối độc
lâp.

I. Những điểm tương đồng về cấu trúc giữa hai hệ thống tòa án
I.1 Nguyên tắc hai cấp xét xử
Hai cấp xét xử tức cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Nguyên tắc này là nguyên tắc chủ
đạo, không chỉ xuất hiện ở Tòa án Cộng hòa Pháp, Tòa án Việt Nam mà còn xuất hiện
ở cấu trúc Tòa án của rất nhiều nước trên thế giới. Điều này đảm bảo cho việc giải
quyết các vụ án được khách quan, minh bạch, và đúng theo quy định ở pháp luật.
Ở Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có chức năng xét xử phúc thẩm
Ở Cộng hòa Pháp, cấp xét xử phúc thẩm thuộc thẩm quyền của các Tòa án sau:

Tòa phúc thẩm, Tòa phá án ở nhánh tòa tư pháp. Ở nhánh tòa hành chính, Tòa hành
chính phúc thẩm, Hội đồng nhà nước sẽ có thẩm quyền này.
I.2 Hệ thống tòa án được tổ chức theo ngành dọc hành chính lãnh thổ
Nguyên tắc tổ chức hệ thống Tòa án theo ngành dọc hành chính lãnh thổ tức các
tòa án được phân bổ dựa trên đơn vị hành chính lãnh thổ quốc gia.
Ở Việt Nam, hệ thống tòa án bao gồm 3 cấp tòa. Cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp
huyện. Ứng với mỗi tỉnh, mỗi huyện sẽ có một tòa án tương ứng. Việt Nam hiện tại có
63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Ở Cộng hòa Pháp, hệ thống Tòa án được tổ chức theo nguyên tắc hành chính

Page
14


lãnh thổ thể hiện ở việc tổ chức Tòa dân sự thẩm quyền hẹp, Tòa dân sự thẩm quyền
chung, Tòa phúc thẩm và Tòa phá án.
Tòa dân sự thẩm quyền hẹp được tổ chức ở cấp huyện, mỗi huyện sẽ có ít nhất
một tòa. Tòa dân sự thẩm quyền chung được tổ chức ở cấp tỉnh, mỗi tỉnh sẽ có ít nhất
một tòa. Ở mỗi vùng sẽ có một tòa phúc thẩm. Tòa phá án của Cộng hòa Pháp có chức
năng và tổ chức tương đồng với Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam.

II.Những điểm khác biệt về cấu trúc giữa hai hệ thống tòa án
1. Cấu trúc nhị nguyên và cấu trúc nhất nguyên
Sự khác biệt rõ nét và dễ nhận thấy nhất giữa hai hệ thống tòa án đó là, hệ thống
tòa án Pháp có sự phân chia thành 2 nhánh tòa: Nhánh tòa hành chính và nhánh tòa tư
pháp trong khi hệ thống tòa án Việt Nam không có sự phân chia hai nhánh tòa án.
Sự khác biệt này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là
do quan điểm lập pháp của hai hệ thống chính trị. Hệ thống pháp luật Cộng hòa Pháp
có sự phân chia giữa luật công và luật tư. Các nhà lập pháp nước này cho rằng chức
năng xét xử là tách biệt với chức năng quản lý hành chính, các tòa án không thể làm

rối loạn bất cứ hoạt động nào của cơ quan hành chính. Trong khi đó, các nhà lập pháp
Việt Nam cho rằng quyền lực thuộc về nhân dân, không có sự phân chia pháp luật
công và tư, cấu trúc tòa án theo đó chỉ có một nhánh thống nhất.
II.1Nguyên tắc tổ chức theo hành chính lãnh thổ là khác nhau
Sự khác biệt này thể hiện ở hai điểm
Thứ nhất, số lượng tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Tuy đều áp dụng
nguyên tắc ngành dọc hành chính lãnh thổ cho cấu trúc Tòa án nhưng số lượng Tòa án
Pháp được tổ chức không giống với hệ thống Tòa án Việt Nam.
Ở Cộng hòa Pháp, Tòa dân sự thẩm quyền hẹp ở Pháp được tổ chức ở huyện và
mỗi huyện sẽ có ít nhất một tòa. Tòa dân sự thẩm quyền chung được tổ chức ở cấp tỉnh
nhưng cũng theo nguyên tắc ít nhất một tòa ở mỗi tỉnh. Tòa án cấp phúc thẩm thì được
sắp xếp theo vùng, tức sẽ có ít nhất 2 tỉnh, thành phổ trực thuộc trung ương chung
nhau một tòa phúc thẩm.
Ở Việt Nam, mỗi huyện chỉ có duy nhất một tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm
q uyền xét xử sơ thẩm tương đương với Tòa dân sự thẩm quyền hẹp ở Cộng hòa Pháp.
Page
15


Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương tương đương với thẩm quyền của Tòa dân sự thẩm quyền chung. Tòa án này
cũng chỉ có duy nhất một tòa ở một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Về thẩm
quyền xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các
bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện. Thẩm quyền này tương đương với
Tòa phúc thẩm của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mỗi tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương của Việt Nam chỉ có một Tòa án cấp tỉnh. Đây cũng là một điều
khác biệt của Tòa phúc thẩm Cộng hòa Pháp so với cấp phúc thẩm của Tòa án Việt
Nam.
Thứ hai, sự khác nhau về cấu trúc Tòa án của hai nước còn thể hiện ở việc tổ
chức các tòa án chuyên trách. Ở Cộng hòa Pháp, các Tòa án chuyên trách được tổ chức

rất đa dạng và có sự độc lập tương đối với nhau. Ví dụ, Tòa dân sự thẩm quyền chung
và Tòa phúc thẩm ở Cộng hòa Pháp tương đương với các Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở
Việt Nam. Tuy nhiên, hai tòa này là độc lập với nhau và chỉ thực hiện chức năng duy
nhất cho theo như tên gọi của nó. Tiếp nữa, Tòa vi cảnh là một tòa án độc lập, Việt
Nam không có tòa án nào tương tự.
II.2 Hội đồng bảo hiến
Đây là một cơ quan độc lập có chức năng giải quyết các hành vi vi hiến. Cơ chế
bảo vệ hiến pháp của Cộng hoà Pháp là một điển hình về cơ chế bảo vệ hiến pháp tập
trung. Thái độ thù địch đối với kiểm soát tư pháp (judicial review) về tính hợp hiến
của các đạo luật khá nổi bật trong truyền thống dân luật. Điều 3 Hiến pháp Cộng hoà
Pháp năm 1791 đã từng cảnh bảo hệ thống toà án phải tránh xa khỏi việc thực thi các
quyền lập pháp, hành pháp và hành chính. Do đó, toà án thường không thể có tài phán
để kiểm tra tính hợp pháp của cơ quan lập hiến, lập pháp. Hiến pháp Cộng hoà Pháp
luôn từ chối quyền này bởi các lý do lịch sử và hệ tư tưởng. Đến Hiến pháp năm 1958
toà án thường vẫn tiếp tục không được giao thẩm quyền này. Sự khác biệt giữa học
thuyết của Vương quốc Anh về chủ quyền của nghị viện và học thuyết của Cộng hoà
Pháp về chủ quyền nhân dân cùng với sự phân biệt giữa luật của Nghị viện và luật của
Chính phủ đã dẫn đến cuộc vận động về bảo vệ hiến pháp trong giai đoạn cách mạng.
Page
16


Senat conservateur được thành lập và hoạt động như người bảo vệ Hiến pháp từ năm
1790. Tuy nhiên, truyền thống dân chủ Cộng hoà Pháp vẫn né tránh việc chấp nhận
kiểm tra hiến pháp như là một cơ chế kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản pháp luật.
Dựa trên học thuyết về chủ quyền nhân dân, việc bảo vệ hiến pháp phải được giao phó
cho nhân dân.
Ở Việt Nam, việc kiểm tra giám sát việc vi hiến được giao cho rất nhiều cơ quan
tổ chức trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên đầu mối chính là Quốc hội. Như vậy, cơ
quan kiểm tra tính vi hiến là cơ quan lập pháp. Quy định thì quá chung chung, thẩm

quyền thì trải rộng dẫn đến ở Việt Nam, công tác kiểm tra sự vi hiến là không có hiệu
quả.

Phần III. Cuộc cải cách hệ thống Tòa án ở Việt Nam – Liên hệ
Cộng hòa Pháp
1. Đối với Toà án sơ thẩm khu vực
Toà án sơ thẩm khu vực là Toà án chỉ xét xử sơ thẩm các vụ án theo quy định của pháp
luật, được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện, tức là một đơn vị hành
chính cấp huyện có thể tổ chức một Toà án sơ thẩm nhưng không phải là Toà án cấp huyện

Page
17


như trước đây mà là Toà án sơ thẩm khu vực. Hiện nay, Toà án nhân dân tối cao đang chuẩn
bị những điều kiện cần thiết để trình với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc thành
lập các Toà án sơ thẩm khu vực sau khi hoàn thành việc tăng thẩm quyền xét xử cho các Toà
án cấp huyện theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành. Tuy nhiên, số lượng Toà án sơ
thẩm khu vực là bao nhiêu thì vẫn là một ẩn số. Chúng tôi thấy rằng, số lượng Toà án sơ
thẩm khu vực là bao nhiêu không phải là vấn đề quan trọng, mà vấn đề quan trọng là ở chỗ,
Toà án sơ thẩm khu vực phải bảo đảm các tiêu chí: Đủ năng lực xét xử sơ thẩm các vụ án
theo quy định của pháp luật và thuận tiện cho người tham gia tố tụng trong khu vực đó. Để
chuẩn bị cho việc thành lập các Toà án sơ thẩm khu vực, hiện nay theo gợi ý của Toà án
nhân dân tối cao thì các Toà án cấp tỉnh đang “gom” hai hoặc ba Toà án cấp huyện lại để
thành lập một Toà án sơ thẩm khu vực. Ví dụ: ở tỉnh Thái Bình có 8 Toà án cấp huyện thì dự
kiến sẽ thành lập 4 Toà án sơ thẩm khu vực, tức là cứ 2 Toà án cấp huyện thì “nhập” lại
thành một Toà án sơ thẩm khu vực. Nếu tổ chức Toà án sơ thẩm khu vực theo hướng này,
chúng tôi thấy chưa đúng với tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị, vì đó mới chỉ là
việc “nhập” nhiều Toà án cấp huyện trong một tỉnh thành một Toà án sơ thẩm khu vực, vẫn
bị chi phối bởi đơn vị hành chính là trong một tỉnh, chứ chưa thật sự bảo đảm đúng nghĩa là

“Toà án sơ thẩm khu vực không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”. Cần phải xem xét đến
trường hợp có thể thành lập Toà án sơ thẩm khu vực trên địa bàn của hai hoặc ba tỉnh. Ví dụ:
Một Toà án sơ thẩm khu vực nằm trên địa bàn của tỉnh Nam Định nhưng xét xử sơ thẩm cả
những vụ án thuộc địa bàn của tỉnh Ninh Bình; Toà án sơ thẩm khu vực nằm ở địa bàn của
tỉnh Hưng Yên nhưng xét xử sơ thẩm cả những vụ án thuộc địa bàn của tỉnh Hải Dương và
thành phố Hải Phòng.v.v. Toà án sơ thẩm khu vực không bị chi phối (quản lý) của bất cứ
đơn vị hành chính của tỉnh nào. Có như vậy Toà án sơ thẩm khu vực mới thật sự đúng với
tinh thần mà Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị đã đề ra.

2. Đối với Toà án phúc thẩm
Theo tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị thì Toà án phúc thẩm là Toà án xét xử
phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án.

Page
18


Gọi là “Toà án phúc thẩm” nhưng không chỉ xét xử phúc thẩm mà còn xét xử cả sơ thẩm,
tên gọi như vậy xét về ngữ nghĩa là không hợp lý, nhưng nếu gọi là Toà án cấp tỉnh thì lại
càng không được vì như vậy không đúng với tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về
cải cách tư pháp là tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử chứ không theo đơn vị hành chính.
Cũng có ý kiến cho rằng, nên gọi “Toà án phúc thẩm” mà Nghị quyết số 49 nêu là “Toà án đệ
nhị cấp” như Hiến pháp năm 1946 quy định hoặc nếu không muốn dùng thuật ngữ “đệ nhị”
thì gọi là “Toà án trung cấp”; cũng theo ý kiến này, nếu gọi “Toà án phúc thẩm” là “Toà án
trung cấp” thì “Toà án sơ thẩm khu vực” nên gọi là “Toà án sơ cấp”, và như vậy, hệ thống Toà
án nhân dân sẽ có 4 cấp gồm: Toà án sơ cấp, Toà án trung cấp, Toà thượng thẩm và Toà án tối
cao; chúng tôi thấy ý kiến này có nhiều nhân tố hợp lý. Để tránh xáo trộn về tên gọi các cấp
Toà án, có thể chỉ đổi tên gọi “Toà án phúc thẩm” thành “Toà án trung cấp”, còn các Toà án
khác vẫn gọi như tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị. Như vậy, hệ thống Toà án ở
nước ta gồm: Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án trung cấp, Toà thượng thẩm và Toà án tối cao.

Về thẩm quyền xét xử theo Nghị quyết số 49 thì Toà án này vừa phải xét xử phúc thẩm
những vụ án mà bản án của Toà án sơ thẩm khu vực xét xử sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị,
vừa phải xét xử sơ thẩm một số vụ án theo quy định của pháp luật. Và, nếu xét về thẩm quyền
xét xử thì Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) sau khi được cải cách sẽ có thẩm quyền xét xử
tương tự như Toà án cấp tỉnh hiện nay. Vấn đề đặt ra là, việc tổ chức các Toà án trung cấp
(Toà án phúc thẩm) như thế nào cho phù hợp. Trong các chương trình thực hiện cải cách tư
pháp đến năm 2010 của Toà án nhân dân tối cao cũng chưa đề cập đến vấn đề tổ chức các Toà
án trung cấp (Toà án phúc thẩm) như thế nào? Có bao nhiêu Toà án phúc thẩm trên phạm vi cả
nước? Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức một Toà án phúc thẩm hay có thể 2
hoặc 3 tỉnh, thành phố tổ chức một Toà án phúc thẩm, hoặc ở các thành phố lớn như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh có thể tổ chức 2 hoặc 3 Toà án phúc thẩm? Về vấn đề này, theo chúng
tôi thì việc tổ chức Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) cũng phải bảo đảm nguyên tắc là
không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Do đó, không nhất thiết mỗi tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương tổ chức một Toà án phúc thẩm, mà tuỳ thuộc vào số lượng vụ án của Toà án
sơ thẩm khu vực và phạm vi địa bàn để tổ chức Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm); có thể tổ

Page
19


chức một Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) trên một địa bàn giáp ranh 2 hoặc 3 tỉnh để xét
xử phúc thẩm các vụ án của 7 hoặc 9 Toà án sơ thẩm khu vực đã xét xử sơ thẩm nhưng có
kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án theo thẩm quyền được giao. Ví dụ: ở
thành phố Bắc Ninh có thể tổ chức một Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) để xét xử phúc
thẩm các vụ án của 7 Toà án sơ thẩm khu vực, trong đó có Toà án sơ thẩm khu vực nằm trên
địa bàn quận Long Biên, huyện Gia Lâm, huyện Đông Anh của thành phố Hà Nội, chứ không
nhất thiết chỉ xét xử phúc thẩm các vụ án của Toà án sơ thẩm khu vực nằm trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.

3. Đối với Toà thượng thẩm

Theo Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị thì Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực
chỉ có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm. Về vị trí, vai trò và thẩm quyền của Toà thượng thẩm
cũng tương tự như Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao hiện nay. Việc tổ chức các Toà
thượng thẩm theo tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị không có gì vướng mắc. Hiện
nay, cả nước có 3 Toà phúc thẩm đặt tại ba miền, nhưng các Toà án này hiện nay đều là đơn
vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao, nếu tổ chức thành Toà thượng thẩm thì sẽ không thuộc
Toà án nhân dân tối cao nữa mà là một cấp Toà án. Vấn đề còn lại là nên có bao nhiêu Toà
thượng thẩm trên phạm vi cả nước là đủ. Trong kế hoạch cải cách tư pháp của Toà án nhân
dân tối cao đến năm 2010 cũng chưa dự định sẽ tổ chức bao nhiêu Toà thượng thẩm trên
phạm vi cả nước, nhưng theo chúng tôi mỗi Toà thượng thẩm chỉ nên xét xử phúc thẩm các
vụ án có kháng cáo, kháng nghị của từ 13 đến 15 Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) đã
xét xử sơ thẩm. Như vậy, cả nước có khoảng từ 5 đến 7 Toà thượng thẩm.

Page
20


4. Đối với Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao
Theo Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị thì Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng
kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử
giám đốc thẩm, tái thẩm. So với chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hiện hành
thì Toà án nhân dân tối cao sau khi đã được cải cách không còn chức năng xét xử phúc thẩm
và thêm nhiệm vụ “phát triển án lệ”. Như vậy, Toà án nhân dân tối cao ngoài chức năng,
nhiệm vụ như trước đây (trừ chức năng xét xử phúc thẩm) thì còn thêm một nhiệm vụ mới
rất quan trọng, đó là “phát triển án lệ”. Thực tế trong thời gian vừa qua, Toà án nhân dân tối
cao đã bước đầu “phát triển án lệ” bằng hình thức cho xuất bản ấn phẩm “quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”.
Để thực hiện tốt vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân tối cao theo tinh
thần Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị trong chiến lược cải cách tư pháp, thì vấn đề quan
trọng bậc nhất là tổ chức lại các Toà chuyên trách thuộc Toà án nhân dân tối cao và các đơn vị

giúp việc. Hiện nay, nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án do nhiều đơn vị đảm
nhiệm như: Các Toà chuyên trách (Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà hành chính và
Toà lao động), Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Viện Khoa học xét xử. Tuy nhiên, công tác giám
đốc việc xét xử các vụ án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật và hướng dẫn Toà án các cấp áp
dụng thống nhất pháp luật đối với các vụ án cụ thể, chủ yếu do các Toà chuyên trách đảm
nhiệm có sự phối hợp với các đơn vị liên quan. Việc cải cách bộ máy của Toà án nhân dân tối
cao nói chung và các Toà chuyên trách nói riêng theo tinh thần Nghị quyết số 49 của Bộ
Chính trị là một yêu cầu tất yếu, nhưng cải cách như thế nào cũng là một vấn đề cần thảo luận.
Theo tinh thần cải cách tư pháp, Toà chuyên trách có nhiệm vụ giám đốc việc xét xử các
vụ án trên phạm vi cả nước (kể cả các bản án của Toà thượng thẩm) thông qua việc giải
quyết đơn yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm; xem xét những kiến nghị của các cơ quan, ban
ngành, các đoàn đại biểu Quốc hội... đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án các cấp theo quy định của pháp luật; đề xuất với Chánh án Toà án nhân dân tối
cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án hoặc quyết định

Page
21


của Toà án các cấp đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, các Toà chuyên trách còn tham mưu
cho Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao tổng kết xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp
luật hình sự và xây dựng pháp luật.v.v.
Nếu theo tinh thần của Nghị quyết số 49 thì sau khi hoàn thành việc cải cách tư pháp,
Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh không còn chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm nữa thì
các Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao còn phải giám đốc việc xét xử cả các vụ án mà
bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm khu vực, và như vậy, số lượng công việc
sẽ tăng gấp nhiều lần so với hiện nay.
Cũng có ý kiến cho rằng, có thể giao cho Toà thượng thẩm, ngoài chức năng xét xử phúc
thẩm, còn có chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án của Toà án sơ thẩm

khu vực hoặc của Toà án trung cấp (Toà án phúc thẩm) có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng
nghị do có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, để “giảm tải” cho Toà án nhân dân tối cao, còn
Toà án nhân dân tối cao chỉ giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án mà bản án của Toà thượng
thẩm có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị do có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Tuy
nhiên, theo chúng tôi nếu giao cho Toà thượng thẩm chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm thì
mới chỉ giải quyết vấn đề giảm tải cho Toà án nhân dân tối cao chứ chưa thể hiện đúng theo
tinh thần của Nghị quyết số 49. Tại sao lại không đặt vấn đề là tăng cường năng lực cho các
Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao đủ mạnh để thực hiện được chức năng giám đốc
việc xét xử toàn ngành khi mà Toà án nhân dân tối cao không còn chức năng xét xử phúc
thẩm nữa?
Riêng đối với Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao có một đặc thù mà các Toà chuyên
trách khác không có, đó là phải thường xuyên phối hợp với Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Bộ Quốc phòng trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Do chưa được quan tâm đúng mức nên trong những năm qua, Toà hình sự chỉ mới đáp
ứng được một phần chức năng, nhiệm vụ được giao; công tác giám đốc việc xét xử các vụ
án hình sự nói chung chưa đạt yêu cầu, các vụ án mà bản án của Toà án các cấp có hiệu lực
pháp luật chưa được kiểm tra xem xét lại nhằm xác định tính đúng đắn của các bản án đó;
công tác tham mưu cho Lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất
Page
22


pháp luật hình sự còn hạn chế, nhiều quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng Hình
sự do chưa được hướng dẫn nên việc áp dụng không thống nhất trong phạm vi toàn quốc;
đặc biệt công tác phối hợp với các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc đấu tranh
phòng, chống tội phạm còn hạn chế do thiếu quá nhiều cán bộ, nhất là Thẩm phán.
Theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị đề ra, căn cứ vào
yêu cầu của việc cải cách tư pháp và tình hình giám đốc việc xét xử của Toà hình sự trong
những năm qua thì mục tiêu chung của việc cải cách tư pháp đối với Toà hình sự Toà án
nhân dân tối cao từ nay đến năm 2020 là:

Ngoài các đơn vị giám đốc việc xét xử chuyên sâu (Ban hoặc Phân toà), thì Toà hình sự
Toà án nhân dân tối cao cần có các đơn vị giúp việc như: Văn phòng Toà hình sự, trong Văn
phòng có các Phòng như: Phòng xử lý đơn; Phòng thống kê - tổng hợp, Phòng văn thư - lưu
trữ.

Page
23


Danh mục tài liệu tham khảo
I. CÁC GIÁO TRÌNH, VĂN BẢN
1. Nguyễn Đăng Dung: “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, NXB Tư pháp, Hà Nội2004;;
2. Trường Đại học luật Hà Nội: “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội- 1994 ;
3. Phan Đăng Thanh và một số tác giả: “Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền
trong lịch sử Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội- 1998;
4. Nguyễn Cửu Việt. “Giáo trình luật hành chính Việt Nam”, NXB đại học quốc gia Hà Nội –
2010.
II. VĂN KIỆN ĐẢNG VÀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
5. Hiến pháp năm 1992;
6. Nghị quyết của Quốc hội số 51 ngày 25/12/2001 sủa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
1992;
7. Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp
8. Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020;
9. Luật tổ chức Tòa án nhân dân ban hành ngày 02/4/2002;
10. Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội XII.

Page
24




×