1
BÀI DỰ THI
“LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT
VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM”
(Chủ đề 09: Nêu cảm nhận về văn hóa, về đất nước và con người Lào)
2
Chương 1
CẢM NHẬN VỀ NỀN VĂN HÓA LÀO
1.1. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRUYỀN THỐNG LÀO MANG ĐẬM SẮC
THÁI NỀN NÔNG NGHIỆP LÚA NƯỚC VÀ NỀN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
VHCT truyền thống Lào được hình thành từ khi các luồng chuyển dịch cư
dân Malayo - Polinesien qua Lào, nhưng những dấu tích còn lại đều cho biết từ
khoảng thế kỷ VIII về trước "nền tảng văn hóa Lào là nền tảng văn hóa của cư dân
Môn - Khơme". Trên một nền tảng văn hóa Môn - Khơme, người Lào - Thái đã
đem t ới đây kỹ thuật trồng lúa nước và một thiết chế xã hội hết sức năng động,
thiết chế bản - mường - liên mường, thêm vào đó là nét bao dung, tính chất hoà
đồng của Phật giáo. Các dân tộc Lào có truyền thống văn hóa lâu đời. Nét nội bật
trong truyền thống VHCT của nhân dân Lào là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết
dân tộc, ý thức tự tôn dân tộc, lối sống hoà đồng và lòng nhân ái, v.v… VHCT
truyền thống Lào là nền văn hóa của đất nước triệu voi cùng với cuộc đấu tranh
dựng nước và giữ nước oanh liệt là những nét văn hóa, hoa chăm pa, ở nhà sản, ăn
cơm nếp, thổi kèn và múa lăm vông. Chính những điều này góp phần làm nên bản
sắc VHCT truyền thống Lào và hình thành các giá trị đặc sắc của VHCT truyền
thống Lào.
Tuy nhiên, do điều kiện địa lý tự nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới,
gió mùa, bao gồm núi cao, cao nguyên, đồng bằng, v.v... trong đó đồi núi chiếm
3/4 diện tích đất Lào, đất nước trải rộng dài theo dòng sông Mê Kông. Điều kiện
tự nhiên đó đã tạo nên hệ thống sông ngòi thoát nước dày đặc từ Bắc đến Nam.
Nếu điểm chung của nền văn minh lúa nước trong khu vực Đông Nam Á với phức
thể gồm ba yếu tố núi, đồng bằng và biển, thì có thể nói rằng văn hóa lúa nước của
Lào được cấu tạo bởi núi, sông và đồng bằng. Và đây là cơ sở đầu tiên để hình
thành truyền thống VHCT Lào; và do đó, cũng chính là nền tảng vững chắc của
những giá trị đặc sắc của VHCT Lào trong quá khứ cũng như trong tương lai. Khi
xét đến yếu tố điều kiện tự nhiên có thể thấy rõ, nước Lào là một nước có những
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Chính vì vậy, người Lào đã sớm
lựa chọn nông nghiệp làm nghề sống chính của mình suốt mấy ngàn năm qua.
3
Mặt khác, việc tìm kiếm thức ăn đối với người nông dân Lào là điều không
khó khăn do điều kiện tự nhiên thiên nhiên ưu đãi, như người dân Lào thường nói
"cá đầy nước, lúa đầy đồng, con thú đầy rừng". Câu nói này thể hiện sự trù phú và
không còn cảnh đói nghèo của đất nước. Quan niệm này dường như có đã ảnh
hưởng lớn đến sự hình thành những giá trị VHCT truyền thống Lào như cách sống
thoải mái, làm việc ít nghỉ ngơi được chấp nhận nhiều hơn trong cộng đồng người
Lào, đặc biệt là ở nông thôn. Điều đó còn được coi là một phần quan trọng của lẽ
sống của người Lào. Và nếu lối sống là một giá trị văn hóa truyền thống nói chung,
thì đó cũng là một giá trị VHCT truyền thống của Lào.
Sự thuận lợi của yếu tố tự nhiên với cách sống yên bình, thoải mái của
người Lào đã ảnh hưởng đến sự hình thành một đời sống kinh tế, xã hội thoải mái
với những cái vốn có của mình. Đây là một đặc điểm văn hóa truyền thống, về sau
ăn sâu vào những giá trị VHCT truyền thống - người Lào yêu cuộc sống thanh
bình, yên ổn, hơn là thay đổi. Khi lẽ sống, cách ứng xử đã trở thành thói quen,
thành phong tục tập quán hoặc trở thành những yếu tố quan trọng của đời sống
tinh thần thì dù có biến đổi, chúng cũng thay đổi chậm hơn so với sự thay đổi
trong lĩnh các vực kinh tế và chính trị, v.v... Do vậy, bên cạnh mặt tích cực thì đặc
điểm đó cũng có mặt hạn chế trong sự hình thành nên những giá trị VHCT mới,
nhất là nó sẽ là một thách thực lớn trong sự hình thành VHCT mới, khi nó phải
đối mặt với sự thay đổi nhanh chóng, sự đòi hỏi cao hơn của thời đại.
Các bộ tộc Lào - Thái xưa kia cũng như sau này nằm ở "khu đệm" giữa một
bên là các cư dân Môn - Khơme và bên kia phía bắc là các cư dân Mạn - Tạng, tiếp
giáp với hai nền văn hóa lớn châu Á, Ấn Độ về phía đông nam, Trung Quốc về
phía Bắc. Đây có thể gọi là khu vực tiếp xúc giữa nhiều nền VHCT và có vị trí
chiến lược quan trọng. Do nằm ở vị trí giao tiếp và sự phân bố như vậy, từ lâu
nước Lào đã là một quốc gia có nhiều cộng đồng sắc tộc với những đặc trưng
VHCT khác nhau. Theo sự xác minh của các nhà dân tộc học, hiện Lào có 49 bộ
tộc, mỗi bộ tộc có tiếng nói riêng, có phong tục tập quán riêng, có lối sống riêng,
v.v... Trong các bộ tộc này có những tộc người bản địa như người Môn, người
Khóm đã từng có mặt rất sớm trên lãnh thổ Lào và họ đã từng xây dựng quốc gia
4
Môn - Khóm với nền văn hóa nổi tiếng, ví như văn hóa Cự Thạch với người La Vạ
ở Lào. Có những bộ tộc di cư đến Lào vào những thời kỳ lịch sử khác nhau như cư
dân Lào - Thái, Lào Xủng người Ấn, v.v... đã tạo cho vùng đất Lào một nền VHCT
mới - nền văn hóa nhiều bộ tộc, nhiều sắc thái. Song, các khối người Lào vẫn là bộ
tộc chủ thể vì chiếm số lượng đông và đạt trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao
hơn so với các bộ tộc khác. Mặc dù vậy, nhiều bản sắc riêng về ý thức chính trị của
mỗi bộ tộc vẫn được giữ gìn, phát huy, những yếu tố lành mạnh trong phong tục
tập quán của mỗi dân tộc vẫn được tôn trọng trong nền chính trị. Đó là sự thống
nhất trong tính đa dạng của nền VHCT Lào. Đây là đặc điểm tạo điều kiện cho
sự phát triển một nền VHCT Lào với đặc tính đa d ạng, nhiều lối tư duy khác
nhau, mặc dù tất cả điều vì mục đích chính trị chung.
VHCT truyền thống Lào đã được nhân dân các bộ tộc Lào tạo lập ngay từ
thời xa xưa gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó phát triển thông qua
quá trình tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa khác, trước hết là thông qua
quốc gia Môn - Khóm. Vương quốc Lạn Xạng của người Lào đã tiếp nhận những
yếu tố văn hóa Ấn Độ và ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa do chính cư dân Lào
- Thái mang lại để xây dựng một nền văn hóa dân tộc độc đáo và đa dạng. "Nhờ
so sánh với văn hóa Việt Nam và các nước trong khu vực mà chúng ta phát hiện ra
cơ tầng Đông Nam Á trong văn hóa Lào và quá trình tích hợp văn hóa tộc người
nhất là cư dân Môn - Khóm và Lào - Thái những nhân tố cơ bản để hình thành
nhà nước Lạn Xạng trong sự tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ tạo thành một nền VHCT
quốc gia dân tộc có cấu trúc gồm hai dòng: "Văn hóa bác học chịu ảnh hưởng của
từ chương học Ấn Độ trên biểu tầng qua ngươi Môn, người Khóm và văn hóa dân
gian là dòng đã bảo lưu được những yếu tố bản địa dưới cơ tầng và mối quan hệ
tương hỗ giữa chúng để tạo nên sắc thái riêng biệt của nền văn hóa Lào khác với
người đồng tộc của họ ở Thái Lan" . Nét đặc sắc này của văn hóa Lào làm nền
tảng cho sự hình thành một nền VHCT Lào được tích hợp bởi nhiều sắc thái phong
phú.
Các tộc người Lào từ xa xưa với lao động sản xuất của mình đã biết chế ngự
thiên nhiên làm nơi ăn chỗ ở, biết khai thác thiên nhiên bằng công cụ sản xuất.
5
Ngành khảo cổ học đã tìm thấy nhiều công cụ lao động ở các thời đại đồ đá c ũ hậu
kỳ, thời kỳ đồ đá giữa, thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ kim khí. Chẳng hạn như chum
đá cánh đồng chum (tỉnh Xiêng Khoảng) là công trình độc đáo khá công phu. Hiện
nay còn lại hơn 300 chum, có chiều cao trung bình 2 mét, có chum cao tới 3,2 mét,
rộng 3 mét và nặng tới 14 tấn. Các công trình khác như Tháp Phu (Chăm Pa Sắc)
và Tháp Luông (Viêng Chăn). Đây là những công trình độc đáo công phu, đòi hỏi
phải có một trình độ kỹ thuật nhất định, phải có một tổ chức chặt chẽ trong việc
thực thi và phải có công cụ lao động bằng kim khí để làm. Hệ thống các hiện vật
văn hóa vật thể trên đây thể hiện văn hóa tinh thần độc đáo và phong phú của đời
sống nhân dân Lào, nó thể hiện những giá trị truyền thống nói lên tình cảm, ý thức,
đời sống tinh thần hướng thiện của con người Lào. Các giá trị VHCT truyền thống
Lào tạo nên VHCT Lào thông qua lịch sử đấu tranh chống xâm lược và xây dựng
đất nước.
Trong lao động sản xuất tất yếu hình thành nên các mối quan hệ kinh tế - xã
hội là gia đình, bản làng và mường. Gia đình là tế bào kinh tế và xã hội ở Lào. Gia
đình của người Lào không thuộc loại đại gia đình như một số dân tộc khác nhưng
tập trung ở đó tất cả các mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất tái sản
xuất, quan hệ kế thừa, v.v... Với chế độ tiểu gia đình phụ quyền, quyền lực thuộc
về người chồng. Song phụ nữ Lào vẫn có một số quyền hành nhất định. Trong gia
đình người Lào có sự phân công lao động, mặc dù mỗi tộc người, mỗi miền có
khác nhau đôi chút, nhưng nhìn chung phân công lao động đều theo giới và lứa
tuổi. Sự phân công lao động phản ánh khá rõ nền kinh tế nông nghiệp, tự cấp, tự
túc, trong đó mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế hầu như khép kín. Nhưng người
Lào thường có quan hệ với họ hàng xa gần rất thân thiện như câu nói rằng, "ngọc
không dũa ba năm thành sỏi đá, bà con không đi lại ba năm hóa người dưng".
Đây chính là giá trị văn hóa truyền thống thể hiện lối sống hòa mục, cuộc sống
đoàn kết, gắn bó keo sơn không chỉ giữa những người huyết thống, mà cả cộng
đồng dân cư. Chính giá trị này góp phần quan trọng làm phong phú các giá trị
truyền thống của VHCT Lào.
Bản là cơ sở thấp nhất trong tổ chức xã hội Lào từ xưa đến nay. Bản hình
6
thành từ 4 - 5 hộ gia đình cho đến hàng trăm hộ. Mối quan hệ trong Bản, dù không
cùng chung huyết thống nhưng lại có rất nhiều quan hệ ràng buộc với nhau trong
cuộc sống lao động sản xuất. Các thành viên trong Bản coi việc giúp đỡ nhau là
nghĩa vụ, là đạo lý làm người, không ai nghĩ rằng mình sẽ được trả ơn sau này. Như
câu tục ngữ người Lào thường nói "gỗ một cây rào giậu không kín", lúc thiếu thốn
thì "con cá nhỏ bằng ngón tay út cũng chia đôi".
Từ thời xa xưa người Lào đã yêu chuộng cuộc sống hiền hòa, êm ái, ít va
chạm, xô xát lẫn nhau, mọi sự tranh chấp đều được hòa giải một cách êm thấm, họ
biết dựa vào nhau, đùm bọc nhau trong cuộc sống, trong đấu tranh để sinh tồn.
Đây là một trong những bản sắc của dân tộc Lào, xuất phát từ nền kinh tế nông
nghiệp với trình độ sản xuất còn thấp kém. Tuy vậy, những nét đặc sắc này quy
định cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động trong đời sống xã hội cũng như
trong đời sống chính trị, làm nên những giá trị VHCT truyền thống các dân tộc
Lào. Cùng với quan hệ gia đình và bản mường, v.v... người Lào còn theo đạo Phật
(thứ phút) và coi đạo Phật là giá trị tinh thần của nhân dân các bộ tộc, góp phần
tạo nên một khối thống nhất về mặt tư tưởng. Thế giới quan Phật giáo, các giáo
lý Phật giáo, các điều răn trong các kinh kệ của Phật giáo vì thế chỉ đạo đời sống
tinh thần, chỉ đại suy nghĩ và hành vi con người theo lý tưởng nhân đạo, nhân văn.
Đây là những yếu tố cực kỳ quan trọng hình thành và quy định các giá trị VHCT
truyền thống của đồng bào các dân tộc Lào trong quá khứ và cả ngày nay.
Nói đến các giá trị VHCT truyền thống Lào, còn phải nói đến các giá trị gốc
của VHCT truyền thống Lào như lễ hội (bun), chẳng thế mà ngày nay ở Lào người ta
có ý thức khuyến khích bun hội để bảo tổn văn hóa dân tộc và xây dựng nền chính
trị mới. Người Lào thích vui (khôn Lào mắc muôn), người Lào thích hội. Ở đây hội
được gọi là bun. Bun có nghĩa là may, là phúc. Có thể từ này xuất phát từ quan niệm
của đạo Phật như đi lễ đi hội để làm phúc, làm phúc để được phúc. Ở Lào quanh
năm có bun, tuy nhiên bun theo nghĩa chỉ có phần lễ thì nhiều, còn bun vừa có phần
lễ lại vừa có phần hội, hoặc gọi chung là hội lễ thì ít hơn. Có thể thống kê được các
kỳ lễ hội chính trong một năm như bun Pi Mày, bun Phà Vệt, bun Băng Phay, bun
Khấu Xạc, bun Khấu Pa Đắp Đin, bun Khấu Phăn Xạ, bun Óc Phăn Xạ, bun Xuống
7
Hưa và bun Thạt Luộng, v.v... Các giá trị văn hóa truyền thống đó quy lại làm nên
các giá trị của VHCT truyền thống Lào.
Trong những bun trên đây, có những bun mang đậm tính chất của Phật giáo
và nặng về lễ như bun Phà Vệt. Nội dung chính của bun này là đọc Kinh Phà Vệt
để kỷ niệm ngày Thích Ca thành Phật và bun Khấu có nội dung chính là lễ cho
mọi người hiến tế đồ vật, tiền bạc, cho nhà chùa để cầu phúc. Trong bun hội cũng
như trong cu ộc sống thường ngày của người Lào đặc biệt thích lăm, thích khặp và
hát, múa. Cứ ở đâu có tiếng kèn, tiếng trống, tiếng nhạc là người Lào đến dự để
khặp, lăm và hát, múa. Ở Lào có nhiều loại khặp, lăm: khặp Săm Nưa, khặp
Ngựm, lăm Vay, lăm Loong, lăm Tới, lăm Tặt, lăm Xi Phăn Đon, lăm Xa La Văn,
lăm Tăng Oai, v.v... Mỗi loại có một cách khặp lăm riêng, nhưng nhìn chung
không khó khăn lắm, trong không khí của ngày hội, mọi người có thể nhập cuộc
được. Đời sống lễ hội nói lên lý tưởng hướng nhân, hướng thiện của dân tộc Lào;
nó là kho tàng quý báu và chắc chắn làm nên những giá trị VHCT Lào cũng hướng
nhân, hướng thiện - đó là những giá trị VHCT thương ngư ời, yêu người, đấu tranh
và bảo vệ cái tốt, đấu tranh và bảo vệ cái đẹp.
1.2. VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI LÀO
Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng là
Campuchia và Thái Lan: cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, ẩm thực lại mang những
phong cách đặc trưng rất riêng.
Hình 1.1. Ẩm thực của người Lào
Nền văn hóa độc đáo của người Lào thể hiện trong văn hóa ẩm thực. Người
Lào ăn gạo là chính; các món ăn có đặc điểm là dùng những gia vị như gừng, me,
8
lá chanh, và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính trong các món ăn hầu hết các món
ăn đều có rất nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối
chua, ớt sa tế, ớt hầm, ớt luộc … Món ăn tiêu biểu của người Lào là sự pha trộn
giữa cay và ngọt, được trung hòa thêm thảo mộc. Mắm cá (pa dek) và mắm Cheo
gồm da trâu, ớt nướng, tỏi nướng, riềng nướng, đường cùng nhiều gia vị thảo mộc
trộn lẫn hoặc mắm Muok gồm lòng cá trộn ớt, sả, củ hành… hầu như nhà nào cũng
có và nước mắm (nám pla) được người Lào sử dụng hết sức phổ biến.
1.3. VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI LÀO
1. 3.1. Văn hóa lễ hội ở Lào
Lào là xứ sở của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết:
Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun
PiMay vào tháng 4) và Tết H'mong (tháng 12).
Hình 1.2. Lễ hội té nước
Vì đạo phật ở Lào có tự lâu đời phát triển mạnh trở thành quốc đạo, các nhà
chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới hàng năm bắt đầu vào
tháng tư dương lịch. Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết, tất cả các
cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn giáo, phù hợp với phong tục tập
quán của người Lào. Nền văn hóa độc đáo của người Lào được thể hiện trong
những ngày lễ hội vui chơi là chủ yếu, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ ăn, thức
uống thịnh trọng hơn ngày thường, đặc biệt là không thể thiếu rượu. Ngày tết từ
sáng sớm dân làng diện những bộ đồ đẹp nhất, nhất là chàng trai, cô gái với đủ áo
váy màu sắc sặc sỡ, tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm phật.
Các lễ hội và phong tục tập quán được tổ chức đều mang đậm bản sắc dân
tộc của đất nước triệu voi. Mỗi năm có ít nhất là mười hai lễ hội diễn ra ở các
9
tháng trong năm. Với ý nghĩa tâm linh của người Lào thì các lễ hội đó thường
được gọi chung là Bun nghĩa là “phước”, và làm Bun nghĩa là làm phước để được
hưởng phước. Cũng giống như đất nước Việt Nam thì lễ hội được chia làm hai
phần: phần lễ là phần nghi thức do chính con người đặt ra để giao cảm với thần
linh và phần hội chủ yếu là vui chơi, giải trí.
Hình 1.3. Lễ hội rước Bangphay
Lễ hội chính trong năm được diễn ra tưng bừng nhộn nhịp. Có thể điểm qua
một số lễ hội như Bun Bangphay (pháo thăng thiên). Được tổ chức vào tháng năm
với những cây pháo tự tạo bằng thân tre được bắn lên không trung của bầu trời
xanh thẳm với ý nghĩa cầu mưa cho mùa màng bội thu. Còn những người tham gia
lễ hội lại nhảy múa vui vẻ trong trang phục và khuôn mặt đã được hóa trang một
cách rất sinh động.
Vào ngày 13 tháng mười người người trên khắp mọi miền đất nước nô nức
chen trân kéo nhau về thủ đô Viêng Chăn cổ vũ cho Bun Suanghua có nghĩa là hội
đua thuyền.
Và còn rất nhiều lễ hội khác, mỗi lễ hội lại đem đến ấn tượng khó quên
trong lòng du khách gần xa. Ấn tượng nhất vẫn là Bun pimay (tết Lào) hay là hội
té nước được diễn ra vào giữa tháng tư hàng năm, dưới cái nóng oi ả của mùa hè
tại nơi đây người dân té nước với ý nghĩa để cầu may, cầu bình yên cho cả năm.
Đầu tiên họ tưới nước lên các tượng Phật, sau đó còn té nước vào các nhà sư, chùa
10
và cây cối xung quanh chùa, rồi đến những người xung quanh. Trong những ngày
này, người dân còn xây tháp cát, phóng sinh, ăn món lạp, hái hoa tươi, buộc chỉ cổ
tay. Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay đem lại sự mát mẻ,
phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để nuôi dưỡng và
hun đúc nghệ thuật dân tộc.
1. 3.2. Văn hóa nghệ thuật ở Lào
Cuộc sống tinh thần của người Lào rất phong phú được thể hiện trong
truyền thống yêu thích ca hát. Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu của
đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nhiều người thường nói đặc trưng tiêu biểu
của văn hóa Lào đó là “ăn sôi, thổi khèn và ở nhà sàn”. Từ những trẻ thơ cho tới
các cụ già đều thích ca hát và múa những làn điệu truyền thống của dân tộc mình
theo điệu nhạc du dương. Điển hình trong những điệu múa đó là điệu múa Lăm
Vông nhịp nhàng và đằm thắm rễ bắt gặp trong các lễ hội, đám cưới, các bữa tiệc.
Hình 1.4. Điệu múa Lăm Vông
Nhân dân các dân tộc Lào rất thích ca múa, đặc biệt là các làn điệu dân ca
truyền thống. Không chỉ trong những ngày lễ hội, vui chơi hợp quần… người Lào
còn hay ca hát trong sản xuất ngoài ruộng nương, đi hái lượm trong rừng, xuôi
ngược trên các dòng sông.
Dân ca Lào rất phong phú, giàu âm điệu, mang đậm bản sắc dân tộc được
phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ nông thôn đến thành thị. Dân ca của Lào có
11
nhiều loại như lăm, khắp, xỡng, kạp, ăn nẳng-xử… Mỗi loại lại mang sắc thái
riêng của từng miền, từng dân tộc, từng địa phương. “Lăm” sử dụng nhiều thể loại
thơ nhất được quần chúng ưa thích nhất và phổ biến trong cả nước. Văn hóa nghệ
thuật độc đáo của Lào còn thể hiện trong các điệu múa phổ biến rộng rãi, từ thành
thị đến nông thôn. Trong những ngày lễ hội lớn nhỏ ở Lào đều tổ chức vui chơi
hợp quần trong đó không thể thiếu tiết mục múa. Có điệu múa một người, hai
người hoặc tập thể vài chục người (lăm-vông). Những đêm hội, già trẻ, gái trai đều
tham gia múa ca một cách tự nhiên thoải mái. Các điệu múa của Lào thường uyển
chuyển, nhịp nhàng theo nhịp trống, động tác khá tự do, mang đậm màu sắc dân
tộc
1.3.3. Văn hóa trang phục ở Lào
Từ lâu trong mỗi bản mường, nhân dân có khả năng tự túc được các loại
chăn, vải. Khi chưa có thuốc nhuộm, người Lào dùng các loại quả rừng, củ rừng.
Các cô gái thích mặc vải hoa, vải kẻ có màu đậm, tươi tắn như màu cỏ cây hoa lá
tự nhiên trong rừng núi bao la trùng điệp của quê hương mình. Thanh niên Lào
thường cắt tóc ngắn, mặc áo cổ tròn tay ngắn, quần đùi, bên ngoài quấn chiếc khăn
gọi là “phạ-xà-rông” màu, kẻ ô vuông. Khi đi lao động ngoài ruộng rẫy, nam giới
mặc quần đùi hoặc quần dài nhuộm chàm. Văn hóa trang phục độc đáo của người
Lào còn được thể hiện trong những ngày lễ hội trang trọng, nam giới mặc y phục
dân tộc. Đó là chiếc áo sơ mi cổ tròn, khuy vải, cài về phía tay trái. Bên ngoài
chiếc quần đùi giản dị, các chàng trai Lào quấn chiếc khăn dài rộng gọi là “phạ
nhạo nếp tiêu” màu sắc sặc sỡ (rộng hơn phạ-xạ-rông, khi mặc cuốn qua háng rồi
nhét vào cạp sau).
12
Hình 1.5.Trang phục truyền thống của người Lào
1.3.4. Văn hóa tâm linh ở Lào
Đến với Lào là đến với đất nước của chùa tháp và lễ hội. Đất nước Lào xinh
đẹp cũng không ít những thắng cảnh nổi tiếng, những vùng núi hoang sơ và các
vùng quê thanh bình. Những kiến trúc cổ kính, trang nghiêm của chùa tháp có ở
khắp các bản mường trên đất nước Lào. Điển hình là ở giữa lòng thủ đô Viêng
Chăn có tháp Thatluong trang nghiêm, có chùa Sisaket, chùa Hophakeo…, ở cố đô
Luông Pha Băng có chùa Xiengthong, còn nổi tiếng ở nam Lào là Wat Phu tỉnh
Pakse. Và còn có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác…vv
Hình 1.5.Tháp Thatluong (trái) và Chùa Xiengthong (phải)
Qua hình ảnh ta thấy những ngôi chùa là sự hiện diện của Phật giáo, đó là
điều không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người Lào.
Hơn thế nữa tại nơi đây Phật giáo được coi là Quốc đạo.
Hình 1.6. Các nhà sư khất thực ngoài đường
Trên các con đường lối phố, người dân cũng có mặt từ rất sớm để đón chào,
kính lễ, cúng dương. Không chỉ người lớn mà cả nhà cùng hướng thiện, giáo dục
con cái về lòng tin đạo Phật từ rất nhỏ bằng những hành động thực tế, cả gia đình
thành kính cúng dương. Từng đoàn các nhà sư khoác tấm áo cà sa màu vàng đi
thành hàng dài để khất thực. Những việc làm hướng thiện, con người sống chan
hòa với tâm niệm từ bi hỷ xả theo lời dạy của đức Phật đã ăn sâu vào tư tưởng tiềm
thức của con người nơi đây.
Chương 2
CẢM NHẬN VỀ NỀN ĐẤT NƯỚC LÀO
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
CHDCND Lào thuộc bán đảo Đông Dương, nằm sâu trong lục địa, thuộc
2
khu vực nhiệt đới gió mùa ở Đông Nam Á, có diện tích 236.800 km , với đường
biên giới dài 4.825 km, giáp với 5 nước - phía bắc giáp với Trung Quốc có đường
biến giới dài 505 km, phía tây bắc giáp với Myanma dài 236 km, phía tây giáp
với Thái Lan dài 1.835 km, phía đông giáp với Việt Nam dài
2.069 km và phía nam giáp với Cămpuchia với đường biên giới dài 435 km. Chiều
dài từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 1.700 km, chỗ rộng nhất 500 km, chỗ hẹp nhất
140 km. Như vậy, nước Lào nằm ở trung tâm Đông Nam Á, giữa nhiều nước và
không có biển.
Lào được chia thành 4 vùng: Vùng Đông - Bắc, vùng Tây - Bắc, vùng Trung
Lào và vùng Nam Lào. Mỗi vùng có điều kiện địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết,
v.v... khác nhau. Vùng Đông Bắc, bao gồm các tỉnh Phông Xa Lỳ, Luông Pha Băng,
2
Xiêng Khoảng, Hủa Phăn, diện tích tự nhiên khoảng 66.960 km , trong đó núi
chiếm hơn 90%. Trong năm có hơn bốn tháng mùa mưa, bốn tháng mùa khô, có 2
- 3 tháng khô hạn. Đất đai phần lớn là đất núi màu nâu. Vùng Tây Bắc, gồm các
tỉnh: Luông Nặm Tha, Uđôm Xay, Bò Kẹo, Xay Nha Bu Ly. Diện tích tự nhiên 47.
2
280 km , trong đó địa hình núi chiếm 90%. Có hơn bốn tháng mùa mưa, bốn
tháng mùa khô, có 2 - 3 tháng khô hạn. Đất đai có đất núi, đất xám và đất xám bạc
màu trên phù sa cổ. Vùng Trung Lào, bao gồm các tỉnh: Thành phố Viêng Chăn,
tỉnh Viêng Chăn, Bo Ly Khăm Xay, Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt. Diện tích tự
2
nhiên 78.775 km . Có bốn tháng mùa mưa, hơn tháng mùa khô, có 3 - 4 tháng khô
2
hạn. Diện tích tự nhiên 47.000 km , trong đó núi chiếm 70%. Có bốn tháng mùa
mưa, bốn tháng mùa khô, có 3 - 4 tháng khô hạn. Các loại đất đỏ bazan và đất núi
màu nâu vàng.
Nhìn từ trên cao, Lào được xem như một thung lũng lớn, được hợp thành
bởi nhiều thung lũng nhỏ, vừa nằm kế tiếp nhau ở các phù lưu và dọc theo sông
Mê Kông. Dòng sông Mê Kông cùng hệ thống các chi lưu và phù lưu của nó đóng
vai trò như một hệ thống tuần hoàn chuyển tải và giao lưu văn hóa giữa các tộc
người từ bắc xuống nam, từ đông sang tây và ngược lại. Địa hình của Lào đa dạng
và hiểm trở do nhiều sông và núi cao ngăn cách. Miền Bắc có nhiều núi đồi trùng
điệp. Bình độ núi tương đối cao, có nhiều suối chảy dọc thung lũng, núi cao nhất ở
tỉnh Xiêng Khoảng là Phu Bía cao 2.820 m. Núi ở miền Bắc chạy theo hướng
Đông Bắc - Tây Nam, thấp dần. Nửa phía Nam Lào tiếp giáp với biên giới
2
Cămpuchia có diện tích 82.180 km , trong đó phần lớn là rừng. Bình độ ở các tỉnh
Nam Lào tương đối thấp, ít núi, có nhiều đồng bằng và thung lũng rộng.
Khí hậu của Lào có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền. Miền Bắc là vùng núi
cao, khí hậu có tính chất nửa nhiệt đới ẩm và khô. Miền Nam Lào có khí hậu nhiệt
đới gió mùa ở phía Đông và nhiệt đới ẩm khô ở phía Tây dọc sông Mê Kông. Lào
có hai mùa mưa và khô rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 4 kéo dài đến cuối
tháng 10. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến cuối tháng 3 đầu tháng 4. Giữa hai mùa
có một chu kỳ chuyển tiếp. Sự luân chuyển các mùa tạo nên nhịp điệu cuộc sống
cho các cư dân nông nghiệp.
Lào có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Nhờ có khí hậu nhiệt đới
nóng và ẩm, đất đai phần lớn là đất đồi núi, rừng tự nhiên phát triển
mạnh. Trong
rừng có nhiều loại gỗ và lâm, thổ sản quý hiếm. Hệ sinh vật gắn bó với rừng cũng
rất phong phú, đặc biệt là voi. Lào là đất nước Triệu voi và hoa Chăm Pa. Nước
Lào không có biển nhưng có nhiều sông suối, đặc biệt là sông Mê Kông là sông
lớn nhất chảy qua đất Lào dài 1.835 km, thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển.
Nhân dân Lào không chỉ làm nghề trồng trọt nương rẫy mà còn có nghề chài lưới,
có khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi của tự nhiên.
Điều kiện địa lý, khí hậu và nguồn tài nguyên thiên nhiên của Lào đã ảnh
hưởng sâu sắc đến quá trình hoạt động và sáng tạo văn hóa của các bộ tộc Lào. Sự
phát triển từ sớm của cây lúa, lúa nương, lúa nước chứng minh trình độ hiểu biết
của con người Lào từ xa xưa về nghề nông, nghề rừng, nghề thủ công mỹ nghệ.
Chính vì vậy, dù xét từ góc độ nào thì người Lào cũng được quy vào cư dân nông
nghiệp. Mặc dù từ vài thập kỷ trở đây, văn hóa nói chung, VHCT Lào nói riêng đã
có sự giao lưu với các nền văn hóa khác, nhưng văn hóa Lào vẫn còn là nền văn
hóa nông nghiệp. Cho nên, đến ngày nay, ba hằng số lớn của lịch sử dân tộc Lào là
kinh tế nông nghiệp, cư dân nông nghiệp, xã hội nông nghiệp. §ây cũng là những
chỉ số quan trọng để nhận diện con người và văn hóa Lào.
Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển văn hóa
nói chung và VHCT nói riêng của người Lào. Có thể thấy những biểu hiện của
những tác động của phương thức sống của cư dân nông thôn, nông nghiệp
(không thuần tuý là lúa nước) đối với văn hóa và VHCT là đoàn kết, cộng
đồng, hiền hòa và bao dung (chín bỏ làm mười), nhưng ít cạnh tranh, giao lưu
và phát triển. Lào là quốc gia nhỏ, nhưng diện tích
bình quân đầu người lại lớn
do dân số ít, người Lào (nhất là người Lào truyền thống) sống chủ yếu dựa vào
thiên nhiên, bằng lòng với cuộc sống có tính tự nhiên vốn có, ít có nhu cầu cạnh
tranh phát triển. Lào là quốc gia không có biển, địa hình phần lớn là đồi núi cao,
do vậy điều kiện và khả năng giao lưu văn hóa với thế giới bị hạn chế. Địa bàn
sinh sống của cư
dân có những khác biệt lớn về địa hình và các vùng tiểu khí
hậu, giao thông đi lại khó khăn nhưng các khối dân cư vẫn giữ được các mối
liên lạc, đoàn kết và gắn bó với nhau trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất
nước.
2.1.2. Điều kiện xã hội
CHDCND Lào hiện nay có dân số khoảng 6,6 triệu người (số liệu năm
2010), là quốc gia đa tộc người với 49 bộ tộc, thuộc ba khối lớn - Lào Lùm, Lào
Thơng và Lào Xủng, cùng sinh sống. Về ngôn ngữ chia thành 4 khối tiếng nói.
Khối nói tiếng dân tộc Lào Lùm - Tày có 8 bộ tộc, chiếm 55% dân số cả nước.
Khối này sinh hoạt ở đồng bằng và các sông, suối, sinh sống bằng làm ruộng là
chủ yếu, phần lớn theo đạo Phật. Khối nói tiếng dân tộc người Lào Thơng (Mon khơme), có 32 bộ tộc, chiếm 27% của dân số. Các bộ tộc khối này phần lớn dựa
vào vùng đồng bằng và miền núi, sinh sống lẫn lộn với các bộ tộc khác, làm nương
là chủ yếu và một số bộ tộc sinh sống ở đồng bằng làm ruộng thành nghề. Khối
tiếng nói Hơ Mông - Ưu Miên có 2 bộ tộc, chiếm 6,89% của dân số, phần lớn sinh
sống ở vùng miền núi phía Bắc, một số sinh sống ở miền Trung như Tỉnh Viêng
Chăn, Bô Li Khăm Xay và tỉnh Khăm Muộn, bộ tộc này làm nương và chăn nuôi
để sinh sống. Khối tiếng nói Trung - Ti Bệt có 7 bộ tộc, chiếm 11,1% của dân số cả
nước, sinh sống ở miền Bắc Lào như các tỉnh Phong Sa Lỳ, Luông Nặm Thà, Bò
Kẹo và U Đôm Xay, sinh sống bằng làm nương trồng lúa tẻ, ngô và chăn nuôi.
Các bộ tộc trong xã hội Lào trong quá trình dựng nước và giữ nước đã cùng
nhau đoàn kết xây dựng quốc gia ngày càng vững mạnh. Tuy nhiên, khác với các
nước Đông Nam Á khác, trong cơ cấu tộc người trong xã hội Lào, vai trò của tộc
người chủ thể (người Lào) thường không lớn về số lượng và chênh lệch về trình độ
phát triển xã hội. Về nguồn gốc, chủng tộc cũng như về mặt thể chế xã hội vốn
không đồng nhất. Phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng và lợi ích tộc người rất
đa dạng và phức tạp. Đây là cơ sở căn bản của một nền văn hóa chính trị đa tâm lý,
đa tính cách, nhiều khát vọng và ước mơ, nhiều xu hướng tư tưởng, nhiều mô hình
tổ chức - thực hành và cũng nhiều tài năng do nhiều tố chất tộc người hội lại.
Ở khía cạnh cơ sở xã hội, sự ảnh hưởng của các yếu tố tộc người, ngôn ngữ
đến văn hóa và VHCT là rất đáng kể. Việc không có tộc người chủ thể, không có
chênh lệch về trình độ phát triển, đa dạng về phong tục tập quán, lối sống và tín
ngưỡng nhưng không có xung đột, hơn nữa còn hội tụ được những tinh hoa từ các
tộc người trong quá trình hình thành quốc gia - dân tộc. Điều này hình thành và
củng cố truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái và bình đẳng - bình đẳng tộc
người, bình đẳng nam nữ, v.v... của người Lào trong quá trình xây dựng và bảo vệ
đất nước. Kết cấu xã hội, đời sống xã hội ổn định cũng ảnh hưởng đến kết cấu
chính trị, đời sống chính trị với cả nghĩa tích cực và hạn chế của nó, tạo ra những
kết cấu chính trị, đời sống chính trị ổn định và theo đó là những yếu tố bảo thủ, trì
trệ. Sự liên kết của các cộng đồng dân cư và giữa các cộng đồng dân cư tương đối
hài hoà, ít tồn tại kiểu văn hóa làng, co cụm và tự quản cao như ở nhiều nước
Châu Á khác.
Văn hóa nói chung và VHCT truyền thống của người Lào nói riêng, là sự kết
hợp giữa tính hiền hòa của cư dân lúa nước với tính phóng khoáng như cư dân cao
nguyên, từ đây hình thành nên những nét văn hóa mang tính chan hòa của người Lào
truyền thống. Cho đến nay, xã hội Lào cơ bản vẫn mang những đặc tính truyền thống,
gắn liền với những yếu tố huyết thống, bộ tộc, bộ lạc. Xã hội công dân hay xã hội dân
sự mới bắt đầu hình thành và còn chưa phát triển, điều này cản trở không nhỏ đến việc
hình thành và phát triển những yếu tố cơ bản của VHCT Lào - văn hóa dân chủ, văn
hóa công dân, văn hóa pháp luật, hay nói cách khác, những đặc điểm tộc người, cơ cấu
và tổ chức xã hội, nhất là các cơ sở về tính cách con người, lối sống cộng đồng của
các bộ tộc Lào đã hình thành nên các giá trị truyền thống VHCT Lào đặc sắc cho đến
tận ngày nay.
2.2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ
2.2.1. Điều kiện kinh tế
CHDCND Lào là một trong những nước nghèo và chậm phát triển nhất thế
giới. Nền kinh tế Lào là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kinh tế tự nhiên và nửa
tự nhiên là phổ biến. Trước ngày giải phóng, nhân dân Lào đã phải sống dưới ách
thống trị của bọn phong kiến Xiêm, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong những
thế kỷ các thực dân đô hộ, họ không quan tâm đến việc phát triển kinh tế, mà chỉ
khai thác những cơ sở kinh tế nhằm phục vụ ý đồ xâm lược của chúng, bắt nhân
dân Lào phải nộp nhiều thứ thuế nặng nề. Giao thông vận tải ở Lào rất kém phát
triển. "Năm 1942, toàn bộ chiều dài của màng lưới đường sá ở Lào là 3.514 km.
Tuy độ dài của đường sá có tăng, song sự liên lạc giữa các địa phương trong nước
Lào vẫn rất khó khăn, vì chất lượng đường sá quá kém, hầu hết chỉ đi lại được
trong mùa khô".
Trước đây, Lào có nhiều điều kiện thuận lợi để trồng trọt và chăn nuôi,
nhưng do chính sách "ăn xổi" của thực dân Pháp đã làm cho chúng không thể phát
triển được ngay cả những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, khi đòi phải
đầu tư vốn. Trong công nghiệp xuất khẩu thì cả phê chiếm hàng đầu, nhân dân Lào
có nhiều điều kiện sản xuất cà phê, nhưng do bị thực dân Pháp chiếm độc quyền và
nguồn lợi to lớn này. Chúng chỉ chú trọng thu được nhiều lợi nhuận, không đầu tư
nhiều vốn và công nghệ kỹ thuật, do đó sản lượng cà phê ở Lào tương đối thấp.
Ngoài cà phê, các loại cây công nghiệp khác như cao su, thuốc lá, trẩu, chè, cây
ký sinh, các loại cây có sợi, v.v... đã không được kinh doanh trên một phạm vi
đáng kể. Trong kinh tế nông nghiệp, thực dân Pháp chỉ chú trọng chăn nuôi, năm
1939, riêng đàn gia súc có sừng có đến 550.000 con. Bởi vì điều kiện phát triển
ngành này không đòi hỏi quá cao và phức tạp và nhân dân Lào đã có tập quán chăn
nuôi gia súc từ lâu đời. Nhưng, do nhà cầm quyền thiếu hướng dẫn, thiếu những
biện pháp bảo vệ, cải tiến giống nên gia súc bị chết nhiều.
Do chính sách thực dân, việc khai thác những nguồn lợi về rừng chỉ được
tiến hành ở những khu vực dễ đi lại, vì thiếu đường giao thông và phương tiện
chuyên chở. Do việc khai thác không có kế hoạch và bữa bãi, cho nên nhiều giống
quý bị cạn dần. Lào có nhiều khoáng sản như thiếc, đồng, vàng, than đá, kẽm, chì,
bô xít, Angtimoan Tungten, v.v... có lẽ cả dầu hoả nữa. Nhưng thực dân Pháp chưa
có một cuộc thăm do nào cơ bản và chịu bỏ vốn nhiều vào việc khai thác, vì cho
rằng không có lợi nhanh và nhiều. Họ chỉ chú ý khai thác mỏ thiếc Phôn Tịu và Bò
Nèng Khăm Muộn với hàm lượng cao (50%). Ngành công nghiệp chế biến cũng
vắng mặt ở Lào, mặc dù Lào có nhiều nguyên liệu quý. Một vải cơ sở có ít nhiều
tính chất nửa công nghiệp và thủ công nghiệp như: một số xưởng cưa, nhà máy
xay xát, v.v... Một vài cơ sở điện nước chỉ được xây dựng ở trung tâm hành chính,
đô thị, nhằm phục vụ bọn thống trị.
Đặc điểm kinh tế nêu trên đã hình thành nền VHCT Lào về những giá trị
VHCT Lào nói riêng - văn hoá lúa nước, khai thác rừng, tinh thần lao động cần cù,
lối sống sản xuất nhỏ, v.v... Sau ngày giải phóng (2/12/1975), Đảng NDCM Lào đã
tiến hành cải tạo XHCN, xây dựng quan hệ sản xuất mới với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp. Chính phủ Lào đã thực hiện kế hoạch khắc phục hậu quả chiến tranh
và phát triển kinh tế.
Đại hội lần thứ IX của Đảng NDCM Lào (2011) chỉ rõ: "Tiếp tục kiên trì
phát triển kinh tế làm trung tâm để đầy mạnh mở rộng lực lượng sản xuất, chuyển
kinh tế tự nhiên trở thành kinh tế hàng hóa, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" [101, tr.18].
Tư duy kinh tế mới nêu trên chính là sự thể hiện một tư duy VHCT mới của
Đảng NDCM Lào, nó đi vào đời sống kinh tế - xã hội, làm cho VHCT có bước
phát triển mới.
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới mà trước hết là thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội do các Đại hội IV,V,VI,VII,VIII và IX của Đảng NDCM
Lào đề ra, kinh tế của Lào đã có sự phát triển đáng kể, góp phần làm cho bộ mặt
của đất nước và đời sống của nhân dân các bộ tộc có phần thay đổi, cơ sở hạ tầng
và các tiềm lực kinh tế của đất nước đã được khai thác, động viên được đội ngũ trí
thức cống hiến tài năng nhằm góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, các nhà
doanh nghiệp giỏi trên từng lĩnh vực đã xuất hiện. Đây là tiền đề và điều kiện quan
trọng cho sự chuyển đổi nhận thức, tư duy kinh tế, song cũng là nền tảng cho sự
hình thành những nét VHCT mới ở cán bộ, đảng viên, các nhà doanh nghiệp.
2.2.2. Điều kiện chính trị
Từ trong lịch sử, sự phân hoá và mâu thuẫn trong xã hội Lào không lớn, đã
tạo điều kiện cho sự liên kết và đoàn kết dân tộc. Đời sống chính trị nói chung, nhà
nước nói riêng ở Lào cơ bản ở trong trạng thái ổn định dựa trên những chuẩn mực,
giá trị và niềm tin chung của các tộc người sống trên lãnh thổ Lào. Người Lào từ
trong truyền thống luôn khao khát và tôn trọng độc lập và chủ quyền cho quốc gia
dân tộc mình. Thống nhất quốc gia và đoàn kết dân tộc luôn luôn là xu hướng chủ
đạo trong tình cảm và ý thức của nhân dân các tộc người ở Lào. Sự chia cắt đất
nước, sự song tồn của nhiều loại chính quyền đều là hậu quả của các chính sách
xâm lược và thôn tính của các thế lực ngoại bang đối với đất nước và nhân dân
Lào. Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ở Lào từ trong lịch sử có sự tiếp
biến các giá trị từ bên ngoài cho phù hợp với điều kiện của Lào. Các thể chế chính
trị ở Lào là sự tồn tại hàng thế kỷ của các chế độ phong kiến quân chủ, chế độ thực
dân nửa phong kiến - hậu quả của các cuộc xâm lược từ ngoại bang hàng thập kỷ,
và ngày nay là chế độ dân chủ nhân dân - thành quả của các cuộc kháng chiến lâu
dài và gian khổ của nhân dân các tộc người Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng
NDCM Lào. Những đặc điểm chính trị nêu trên đã hình thành nên những đặc điểm
đầu tiên của nền VHCT Lào.
Dưới chế độ mới, nhất là từ khi có đường lối đổi mới của Đảng (năm 1986
đến nay), cơ cấu xã hội và tương quan lực lượng giai cấp đã và đang có những biến
đổi: Giai cấp phong kiến và tầng lớp tư sản quan liêu quân phiệt đã bị lật đổ, giai
cấp công nhân và nhân dân lao động đang tăng dần về số lượng và chất lượng ngày
càng nâng cao. Tuy nhiên số lượng công nhân còn quá ít, trình độ tay nghề còn
thấp; giai cấp nông dân đông, nhưng trình độ văn hóa và chính trị thấp, đã ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cũng như
việc nhận thức và vận dụng đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng vào cuộc
sống.
Để giải quyết được vấn đề xã hội này đòi hỏi nền kinh tế phải có nhịp độ
tăng trưởng cao. Mặt khác, đại bộ phận cán bộ đảng viên của Đảng NDCM Lào
chủ yếu xuất thân từ nông dân đã qua rèn luyện và thử thách trong phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đã giác ngộ lập
trường giai cấp công nhân trở thành người cách mạng. Phát triển xã hội ngày nay
bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, sự hoàn thiện thể chế chính trị, nâng cao văn hóa,
văn minh, quá trình hiện đại hoá đất nước nhưng phải hướng theo những giá trị
nhân văn, nghĩa là xây dựng một xã hội giàu mạnh, độc lập dân tộc nhưng phải
công bằng trong đời sống xã hội và phải thực sự văn minh. Đây là cơ sở thực tiễn
quan trọng cho sự hình thành những giá trị VHCT Lào từ trong lịch sử và trong
thời đại mới.
Sau thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước năm
1975, Đảng NDCM Lào chủ trương xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Chấm dứt
chế độ quân chủ lỗi thời, thành lập chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, chuẩn
bị tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân được thiết lập. Đảng NDCM Lào đã lựa chọn hình thức tổ chức
quyền lực nhà nước theo chế độ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân. Về cơ bản đó là một
chính thể được tổ chức theo mô hình cộng hoà nghị viện tập quyền. Với hình thức
tổ chức quyền lực nhà nước gắn với chủ thể là nhân dân, chủ quyền thuộc về nhân
dân. Quyền lực này không phân chia mà tập trung thống nhất vào Quốc hội - cơ
quan quyền lực cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Các cơ quan khác của Nhà
nước như Chính phủ và cơ quan tư pháp đều do quốc hội trao quyền và chịu sự
giám sát của Quốc hội.
Để đáp ứng yêu cầu bức xúc mà xã hội đặt ra trong quá trình xây dựng và
bảo vệ chế độ xã hội mới, Đại hội IV của Đảng NDCM Lào (1986) đ ã đ ề ra đường
lối đổi mới toàn diện và có nguyên tắc nhằm tạo động lực phát triển lực lượng sản
xuất và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Từ đó bắt đầu kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên xây dựng nước Lào Hoà bình - Độc lập - Dân chủ - Thống nhất - Thịnh
vượng. Đảng NDCM Lào đã từng bước đổi mới tư duy lý luận về con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Đảng NDCM Lào xác định: "Trước
đây chúng ta xác định giai đoạn mới của cách mạng Lào là thời kỳ quá độ trực tiếp
lên chủ nghĩa xa hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, nay trên cơ s ở tư duy mới,
giai đoạn mới của cách mạng là phải tiếp tục củng cố, phát triển và hoàn thiện nền
dân chủ nhân dân để từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội".
Đến Đại hội Đảng V của Đảng NDCM Lào (1991) những quan điểm về đổi mới
càng được thực hiện có hiểu quả. Những tư tưởng, quan điểm lý luận đó được
khẳng định rằng: "Hiện nay nhiệm vụ của cách mạng Lào là tiếp tục xây dựng và
phát triển chế độ dân chủ nhân dân, từng bước xây dựng tiền đề cần thiết để tiến
lên chủ nghĩa xã hội".
Nghị quyết các Đại hội VI, VII, VIII và IX của Đảng NDCM Lào luôn
khẳng định và đề ra những chủ trương lớn, để ra những nhiệm vụ đối nội và đối
ngoại, nhằm tiếp tục thực hiện đường lối cơ bản, xây dựng và phát triển chế độ
dân chủ nhân dân, tạo cơ sở và vị thế vững chắc tiến vào thế kỷ XXI. Đảng đã từng
bước hoàn thiện đường lối tổ chức của Đảng phù hợp với đường lối chính trị,
nhằm xây dựng Đảng NDCM Lào ngày càng vững mạnh, thực sự trở thành hạt
nhân lãnh đạo hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân. Nội dung chủ yếu
của cách mạng Lào trong giai đoạn này là tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ
dân chủ nhân dân.
Ở khía cạnh cơ sở chính trị, sự ảnh hưởng của các yếu tố chính trị đến văn
hóa nói chung và VHCT nói riêng là rất trực tiếp. Yêu nước, đoàn kết, tự tôn dân
tộc từ lâu đã trở thành truyền thống của VHCT của người Lào. Tuy nhiên, sự mới
mẻ của chế độ, nhà nước và pháp luật trong chế độ dân chủ nhân dân nên nhiều nội
dung và biểu hiện của văn hóa nói chung và CHCT mới còn đang hình thành. Sự
thống nhất và đoàn kết dân tộc là xu thế chủ đạo, sự phân hoá và mâu thuẫn xã hội
không lớn có nhu cầu và xu hướng hình thành và củng cố nhà nước quốc gia
thống nhất, đời sống chính trị - xã hội ổn định. Tuy nhiên, những điều kiện và
động lực cho cạnh tranh và phát triển trong chính trị lại không lớn.
2.3. ĐẤT NƯỚC LÀO CÓ TRUYỀN THỐNG LÂU ĐỜI, TRUYỀN THỐNG
ĐẤU TRANH CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM ANH DŨNG KIÊN CƯỜNG
Lịch sử Lào trong quá trình dựng nước và giữ nước nhiều ngàn năm qua là
quá trình lịch sử trải qua nhiều thời kỳ hưng thịnh, thời kỳ đen tối và đất nước bị
chia cắt. Hơn hai phần ba thời gian phải đương đầu với các thế lực bên ngoài luôn
tìm cách thôn tính và đồng hoá. Con người Lào, với trí tuệ và sức mạnh sáng tạo,
nhân cách và bản lĩnh đã đư ợc hình thành trong các phong trào giải phóng dân
tộc; và đến lượt mình, chúng kết tinh trong tư tưởng và sức mạnh đấu tranh cho
độc lập tự do, trong quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước. Những giá
trị và những tình cảm và tinh thần đó kết tụ thành các giá trị văn hóa truyền thống,
thành tư tưởng chủ đạo trong đường lối giữ nước và khôi phục đất nước, thành nội
dung chính trị của các nhà chính trị và các triều đại trong lịch sử dân tộc Lào. Độc
lập, tự chủ, tự lực và tự cường thực sự trở thành những giá trị VHCT đặc sắc của
truyền thống chính trị Lào.
2.3.1. Tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực và tự cường của nhân dân Lào trong
thời kỳ Vương quốc Lào Lạn Xạng (đầu thế kỷ XVI - cuối thế kỷ XVIII)
Nhân dân Lào đã trải qua bao cuộc đấu tranh sinh tử trong quá trình dựng
nước và giữ nước. Trong lịch sử nhân loại, nhân dân các bộ tộc Lào thuộc về các
dân tộc phải chịu dựng nhiều thử thách khốc liệt và hy sinh to lớn cho cuộc đấu
tranh giành độc lập, tự do. Từ đấy, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của
con người Lào đã được tôi luyện và được khẳng định một cách thuyết phục. Tổng
kết chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, có tác giả đã
khẳng định, "từ trước đến nay, nhân dân các bộ tộc Lào đều cùng sống trong tinh
thần cộng đồng, hiền hòa, thanh bình, cần cù lao động sáng tạo, yêu hòa bình, yêu
đất nước, nhưng rất dũng cảm và không chịu đầu hàng".
Nét nổi bật trong tư tưởng của người Lào là sự tự ý thức về vai trò và vị trí
của mình trước tổ tiên và cộng đồng dân tộc về độc lập và chủ quyền quốc gia. Có
thể thấy những thời kỳ lịch sử tiêu biểu như triều Chậu Phạ Ngừm từ thế kỷ XIV,
triều Xảm Xẻn Thay (1376 - 1418), triều Nạng Mạ Hả Thê Vi, triều Vi Sun Lạ Rạt
(1502 - 1520); thời kỳ kháng chiến chống Ayu Thaya và quân A Vạ (Myama), triều
vua Pho Thi Xa Rát (1520 - 1550), triều vua Xệt Tha Thi Lát (1550 - 1598); thời
kỳ toàn thịnh của Vương quốc Lào Lạn Xạng dưới triều Xu Li Nha Vông Xả Thăm
Mi Ka Lạt (thế kỷ XVII ); thời chống quân xâm lược Xiêm thế kỷ XVIII, Phục
hưng vương quốc Lào Lạn Xạng thế kỷ XIX dưới triều Chậu A Nu Vông (1804 1828); phong trào đấu tranh của nhân dân Lào chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ; và thời xây dựng và phát triển đất nước trong hòa bình và đổi mới hiện nay.
Nhìn lại lịch sử có thể thấy từ thế kỷ XIV, khi Chậu Phạ Ngừm trở về đất
Lào, nuôi chí lớn thống nhất đất nước và xây dựng chính quyền, củng cố độc lập
chủ quyền. Dưới thời Chậu Phạ Ngừm Phật giáo được du nhập và hoằng dương đã
làm cho tinh thần chính trị trong nước dịu đi, các cuộc chống đối đều lắng xuống.
Có thể nói Chậu Phạ Ngừm không chỉ là người thống nhất quốc gia mà còn là
người đã đưa Phật giáo lên địa vị quốc giáo ở Lào. Khi đạo Phật trở thành quốc
giáo của nhà nước Lạn Xạng, nó đã tạo điều kiện thống nhất về tinh thần và tư
tưởng, góp phần quan trọng vào việc củng cố nhà nước thống nhất mới ra đời. Việc
mở mang các bang giao với thế giới được thúc đẩy, Chậu Phạ Ngừm phải tiến
hành nhiều cuộc chiến tranh chinh phạt và việc xây dựng, phát triển đất nước,
nhưng nhà vua cũng vẫn chú ý tới việc đặt quan hệ đối ngoại tốt với Cămpuchia và
Đại Việt.
Sự thống nhất đất nước Lạn Xạng vào thời kỳ Chậu Phạ Ngừm là một bước
ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước Lào. Từ
đấy, Lào Lạn Xạng đã bước vào một thời kỳ tiến triển mạnh mẽ và đã viết nên
nhiều trang sử vẻ vang. Tuy vậy, nhà nước Lạn Xạng thống nhất so với các nước
phong kiến tập quyền phương đông khác thì ít tính chất tập trung hơn. Các mường
hợp thành vương quốc này vẫn giữ được khá nhiều tính độc lập của nó. Các chậu
mường vẫn duy trì được quyền thế tập của mình. Vì thế sự thống nhất chưa được
vững chắc. Những người kế nghiệp Chậu Phạ Ngừm sau này thường phải dựa vào
một trong những nhóm quý tộc này để chinh phục và trừng phạt một nhóm quý tộc