BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐOÀN THỊ MAI
RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP TRÊN PHỤ NỮ CÓ
THAI DƯỚI 24 TUẦN TẠI ĐÔNG ANH - HÀ NỘI NĂM 2014-2015
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2009 – 2015
Hà Nội – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐOÀN THỊ MAI
RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP TRÊN PHỤ NỮ CÓ
THAI DƯỚI 24 TUẦN TẠI ĐÔNG ANH - HÀ NỘI NĂM 2014-2015
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2009 – 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PHÓ GIÁO SƯ.TIẾN SĨ NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH
Hà Nội – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế công
cộng đã đào tạo em trong 6 năm học.
Em xin chân thành cám ơn các phòng ban, bộ môn và thầy cô giáo trường Đại
Học Y Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Dân số vì những
kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập vừa qua.
Em xin chân thành cám ơn cán bộ, bác sĩ Phòng công tác Chính trị
học sinh sinh viên, Phòng Đào tạo Đại học đã tạo điều kiện tốt nhất giúp em
hoàn thành khóa luận.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS. TS Nguyễn Thị Thúy
Hạnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cán bộ của dự án PAVE, cán bộ và
những người dân tại huyện Đông Anh- Hà Nội những người đã nhiệt tình hợp
tác và tạo điều kiện để việc thu thập số liệu của tôi được nhanh chóng và
thuận tiện.
Cuối cùng, em xin gửi tấm lòng biết ơn tha thiết và sâu sắc nhất tới
gia đình thân yêu cùng những người bạn đồng khóa đã luôn luôn sát cánh, ủng
hộ và khuyến khích tôi.
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Đoàn Thị Mai
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trường
Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Em là Đoàn Thị Mai, sinh viên tổ 28 lớp Y6H trường Đại học Y Hà
Nội. Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tự bản thân
em thực hiện. Các số liệu trong bản khóa luận này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác.
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Đoàn Thị Mai
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CMDs:
Common mental disorders
SRQ-20:
Self Reporting Questionnaire-20
LAMIC:
Low and Middle Income Countries
EPDS:
Edinburgh Postnatal Depression Scale
DSM-IV:
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders-IV
ICD-10:
International Classification of Diseases-10
PE/E:
Pre-eclampsia/ Eclampsia
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN .................................................................... 3
1.1 Các khái niệm và định nghĩa .......................................................... 3
1.1.1 Rối loạn tâm thần thường gặp (Common mental disorders) ..... 3
1.1.2 Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai ................ 3
1.2 Sức khỏe tâm thần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu ........ 5
13 Tình hình rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ nữ mang thai .. 7
1.3.1 Tình hình trên thế giới .................................................................. 7
1.3.2 Tình hình tại Việt Nam ................................................................. 8
1.3.3 Hậu quả của CMDs ...................................................................... 9
1.4 Các thang đo rối loạn tâm thần thường gặp .......................................11
1.4.1 Thang đo SRQ-20 ....................................................................... 11
1.4.2 Thang đo trầm cảm sau sinh (EPDS):........................................ 13
1.4.3 Thang đo International Classification of Diseases (ICD-10) và
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders- IV (DSM-IV)... 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 15
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu. .........................................................15
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu. ................................................................. 15
2.1.2 Thời gian nghiên cứu. ................................................................. 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu. ..............................................................................17
2.3 Phương pháp nghiên cứu.........................................................................18
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu..................................................................... 18
2.3.2Cỡ mẫu và cách chọn mẫu ......................................................... 18
2.3.2.1 Cỡ mẫu .................................................................................... 18
2.3.2.2 Cách chọn mẫu ....................................................................... 18
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu ...................................................... 19
2.4 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin......................................21
2.5 Quy trình thu thập số liệu........................................................................21
2.6 Sai số trong nghiên cứu ............................................................................22
2.7 Phân tích số liệu. ........................................................................................23
2.8 Đạo đức nghiên cứu. .................................................................................23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ......................................................................... 24
3.1 Thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ có thai dưới 24
tuần tuổi....................................................................................................................24
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ................................. 24
3.1.2 Tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi có rối loạn tâm thần
thường gặp ................................................................................................ 26
3.2 CMDs và các yếu tố liên quan.................................................................29
3.2.1 Mối liên quan giữa CMDs và các yếu tố cá nhân người phụ nữ 29
3.2.2 Mối liên quan giữa CMDs và sức khỏe sinh sản của người phụ
nữ............... ............................................................................................... 30
3.2.3 Mối liên quan giữa CMDs trên phụ nữ mang thai dưới 24 tuần
tuổi và yếu tố gia đình xã hội.................................................................... 31
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN .................................................................... 34
4.1 Tỷ lệ phụ nữ bị rối loạn tâm thần thường gặp ...................................34
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến CMDs ..........................................................36
4.3 Các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ
nữ mang thai ...........................................................................................................37
4.4 Hạn chế của nghiên cứu ...........................................................................40
KẾT LUẬN .............................................................................................. 41
KHUYẾN NGHỊ ..................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, BẢNG
Hình 1: Bản đồ huyện Đông Anh- Hà Nội...................................................... 16
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần có CMDs .............................. 26
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung của phụ nữ mang thai. ................................. 24
Bảng 3.2: Bảng phân bố tỷ lệ CMDs theo nhóm tuổi ..................................... 26
Bảng 3.3: Phân bố tỉ lệ CMDs theo trình độ học vấn. .................................... 27
Bảng 3.4: Phân bố tỷ lệ CMDs theo nhóm nghề nghiệp................................. 28
Bảng 3.5: Phân bố tỷ lệ CMDs theo các nhóm kinh tế ................................... 28
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa CMDs và các yếu tố cá nhân .......................... 29
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa tiền sử có sảy, lưu hoặc phá thai và tình trạng
CMDs .............................................................................................................. 30
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến người chồng và tình
trạng CMDs ..................................................................................................... 31
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa hành vi của người chồng và tình trạng CMDs 32
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tần suất cãi nhau giữa hai vợ chồng và tình
trạng CMDs ..................................................................................................... 32
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa việc sống chung với bố mẹ chồng và tình trạng
CMDs .............................................................................................................. 33
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tâm thần là một vấn đề sức khỏe khá phổ biến mang tính toàn
cầu. Trên thế giới cứ 3 người lại có một người bị mắc bệnh (có tiêu chí đầy
đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ [1]. Các rối loạn tâm thần đang
ngày càng trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển. Nguyên nhân là do
các điều kiện nghèo khổ kéo dài (thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng
công ăn, việc làm, công việc quá tải), các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã
hội, xung đột chính trị và thiên tai [2]. Theo thống kê dịch tễ học về Sức khỏe
tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới, các rối loạn (bệnh tật) liên quan đến stress
đang gia tăng rất nhanh, tỷ lệ chung trong dân số có thể từ 5% - 10% và thậm
chí ở một số nước phát triển con số này còn lên đến 15% - 20%. Cũng theo
WHO, vào năm 2010, các rối loạn tâm thần chiếm 15% tổng số gánh nặng
bệnh tật của xã hội.
Sức khỏe tâm thần ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn
cầu. Kết quả điều tra quốc gia năm 1999-2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm
thần phổ biến là 15%. Một số nghiên cứu gần đây vào năm 2014 ở quy mô
nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần khoảng 20-30% [3].
Các rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu
trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ
thống chăm sóc sức khỏe ban đầu [4]. Mang thai và sinh con được chứng
minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và nặng thêm các rối loạn tâm thần.
Stress khi mang thai xảy ra ở rất nhiều phụ nữ [5]. Tâm trạng thay đổi khi
mang thai có thể được gây ra bởi căng thẳng, mệt mỏi, thay đổi trong trao đổi
chất của cơ thể hoặc bởi các hormone estrogen và progesterone. Mặt khác,
còn do mối quan hệ của người phụ nữ trong xã hội, mối quan hệ với chồng
và các căng thẳng trong cuộc sống gia đình hàng ngày [6].
2
Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỷ lệ các rối loạn tâm thần
thường gặp trên phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ
10% đến 41,2% [7].
Tại Việt Nam một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12
đến 20 tuần, sử dụng thang đo trầm cảm sau sinh EPDS cho kết quả có 40%
phụ nữ mang thai ở đầu thai kì và 28% phụ nữ mang thai ở cuối thai kì có các
rối loạn tâm thần thường gặp[8].
Rối loạn tâm thần thường gặp được coi là nghiêm trọng đối với phụ nữ
mang thai vì nó không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn
gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh. Sự xuất hiện của rối loạn
tâm thần thường gặp (CMDs) trong khi mang thai là một yếu tố dự báo trầm
cảm sau sinh. Đứa trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng phát
triển kém hơn so với trẻ sơ sinh của các bà mẹ không bị trầm cảm.
Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về rối loạn tâm
thần thường gặp trên phụ nữ, đặc biệt là đối với phụ nữ có thai và những yếu
tố ảnh hưởng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Rối loạn tâm thần thường
gặp trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm
2014-2015 và các yếu tố liên quan” với những mục tiêu chính sau:
1. Mô tả thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp đo bằng thang SRQ-20
trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm
2014-2015.
2. Mô tả một số yếu tố về bản thân người phụ nữ, hành vi của chồng và
cuộc sống gia đình liên quan đến rối loạn tâm thần thường gặp của phụ
nữ.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1Các khái niệm và định nghĩa
1.1.1 Rối loạn tâm thần thường gặp (Common mental disorders)
Rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu,
trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ
thống chăm sóc sức khỏe ban đầu [4]. CMDs hiện đang là nguyên nhân hàng
đầu về sức khỏe tâm lí trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [9]. Nghiên cứu trên
nhiều quần thể sinh học luôn cho thấy rằng nghèo đói và không được chăm
sóc làm tăng nguy cơ gặp những rối loan này [10].
Rối loạn này có triệu chứng như là: mệt mỏi, chứng mất ngủ, tính hay
quên, khó tập trung, tính dễ kích thích và rối loạn bản thể [4].
Rối loạn tâm thần thường gặp (CMDs) phổ biến hơn ở phụ nữ, một phần
là do sự chênh lệch về giới trong tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như nghèo
đói, bệnh tật và bạo lực gia đình [11].
1.1.2 Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai
CMDs trong thời kì mang thai là rối loạn trầm cảm và lo âu được phân
loại trong ICD-10 là “loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress chất về tinh
thần” và “rối loạn tâm trạng” [10][12].
Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện
và nặng thêm các rối loạn tâm thần [5]. CMDs đã được nghiên cứu cả trong
dân số nói chung và trong phụ nữ có thai so với phụ nữ không mang thai.
Trong thời gian mang thai, CMDs đã được coi là một yếu tố dự báo khả năng
các kết quả của sản khoa và trẻ sơ sinh [13][14].
4
Thay đổi về sinh lý trong quá trình mang thai tác động đến tâm lí của
người phụ nữ. Các chuyên gia tìm thấy mối quan hệ giữa hàm lượng hormone
và chất dẫn truyền thần kinh của não (đặc biệt là serotonin- một chất hóa học
điều khiển tâm trạng) gây nên xáo trộn trong tâm sinh lý ở phụ nữ mang thai.
Khi phụ nữ mang thai, cơ thể có những thay đổi toàn diện, do những biến đổi
trong trao đổi chất của cơ thể hoặc bởi các hoormone estrogen và
progesterone. Sự thay đổi hàm lượng hoormone có ảnh hưởng đến hệ thần
kinh, trong đó có các chất tác động “điều chỉnh” tâm trạng. Cảm giác mệt
mỏi, căng thẳng, cáu gắt hay lo lắng đều xuất phát từ căn nguyên này. Phụ nữ
khi mang thai đều ít nhiều có những thay đổi, tùy thuộc vào cơ địa, thể chất
và điều kiện sống của mỗi người. Nhìn chung, những bất ổn trong tâm lý của
bà bầu suốt thai kỳ là điều khó tránh do chịu sự chi phối của những thay đổi
hormone bên trong cơ thể.
Sự thay đổi hàm lượng các hóc môn trong thai kì dẫn đến sự thay đổi cảm
xúc của người phụ nữ [15]. Quá trình mang thai xảy ra sự thay đổi của 6
hormone chính sau đây:
Human Chorionic Gonadotropin(HCG): không có nghiên cứu nào
chắc chắn khẳng định những gì là nguyên nhân gây ra ốm nghén,
nhưng nhiều bác sĩ cho rằng nó có liên quan đến mức độ tăng HCG.
Phụ nữ có hàm lượng HCG cao thường bị buồn nôn và nôn nhiều
hơn.
Progesterone: làm giãn cơ trơn, mạch máu gây nên huyết áp thấp
hơn bình thường và đôi khi chóng mặt.Sự tăng lượng Progesterone
khiến não bộ chùng xuống và khiến cho sản phụ dễ rơi vào trạng
thái buồn ngủ trong suốt thời kì mang thai.
5
Estrogen: nổi tĩnh mạch dưới da, buồn nôn, tăng sư thèm ăn và một
số thay đổi về da.
Oxytocin: tác dụng giảm căng thẳng và lo lắng.
Prolactin: có tác dụng an thần.
Relaxin: làm giãn dây chằng, khiến bạn đau mỏi và hạn chế vận
động các khớp gối, hông và mắt cá chân.
1.2 Sức khỏe tâm thần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu
WHO xác định 7 lý do để đưa sức khỏe tâm thần vào cơ cấu chăm sóc ban
đầu:
Gánh nặng của các rối loạn tâm thần rất lớn với các nhân những người
bị ảnh hưởng và gia đình của họ và tạo ra những khó khăn kinh tế- xã
hội nặng nề có ảnh hưởng đến toàn xã hội.
Có một khoảng cách đáng kể giữa tỷ lệ rối loạn tâm thần và số lượng
người được điều trị.
Các vấn đề sức khỏe tâm thần và thể chất được liên kết với nhau, tổng
hợp các dịch vụ chăm sóc khẳng định những người được cung cấp cần
được đối xử công bằng.
Khi sức khỏe tâm thần lồng ghép với chăm sóc sức khỏe ban đầu, mọi
người có thể nhận được các dịch vụ sức khỏe tâm thần gần vùng lân
cận, làm nâng cao sức khỏe tâm thần và tiếp cận cộng đồng.
Chăm sóc ban đầu cho sức khỏe tâm thần sẽ ít tốn kém cho bệnh nhân,
cộng đồng và chính phủ.
Chăm sóc sức khỏe ban đầu về sức khỏe tâm thần làm tăng thêm sự tôn
trọng các quyền con người.
Đưa sức khỏe tâm thần vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể
mang lại kết quả tốt đẹp hơn trong chẩn đoán rối loạn tâm thần cho kết
6
quả cải thiện tình trạng sức khỏe sau cùng của bệnh nhân chỉ khi tìm ra
các chăm sóc thích hợp đi theo sau, tăng cường giới thiệu đến các
chuyên gia chăm sóc sức khỏe hành vi với sự hỗ trợ bổ sung có thể dẫn
đến nâng cao tối đa kết quả , truyền đạt cho các bác sĩ, chăm sóc cần
được sắp xếp hợp lý trên cơ sở phương pháp tiếp cận dựa trên bằng
chứng. nhu cầu cấp bách phải đảm bảo những nguyên tắc và biện pháp
liên quan đến phác đồ điều trị nên được cung cấp cho các bác sỹ đa
khoa và nhân viên chăm sóc ban đầu, tiếp theo điều trị ban đầu của
nhân viên chăm sóc ban đầu, nên giới thiệu các rối loạn sức khỏe tâm
thần phức tạp đến bác sĩ tâm thần và chuyên gia tâm lý học chuyên
sâu.
Khuyến cáo của WHO là nguyên tắc lồng ghép sức khỏe tâm thần trong
chăm sóc ban đầu như kế hoạch và chính sách phải được điều chỉnh để thực
hiện chăm sóc ban đầu cho sức khỏe tâm thần; những thay đổi phải có chủ
trương đúng; đào tạo đầy đủ cần được phổ biến bên cạnh phân bố nhiệm vụ;
nhạy cảm ở các cấp độ khác nhau là điều cần thiết; hợp tác giữa chính phủ và
các tổ chức phi chính phủ là cần thiết để làm việc trong hệ thống chăm sóc
sức khỏe ban đầu; cần phải dành riêng đầy đủ các nguồn lực tài chính và nhân
lực để đảm bảo sự sẵn có của dịch vụ cho số lượng tối đa của khách hàng [2].
Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong lính vực sức khỏe
tâm thần. Chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình ưu tiên hàng đầu) về
sức khỏe tâm thần được hình thành năm 1999. Chương trình đã tập trung vào
xây dựng “mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng” đến nay
mô hình đã bao phủ trên toàn 64 tỉnh thành với gần 40% xã/phường của Việt
Nam. Nhờ có mô hình này những người bị tâm thần phân liệt và động kinh đã
được quản lý tại cộng đồng và sự miệt thị được giảm bớt. Điều này đóng góp
phần rất lớn trong việc giảm đau khổ và vất vả cho cho cả bệnh nhân và gia
7
đình họ. Tuy nhiên mô hình này vẫn còn thiếu sót. Các bệnh tâm thần khácđặc biệt là trầm cảm- chưa được quản lý trong mô hình. Điều này có nghĩa là
những người mắc những bệnh này không nhận được sự chăm sóc và điều trị
đầy đủ tại cộng đồng thậm chí tại các cơ sở y tế. Hơn nữa, khái niệm rối loạn
tâm thần- tình trạng ban đầu của bệnh tâm thần chưa được nhận thức đầy đủ.
Kết quả là các vấn đề về sức khỏe tâm thần chỉ được xem như là các vấn đề
của ngành y tế và chương trình sức khỏe tâm thần hiện nay có xu hướng chú
trọng vào khía cạnh lâm sàng hơn là phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh phát
sinh với sự tham gia của các ban ngành khác và toàn xã hội [3].
1.3 Tình hình rối loạn tâm thần thường gặp đối với phụ nữ mang thai
1.3.1 Tình hình trên thế giới
Một nghiên cứu tổng quan được thực hiện bằng cách tìm kiếm trên
PubMed/MEDILINE, LILACS, và cơ sở dữ liệu SciELO tìm các nghiên cứu
có liên quan bằng văn bản tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha,
không giới hạn năm xuất bản và chỉ sử dụng các nghiên cứu liên quan đến
con người. Kết quả tổng cộng có 25 bài viết được lựa chọn. Có một sự đồng
thuận giữa các nghiên cứu rằng tỷ lệ trung bình của CMDs trong khi mang
thai là 20%. Tuy nhiên trong khi rà soát tất cả các văn bản trên hệ thống, kết
quả thu được là tỷ lệ CMDs trong khi mang thai có tần số thay đổi từ 12 đến
43%. Cả ở trong các nước có thu nhập thấp và trung bình (LAMIC) và các
nước có thu nhập cao [14].
Các rối loạn tâm thần thường gặp (lo âu, trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể)
phổ biến ở những phụ nữ sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình,
người đang mang thai hoặc mới sinh con. Một tổng quan và phân tích hệ
thống kết luận rằng trung bình ở các nước này , 16% phụ nữ mang thai và
20% phụ nữ chăm sóc trẻ sơ sinh có triệu chứng đáng kể của một rối loạn
8
tâm thần, và tỷ lệ này cao hơn nhiều ở các phụ nữ không có điều kiện tiếp cận
với các dịch vụ y tế và an sinh xã hội [16].
Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỉ lệ các rối loạn tâm thần
thường gặp ở phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10%
đến 41.2% [7]. Tại Brazil, nghiên cứu sử dụng SRQ-20 để đánh giá với điểm
cắt là 7/8 cho kết quả là tỷ lệ nhiễm CMDs trong phụ nữ mang thai ở vùng có
sự phát triển kinh tế xã hội thấp là 20,2% [17].
Một nghiên cứu trên phụ nữ có thai tại Jimma Zone phía tây nam
Ethopia (châu Phi); sử dụng SRQ-20 để đánh giá đã cho kết quả tỷ lệ phụ
nữ mang thai có CMDs là 22,4% [18].
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành với 1120 phụ nữ mang thai ở
độ tuổi 18-49 tuổi, tại bang Pernambuco ở Đông Bắc Brazil, vùng có tỷ
lệ cao các gia đình có thu nhập thấp. CMDs được đánh giá bằng cách sử
dụng SRQ-20 cho kết quả tỷ lệ phụ nữ có CMDs trong khi mang thai là
33,8% [19].
Nghiên cứu khác tiến hành ở vùng thủ đô của Ethopia, 753 phụ nữ
mang thai đã được đưa vào nghiên cứu. Kết quả là tỷ lệ có CMDs (SRQ20 score> 6) đã được tìm thấy là 26,2% (95% CI 23,04 -29,36) [20].
1.3.2 Tình hình tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện đã có một số nghiên cứu về rối loạn tâm thần thường
gặp trên phụ nữ mang thai, nhưng chưa có nghiên cứu nào sử dụng thang đo
SRQ-20 để đánh giá.
Một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12 đến 20 tuần ở
địa bàn tỉnh Hà Nam. Sử dụng EPDS với điểm cắt >=4 cho kết quả: CMDs
trên phụ nữ có thai ở đầu thai kì là 40% và cuối thai kỳ là 28% [8].
9
Một nghiên cứu khác ở vùng nông thôn Việt Nam về CMDs sử dụng thang
đo EPDS cho kết quả: Tỷ lệ CMDs đầu thai kì là 22,4%, cuối thai kì là 10,7%
và cả 2 đợt đánh giá là 17,4%. CMDs là phổ biến ở các vùng nông thôn Việt
Nam, yếu tố nguy cơ tâm lí xã hội đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề
sức khỏe cộng đồng [21].
1.3.3 Hậu quả của CMDs
Hậu quả trên bà mẹ
Trầm cảm, lo lắng và stress trong khi mang thai có thể gây ra tiền sản
giật/sản giật (PE/E) [22]. Trầm cảm và lo lắng trong đầu thai kỳ có nguy căng
làm tăng PE/E cao lên từ 2,5 đến 3,2 lần [23]. Tiền sản giật là một biến chứng
đa hệ xảy ra từ sau tuần thứ 20 của thai kỳ và gây ra tỷ tệ đáng kể mắc bệnh
và tử vong trên cả bà mẹ và thai nhi. Nghiên cứu bệnh chứng tiến hành tại
quận Sukohajo cho kết quả có sự liên quan đáng với tỷ lệ PE/E là: CMDs
(dương tính) (P<0,01; OR=6,11; 95%CI: 2,99-14,07) [9].
Sự xuất hiện của CMDs trong khi mang thai là một yêu tố dự báo trầm
cảm sau sinh [24][25]. Trong một nghiên cứu nhắm tìm hiểu mối liên quan
giữa trầm cảm trong khi mang thai và trầm cảm sau sinh được thực hiên tại
brazil sử dụng SRQ-20 để đánh giá trầm cảm, được phát triển cho tầm soát rối
loạn tâm thần thường gặp. Kết quả tỷ lệ có triệu chứng trầm cảm sau sinh là
31,2%. Trong số đó có gần 50% đã có triệu chứng trầm cảm trong lúc mang
thai. Những phụ nữ có triệu chứng trầm cảm trước sinh có khản năng gặp
trầm cảm sau sinh gấp 2,4 lần so vs những phụ nữ không có như vậy [25].
Hậu quả trên trẻ sơ sinh
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra mối liên quan giữa
CMDs khi mang thai và ảnh hưởng trên trẻ sơ sinh. CMDs được nhiều
10
người nghiên cứu cho rằng đó là dự đoán sự thay đổi quá trình sơ sinh và
sự phát triển của đứa bé [26].
Nghiên cứu tiến hành tại Pháp với 634 phụ nữ mang thai đã kết luận
rằng các triệu chứng lo lắng, trầm cảm kết hợp với các yếu tố sinh học cụ
thể có liên quan với sinh non tự phát [27]. Tại Brazil, một nghiên cứu theo
chiều dọc tiến hành tại thành phố Jundiai, bang São Paulo, tìm thấy mối
liên quan giữa sự căng thẳng trong quá trình mang thai và các biến nhẹ cân
và sinh non. Trong một nghiên cứu thuần tập lớn thực hiện ở nước Anh để
điều tra mối liên hệ giữa trầm cảm và lo âu trong khi mang thai và sinh
thiếu cân thấy rằng sự kết hợp với yếu tố trầm cảm là yếu hơn sau khi điều
chỉnh yếu tố gây nhiễu [28].
Trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng kém hơn so với trẻ
sơ sinh của các bà mẹ không bị trầm cảm. Về trọng lượng, trẻ em ở nhóm
bà mẹ trầm cảm có nguy cơ bị nhẹ cân cao gấp hơn 3 lần ở tháng thứ 3 với
OR=3,41 (95%CI: 1,30- 8,52) và cao gấp hơn 4 lần ở tháng thứ 6 với
OR=4,21 (95%CI: 1,36- 13,20) so với nhóm phụ nữ không bị trầm cảm.
Khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Về chiều dài, trẻ em ở nhóm bà mẹ
trầm cảm có nguy cơ bị thấp hơn gấp hơn 3 lần ở cả tháng thứ 3
(OR=3,28; 95%CI: 1,03- 10,47) và tháng thứ 6 (OR=3,34; 95%CI: 1,189,52) so với nhóm phụ nữ không bị trầm cảm. Bà mẹ bị trầm cảm có nhiều
khả năng cho bé ngừng bú sớm và con của họ có khả năng mắc phải tiêu
chảy và các bệnh truyền nhiễm khác cao hơn [29].
CMDs trên phụ nữ có thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhận thức
của trẻ con tại thời điểm 6 tháng tuổi, nếu không được giải quyết thì trạng
có thể kéo dài thêm [30].
Hậu quả về mặt kinh tế
11
Phụ nữ có rối loạn tâm thần trong thời kì chu sinh (những rối loạn xảy
ra trong khi mang thai cho đến 1 năm sau sinh) đã giảm khả năng tham gia
vào các hoạt động kinh tế xã hội và ít có khả năng tuân thủ các khuyến cáo
chăm sóc y tế [31][32].
1.4 Các thang đo rối loạn tâm thần thường gặp
1.4.1 Thang đo SRQ-20
SRQ-20 là một thang điểm đánh giá triệu chứng lo âu và trầm cảm về thể
chất và tinh thần, được phát triển bởi tổ chức y tế thế giới (WHO). Thang đo
SRQ-20 được thiết kế như một dụng cụ để kiểm tra sự rối loạn tâm thần , nhất
là ở các nước đang phát triển. SRQ-20 gồm 20 câu hỏi, 16 câu triệu chứng cơ
năng và 4 câu hỏi về triệu chứng thực thể, được trả lời bằng có hoặc không.
Thang đo này thường được sử dụng như bộ câu hỏi tự trả lời. Ngoài ra những
câu hỏi bổ sung khác nhau đã được sử dụng kết hợp với SRQ-20 để kiểm tra
cho sự rối loạn tâm thần và tình trạng lạm dụng thuốc [33].
SRQ-20 đã được dùng để đánh giá CMDs cho nhiều đối tượng:
Nghiên cứu điều kiện làm việc và các rối loạn tâm thần thường gặp
của các bác sĩ ở Brazi cho thấy tỉ lệ các bác sĩ có CMDs là 24%
[34].
• Một cuộc khảo sát ở đại học Pernambuco-Brazil (UPE) giữa các
sinh viên của một số các khóa học chăm sóc sức khỏe cho thấy một
tỉ lệ chung sinh viên có CMDs là 34,1% [35].
• Nghiên cứu thực hiện ở Campinas, Brazil sử dụng SRQ-20 cho thấy
tỉ lệ CMDs trong dân cư đô thị là 17% [36].
Nghiên cứu CMDs và các yếu tố liên quan ở phụ nữ với trẻ sơ sinh
ở nông thôn Malawi đã chứng minh rằng CMDs là một gánh nặng
sức khỏe đáng kể ở những phụ nữ trẻ ở nông thôn Malawi, và được
12
kết hợp với đói nghèo, mối quan hệ khó khăn, nhiễm HIV và các
vấn đề sức khỏe trẻ sơ sinh [37].
Nghiên cứu CMDs và bạo lực do chồng trong thai kì được tiến
hành tại Y tế huyện II của thành phố Recife, Đông Bắc Brazil, nơi
đây các gia đình có thu nhấp thấp chiếm tỉ lệ cao [19].
Bảng câu hỏi tự đánh giá: phụ lục 1.
Đánh giá các vấn đề sức khỏe gặp trong 4 tuần gần nhất. Mỗi câu trả lời
có tính 1 điểm, trả lời không tính 0 điểm. Rà soát trên toàn cầu nói chung cho
thấy ở mỗi nghiên cứu được đề nghị điểm cắt riêng. Số điểm sử dụng sẽ phụ
thuộc và ngôn ngữ, phương pháp nghiên cứu, đặc điểm của quần thể nghiên
cứu cũng như mục đích của nghiên cứu (ví dụ: Độ nhạy cảm cao, tính đặc
hiệu cao hoặc giá trị dự báo tối ưu…) [33].
SRQ-20 được giới thiệu bởi Harding vào năm 1980, để sàng lọc các rối
loạn tâm thần nhẹ và được xác nhận tại Brazil bởi Mari. Nghiên cứu cho thấy
SRQ-20 đáp ứng các chỉ số trong nghiên cứu với độ nhạy 85% và độ đặc hiệu
80%. Điểm số cao hơn hoặc bằng 6 cho nam giới và cao hơn hoặc bằng 8 cho
nữ giới được coi là có CMDs [38].
Nghiên cứu tại Rwanda cho thấy SRQ-20 có thể được sử dụng như một
công cụ để sàng lọc rối loạn tâm thần trong cộng đồng. Độ tin cậy của các
SRQ-20 ở phụ nữ là 85% và ở nam giới là 80%. Cắt điểm (cut-off) cần phải
được điều chỉnh. Phụ nữ và nam giới có điểm cắt tối ưu khác nhau.Đối với
nam giới điểm cắt tối ưu là 8 điểm và đối với nữ giới là 10 điểm [39].
Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về SRQ-20. Năm
2004, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu: Tính giá trị và độ tin cậy của SQR20 tại Việt Nam. Kết quả điểm cắt của SRQ-20 tại Việt Nam được khuyến
khích sử dụng là cut-off 7/8, để xác định các trường hợp có CMDs với độ
13
nhạy 73% và độ đặc hiệu 82%. Nghiên cứu này xác định SRQ-20 thích hợp
dùng để xác định tình trang rối loạn tâm thần dùng trong cộng đồng tại Việt
Nam [40].
Trong một nghiên cứu khác, sử dụng SRQ-20 để xác định tình trạng
CMDs ở một vùng nông thôn Việt Nam vào năm 2006, các tác giả đã khẳng
định SRQ-20 là công cụ phù hợp để đánh giá tình trạng CMDs. Công cụ này
thích hợp sử dụng cho các nước đang phát triển nhưng điểm cắt tối ưu được
xác định theo đặc điểm của từng khu vực. Trong nghiên cứu tại cộng đồng,
điểm cắt tối ưu là 6/7 với độ nhạy là 85% và độ đặc hiệu là 61% [41].
Trong nghiên cứu này, xét về đặc điểm địa phương và đối tượng nghiên
cứu, chúng tôi sử dụng điểm cắt là 7/8 để xác định tình trạng CMDs.
1.4.2 Thang đo trầm cảm sau sinh (EPDS):
Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) là một thang điểm đánh giá
trầm cảm chu sinh. Các EPDS chỉ là công cụ sàng lọc. Nó không dùng để
chẩn đoán trầm cảm- việc được xác nhận bởi bác sĩ chuyên khoa. Được thiết
kế đặc biệt cho phụ nữ mang thai hoặc mới sinh con và nó cũng được chứng
minh là biện pháp hiệu quả khi đánh giá chứng trầm cảm nói chung trong
cộng đồng.
EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu có 4 phương án trả lời, mỗi câu trả lời
được tính điểm 0 1 2 3 tăng theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.
Đánh giá trong 7 ngày trước phỏng vấn. Nghiên cứu đã xác nhận sử dụng
điểm cắt khác nhau trong các đối tượng phụ nữ khác nhau. Cut-off (điểm cắt)
điểm dao động từ 9 đến 13 điểm. Vì vậy để sai lầm về mặt an toàn , khi đạt 9
điểm trở lên hoặc có bất kì ý tưởng tự sát (điểm 1 hoặc cao hơn ở câu hỏi số
10) cần lập tức được theo đõi đánh giá trầm cảm, ngay cả khi điểm nhỏ hơn 9,
14
nếu các bác sĩ cảm thấy đối tượng có nguy cơ trầm cảm thì cũng cần giới
thiệu một biện pháp chăm sóc theo dõi cụ thể.
1.4.3
Thang đo International Classification of Diseases (ICD-10) và
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders- IV (DSM-IV)
Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng hai phương tiện để chẩn đoán trầm
cảm là Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 và DSM-IV (1994) của Hội tâm
thần Mỹ. Về cơ bản ICD-10 và DSM-IV là thống nhất với nhau (Nguyễn
Việt,1995) nên chúng ta có thể sử dụng kết hợp cả hai.
Chẩn đoán theo Bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10)
Dựa vào sự phán đoán lâm sàng, trên cơ sở số lượng, loại, mức độ trầm
trọng của triệu chứng hiện có ICD-10 đã chỉ ra và phân biệt giữa các giai
đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng.
Các triệu chứng điển hình:
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm thích thú
- Giảm năng lương, giảm hoạt động, tăng mệt mỏi
Các triệu chứng phổ biến khác:
- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Có những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan
- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn mất ngon
15
Các triệu chứng sinh học: sút cân, rối loạn giấc ngủ, táo bón, mất ngon
miệng, giảm dục năng, dao động khí sắc trong ngày, nhiều phụ nữ có rối loạn
kinh nguyệt.
Thang đo DSM-IV
Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về giai đoạn trầm cảm chủ yếu yêu cầu
sự hiện diện của 5 trong số các triệu chứng sau đây và kéo dài ít nhất hai tuần.
Tối thiểu 01 trong 05 triệu chứng này phải là khí sắc trầm nhược hoặc là mất
hứng thú hay sự hài lòng.
- Khí sắc trầm buồn hầu như cả ngày và gần như tất cả các ngày.
- Mất mọi quan tâm hứng thú trong các hoạt động thường ngày.
- Khó khăn trong việc ngủ (mất ngủ, không ngủ sâu, không trở lại được giấc
ngủ sau khi bị thức giấc, ngủ nhiều).
- Thay đổi trong cường độ hoạt động, chậm chạp, hoặc dễ bị kích động.
- Mất cảm giác thèm ăn và sút cân, hoặc tăng cảm giác thèm ăn, tăng cân.
- Mất năng lượng, mệt mỏi rõ.
- Tự nhận thức phủ định, tự trách mình và tự buộc tội, cảm giác vô giá trị và
tội lỗi.
- Những lời phàn nàn hoặc có bằng chứng khó khăn trong việc tập trung chú
ý, tư duy chậm chạp và không thể tự quyết định được mọi việc.
- Suy nghĩ luẩn quẩn về cái chết hay tự tử.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu.
16
Hình 1: Bản đồ huyện Đông Anh- Hà Nội
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông Anh, một huyện ngoại thành
Hà Nội. Nó nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và nằm trong
vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được
Chính phủ và Thành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng nối Thủ
đô Hà Nội với các Tỉnh phía Bắc.
Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó: đất nông nghiệp 9.785
ha. Huyện có 23 xã, 1 thị trấn, 156 thôn, làng và 62 tổ dân phố. Đến nay
huyện có 85 làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố. Dân
số trên 331.000 người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11%. Thu nhập chính
của người dân từ nông nghiệp (80%).
17
Có 33,3km đường sông (sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lô) và 21km
sông nội huyện (sông Thiếp).
Có 33km đường sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội đi Lào Cai, Hà Nội –
Thái Nguyên và có đường QL3, quốc lộ Thăng Long – Nội Bài, QL23.
Về công nghiệp Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: khu công nghiệp
Đông Anh và khu công nghiệp Thăng Long. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn
có một số làng nghề truyền thống đang được đầu tư và phát triển mạnh tại các
xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú… Đóng trên địa bàn huyện có trên 700 công ty
TNHH, 355 công ty cổ phần, 105 doanh nghiệp tư nhân, gần 30 công ty nhà
nước một thành viên và trên 13000 hộ kinh doanh cá thể.
Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp (80%).
Huyện Đông Anh có hai bệnh viện là bệnh viện Bắc Thăng Long và bệnh
viện đa khoa Đông Anh. Đa số phụ nữ đến hai bệnh viện để khám thai và sinh
con tại hai bệnh viện này. Theo thống kê từ hai bệnh viện năm 2012, có
11600 phụ nữ mang thai có chăm sóc tiền sản và sinh con tại đây.
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đông Anh dưới sự giúp đỡ của Dự
án PAVE.
2.1.2 Thời gian nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh
Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ mang thai dưới 24 tuần tại huyện Đông
Anh được lấy từ danh sách quản lý thai nghén của các trạm y tế xã của huyện
Đông Anh.