Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Vấn đề xung đột tôn giáo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.27 KB, 17 trang )

ĐỀ BÀI : Vấn đề xung đột tôn giáo trên thế giới hiện nay. Áp dụng
tại Việt Nam.

Lời mở đầu
Hiện nay, tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện “ hiện tượng tôn giáo mới”. Đây là kết
quả của hai quá trình: quá trình phân liệt, chia tách từ một tôn giáo ra thành các tôn
giáo, hệ phái khác nhau về giáo lý, sự tu trì, và quá trình hòa hợp liên kết, đại kết
các tôn giáo cùng hướng tới những mục tiêu nhất định. Trong quá trình thay đổi đó
thì tôn giáo không thể tránh khỏi những xung đột cụ thể. Để làm rõ được vấn đề
này, em xin được trình bày đề tài : “Vấn đề xung đột tôn giáo trên thế giới hiện
nay. Áp dụng tại Việt Nam.”
I.

Xung đột tôn giáo trên thế giới

Tôn giáo, theo nghĩa rộng là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội
gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sung bái những lực lượng siêu tự
nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người.
“Tôn giáo là sự tin tưởng và sùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu
xuất hiện từ cuối công xã nguyên thủy, lúc đầu có hình thức sơ khai, gọi là tôn giáo
nguyên thủy, sùng bái tự nhiên như bái vật giáo, thờ thần lửa, sinh thực khí, sau đó
phát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế.
Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý
thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên mà
sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào
trong đầu óc của con người.


Tôn giáo bao gồm toàn bộ quan niệm, ý thức, tình cảm, hành vi, hoạt động,
tổ chức tôn giáo. Nó đồng nghĩa với đạo, để chỉ các tổ chức tôn giáo như đạo Phật,
đạo Kitô, đạo Cao Đài… Theo đó, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã


hội mà còn là một thiết chế xã hội, một lực lượng xã hội có tổ chức.
Khái niệm xung đột tôn giáo:
“Xung đột” (conflict), theo nghĩa chung nhất của từ này, được hiểu như quan
hệ không tương thích giữa các yếu tố trong một hệ thống, dẫn đến sự vận hành trục
trặc hoặc sự sụp đổ của hệ thống. Theo nghĩa đó, thuật ngữ “xung đột” đã được sử
dụng trong không chỉ các ngành khoa học xã hội, mà còn cả tự nhiên nữa.
Trong xã hội học, người ta đề cập đến xung đột thế hệ, xung đột gia đình,
xung đột giới... Trong luật học, thuật ngữ “xung đột pháp lý” dùng để chỉ tính
không đồng bộ, nhất quán trong một hệ thống luật pháp; hoặc sự vênh lệch các
chuẩn mực pháp lý giữa nước này với nước khác...Với cách dùng như vậy, có thể
thấy, “xung đột” không phải là khái niệm phản ánh bản chất của sự kiện mà chỉ
thâu tóm “vẻ bề ngoài”, tức là quan hệ “không tương hợp” của các chủ thể khi
cùng tham dự vào một hệ thống xác định. Thật khó để phân biệt rạch ròi khái niệm
“xung đột” với “tranh chấp”, “đụng độ”, “va chạm” và “mâu thuẫn”. Trong từng
văn cảnh cụ thể, những khái niệm đó vẫn được các tài liệu dùng theo cách là hoán
đổi lẫn nhau. Do đó hiểu một cách ngắn gọn thì xung đột tôn giáo là sự va chạm,
tranh chấp, đụng độ về giá trị tôn giáo giữa các cộng đồng tôn giáo.
2. Những nguyên nhân dẫn đến xung đột tôn giáo
Xung đột về tôn giáo là một vấn đề nhức nhối của toàn nhân loại. Trong lịch
sử, nhiều cuộc xung đột tôn giáo đã để lại những hậu quả rất nặng nề, thậm chí gây
ra những cuộc chiến tranh với danh nghĩa bảo vệ sự tôn nghiêm của tôn giáo.
Nhiều cuộc xung đột tôn giáo vẫn đang tiếp tục xảy ra tại nhiều khu vực trên thế


giới. Có thể khái quát một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến các cuộc xung đột tôn
giáo như sau:

Thứ nhất, nguyên nhân kinh tế.
Những cuộc xung đột đều có xuất phát từ những tầng lớp người dân nghèo
đói, khó khăn về kinh tế. Sự phát triển của khoa học công nghệ làm cho kinh tế có

những bước phát triển vượt bậc. Song mặt trái của nó là đã tạo ra lỗ hổng to lớn đó
là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn và khó có “thể san” lấp được. Chính điều
này tạo ra sự mâu thuẫn giữa người nghèo và người giàu, đó là mâu thuẫn mà
không thể giải quyết bằng những biện pháp nhất thời. Do vậy, xung đột tôn giáo
thường xuyên xảy ra đặc biệt là ở những vùng có tỷ lệ chênh lệch giàu nghèo cao
và sự khác biệt lớn về văn hóa và tôn giáo như các quốc gia Trung Đông.
Thứ hai, nguyên nhân nhìn từ góc độ đặc trưng của tôn giáo và văn hóa.
Một bộ phận tộc người thiểu số cả về tôn giáo và văn hóa trong cùng một
quốc gia mà đa số người theo một tôn giáo khác và nắm quyền cai trị, do vậy họ
luôn đấu tranh, không chịu sự thống trị của chính quyền, đòi ly khai cũng là những
nguyên nhân gây lên những cuộc xung đột. Nếu những tộc người ở những quốc gia
khác nhau có thể gây nên xung đột giữa hai quốc qia, thậm chí có thể là một cuộc
chiến tranh.
Thứ ba, nguyên nhân nhìn từ góc độ lịch sử.
Có thể nói, xung đột tôn giáo có nguồn cơn là từ những mâu thuẫn tích tụ rất
lâu, hàng nhiều thập kỷ trước đây, cũng có thể là những hận thù sâu xa từ xưa để
lại. Một ví dụ điển hình không thể không kể đến đó là cuộc xung đột của hai nhà
nước Israel và Palestine.


Xu hướng đa dạng hóa tôn giáo và xuất hiện hiện tượng “tôn giáo mới” đang
diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới. Mỗi tôn giáo, dù mới hay cũ thì cũng luôn muốn
tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội, muốn địa vị của tôn giáo mình được
củng cố mạnh mẽ hơn. Chính sự tự đề cao này dễ dẫn tới những mâu thuẫn, xung
đột giữa các tôn giáo và từ đó làm bùng nổ các xung đột tôn giáo tại nhiều khu vực
trên toàn thế giới.
Thứ tư, nguyên nhân xuất phát từ chính sách của chính phủ đối với các
tôn giáo và người theo đạo
Nhiều quốc gia trên thế giới có chính sách bất hợp lý giữa các tôn giáo từ đó
gây lên bất mãn giữa các tôn giao. Do đó, những người theo các tôn giáo ít đượ

quan tâm hơn luôn có ý muốn chống lại nhà nước, hoặc những tôn giáo đối lập để
bảo đảm quyền lợi của mình. Có thể nói, Thái Lan cũng là một nước có tính trạng
bất ổn tôn giáo ở phía Nam do sự quan tâm không hợp lý của nhà nước. Khi những
người Thái Phật giáo được chuyển từ phía Bắc, những người Melayu Muslim lại lo
sợ họ sẽ mất đất đai, trở thành người làm thuê trên chính quê hương của mình, mất
đi bản sắc văn hóa... do vậy họ luôn tìm cách để chống lại, tạo ra những bất ổn của
vùng Nam Thái Lan.
Thứ năm, những nguyên nhân khác
+ Một là, vai trò của cộng đồng quốc tế trong việc dập tắt các lò lửa xung
đột cũng có giới hạn; rất nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều chính khách của thế
giới, đặc biệt là Liên hợp quốc tích cực hoạt động nhưng hiệu quả không cao.
+ Hai là, hầu như tất cả các xung đột tôn giáo đều chứa đựng các lợi ích của
cả nước trực tiếp tham gia và cả những nước đứng ngoài. Trong các cuộc xung đột,
không ít những phần tử bên ngoài muốn "đục nước béo cò", nhiều lực lượng núp
dưới cái bóng tôn giao để thể hiện ham muốn thống trị thế giới. Ví dụ như việc


nhiều kẻ buôn bán vũ khí, vì mục tiêu lợi nhuận, đã châm ngòi, tiếp tay hoặc tìm
mọi cách gây mất ổn định giữa các tôn giáo nói riêng và xung đột vũ trang nói
chung để có thể bán được nhiều vũ khí, trục lợi trên sự đổ máu của hàng triệu
người.
3. Những cuộc xung đột tôn giáo tiêu biểu
3.1. Xung đột giữa Hinđu giáo và Hồi giáo ở Ấn Độ (đỉnh điểm là cuộc
khủng bố ở Mumbai 26/11/2008).
Ấn Độ có khoảng 1 tỷ 100 triệu người trong đó người theo Hinđu giáo có
khoảng 840 triệu dân, chiếm 80% dân số Ấn Độ, Người Hồi giáo có khoảng 150
triệu dân chiếm 13% dân số Ấn Độ. Người Hồi giáo bị coi là hậu duệ của xâm lược
phương Bắc, người Hồi bị bài xích và trở thành mục tiêu căm ghét của những phần
tử Hindu dân tộc cực đoan. Họ là tầng lớp nghèo trong xã hội. Thu nhập bình quân
thấp hơn bình quân của người Hindu. Khoảng cách giàu nghèo tại Ấn Độ đan chéo

nhau với các nhân tố lịch sử, tôn giáo, chủng tộc, tạo nên những mối quan hệ phức
tạp. Người Hồi giáo thường bị phân biệt đối xử. Với 13% dân số, người Hồi chỉ
chiếm 3% biên chế của bộ máy công quyền Ấn Độ.
Từ khi Ấn Độ độc lập, đa số người Hồi giáo bỏ phiếu cho đảng Quốc đại. Từ
1998, Đảng Bharatiya Janata (BJP), đảng dân tộc cực đoan của người Hindu, lập
chính phủ. Sự thất bại của đảng Quốc đại càng đẩy người Hồi giáo Ấn Độ vào tình
trạng bấp bênh.
Mầm mống của chủ nghĩa khủng bố đã được gieo ngay trên mảnh đất Ấn
Độ, mặc dù cho đến tận gần đây các quan chức chính phủ Ấn Độ vẫn bác bỏ ý kiến
về việc Hồi giáo Ấn Độ bị lôi kéo vào cuộc thánh chiến tòan cầu. Những cuộc
xung đột lẻ tẻ Hindu - Hồi giáo đã phát triển thành những cuộc đụng độ sắc tộc lớn
trên toàn quốc vào năm 1992, kể từ vụ 150.000 phần tử cực đoan Hindu phá hủy


một thánh đường Hồi giáo thời Mughal ở Ayodhya. Hơn 2.000 người đã thiệt mạng
trong các cuộc xung đột sau đó. Nhiều người trong số những kẻ đứng đằng sau vụ
phá hủy nhà thờ này đã tham gia BJP. Sau những cuộc đụng độ năm 1992-1993,
mối hận thù biến thành cướp bóc, giết người do cả hai phía gây ra. Trong nhiều
trường hợp cảnh sát không can thiệp… Hàng triệu người đã thiệt mạng trên vùng
tiểu lục địa.
Trước sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, những cuộc xung đột giữa Hindu và Hồi
giáo Ấn Độ khoanh trong biên giới nước này. Nhưng từ sự kiện 11/9, những lực
lượng Hồi giáo cực đoan quốc tế và khu vực tìm cách lợi dụng, kích động mâu
thuẫn giữa hai cộng đồng lớn nhất nhì Ấn Độ, tổ chức đưa thánh chiến Hồi giáo
vào Ấn Độ. Một trong những mục tiêu chính của vụ khủng bố 26-29/11 tại
Mumbai chính là thổi bùng sự bất hòa đó.
3.2 Xung đột tôn giáo, sắc tộc ở Trung Quốc
Xung đột tôn giáo, sắc tộc ở Trung Quốc nổi bật nhất là xung đột giữa Phật
giáo Tây Tạng (phương Tây gọi là Lạt-ma giáo) tháng 3/2008 đã khiến 13 người
thiệt mạng và gậy thiệt hại kinh tế 200 triệu nhân dân tệ (khoảng 29 triệu đô-la

Mỹ). Hơn chín tháng tiếp sau đó, nhiều cuộc biểu tình liên tiếp nổ ra tại Tây Tạng
và các vùng lân cận và cuộc xung đột giữa người Duy Ngô Nhĩ Hồi giáo ở Tân
Cương với người Hán và chính quyền địa phương, Trung ương (7/2009). Cuộc
xung đột đã làm 1.680 người bị thương vong.
Nguyên nhân trực tiếp là vụ xung đột giữa mấy trăm công nhân người Hồi
Tân Cương làm việc ở một nhà máy đồ chơi ở Thiều Quan, Quảng Đông, với công
nhân người Hán tại đó, cách đó khoảng hơn mươi hôm, do bất đồng ngôn ngữ và
phong tục tập quán. Kết quả là hai công nhân người Hồi bị thiệt mạng.


Còn nguyên nhân sâu xa là chính sách dân tộc của Trung Quốc không thuyết
phục được người Hồi. Họ cảm thấy văn hoá, tín ngưỡng, ngôn ngữ của họ không
được người Hán tôn trọng. Vùng đất đai mà tổ tiên họ để lại đa phần lại nằm trong
tay người Hán, mọi hoạt động kinh tế thương mại chính đều nằm trong tay người
Hán. Chính quyền Trung Quốc, đã đưa quân đội lên Tân Cương khai khẩn, lập
nông trường, để bây giờ người Hán chiếm tới 75% dân số ở Tân Cương. Ngoài ra
còn có nguyên nhân từ việc Trung Quốc thực hiện chính sách phát triển nóng tập
trung vào miền duyên hải phía Đông của nền kinh tế Trung Quốc khiến người dân
những vùng sâu vùng xa như Tân Cương cảm thấy họ bị thiệt thòi, bị tụt hậu so với
phần phía Đông. Nên một bộ phận người Hồi Tân Cương muốn thành lập một khu
tự trị riêng.
Chính điều này là một trong những nguyên nhân mang lại hậu quả là có
hàng vạn cuộc bạo loạn nổ ra ở Trung Quốc trong mấy năm trở lại đây.
4 .Tác động của xung đột tôn giáo đến nền kinh tế, chính trị thế giới
Trong đời sống xã hội, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề tự thân vốn đã
chứa đựng những phức tạp và nhạy cảm. Đặc biệt là vấn đề tôn giáo trong bối cảnh
những năm gần đây. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, có hàng trăm cuộc
xung đột, trong đó 70% các cuộc xung đột liên quan đến sắc tộc, tôn giáo làm ảnh
hưởng rất lớn đến sự ổn định chính trị, tác động không nhỏ đến nền kinh tế và cuộc
sống thanh bình của người dân.

Xung đột tôn giáo có tác động rất lớn đến nền chính trị thế giới cũng như
của mỗi quốc gia. Xung đột tôn giáo sẽ làm cho tình hình chính trị xã hội của quốc
gia mất ổn định, dễ xảy ra các xung đột về vũ trang và phi vũ trang, trực tiếp đe
dọa đến nền độc lập dân tộc, chủ quyền an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia,
từ đó gây ra mất ổn định chính trị của khu vực. Ngoài ra, xung đột tôn giáo còn


gây căng thẳng trong quan hệ quốc tế. Điều đáng quan tâm là phía sau mỗi cuộc
xung đột dân tộc, tôn giáo đều có sự đụng độ giữa nhiều thế lực. Xuất phát từ lợi
ích của mình, các nước và các nhóm nước đều ủng hộ các nhóm dân tộc, tôn giáo
khác nhau. Thực tế này không chỉ khiến cho vấn đề dân tộc, tôn giáo trở nên phức
tạp mà còn khiến quan hệ giữa các quốc gia ngày càng căng thẳng hơn, làm cho
tiến trình đàm phán hòa giải bị chậm trễ. Chẳng hạn vấn đề người Kurd như đã nói
ở trên trở thành một loại công cụ để các nước liên quan tranh giành lợi ích và làm
cho quan hệ quốc tế liên tục xấu đi. Thổ Nhĩ Kỳ chỉ trích mạnh mẽ việc Syria chứa
chấp lãnh đạo Đảng Công nhân người Kurd và ủng hộ các hoạt động vũ trang của
Đảng này. Xuất phát từ lợi ích của mình, Iran và Iraq đã ủng hộ các hoạt động
chống chính phủ của người Kurd ở nước đối phương, làm cho mâu thuẫn và xung
đột vốn đã tồn tại từ lâu ở cả hai nước trở nên khó giải quyết hơn. Giữa Thổ Nhĩ
Kỳ và hai nước cũng xảy ra nhiều va chạm về vấn đề người Kurd…
Việc mất ổn định về chính trị sẽ kéo theo sự mất ổn định về mặt kinh tế.
Những xung đột kéo dài thường dẫn đến sự ngưng trệ trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh, trao đổi hàng hóa và thương mại, làm chậm tốc độ phát triển kinh tế
của quốc gia và tạo ra những rào cản lớn trong quan hệ hợp tác phát triển kinh tế
thế giới. Ngoài ra, các cuộc xung đột tôn giáo còn đe dọa đến cuộc sống của người
dân, để lại những hậu quả nặng nề cả về vật chất và tinh thần. Môi trường sinh
sống bị hủy hoại nghiêm trọng. Ví dụ như tại đất nước quần đảo Philippines có
khoảng gần 100 triệu dân, trong đó có 85% người theo Công giáo, 5% tín đồ Hồi
giáo,... Cuộc xung đột giữa người Công giáo với người Hồi giáo do tổ chức Hồi
giáo Abu Sayyaf gây ra ở quần đảo Mindanao (hòn đảo lớn thứ hai của

Philippines), phía Nam Philippines với khoảng 20% người dân trên đảo theo đạo
Hồi. Do tình trạng nghèo đói và sự khác biệt về tôn giáo, đảo đã trở thành cái nôi
của phong trào ly khai với sự ra đời của Tổ chức Mặt trận Hồi giáo giải phóng


Moro (MILF) và Mặt trận Giải phóng dân tộc Moro (MNLF). Cả MILF và MNLF
đều chủ trương thành lập nhà nước riêng ở đảo này. Trong những thập niên qua,
khoảng 120.000 người thiệt mạng vì xung đột giữa hai tổ chức này với quân Chính
phủ. Tổ chức Abu Sayyaf đã gây ra nhiều vụ bắt cóc, cướp của, giết người. Năm
1986, (MILF) tách khỏi MNLF tuyển mộ 40.000 tay súng và đòi thành lập Nhà
nước độc lập gồm 4 tỉnh có đa số dân Hồi giáo ở Mindanao. Từ đó đến nay, xung
đột, bắt cóc, giết người thường xuyên xảy ra giữa người Công giáo và các nhóm
Hồi giáo tại đây. Nền kinh tế - chính trị của Philippines do đó cũng rơi vào tình
trạng hỗn loạn1.
5.Một số giải pháp giải quyết xung đột tôn giáo
Vấn đề giải quyết xung đột sắc tộc tôn giáo là một vấn đề toàn cầu, hầu như
tất cả các nước trên thế giới đều diễn ra và tiềm ẩn những xung đột sắc tộc tôn
giáo, cho nên vấn đề giải quyết xung đột này cần phải có sự chung tay góp sức của
cả nhân loại, của tất cả các quốc gia trên thế giới. Để xây dựng một xã hội ổn định,
và phát triển thì trước hết tất cả các nước phải thực hiện các giải pháp như:
Thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo,
thực hiện công bằng xã hội.
Như chúng ta đã biết một trong các nguyên nhân khiến các cuộc xung đột
sắc tộc, tôn giáo bùng nổ, đặc biệt là các cuộc xung đột sắc tộc tôn giáo trong một
quốc gia là do vấn đề bất bình đẳng và bất công về kinh tế. Khi các nguồn lợi của
sự tăng trưởng kinh tế không được phân phối đều trong xã hội, giữa các dân tộc,
các cộng đồng người thì sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, bất công trong xã hội,
kết hợp với sự bất công trong hệ thống giáo dục làm cho các mâu thuẫn trong lòng
1 />ap



xã hội nổi lên, lâu dần tích tụ và phát triển thành các xung đột sắc, tôn giáo. Do
vậy, chúng ta có thể gạt bỏ được phần nào các cuộc sung đột sắc tộc tôn giáo bằng
cách tấn công mạnh vào những bất bình đẳng và bất công về kinh tế tồn tại trong
xã hội.
Ngày nay, nhân loại đang phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa khủng bố, và
một điều dễ nhận thấy là các tổ chức khủng bố này thường bắt đầu từ mạng lưới
Hồi giáo cực đoan. Hồi giáo cực đoan đã phát triển rất mạnh ở Trung Đông và
nhiều vùng khác nhau trên thế giới, sở dĩ khuynh hướng cực đoan có đất phát triển
một phần lớn là do tình hình kinh tế xã hội có nhiều khó khăn. Ở Trung Đông, tình
trạng nghèo khổ, nạn thất nghiệp, khoảng cách về của cải, thu nhập ngày càng
lớn… đó chính là mảnh đất thuận lợi nuôi dưỡng sự bất mãn trong nhân dân, tạo
điều kiện thuận lợi cực đoan quá khích kích động dân chúng gây bất ổn định xã
hội. Chiến binh hồi giáo là những trai cháng không có việc làm, cảm thấy tương lai
mờ mịt và họ được các tổ chức cực đoan giải thích rằng sở dĩ xã hội không tốt đẹp
là do sự xâm nhập của các chuẩn mực văn hóa xa lạ, đạo đức đồi bại… và họ sẽ
được hưởng đời sống vĩnh cửu ở thiên đường nếu chấp nhận hy sinh cho sự nghiệp
của đạo. Từ đó họ sẵn sàng khủng bố để tấn công khủng bố các kẻ thù của đạo, họ
được coi là các chiến binh “tử vì đạo”.
Thực tế cho thấy chủ nghĩa khủng bố của đạo Hồi cực đoan bén rễ cả ở bên
trong và bên ngoài các nước theo đạo hồi. Nó sẽ không được loại trừ chừng nào
giới cầm quyền các nước sở tại không giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội
trầm trọng gây bất bình trong nhân dân, không đảm bảo được các điều kiện tốt cho
các tín đồ chân chính hành đạo.
Phải giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc, tôn giáo với chính quyền.


Chúng ta phải nhận thức rằng sự hài hòa của các sắc tộc, tôn giáo không
phải do tự nhiên mà có, cho nên Chính phủ phải coi trọng công tác tôn giáo, dân
tộc. Trong các quốc gia đa tôn giáo, sắc tộc thì các chính phủ phải chú ý đến quan

hệ tôn giáo, sắc tộc, tăng cường hướng dẫn tôn giáo, thông qua việc chế định chính
sách và để thực hiện công tác quản lý hoạt động tôn giáo. Chính phủ cũng cẩn phải
xử lý tốt mối quan hệ giữa dân tộc, tôn giáo và chính trị.
Thế giới những năm vừa qua được chứng kiến các phong trào đấu tranh ly
khai diễn ra mạnh mẽ, mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các phong trào đó đều bắt
nguồn từ chính sách dân tộc, tôn giáo của các chính phủ. Ví dụ như việc thực hiện
chủ trương đồng hóa văn hóa của chính phủ các nước để xây dựng quốc gia dân tộc
thống nhất như ở Philipin, Thái Lan, Indonexia… xóa bỏ hoặc hạn chế nền giáo
dục truyền thống Islam và Islam nói chung của các nhóm người thiểu số Muslim là
một nguyên nhân quan trọng khiến cho họ nổi dậy/ đấu tranh đòi quyền lợi, đòi ly
khai. Thêm vào đó, biện pháp đàn áp quân sự của chính phủ các nước sở tại đối với
các phong trào đấu tranh của người Muslim là một trong những nguyên nhân khiến
cho các cuộc đấu tranh của họ càng trở lên quyết liệt hơn. Bạo lực lại được giải
quyết bằng bạo lực nên các cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt và thiệt hại to
lớn về người và của.
Như vậy việc giải quyết một cách khéo léo mối quan hệ giữa dân tộc, tôn
giáo với chính quyền có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
xung đột sắc tộc và tôn giáo. Các chính phủ cần phải thừa nhận sự đa dạng về văn
hóa, tôn giáo và tôn trọng bản sắc riêng của mỗi tộc người trong mỗi quốc gia, tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mỗi người dân, đối xử bình đẳng giữa
các tôn giáo, dân tộc, và đặc biệt là phải kiên trì nguyên tắc tách biệt giữa chính trị
và tôn giáo. Giữa tôn giáo và chính trị cần phải có sự khu biệt rạch ròi, các đoàn
thể tôn giáo không nên cuốn vào chính trị. Về luận điểm này, Thủ tướng Lý Quang


Diệu của Singapo đã có một câu nói nổi tiếng “Hãy trở thành công dân tốt trước
khi làm một tín đồ tốt, kiềm chế, xây dựng lòng khoan dung, sự ôn hòa giữa các
tôn giáo và tránh xa các hoạt động mang mục đích chính trị”
Các sắc tộc, tôn giáo phải thực hiện tăng cường đối thoại với nhau để giải
quyết những mâu thuẫn, xung đột.

Các tôn giáo lớn trên thế giới, đặc biệt là các tôn giáo độc thần như Hồi giáo,
Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo… thường tự cho mình là chính thống giáo, còn các
tôn giáo khác đều là bàng môn tả đạo, cần phải loại trừ, đây chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến xung đột sắc tộc, tôn giáo trên thế giới. do vậy các tôn
giáo cần phải nhận thức được vấn đề tăng cường đối thoại để hiểu nhau, đối thoại
để tìm ra những điểm tương đồng, hay dị biệt giữa các tôn giáo từ đó sửa chữa
những thông tin sai hay những cái nhìn méo mó của tín đồ tôn giáo về các tôn giáo
khác.
Có thể lấy ví dụ như thiên chúa giáo được coi là tôn giáo lớn đầu tiên trên
thế giới chủ trương đối thoại giữa các tôn giáo khi Cộng đồng Vatican II họp trong
3 năm (1962-1965) đã đưa ra chủ chương từ bỏ độc quyền tôn giáo, đối thoại với
tất cả các tôn giao trên thế giới. Sự kiện này có thể coi là bước ngoặt trong sự phát
triển của tôn giáo thế giới, nó mở ra một chương mới trong việc giải quyết mối
quan hệ giữa các tôn giáo. Để đáp ứng quan điểm đó của Ki Tô giáo các tôn giáo
lớn khác cũng hướng theo xu thế đối thoại. Sự ra đời của Đại hội tôn giáo thế giới
trong những thập niên gần đây và được tổ chức 5 năm một lần với các chủ để khác
nhau (như chủ đề của Đại hội tôn giáo thế giới năm 2009 tại Úc với chủ đề “Xây
Dựng Một Thế Giới Đổi Mới: Lắng Nghe Lẫn Nhau, Chữa Lành Quả Địa Cầu”) là
sự kiện thể hiện rõ nhất xu hướng đối thoại, hòa bình giữa các tôn giáo. Tất nhiên


với những bước đi như vậy nó đã góp phần không nhỏ trong việc hạn chế sự xung
đột sắc tộc, tôn giáo trên quy mô toàn cầu.

II. Vấn đề xung đột tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và đa dân tộc. Công dân Việt Nam hầu hết
có tín ngưỡng. Tín đồ tôn giáo chiếm khoảng 1/4 dân số cả nước, thuộc các giai
tầng, dân tộc khác nhau, cư trú ở khắp nơi trên lãnh thổ. Cả nước có 39 tổ chức của
14 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 25 triệu
tín đồ, 53 nghìn chức sắc, 134 nghìn chức việc, 28 nghìn cơ sở thờ tự. Việt Nam

được xếp thứ ba trên thế giới về mức độ đa dạng tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó,
chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu người), Công giáo (gần 7 triệu người), Tin
Lành (hơn 1 triệu người), Cao Đài (2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu
người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các
tôn giáo khác, chiếm gần nửa triệu người. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch, cả nước hiện có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian,
332 lễ hội lịch sử cách mạng, 544 lễ hội tôn giáo, 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài
vào và 40 lễ hội khác. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên,
người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn
hoá, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn
hoá Việt Nam phong phú và đặc sắc.
Các tín ngưỡng, tôn giáo dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm hành
đạo không giống nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để
phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, họ luôn có sự gắn kết, giao lưu và
tìm hiểu về nhau để cùng truyền đạt những tinh hoa của từng tín ngưỡng, tôn giáo.
Đây là nét đẹp rất riêng của các tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam, chúng ta có thể


nhận biết được một vài đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam như
sau:
- Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng,
không kỳ thị, tranh chấp và xung đột. Các tín ngưỡng truyền thống phản ánh đời
sống tâm linh phong phú, đa dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của người
Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Đây là những yếu tố để người Việt
Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong nhiều cộng
đồng dân cư có sự xen kẽ giữa người có tôn giáo và người không có tôn giáo. Ở
nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen
với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo, và
họ sống hòa hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ.
- Hai là, các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng đế và linh nhân là

người nước ngoài. Các nghiên cứu về lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho
thấy, tư tưởng tôn giáo có từ người Việt cổ, thể hiện trực quan qua các hình tượng
chim Lạc và con Rồng. Hệ thống giáo lý của các tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hòa
Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam,...) hầu hết đều sao chép hoặc chịu
ảnh hưởng từ các tôn giáo có trước.
- Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng
đều hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp
phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của
dân tộc. Thực tế, mỗi tôn giáo đều mang trong nó một hay nhiều tín ngưỡng; các
tín ngưỡng này đã có sự giao thoa với văn hóa Việt Nam. Qua hàng trăm năm tồn
tại, phát triển, văn hóa tín ngưỡng ngoại nhập dần được Việt hóa và trở thành một
bộ phận của văn hóa Việt Nam (dù không thuần nhất). - Bốn là, trong lịch sử cận,
hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm mọi cách


lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để
xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn sử
dụng, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược
"diễn biến hòa bình", phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Với chiêu bài "tự do tôn giáo", "nhân quyền", chúng xuyên tạc, bóp
méo đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, âm
mưu tạo ra lực lượng và xây dựng ngọn cờ trong tôn giáo hòng lật đổ Nhà nước xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, Luật Tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam đã được
Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
Theo luật mới nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo;
ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn
giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo
xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi
trường hoặc xâm hại đạo đức xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài

sản, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác....
Việt Nam được đánh giá cao sự phát triển về vấn đề nhân quyền, tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, ghi nhận những thay đổi lớn trong nhiều lĩnh vực, điều kiện hoạt
động của nhiều cộng đồng tôn giáo, hội nhóm, kể cả các nhóm chưa được công
nhận, đã thuận lợi hơn trước. Một thành quả khác của Việt Nam là việc các tôn
giáo phát triển bình đẳng theo đúng Hiến pháp, không xảy ra xung đột tôn giáo Có
thể nói, chưa bao giờ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lại sôi nổi, mạnh mẽ và được
quan tâm như hiện nay. Và chưa thời kỳ nào mà Đảng, Nhà nước ta lại xây dựng
được hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo đầy đủ và
hoàn thiện như ngày nay. Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không
tín ngưỡng; chưa bao giờ có chủ trương cản trở hoạt động tôn giáo bình thường của


nhân dân, lại càng không có sự kỳ thị, chèn ép, phân biệt đối xử, cấm đoán quyền
tự do tôn giáo của công dân. Tôn giáo có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa –
xã hội của mỗi dân tộc, thậm chí còn trở thành đặc trưng nổi bật nhất và là một bộ
phận quan trọng của một dân tộc. Sự khác biệt và đối lập về tôn giáo làm cho ranh
giới giữa các dân tộc rõ ràng hơn và làm tăng mâu thuẫn giữa các dân tộc. Chính vì
thế, nếu không có những chính sách khôn khéo thì khó lòng có thể giải quyết ổn
thỏa “trong ấm, ngoài êm” như hiện nay.
Kết Luận
Tín ngưỡng, tôn giáo đã ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, trở thành tâm
lý, tập quán, thói quen của đại đa số con người trên thế giới mà trải qua nhiều thế
hệ vẫn không dễ mất đi trong một thời gian ngắn. Mặt khác, tôn giáo còn biết tự
điều chỉnh, thích nghi với điều kiện xã hội mới để tồn tại và đáp ứng nhu cầu văn
hóa, tinh thần, tâm lý và tình cảm của con người. Do đó để có được một thế giới
sống trong hòa bình, mỗi con người chúng ta cần phải luôn biết cách phát triển tôn
giáo của mình một cách tích cực, không gây mâu thuẫn cũng như xung đột giữa
các nền tôn giáo trên toàn thế giới.





×